SGK - Ngữ văn 9 - Tập 2
0/0
minus
100%
plus
Ghi chú
setting
share
Nền
Đọc offline

Lưu sách trên máy

Đang kiểm tra...

list Mục lục
list Mục lục
Chủ đề 6: Giải mã những bí mật
Tri thức ngữ văn
Đọc: Ba chàng sinh viên
Thực hành tiếng Việt: Các kiểu câu ghép và phương tiện nối các vế câu ghép
Đọc: Bài hát đồng sáu xu
Đọc: Phạm Xuân Ẩn - tên người như cuộc đời
Thực hành tiếng Việt: Lựa chọn câu đơn hoặc câu ghép
Viết: Viết truyện kể sáng tạo
Củng cố, mở rộng
Chủ đề 7: Hồn thơ muôn điệu
Tri thức ngữ văn
Đọc: Tiếng Việt
Thực hành tiếng Việt: Nghĩa của từ ngữ và biện pháp tu từ
Đọc: Mưa xuân
Đọc: Một kiểu phát biểu luận đề độc đáo của Xuân Diệu ở bài thơ "Vội vàng"
Thực hành tiếng Việt: Sự phát triển của từ vựng
Viết: Tập làm thơ tám chữ và viết đoạn văn ghi lại cảm nghĩ về một bài thơ tám chữ
Củng cố, mở rộng
Chủ đề 8: Tiếng nói của lương tri
Tri thức ngữ văn
Đọc: Đấu tranh cho một thế giới hòa bình
Thực hành tiếng Việt: Nghĩa và cách dùng tên viết tắt các tổ chức quốc tế quan trọng
Đọc: Biến đổi khí hậu - mối đe dọa sự tồn vong của hành tinh chúng ta
Thực hành tiếng Việt: Lựa chọn câu đơn hoặc câu ghép, các kiểu câu ghép
Thực hành đọc: Bài ca chúc Tết thanh niên
Viết: Viết bài văn nghị luận về một vấn đề cần giải quyết (trong đời sống xã hội)
Củng cố, mở rộng
Chủ đề 9: Đi và suy ngẫm
Tri thức ngữ văn
Đọc: Yên Tử, núi thiêng
Thực hành tiếng Việt: Biến đổi cấu trúc câu
Đọc: Văn hóa hoa - cây cảnh
Thực hành tiếng Việt: Mở rộng cấu trúc câu
Đọc: Tình sông núi
Viết: Viết bài thuyết minh về một danh lam thắng cảnh hoặc một di tích lịch sử
Củng cố, mở rộng
Chủ đề 10: Văn học - Lịch sử tâm hồn
Tri thức ngữ văn
Đọc: Văn học Việt Nam từ khu vực ra thế giới, từ truyền thống đến hiện đại
Đọc: Văn hóa đọc với nhà văn và độc giả trong thời đại công nghệ số
ÔN TẬP HỌC KÌ II
Ôn tập kiến thức
Luyện tập tổng hợp
Học liệu
Đang xem trang 0 Học liệu dưới đây tương ứng với nội dung bạn đang đọc
empty Không có học liệu bổ trợ
cover-first
page-1
Trang 1
Trang 2
Trang 3
Trang 4
ĐỌC TRI THỨC NGỮ VĂN Truyện trinh thám Truyện trinh thám là loại tác phẩm truyện viết về quá trình điều tra vụ án, thường có những sự việc bí ẩn, bất ngờ. Quá t
ĐỌC
TRI THỨC NGỮ VĂN
Truyện trinh thám
Truyện trinh thám là loại tác phẩm truyện viết về quá trình điều tra vụ án, thường có những sự việc bí ẩn, bất ngờ. Quá trình phá án của người điều tra dựa trên yếu tố quan trọng là sự suy luận lô-gíc. Vụ án thường được làm sáng tỏ ở phần kết thúc truyện. Nhà văn người Mỹ Ét-ga A-len Pau (Edgar Allan Poe, 1809 – 1849) được đánh giá là “cha đẻ” của thể loại truyện trinh thám với các tác phẩm nổi tiếng như: Vụ án đường Mo-gi (Morgue), Con cánh cam vàng, Lá thư bị mất,... Hiện nay, thể loại truyện trinh thám có vị trí quan trọng trong đời sống văn học, nhiều tác phẩm trinh thám đã gây được sức hấp dẫn lớn với bạn đọc.
Một số yếu tố của truyện trinh thám
Không gian của truyện trinh thám là không gian hiện trường – nơi xảy ra vụ án, cũng là nơi người điều tra nghiên cứu để tìm thủ phạm. Các vụ án có thể diễn ra ở những không gian rộng (khu rừng, hang động, góc phố,...) hoặc không gian nhỏ hẹp (căn phòng, bàn ăn,...). Trong truyện trinh thám, không gian hiện trường được khắc hoạ chi tiết, cụ thể và gắn liền với dấu hiệu bằng chứng phạm tội.
Thời gian trong truyện trinh thám thường được giới thiệu ở phần đầu tác phẩm với thông tin cụ thể về tháng, năm hay tình huống mà người điều tra tiếp nhận vụ án. Cách giới thiệu thời gian như vậy có tác dụng tạo nên tính chân thực cho câu chuyện. Truyện trinh thám thường xây dựng tình huống người điều tra chịu áp lực chạy đua với thời gian để tìm ra kẻ phạm tội. Điều này tạo ra sự căng thẳng, hấp dẫn cho người đọc đồng thời cho thấy tài năng của người điều tra.
Cốt truyện trong truyện trinh thám gồm một chuỗi sự kiện mà sự kiện trung tâm là vụ án và hành trình phá án của người điều tra. Tác phẩm thường bắt đầu bằng một bí ẩn được đặt ra – thực chất là một vụ án phức tạp, có nhiều tình tiết dường như không thể giải thích được; sau đó là hành trình giải mã của người điều tra và cuối cùng bí ẩn được làm sáng tỏ.
Hệ thống nhân vật trong truyện trinh thám thường gồm người điều tra, nạn nhân, nghi phạm, thủ phạm. Người điều tra là nhân vật chính trong tác phẩm, có thể là nhà điều tra chuyên nghiệp như thám tử, cảnh sát, thanh tra,... hoặc nhà điều tra nghiệp dư. Người điều tra trong truyện trinh thám có tố chất đặc biệt. Đó là sự dũng cảm, ưa mạo hiểm, vốn kiến thức phong phú, trí thông minh vượt trội, tài quan sát và suy luận,... đặc biệt là phẩm chất trung thực, luôn đặt sự thật lên trên hết nhằm bảo vệ lẽ phải và công lí.
Truyện trinh thám có những chi tiết thể hiện sự bí ẩn, li kì của vụ án và những bất ngờ của cuộc điều tra. Những chi tiết về khung cảnh, không gian, thời gian xảy ra sự việc; chân dung, cử chỉ, hành động, lời nói,... của nhân vật thường có dấu hiệu của bằng chứng hoặc manh mối quan trọng trong quá trình điều tra.
VĂN BẢN 1 TRƯỚC KHI ĐỌC 1. Em hiểu gì về công việc của một thám tử? 2. Nêu tên một nhân vật thám tử trong tác phẩm văn học hoặc bộ phim mà em biết. Chia sẻ ngắn
VĂN BẢN 1
TRƯỚC KHI ĐỌC
1. Em hiểu gì về công việc của một thám tử?
2. Nêu tên một nhân vật thám tử trong tác phẩm văn học hoặc bộ phim mà em biết.
Chia sẻ ngắn gọn cảm nhận của em về nhân vật đó.
ĐỌC VĂN BẢN Ba chàng sinh viên A-THƠ CÔ-NAN ĐOI-LƠ (Lược một đoạn: Vào năm 1895, tại căn nhà trọ ở một thành phố của Anh, So-lốc Hôm (Sherlock Holmes) và người
ĐỌC VĂN BẢN
Ba chàng sinh viên
A-THƠ CÔ-NAN ĐOI-LƠ
(Lược một đoạn: Vào năm 1895, tại căn nhà trọ ở một thành phố của Anh, So-lốc Hôm (Sherlock Holmes) và người bạn Oát-xon (Watson) đã nghe ông Hin-tơn Xôm (Hilton Soames) – giảng viên của trường Đại học Xanh Lục (St. Luke) – kể lại câu chuyện xảy ra ở trường mình. Theo lời ông, ngày mai, cuộc thi để lấy học bổng sẽ được tổ chức. Đề thi môn tiếng Hy Lạp yêu cầu dịch một bài khá dài, hoàn toàn mới đối với thí sinh. Vì học bổng có giá trị cao nên nếu thí sinh nào biết trước đề sẽ có lợi thế lớn. Do đó, thầy Xôm và các đồng nghiệp đã giữ đề thi cẩn thận. Khoảng 3 giờ chiều nay, bản in thử được gửi đến. Thầy Xôm phải soát lại để đảm bảo đề bài tuyệt đối chính xác. Tới 4 giờ 30 phút, thầy vẫn chưa đọc xong. Vì phải đi dùng trà cùng một người bạn như đã hứa, thầy để bản in thử trên bàn và vắng mặt khoảng một tiếng đồng hồ. Khi trở về, thầy kinh ngạc vì thấy chìa khoá đang cắm vào ổ khoá cửa phòng do người hầu Ben-ni-xtơ (Bannister) quên rút. Trước khi đi, thầy để ba trang đề thi ở cùng một chỗ, nhưng lúc này, thầy thấy một trang nằm trên sàn, một trang trên cái bàn kê sát cửa sổ, còn một trang vẫn ở vị trí cũ. Trên mặt bàn có vài mảnh vỏ bút chì, một đầu chì gãy, vết rách dài độ 3 inch⁽¹⁾ và một mẫu bột đen nhỏ, lấm tấm như mùn cưa. Thầy Xôm cho biết thêm, có một sinh viên tên là Đao-lát Rát (Daulat Ras) đã vào phòng hỏi về cuộc thi, lúc ấy bản in thử đã được mang đến nhưng vẫn còn cuộn lại. So-lốc Hôm được mời tới phòng thầy Xôm để xem xét. Phòng làm việc của thầy có một cửa sổ gắn lưới sắt nhìn ra khoảng sân rêu phong của ngôi trường cổ kính. So-lốc Hôm cho rằng có người đã chép được nửa tờ thứ hai thì thấy thầy Xôm về nên vội rút lui, không kịp để đề thi về chỗ cũ. Hắn đã viết mạnh đến mức làm gãy ngòi chì, phải vót lại. Vị thám tử cũng phát hiện trong phòng ngủ của thầy Xôm có mẫu nhỏ màu đen dạng hình chóp, giống hệt mẫu trên bàn ngoài phòng làm việc. So-lốc Hôm phỏng đoán kẻ chép trộm đề thi đã trốn vào phòng ngủ trong suốt thời gian thầy Xôm nói chuyện với Ben-ni-xtơ ở phòng làm việc. Theo lời thầy Xôm, có ba sinh viên ở trong nhà này và thường đi qua cửa phòng làm việc của thầy. Phòng của thầy Xôm ở tầng một. Ghi-crít (Gilchrist) – một sinh viên chăm chỉ và là vận động viên giỏi – sống ở tầng hai. Cậu ta tử tế. Cha cậu là một quý tộc nhưng bị phá sản và đã qua đời. Đao-lát Rát sống ở tầng ba. Cậu học tốt, nhưng môn tiếng Hy Lạp yếu. Sống ở tầng trên cùng là Mai Mắc Le-ròn (Miles Mc Laren). Cậu ta được xem là sáng dạ nhất trường, nhưng lại lười học, ương ngạnh, ăn chơi và vô kỉ luật. Cậu ta suýt bị đuổi học ngay trong năm thứ nhất vì dính vào một vụ bài bạc. Cả học kì này, cậu ta toàn rong chơi. Thầy Xôm cho rằng trong ba sinh viên, Mắc Le-ròn là người đáng nghi ngờ nhất. Hôm đã hỏi ông Ben-ni-xtơ việc ông quên rút chìa khoá vào đúng ngày có đề thi trong phòng, lí do ông ngồi lên cái ghế gần cửa phòng khi thấy choáng váng mà không phải cái ghế khác. Sau đó So-lốc Hôm muốn xem qua phòng của ba sinh viên.)
Theo dõi
Vụ việc mà thầy Xôm muốn So-lốc Hôm giúp đỡ.
⁽¹⁾ Inch: đơn vị đo chiều dài, được sử dụng phổ biến ở một số nước nói tiếng Anh như: Anh, Mỹ, Ca-na-đa (Canada),...; 1 inch tương đương 2,54 cm.
Tôi muốn ngó qua từng người một - Hôm nói. - Vậy có được không nhỉ? - Dễ thôi - Xôm trả lời. - Dãy phòng này thuộc loại cổ nhất trong trường, vì vậy chuyện có k
Tôi muốn ngó qua từng người một - Hôm nói. - Vậy có được không nhỉ? - Dễ thôi - Xôm trả lời. - Dãy phòng này thuộc loại cổ nhất trong trường, vì vậy chuyện có khách tới tham quan cũng không hề lạ. Mời các ông đi theo tôi, tôi sẽ dẫn đường. - Ông nhớ đừng gọi tên chúng tôi đấy nhé! - Hôm nói khi chúng tôi gõ cửa phòng Ghi-crít. Một thanh niên cao gầy, tóc hoe vàng ra mở cửa rồi niềm nở mời chúng tôi vào khi biết mục đích chuyến viếng thăm. Phòng vẫn còn lại vài bức phù điêu đẹp đẽ thời Trung cổ. Hôm mê mẩn một bức đến độ đòi vẽ nó vào cuốn sổ tay cho kì được. Anh làm gãy bút chì nên đành hỏi mượn một cái của chủ nhân căn phòng, rồi sau đó mượn thêm dao để chuốt. Vận xui kì lạ đó tiếp tục bám theo anh tại phòng cậu người Ấn. Đó là một gã trầm lặng, nhỏ thó, mũi khoằm, cứ gườm gườm nhìn chúng tôi suốt và mừng ra mặt khi Hôm nghiên cứu xong mấy bức phù điêu. Tuy nhiên tại cả hai phòng, tôi đều không thấy Hôm bắt được manh mối cần tìm. Đến phòng thứ ba, mánh của Hôm thất bại từ trong trứng nước. Chúng tôi gõ cửa nhưng chủ nhân căn phòng không chịu mở, đã thế còn tặng chúng tôi một tràng chửi rủa. - Tôi cóc cần biết mấy người là ai. Mấy người đi phứt cho nhờ! - Giọng giận dữ gầm lên. - Tôi bận ôn thi, các người nghe rõ chưa?
Một gã thô lỗ. - Người dẫn đường của chúng tôi nói, đỏ mặt giận dữ khi chúng tôi xuống nhà. - Theo dõi Tất nhiên cậu ta không biết tôi là người gõ cửa. Thầy Xôm nghi ngờ sinh viên nào Nhưng kể cả vậy thì cậu ta cũng quả là bất lịch sự đã chép trộm đề thi? và lối cư xử đó thật đáng ngờ trong hoàn cảnh này.
Phản ứng của Hôm khá kì lạ. - Ông có thể cho tôi biết chiều cao chính xác của cậu này không? - Anh hỏi. - Ông Hôm, tôi quả thật không biết chắc. Cậu ta cao hơn cậu người Ấn nhưng thấp hơn Ghi-crít. Chắc tầm năm foot(1)sáu.
Chuyện đó rất quan trọng - Hôm nói. - Còn giờ xin chúc thầy Xôm ngủ ngon. Người dẫn đường của chúng tôi kêu lên tỏ ý kinh ngạc và thất vọng. - Ôi, ông Hôm, ông không định bỏ tôi đường đột thế này chứ? Hình như ông chưa nhận ra tình thế. Mai là thi rồi. Tối nay tôi buộc phải đưa ra quyết định dứt khoát. Tôi không thể để kì thi diễn ra khi đề thi bị lộ. Tôi phải làm gì đó. - Ông cứ để nguyên vậy đi. Sớm mai tôi sẽ ghé rồi bàn về việc này, có thể lúc đó tôi đã nắm được những tình tiết mới giúp ông thoát khỏi tình cảnh này. Còn từ giờ tới đó, ông đừng thay đổi gì cả.
Đành vậy.
(1) Foot: đơn vị đo chiều dài, được sử dụng phổ biến ở một số nước nói tiếng Anh như: Anh, Mỹ, Ca-na-đa,... 1 foot tương đương 30,48 cm.
Ông yên tâm. Nhất định chúng tôi sẽ tìm được cách giúp ông thoát khỏi rắc rối. Tôi sẽ đem hai mẩu đất đen và mảnh vỏ bút chì về. Xin chào ông! Bước ra khoảng sâ
Ông yên tâm. Nhất định chúng tôi sẽ tìm được cách giúp ông thoát khỏi rắc rối. Tôi sẽ đem hai mẩu đất đen và mảnh vỏ bút chì về. Xin chào ông!
Bước ra khoảng sân tối om, chúng tôi ngước nhìn ngôi nhà một lần nữa. Cậu người Ấn vẫn đi tới đi lui trong phòng, nhưng chúng tôi không thấy bóng dáng hai người kia đâu.
Oát-xơn này, anh nghĩ sao? - Hôm hỏi khi chúng tôi tiến ra đường lớn. - Tôi thấy chúng ta như đang chơi trò loại trừ vậy. Anh có ba người. Thủ phạm phải là một trong số họ. Anh chọn đi. Anh chọn ai nào?
Gã ăn nói lỗ mãng ở tầng trên cùng. Hắn là kẻ "có tiếng" nhất. Nhưng gã người Ấn có vẻ ranh ma. Theo dõi Và sao cậu ta cứ đi lại trong phòng suốt vậy? Oát-xơn nghi ngờ ai là thủ phạm
chép trộm đề thi?
Cũng không có gì đâu. Nhiều người thường làm vậy khi học thuộc lòng.
Cách cậu ta nhìn chúng ta rất đáng ngờ. - Anh cũng sẽ như vậy nếu bị một toán người lạ làm phiền trong khi ngày mai anh có một kì thi quan trọng và mọi phút chuẩn bị đều đáng quý. Không, những chi tiết đó cùng với bút chì và dao, tất thảy đều thoả đáng. Nhưng gã đó lại khiến tôi rối trí.
Ai? - Gã người hầu Ben-ni-xtơ chứ ai! Ông ta đang toan tính gì đây? - Tôi thấy ông ta là người trung hậu. - Tôi cũng thấy vậy. Đó chính là chỗ khó hiểu. Sao một con người trung hậu như vậy lại... A, có một tiệm văn phòng phẩm lớn này. Ta sẽ bắt đầu tìm hiểu từ đây.
(Lược một đoạn: Sơ-lốc Hôm vào các tiệm bán văn phòng phẩm trong thành phố để tìm cái bút có vỏ giống mảnh vỏ bút chì ở hiện trường nhưng không tìm được. 8 giờ sáng hôm sau, Sơ-lốc Hôm giục Oát-xơn đi Xanh Lúc vì thám tử đã giải được bí mật vụ án. Hôm nói rằng mình đã dậy từ 6 giờ sáng, đi bộ suốt hai giờ và mang về một mẩu đất sét hình chóp màu đen. Mẩu đất thứ ba được lấy chính từ nơi có hai mẩu đầu tiên.)
Khi chúng tôi tới nơi, ông thầy khốn khổ đang đứng ngồi không yên. Chỉ vài giờ nữa là kì thi bắt Dự đoán đầu, ấy vậy mà ông ta chưa biết nên công bố sự việc Những ai liên quan đến vụ việc hay mặc thây cho kẻ gian trá tranh học bổng đáng giá. chép trộm đề thi? Đầu óc căng như dây đàn khiến ông ta không ngồi yên nổi, vậy nên vừa thấy Hôm, ông ta đã chạy ào ra và dang tay đón mừng.
Ơn trời ông đến rồi! Tôi chỉ sợ ông cũng bó tay. Tôi phải làm gì đây? Kì thi có tiếp tục không?
- Có. Bất luận thế nào cũng phải để nó diễn ra. - Nhưng còn tên vô lại kia? - Hắn sẽ không thi. - Ông biết hắn là ai rồi sao?, Suy luận Lúc này, Sơ-lốc Hôm đã b
- Có. Bất luận thế nào cũng phải để nó diễn ra.
- Nhưng còn tên vô lại kia? - Hắn sẽ không thi. - Ông biết hắn là ai rồi sao?, Suy luận Lúc này, Sơ-lốc Hôm đã biết thủ phạm chép trộm đề thi chưa?
- Tôi nghĩ vậy. Vì chuyện này phải được giữ kín án nho nhỏ vậy. Thầy Xôm, mời thầy ngồi đằng kia! ngồi ở ghế bành chính giữa. Chúng ta đã đủ oai nghiêm hốt rồi đấy. Xin thầy vui lòng rung chuông! Ben-ni-xtơ vào, ông ta suýt té ngửa vì ngạc nhiên pháp đình của chúng tôi. […] - Giờ thì Ben-ni-xtơ, ông vui lòng khai thật cho chúng Ông này tái mét tới tận chân tóc. - Thưa ông, tôi đã thưa cả rồi. - Không còn gì để kể thêm sao? - Không, thưa ông. - Nếu vậy, tôi đành gợi ý cho ông vài điều. Hôm qua phải chăng ông có chủ đích che giấu một vật có thể tiết Ben-ni-xtơ tái mặt. - Không, thưa ông. Không hề. - Chỉ là gợi ý thôi mà - Hôm khéo léo nói. - Thú điều đó. Nhưng chuyện đó xem ra rất có thể, vì thầy kẻ nấp trong phòng ngủ đi mất. Ben-ni-xtơ liếm đôi môi khô nẻ. - Tôi không thả ai, thưa ông. […] - Vậy là ông không thể cho chúng tôi thêm thông tin phòng nhé! Mời ông đứng gần cửa phòng ngủ. Thầy Ghi-crít và bảo cậu ta xuống đây. Một loáng sau, ông thầy đã trở lại và dẫn theo chàng dấp đẹp đẽ, cao ráo, uyển chuyển và nhanh nhẹn, bước cởi mở, dễ gần. Đôi mắt xanh tràn ngập lo âu nhìn từng cùng bàng hoàng dừng lại ở Ben-ni-xtơ đang đứng trong, nên chúng ta sẽ tự lập ra một toà Oát-xơn, anh ngồi đây! Tôi sẽ để làm thủ phạm phải hoảng và hốt hoảng trước phong thái tôi biết sự việc hôm qua chứ? khi ngồi xuống chiếc ghế đó, lộ danh tính kẻ đột nhập? thật là tôi không thể chứng minh Xôm vừa rời nhà là ông liền thả rồi. Ông vui lòng ở lại trong Xôm, thầy vui lòng lên phòng cậu sinh viên nọ. Cậu ta có dáng đi thoăn thoắt và gương mặt người trong chúng tôi, rồi cuối góc đằng xa.
- Đóng cửa lại đã - Hôm nói. - Này cậu Ghi-crít, ở ngoài kia biết gì về chuyện này. Chúng ta hoàn toàn nhau. Cậu Ghi-crít, chúng tôi muốn biết làm sao mà cậu lạ
- Đóng cửa lại đã - Hôm nói. - Này cậu Ghi-crít, ở ngoài kia biết gì về chuyện này. Chúng ta hoàn toàn nhau. Cậu Ghi-crít, chúng tôi muốn biết làm sao mà cậu lại làm cái chuyện như hôm qua chứ. Chàng trai khốn khổ loạng choạng bước lui và hoảng sợ pha lẫn trách móc. - Không, không phải tôi đâu, thưa cậu Ghi-crít. không hé răng một lời nào hết! - Ông người hầu kêu - Phải, nhưng ông vừa nói đấy thôi - Hôm cất tiếng. sau lời nói vừa rồi của Ben-ni-xtơ, cậu đã rơi vào tình cơ may duy nhất nếu thành khẩn khai thật. Ghi-crít giơ một bàn tay lên và cố kìm nén vẻ uất ức lát. Sau đó, cậu ta quỳ thụp xuống cạnh bàn, hai tay - Nào, nào - Hôm nhẹ nhàng nói. - Đời chẳng có ai không ai có thể quy kết rằng cậu đã phạm tội ác tày tôi kể lại sự vụ và nếu tôi sai ở chỗ nào thì cậu cứ đính không cần trả lời đâu. Hãy nghe và cậu sẽ thấy tôi, đây chỉ có chúng ta và không ai có thể thẳng thắn nói chuyện với một con người trọng danh dự như ném về Ben-ni-xtơ một cái nhìn Tôi không hề nói một lời nào - lên. - Còn cậu, hẳn cậu thấy rằng thế vô vọng và cậu chỉ còn một hiện lên gương mặt trong chốc ôm mặt và bật khóc. là không phạm sai lầm và ít ra trời. Có lẽ sẽ dễ hơn cho cậu nếu chính. Vậy được chứ? Thôi, cậu không hề nói oan cho cậu.
Thầy Xôm, từ lúc thầy nói rằng không có ai, kể cả Ben-ni-xtơ, biết đề thi ở trong phòng thầy, vụ này đã bắt đầu tựu hình rõ rệt trong đầu tôi. Chúng ta có thể gạt thợ in ra khỏi diện nghi vấn. Nếu muốn,, Theo dõi Suy luận của Sơ-lốc Hôm về thủ phạm chép trộm đề thi.
anh ta có thể chép lại đề thi ngay trong nhà mình. Tôi cũng không nghi ngờ cậu người Ấn, vì bản in thử thể biết đó là gì. Mặt khác, tôi không tin có người tình cờ Người vào phải biết đề thi có ở đó. Nhưng làm sao hắn Trước khi vào nhà, tôi có kiểm tra cửa sổ phòng làm việc của thầy. […] Lúc ấy, tôi đang ước lượng xem người này phải cao chừng nào mới có thể thấy giấy tờ để trên bàn giữa phòng là gì khi đi ngang qua. Tôi cao sáu foot, ấy vậy mà cũng phải cố lắm tôi mới nhìn ra được., được cuộn lại nên cậu ta không bước vào và vô tình thấy đề thi. ta biết?
Vậy nên kẻ kia phải cao tầm tôi hoặc hơn. Giờ hẳn thầy đã rõ vì sao trong ba cậu sinh viên, tôi lại nghi ngờ cậu Ghi-crít nhất. Tôi vào nhà và nói cho thầy nghe
Vậy nên kẻ kia phải cao tầm tôi hoặc hơn. Giờ hẳn thầy đã rõ vì sao trong ba cậu sinh viên, tôi lại nghi ngờ cậu Ghi-crít nhất. Tôi vào nhà và nói cho thầy nghe các suy đoán của tôi về cái bàn kê gần cửa sổ. Tôi không rút ra kết luận gì về cái bàn giữa phòng cho đến khi thầy nói Ghi-crít là vận động viên nhảy xa. Bấy giờ, toàn bộ sự việc ngay tức khắc hiện lên trong đầu tôi và việc tôi cần làm chỉ còn là tìm ra vài bằng chứng chứng thực. Chẳng mấy chốc tôi đã có được chúng. Chuyện xảy ra như thế này: Cả buổi chiều chàng trai kia ở ngoài sân vận động để luyện nhảy xa. Cậu ta đi đôi giày nhảy về, mà như thầy biết đấy, đây là loại giày đinh. Lúc đi ngang cửa sổ phòng thầy, nhờ lợi thế chiều cao nên cậu ta thấy mấy bản in thử trên bàn và đoán ra chúng là gì. Chuyện xấu đã chẳng xảy ra nếu khi đi qua cửa phòng thầy, cậu ta không thấy cái chìa khoá người hầu sơ suất để quên. Cậu ta bị thôi thúc phải vào xem cái cậu ta thấy có phải đề thi ngày mai không. Hành động đó không hề mạo hiểm vì nếu bị bắt gặp, cậu ta có thể nói mình có chuyện cần hỏi thầy. Khi thấy đó đúng là đề thi, cậu ta đã đầu hàng sự cám dỗ. Cậu ta đặt giày lên bàn. Cậu để gì bên ghế gần cửa sổ vậy?
Đôi găng tay - chàng trai nói. Hôm đắc thắng nhìn Ben-ni-xtơ. - Cậu ta để găng tay trên ghế rồi lấy từng tờ đề thi để chép lại. Cậu ta tưởng thầy sẽ về qua cửa chính nên ngồi bên bàn cạnh cửa sổ để trông chừng. Như chúng ta đã biết, thầy vào bằng cửa hông. Cậu ta rất bất ngờ khi nghe tiếng thầy mở cửa ngoài. Cậu ta không còn đường thoát. Cậu ta chộp lấy đôi giày và chạy ào vào phòng ngủ nhưng để quên đôi găng tay. Thầy quan sát thấy rằng vết rách khá nông ở một bên, nhưng lại hằn rõ theo hướng của phòng ngủ. Chỉ riêng điều ấy cũng đủ cho ta thấy chiếc giày bị kéo về hướng đó và thủ phạm trốn trong phòng ngủ. Đất bám quanh một đinh giày vương lên bàn và mẩu đất thứ hai rã ra, rơi xuống sàn phòng ngủ. Xin được nói thêm, sáng nay tôi đã ra sân vận động, thấy rằng loại đất sét đen cứng này được đổ trong hố nhảy cùng một ít vỏ cây mịn hay mùn cưa rải lên trên để vận động viên không bị trượt ngã. Tôi nói đúng chứ, cậu Ghi-crít?
Anh sinh viên đứng thẳng dậy. - Vâng, ông nói đúng - cậu ta nói. - Chao ôi, cậu không còn gì để nói nữa ư? - Thầy Xôm kêu lên. - Có, thưa thầy, tôi còn có điều muốn nói, nhưng nỗi kinh hoàng bị vạch trần nhục nhã này làm tôi rối trí. Thầy Xôm, hồi sớm nay sau một đêm thao thức, tôi đã viết một lá thư gửi thầy. Tôi viết trước khi biết tội lỗi của mình bị vạch trần. Nó đây ạ. Trong thư
tôi có viết: Tôi quyết định không dự thi. Tôi được nhận vào làm ở Sở Cảnh sát Rốt-đơ (Rhodes) nên sẽ đi Nam Phi ngay. - Tôi thật lòng rất vui khi biết cậu không
tôi có viết: Tôi quyết định không dự thi. Tôi được nhận vào làm ở Sở Cảnh sát Rốt-đơ (Rhodes) nên sẽ đi Nam Phi ngay. - Tôi thật lòng rất vui khi biết cậu không định lợi dụng sơ sót của tôi. - Thầy Xôm nói. - Nhưng sao cậu lại đổi ý?
Ghi-crít chỉ Ben-ni-xtơ. - Chính người này đã đưa tôi vào đường ngay. - Cậu ta nói. - Giờ nói đi, Ben-ni-xtơ. - Hôm nói. - Sau điều tôi vừa giải thích, hẳn ông đã thấy rõ chỉ có ông mới có thể cho chàng trai này ra khỏi phòng, vì sau lúc thầy Xôm đi, chỉ còn lại mình ông trong phòng và ông hẳn đã khoá cửa khi ra. Tôi không tin cậu ta thoát ra ngoài qua đường cửa sổ phòng ngủ. Ông có thể làm sáng tỏ điểm cuối cùng trong bí ẩn này và cho chúng tôi biết lí do ông hành động như vậy chứ?
Nếu ông biết về tôi, ông sẽ thấy lí do rất đơn giản, nhưng tuy thông minh là thế ông không thể Đối chiếu biết chuyện. Thưa ông, khi xưa tôi làm quản gia Những người có liên quan đến vụ việc cho ông Gia-bớt Ghi-crít (Jabez Gilchrist), cha chép trộm đề thi có đúng như dự đoán
của em không?
của cậu đây. Khi ông ấy khánh kiệt(1) thì tôi đến trường làm, nhưng tôi không bao giờ quên ông chủ quá cố. Tôi chăm lo cho con trai ông ấy để trả ơn. Vâng thưa ông, hôm qua khi thầy Xôm gọi tôi vào phòng, cái tôi thấy trước tiên là đôi găng tay màu nâu của cậu Ghi-crít trên cái ghế đó. Tôi biết rõ đôi găng nên hiểu ra ngay. Nếu thầy Xôm thấy chúng, tất cả sẽ hỏng bét. Tôi vội ngồi xuống ghế đó và không nhúc nhích cho đến khi thầy Xôm chạy đi tìm ông. Sau đó cậu chủ tội nghiệp, người từng ngồi trong lòng tôi, bước ra và thú nhận tất cả. Thưa ông, lẽ tự nhiên tôi phải cứu cậu ấy chứ? Và cũng là lẽ tự nhiên tôi phải nói phải trái với cậu Ghi-crít như người cha quá cố của cậu ấy, để cậu ấy hiểu mình không thể trục lợi bằng cách đó, đúng không? Ông có chê trách tôi không, thưa ông Hôm? - Đúng, tôi không thể chê trách ông. - Hôm nói rất thành thực và đứng dậy. - Thầy Xôm, tôi nghĩ chúng tôi đã làm sáng tỏ vấn đề nho nhỏ của ông và bữa điểm tâm đang chờ chúng tôi ở nhà. Đi nào, Oát-xơn! Còn về phần cậu, tôi mong một tiền đồ xán lạn đang chờ cậu ở Rốt-đơ. Cậu đã vấp ngã một lần và tôi mong cậu có thể vươn cao trong tương lai.
(A-thơ Cô-nan Đoi-lơ, Sơ-lốc Hôm toàn tập, tập 2, theo Lê Quang Toản dịch, NXB Văn học, Hà Nội, 2022, tr. 572 - 588)
(1) Khánh kiệt: bị mất hết tài sản.
SAU KHI ĐỌC (Scotland). Ông sáng tác ở nhiều thể loại như: tiểu thuyết lịch sử, truyện khoa học viễn tưởng, truyện ngắn, kịch,... Ông nổi tiếng trên toàn thế gi
SAU KHI ĐỌC
(Scotland). Ông sáng tác ở nhiều thể loại như: tiểu thuyết lịch sử, truyện khoa học viễn tưởng, truyện ngắn, kịch,... Ông nổi tiếng trên toàn thế giới với truyện trinh thám, trong đó nhân vật chính là Sơ-lốc Hôm. Sơ-lốc Hôm đã xuất hiện trong 4 tiểu thuyết và 56 truyện ngắn của Cô-nan Đoi-lơ. Một số truyện trinh thám nổi bật của ông: Cuộc điều tra màu đỏ (1887), Dấu bộ tứ (1890), Những cuộc phiêu lưu của Sơ-lốc Hôm (1892), Những hồi ức về Sơ-lốc Hôm (1894),...
Truyện ngắn Ba chàng sinh viên được in trong tập truyện Sự trở về của Sơ-lốc Hôm (1905).
TRẢ LỜI CÂU HỎI
Tóm tắt chuỗi sự kiện của tác phẩm theo trật tự: vụ việc gây lo lắng, hoảng hốt - hành trình phá án của người điều tra - công bố sự thật.
2. Vụ án xảy ra ở đâu? Những dấu vết quan trọng nào đã được Sơ-lốc Hôm phát hiện
trong không gian đó?
Chỉ ra các chi tiết cho thấy áp lực về thời gian của cuộc điều tra. Việc tạo ra áp lực
về thời gian điều tra như vậy có tác dụng gì?
4. Nhằm tạo nên sự hấp dẫn của truyện trinh thám, nhà văn thường đánh lạc hướng
suy luận của người đọc để cuối cùng, chân tướng sự việc lộ diện bất ngờ. Đặc điểm này được thể hiện như thế nào trong truyện Ba chàng sinh viên?
5. Phân tích cách thức giúp Sơ-lốc Hôm đi đến kết luận về người có hành động gian
dối trước khi kì thi diễn ra (loại trừ giả thiết, xem xét hiện trường, tìm kiếm bằng chứng). Qua đó, nhận xét về tài năng phá án của vị thám tử.
Việc nhà văn để cho Oát-xơn - bạn thân của Sơ-lốc Hôm - vào vai người kể chuyện ngôi thứ nhất có tác dụng gì?
7. Em rút ra bài học gì từ câu chuyện được kể trong tác phẩm?
VIẾT KẾT NỐI VỚI ĐỌC
Viết đoạn văn (khoảng 7 - 9 câu) trình bày suy nghĩ của em về nhân vật Ben-ni-xtơ hoặc Ghi-crít trong truyện Ba chàng sinh viên.
Thực hành tiếng Việt CÁC KIỂU CÂU GHÉP VÀ PHƯƠNG TIỆN NỐI CÁC VẾ CÂU GHÉP Trong các câu trích từ văn bản Ba chàng sinh viên dưới đây, câu nào là câu ghép đẳng l
Thực hành tiếng Việt
CÁC KIỂU CÂU GHÉP VÀ PHƯƠNG TIỆN NỐI CÁC VẾ CÂU GHÉP
Trong các câu trích từ văn bản Ba chàng sinh viên dưới đây, câu nào là câu ghép đẳng lập, câu nào là câu ghép chính phụ?
a. Cậu người Ấn vẫn đi tới đi lui trong phòng, nhưng chúng tôi không thấy bóng dáng hai người kia đâu.
b. Chuyện xấu đã chẳng xảy ra nếu khi đi qua cửa phòng thầy, cậu ta không thấy cái chìa khoá người hầu sơ suất để quên.
c. Nếu thầy Xôm thấy chúng, tất cả sẽ hỏng bét.
d. Cậu đã vấp ngã một lần và tôi mong cậu có thể vươn cao trong tương lai.
Xác định quan hệ ý nghĩa giữa các vế ở những câu ghép dưới đây và cho biết trong mỗi câu ghép, các vế câu được nối với nhau bằng cách nào.
a. Vì chuyện này phải được giữ kín nên chúng ta sẽ tự lập ra một toà án nho nhỏ vậy.
(Cô-nan Đoi-lơ, Ba chàng sinh viên)
b. Đất bám quanh một đinh giày vương lên bàn và mẩu đất thứ hai rã ra, rơi xuống sàn phòng ngủ.
(Cô-nan Đoi-lơ, Ba chàng sinh viên)
c. Để người con gái khỏi trở lại bàn, anh lấy chiếc khăn tay còn vo tròn cặp giữa cuốn sách tới trả cho cô gái.
(Nguyễn Thành Long, Lặng lẽ Sa Pa)
d. Khó khăn càng lớn, quyết tâm càng cao.
Ở từng câu ghép có hai vế dưới đây, trọng tâm của thông báo nằm ở vế nào? Dựa vào đâu mà em xác định như vậy?
a. – Thu nhập tốt nhưng chỗ làm hơi xa.
– Chỗ làm hơi xa nhưng thu nhập tốt.
Nhận biết câu ghép đẳng lập
Những quan hệ ý nghĩa thường gặp giữa các vế của câu ghép đẳng lập là: quan hệ thời gian, quan hệ tương phản, quan hệ lựa chọn, quan hệ tăng cấp, quan hệ bổ sung,...
Phương tiện ngôn ngữ chủ yếu được dùng để nối các vế của câu ghép đẳng lập là kết từ (và, nhưng, hoặc,...) hoặc cặp từ hô ứng (... càng ... càng ..., ... vừa ... vừa ..., ... bao nhiêu ... bấy nhiêu,...).
Ví dụ:
(1) Trời không gió, nhưng không khí vẫn mát lạnh.
(Đoàn Giỏi, Đất rừng phương Nam)
Giữa hai vế của câu (1) có mối quan hệ tương phản. Hai vế của câu ghép được nối với nhau bằng kết từ nhưng.
(2) Ông ấy càng nói, chúng tôi càng thấy có nhiều vấn đề thực sự mới mẻ.
Giữa hai vế của câu (2) có mối quan hệ tăng cấp. Hai vế của câu ghép được nối với nhau bằng cặp từ hô ứng ... càng ... càng ...
Nhận biết câu ghép chính phụ
Những quan hệ ý nghĩa thường gặp giữa các vế của câu ghép chính phụ là: quan hệ nguyên nhân – kết quả; quan hệ điều kiện, giả thiết – hệ quả; quan hệ nhượng bộ – tăng tiến; quan hệ sự kiện – mục đích;...
Phương tiện ngôn ngữ chủ yếu được dùng để nối các vế của câu ghép chính phụ là cặp kết từ (tuy ... nhưng ..., vì ... nên ..., nếu ... thì ...,...) hoặc một kết từ ở vế phụ hay vế chính (tuy, nên,...).
Ví dụ:
(1) Bởi tôi ăn uống điều độ và làm việc có chừng mực nên tôi chóng lớn lắm.
(Tô Hoài, Dế Mèn phiêu lưu kí)
VĂN BẢN 2 TRƯỚC KHI ĐỌC Theo em, điều gì làm nên sức hấp dẫn của một truyện trinh thám? ĐỌC VĂN BẢN Bài hát đồng sáu xu$^{(1)}$ A-GA-THƠ CRÍT-XTI (Lược một đoạn
VĂN BẢN 2
TRƯỚC KHI ĐỌC
Theo em, điều gì làm nên sức hấp dẫn của một truyện trinh thám?
ĐỌC VĂN BẢN
Bài hát đồng sáu xu$^{(1)}$
A-GA-THƠ CRÍT-XTI
(Lược một đoạn: Vào một buổi tối, Méc-đơ-lân Va-an (Magdelen Vaughan) đến gặp luật sư Ét-uốt (Edward) nhờ ông giúp gia đình cô điều tra một vụ việc. Ba tuần trước, bà Li-ly Cráp-tri (Lily Crabtree) của cô đã bị giết ngay trong nhà. Bà Li-ly là em gái bà nội Méc-đơ-lân. Méc-đơ-lân và em trai sinh đôi Mét-thiu (Matthew) sống với bà từ khi 14 tuổi. Trong nhà còn có chú họ Uy-li-am Cráp-tri (William Crabtree) – cháu trai bà Li-ly (con của em trai bà) và vợ chú là thím Ê-mi-ly (Emily). Bà Li-ly để lại số tiền thừa kế lớn chia đều cho bốn người cháu. Méc-đơ-lân kể rằng sau buổi uống trà, các thành viên trong gia đình đi làm việc riêng của mình. Khi bà giúp việc Ma-thơ (Martha) chuẩn bị dọn bữa tối vào lúc 7 giờ 30 phút thì bà Li-ly đã chết rồi. Bà bị đánh bằng cái chặn giấy rất nặng trên bàn cạnh cửa ra vào. Cảnh sát kiểm tra dấu vân tay trên đó nhưng không thấy gì, vì nó đã được lau sạch. Các thành viên trong nhà nghĩ rằng thủ phạm là một tên trộm nào đó, nhưng bà Ma-thơ nói không có ai đến nhà. Tất cả các cửa sổ đều được cài then bên trong và dường như không có dấu hiệu nào của việc đột nhập. Vì thế, nghi ngờ dồn vào bốn thành viên của gia đình. Buổi sáng hôm đó, ngài Ét-uốt đã nói chuyện với luật sư của bà Li-ly. Cách bà Li-ly quản lí tiền bạc hơi ki lạ. Bà không bao giờ sử dụng séc. Bà có thói quen viết thư cho luật sư và yêu cầu ông để sẵn cho bà một số tiền toàn những
(1) Nhan đề do người biên soạn đặt.
đồng 5 bảng Anh. 3 giờ chiều, vị luật sư đến nhà việc Ma-thơ là người cuối cùng nhìn thấy bà Li-ly. Chiều mang đến cho bà Li-ly tiền thừa cùng bản báo cáo. hôm
đồng 5 bảng Anh. 3 giờ chiều, vị luật sư đến nhà việc Ma-thơ là người cuối cùng nhìn thấy bà Li-ly. Chiều mang đến cho bà Li-ly tiền thừa cùng bản báo cáo. hôm đó đau đầu, phải nằm nghỉ do thím và bà Li-ly cãi, Méc-đơ-lân. Méc-đơ-lân kể rằng bà giúp hôm đó, bà Ma-thơ làm sổ sách và Méc-đơ-lân giải thích việc thím Ê-mi-ly nhau rất căng thẳng. Bà Li-ly bảo vợ
chồng thím hãy cuốn gói ra khỏi nhà. Còn Méc-đơ-lân
không muốn sống ở nhà bà nữa, do bà Li-ly không đồng ý cho cô trở thành người mẫu. Mét-thiu đang nợ rất nhiều tiền, nhưng giờ đã ổn do có số tiền thừa kế từ bà Li-ly. Ngài Ét-uốt đã gặp gỡ các thành viên trong nhà Cráp-tri. Ông Cráp-tri nói rằng khi bi kịch xảy ra,, Theo dõi Những thông tin nào cho thấy Méc-đơ-lân, Mét-thiu, thím Ê-mi-ly, chú Uy-li-am đều có thể là nghi phạm?
ông đang mải chơi tem nên không nghe thấy gì. Thím Ê-mi-ly và sợ hãi rằng bà chẳng biết gì vì bà đang ngủ.) Ở hành lang, ngài Ét-uốt suýt đâm vào một chàng sải bước về phía cửa chính. - Cậu Mét-thiu đấy à? - Vâng… nhưng mà, tôi không chờ được. Tôi có - Mét-thiu! - Đó là tiếng chị cậu ta gọi vọng em đã hứa… - Em biết, chị à. Nhưng em không thể. Em phải nói đi nói lại cái chuyện khốn nạn đó liệu có ích gì. sát rồi. Em chán lắm. Cửa chính đánh rầm. Anh Mét-thiu đã bỏ đi. Ngài Ét-uốt được dẫn vào bếp. Bà Ma-thơ đang ủi ủi. Ngài Ét-uốt đóng cửa lại. - Cô Va-an nhờ tôi giúp cô ấy - ông bảo. - Tôi chuyện tôi hỏi bà vài câu. Bà nhìn ông, rồi lắc đầu. - Không ai trong số họ làm đâu, thưa ngài. Tôi chuyện không phải thế. Một nhóm phụ nữ và quý ông gặp đấy ạ. - Tôi cũng nghĩ thế. Nhưng sự tử tế của họ không bằng chứng, bà ạ. - Có lẽ là không, thưa ngài. Luật pháp buồn cười như cách ngài gọi đấy, thưa ngài. Không ai trong số họ - Nhưng chắc là… - Tôi biết mình đang nói gì thưa ngài. Đấy, ngài, trả lời luật sư với vẻ ngoan cố trai cao ráo da ngăm đen đang một cuộc hẹn. xuống từ cầu thang. - Ôi! Mét-thiu, đi gặp một người. Và, dù sao, cứ Chúng ta đã làm đủ thứ với cảnh đồ. Bà dừng lại, tay vẫn cầm bàn hi vọng bà sẽ không phản đối biết ngài đang nghĩ gì, nhưng tử tế mà người ta ao ước được phải là cái mà chúng ta gọi là thật. Nhưng có chứng cứ - theo có thể làm gì mà tôi không biết. nghe nhé…
"Đấy" là tiếng kêu cót két trên đầu họ. - Cái cầu thang đấy, thưa ngài. Mỗi khi có người lên xuống cầu thang, nó kêu cót két ghê lắm. Dù cho người ta đi nhẹ nhà
"Đấy" là tiếng kêu cót két trên đầu họ. - Cái cầu thang đấy, thưa ngài. Mỗi khi có người lên xuống cầu thang, nó kêu cót két ghê lắm. Dù cho người ta đi nhẹ nhàng cỡ nào đi nữa., Theo dõi Tại sao bà Ma-thơ khẳng định không ai trong gia đình liên quan đến vụ việc?
Bà Cráp-tri, bà ấy ngủ trên giường, còn ông Cráp-tri
thì đang nghịch mấy con tem chết tiệt của ông ấy, cô váy, và nếu có ai trong số ba người họ xuống cầu thang đâu có đi xuống! Bà nói vẻ chắc nịch khiến vị luật sư rất ấn tượng. Bà ấy quan trọng lắm đây.". - Nhỡ bà không để ý thì sao? - Có chứ ạ. Tôi để ý mà chẳng cần chú ý, có thể - Ba người thì giải thích được rồi, nhưng còn người cũng ở trên lầu sao? - Không, cậu ấy ở trong một căn phòng nhỏ tầng máy chữ. Ngài có thể nghe rõ mồn một từ trong này. hề dừng một giây. Không một giây, thưa ngài, tôi có mình khó chịu mà ồn ào nữa chứ. Ngài Ét-uốt ngừng một lát. - Bà chính là người phát hiện ra bà ấy, đúng - Vâng, thưa ngài, đúng thế. […] Và chẳng ai nghe lách cách từ cái máy đánh chữ của cậu Mét-thiu. - Theo tôi hiểu thì bà khẳng định rằng không ai - Làm sao họ vào được mà tôi lại không biết chứ, mà. Và kia là cửa chính duy nhất. Ông nhìn thẳng bà. - Bà rất gắn bó với bà Cráp-tri đúng không? Một vẻ bừng sáng ấm áp… chân thành… không gương mặt bà. - Vâng, thật thế, đúng thế, thưa ngài. Nhưng về và bây giờ tôi không ngại phải kể ra. Hồi con gái tôi Cráp-tri đã bênh vực tôi… đưa tôi về làm việc cho đã xong xuôi. Ví thử chết thay bà… nói thật là tôi Ngài Ét-uốt nghe là biết bà nói chân thành. Ma-thơ, Méc-đơ-lân ở trên lầu đang may thì tôi đã biết rồi. Nhưng họ Ông nghĩ: "Một nhân chứng tốt. nói vậy. […] thứ tư nữa. Anh Mét-thiu Va-an dưới. Cạnh bên. Và cậu đang đánh Tiếng đánh máy của cậu ấy không thể thề. Một thứ tiếng gõ gây bực không? tiếng động gì chỉ tại tiếng gõ vào nhà cả đúng không? thưa ngài? Chuông reo trong đây lẫn vào đâu được… hiện lên trên bà Cráp-tri… Ờ, tôi sống hoà hợp lỡ chửa hoang, thưa ngài, và bà bà, bà đã làm thế, khi mọi chuyện cũng sẽ làm. là người ngay thật.
Theo bà biết thì không ai đến cửa chính cả…? - Không có ai cả ạ. - Tôi nói theo bà biết. Nhưng nếu bà Cráp-tri Suy luận đang đợi ai đó… nếu tự bà ấy mở cửa chín
Theo bà biết thì không ai đến cửa chính cả…? - Không có ai cả ạ. - Tôi nói theo bà biết. Nhưng nếu bà Cráp-tri Suy luận đang đợi ai đó… nếu tự bà ấy mở cửa chính cho Luật sư Ét-uốt phỏng đoán như thế
người đó… nào về vụ án?
Ồ! - Ma-thơ có vẻ bất ngờ. - Tôi nghĩ có thể thế lắm chứ? - Ngài Ét-uốt gặng. - Có thể lắm… vâng… nhưng không chắc lắm. Ý tôi là… Rõ ràng là bà rất bất ngờ. Bà không thể chối bỏ dù rất muốn. Tại sao thế? Bởi vì bà biết sự thật nằm ở chỗ khác. Phải thế không nhỉ? Bốn người trong một nhà… một trong số họ là kẻ có tội? Có phải Ma-thơ muốn che giấu kẻ có tội đó không? Cầu thang đã kêu cót két ư? Có ai đó đã lén lút đi xuống và bà Ma-thơ có biết người đó là ai không?
Bà ấy là người chân thật… Ngài Ét-uốt tin như thế. […] - Tôi đoán không chừng là bà Cráp-tri đã làm vậy, nhỉ? Cửa của căn phòng đó hướng ra đường. Từ cửa sổ bà ấy hẳn đã nhìn thấy người mà bà đang đợi nên bước ra hành lang và mở cửa cho anh ta… hay cô ta… vào nhà. Thậm chí có thể bà ấy còn mong không có ai trông thấy người đó.
Bà Ma-thơ có vẻ lo âu. Cuối cùng bà miễn cưỡng đáp: - Vâng, có thể ngài nói đúng, thưa ngài. Tôi không hề nghĩ đến chuyện đó. Rằng bà ấy đang đợi một quý ông nào đấy… vâng, có thể thế lắm chứ. […]
Bà là người cuối cùng thấy bà ấy, đúng không? - Vâng, thưa ngài. Sau khi tôi dọn dẹp bữa trà. Tôi mang sổ sách biên nhận đến cho bà và cả tiền lẻ từ số tiền mà bà đưa cho tôi. […]
Bà ấy cất tiền ở đâu? - Tôi không biết chính xác lắm, thưa ngài. Tôi đoán bà mang nó theo mình… trong một chiếc túi nhung màu đen. […]
Và bà ấy không có nói gì khiến bà nghĩ rằng bà ấy đang đợi ai à? - Không, thưa ngài. - Bà chắc chứ? Thế chính xác bà ấy đã nói những gì? - Ờ - Ma-thơ đắn đo. - Bà ấy bảo người bán Theo dõi thịt không khác gì một thằng xỏ lá và lừa đảo,
Các chi tiết trong lời nói của bà Li-ly.
và bảo tôi mua thêm một phần tư số trà mà tôi phải mua, rồi bà chê bà Cráp-tri là đồ vớ vẩn khi không thích ăn bơ thực vật, và bảo trong mấy đồng 6 xu mà tôi mang về cho bà thì có một đồng bà không thích - một đồng mới
có hình lá sồi - bà bảo nó xấu quá, và tôi phải nhọc công lắm mới thuyết phục được bà. Rồi bà bảo… ôi, rằng người bán cá gửi đến cá tuyết chấm đen chứ không phả
có hình lá sồi - bà bảo nó xấu quá, và tôi phải nhọc công lắm mới thuyết phục được bà. Rồi bà bảo… ôi, rằng người bán cá gửi đến cá tuyết chấm đen chứ không phải cá whiting(1), và rằng tôi đã báo lại với ông ta chuyện đó chưa, và tôi đáp tôi đã báo rồi… và, thật ra, tôi nghĩ chỉ có chừng ấy thôi, thưa ngài.
Đối với ngài Ét-uốt, mấy lời của bà Ma-thơ đã khiến người phụ nữ quá cố hiện ra còn rõ hơn một bảng miêu tả chi tiết. Ông nói vẻ tình cờ:
Một bà chủ hơi khó chiều, nhỉ? - Hơi cầu kì, nhưng đấy, bà cụ đáng thương, hiếm khi đi chơi mà chỉ ru rú trong nhà nên phải kiếm cái gì đấy đại loại là để tự tiêu khiển. Bà khó tính nhưng nhân từ - không bao giờ để một người ăn mày đến rồi về tay không. Cầu kì nhưng là một người phụ nữ rất độ lượng. […]
Méc-đơ-lân vừa bước xuống tới cuối cầu thang. Cô nhìn ông Ét-uốt đầy hi vọng. - Chưa đi đến đâu cả. - Ngài Ét-uốt bảo, đáp lại cái nhìn của cô, rồi nói thêm: - Cô có biết những thư từ nào bà cô đã nhận vào ngày bà qua đời không? - Chúng vẫn còn cả đấy. Đương nhiên, cảnh sát đã xem qua. Cô đưa ông sang phòng khách đôi lớn, mở khoá một ngăn kéo và lấy ra cái túi nhung to màu đen có móc khoá bằng bạc cũ kĩ.
Đây là túi của bà cô. Mọi thứ đều ở trong đó như ngày bà mất. Tôi vẫn giữ nguyên thế.
Ngài Ét-uốt cảm ơn cô rồi bắt đầu xổ những thứ trong túi xách ra bàn. Ông nghĩ đó là một loại túi xách dành cho một cụ bà lập dị.
Có vài đồng xu bạc lẻ, hai cái
bánh quy gừng, ba mẩu báo về chiếc rương của Giôn-nơ Xao-cót(2) (Joanna Southcott), một bài thơ in vớ vẩn về những người thất nghiệp, một quyển Old Moore's Almanack(3), một miếng long não(4) to, vài cặp kính đeo mắt, và ba phong thư. Một lá thư chữ viết nghều ngoào gửi từ người có tên là "Em họ Lắc-xi (Lucy)", một hoá đơn sửa đồng hồ, và giấy kêu gọi giúp đỡ của một hội từ thiện.
(1) Whiting: một loại cá biển nhỏ màu xám bạc, thuộc họ cá tuyết. (2) Giôn-nơ Xao-cót (1750 - 1814) là một nữ tiên tri người Anh. (3) Old Moore's Almanack: sách niên giám thuật chiêm tinh được xuất bản ở Anh vào năm 1697. (4) Long não: chất rắn được chưng cất từ cây long não, mùi hăng, có tác dụng khử mùi và xua đuổi côn trùng.
Ngài Ét-uốt kiểm tra mọi thứ rất cẩn thận, rồi Méc-đơ-lân kèm một tiếng thở dài. - Cảm ơn, cô Méc-đơ-lân. Tôi e là trong đó chẳng, bỏ đồ trở vào túi và đưa lại
Ngài Ét-uốt kiểm tra mọi thứ rất cẩn thận, rồi Méc-đơ-lân kèm một tiếng thở dài. - Cảm ơn, cô Méc-đơ-lân. Tôi e là trong đó chẳng, bỏ đồ trở vào túi và đưa lại cho có gì nhiều. […]
Ngài Ét-uốt ra về. Ông đi bộ trên con đường và trầm tư suy nghĩ. Câu đố đã nằm trong tay… vậy mà ông vẫn chưa giải được. Cần thêm cái gì đấy…, Dự đoán Ai liên quan đến vụ án mạng?
cái gì đấy nhỏ thôi. Vừa đủ để chỉ cho ông đi
đúng hướng. Một bàn tay đặt lên vai khiến ông giật mình. Đó là - Tôi vừa mới chạy đuổi theo ngài, thưa ngài Ét-uốt. rất tệ của tôi nửa giờ trước. Nhưng tôi e là tâm trạng quá tốt bụng khi phải bận tâm chuyện này. Xin cứ Nếu có điều gì tôi có thể làm để giúp đỡ… Đột nhiên ngài Ét-uốt đơ ra. Cái liếc mắt của Mét-thiu - mà vào phía bên kia đường. Có vẻ hơi - Nếu có điều gì tôi có thể làm để giúp… - Cậu mới giúp rồi đấy, chàng trai yêu quý ạ - ngài đúng vị trí này và kéo sự quan tâm của tôi vào một thứ, Ông chỉ vào một nhà hàng nhỏ bên kia đường. - Hai Tư Chú Sáo Đen? - Mét-thiu hỏi, giọng - Chính xác. - Cái tên kì cục thật… nhưng thức ăn ở đó ngon - Tôi sẽ không dám đánh liều ăn thử đâu. - Ngài đi mẫu giáo trước cậu lâu lắm rồi, anh bạn ạ, có lẽ tôi tốt hơn. Nếu tôi nhớ đúng thì có một bài đồng dao cổ Hát bài đồng sáu xu Lúa mạch đen đầy lu Sáo đen hai tư chú Nướng trong bánh ú Phần còn lại không liên quan đến chúng ta. Ông quay ngoắt người. - Ngài đi đâu thế ạ? - Mét-thiu hỏi. - Quay lại nhà cậu, anh bạn ạ., Mét-thiu, có vẻ đang thở dốc. Tôi muốn xin lỗi. Về thái độ mình không được tốt. Ngài thật hỏi tôi bất kì điều gì ngài muốn. ông dán chặt - không phải vào hoang mang, Mét-thiu lặp lại: Ét-uốt đáp. - Vì đã dừng tôi lại mà nếu không thì tôi đã bỏ sót. hoang mang. lắm, tôi nghĩ thế. Ét-uốt bảo. - Tôi đã qua cái thời lại nhớ những giai điệu mẫu giáo hát thế này: nù…
Họ lặng lẽ đi bộ đến đó, Mét-thiu bối rối liếc nhìn người đi cùng. Ngài Ét-uốt vào nhà, sải bước tới ngăn kéo, lấy cái túi nhung đen và mở nó ra. […] Ngài Ét-uố
Họ lặng lẽ đi bộ đến đó, Mét-thiu bối rối liếc nhìn người đi cùng. Ngài Ét-uốt vào nhà, sải bước tới ngăn kéo, lấy cái túi nhung đen và mở nó ra. […]
Ngài Ét-uốt trút mấy đồng xu bạc lẻ lên bàn. Rồi ông gật đầu. Trí nhớ của ông đã không hề sai.
Ông đứng lên và nhấn chuông. Ma-thơ xuất hiện. Theo dõi - Ma-thơ, nếu tôi nhớ không nhầm thì bà nói Bài đồng dao giúp luật sư Ét-uốt với tôi bà có cãi cọ đôi chút với bà chủ quá cố về nhớ lại chứng cứ nào mà ông đã một trong những đồng 6 xu mới. bỏ sót?
Vâng, thưa ngài. - À! Nhưng Ma-thơ này, điều lạ lùng là trong số tiền lẻ này, không có đồng 6 xu mới nào cả. Có hai đồng 6 xu nhưng cả hai đều cũ rồi.
Bà trố mắt nhìn ông vẻ bối rối. - Bà biết điều đó nghĩa là gì không? Ai đấy đã đến nhà tối đó… ai đấy đã được bà chủ của bà cho đồng 6 xu… Tôi nghĩ bà cho anh ta để lấy cái này…
Bằng một động tác nhanh nhẹn, ông vung tay đưa ra mấy vần thơ vụng về viết về chuyện thất nghiệp.
Chỉ thoáng nhìn qua khuôn mặt bà là đã đủ. - Kết thúc trò chơi rồi, Ma-thơ… bà thấy đấy, tôi biết hết. Có lẽ bà nên nói cho tôi biết mọi chuyện.
Bà ngồi thụp xuống ghế… nước mắt thi nhau chảy giàn giụa. - Đúng thế… Đúng thế… cái chuông không hoạt động bình thường. Tôi cũng không chắc, và rồi tôi nghĩ tốt nhất nên đi xem xét. Tôi đến cửa thì hắn ta vừa đánh gục bà ấy. Cuộn tiền tờ 5 đồng nằm trên bàn trước mặt bà… Chính cái cảnh tiền bạc đó đã khiến hắn làm thế… cái đó và suy nghĩ rằng bà chỉ có một mình ở nhà khi bà cho hắn vào. Tôi Đối chiếu không la lên được. Tôi quá tê liệt và rồi hắn quay Người liên quan đến vụ án mạng có lại… và tôi thấy đó là thằng con trai tôi… đúng như dự đoán của em không?
Ôi, nó luôn là thằng con hư đốn. Có bao nhiêu tiền tôi cho nó hết. Nó ở tù hai lần rồi. Hẳn là nó đến tìm tôi, và rồi bà Cráp-tri thấy có vẻ như tôi không ra mở cửa thì tự mình đi mở, và nó ngạc nhiên nên lôi ra một trong mấy cái tờ rơi về thất nghiệp, và vì là người rộng lượng, bà chủ bảo hắn vào nhà và lấy ra một đồng 6 xu. Và suốt thời gian đó cọc tiền nằm trên bàn như nó vẫn nằm khi tôi đưa tiền thối lại cho bà. Và rồi ma quỷ nhập vào thằng Ben (Ben) của tôi và nó đi tới đằng sau bà và đánh gục bà.
Rồi sao nữa? - Ngài Ét-uốt hỏi.
- Ôi, ngài ơi, tôi có thể làm gì được chứ? Máu mủ ruột rà của tôi mà. Cha nó là thằng tồi và Ben học đòi theo… nhưng nó là con trai tôi. Tôi xua nó đi và rồi tô
- Ôi, ngài ơi, tôi có thể làm gì được chứ? Máu mủ ruột rà của tôi mà. Cha nó là thằng tồi và Ben học đòi theo… nhưng nó là con trai tôi. Tôi xua nó đi và rồi tôi quay vào bếp và đi dọn bữa ăn tối vào thời gian như thường lệ. Ngài nghĩ rằng tôi rất ranh mãnh phải không, thưa ngài? Tôi cố gắng không nói dối ngài khi ngài chất vấn tôi. Ngài Ét-uốt đứng dậy. - Người đàn bà tội nghiệp ơi! - Ông nói giọng xúc động. - Tôi thấy rất tiếc cho bà. Dù vậy, luật pháp sẽ phải thực thi thôi, bà biết đấy. (A-ga-thơ Crít-xti, Nhân chứng buộc tội, theo Lan Huế dịch, NXB Trẻ, Thành phố Hồ Chí Minh, 2022, tr. 194 - 222)
SAU KHI ĐỌC
A-ga-thơ Crít-xti (1890 - 1976) là nhà văn lớn người Anh, được mệnh danh là "nữ hoàng truyện trinh thám". Sự nghiệp văn học của bà khá đồ sộ với nhiều thể loại: tiểu thuyết, truyện ngắn, kịch,... Một số tiểu thuyết trinh thám nổi tiếng của bà đã được dịch sang tiếng Việt: Án mạng trên chuyến tàu tốc hành Phương Đông (1934), Án mạng trên sông Nin (Nile) (1937), Mười người da đen nhỏ (1939), Ngôi nhà quái dị (1949),... Truyện ngắn Bài hát đồng sáu xu được đăng lần đầu trên hoạ báo Tin tức sân khấu và thể thao tháng 12 năm 1929 ở Anh. Sau đó tác phẩm được in trong tập truyện Nhân chứng buộc tội (1948).
TRẢ LỜI CÂU HỎI
Xác định vụ án được kể lại trong tác phẩm và cho biết không gian, thời gian xảy ra
vụ án.
2. Đặc điểm hệ thống nhân vật của thể loại truyện trinh thám được thể hiện như thế
nào trong tác phẩm Bài hát đồng sáu xu?
Yếu tố ngẫu nhiên nào đã xuất hiện trong quá trình điều tra của luật sư Ét-uốt? Yếu tố
đó giúp ích gì cho việc suy luận của vị luật sư?
4. Bằng cách nào luật sư Ét-uốt đã phá án thành công? Qua đó, ông đã bộc lộ những
khả năng gì?
5. Tác phẩm chủ yếu là lời thoại của các nhân vật. Theo em, vì sao nhà văn không
miêu tả kĩ quá trình cân nhắc, suy luận của người điều tra?
Truyện trinh thám hấp dẫn người đọc bởi yếu tố bất ngờ. Hãy chỉ ra sự bất ngờ của
kết quả điều tra vụ án trong tác phẩm Bài hát đồng sáu xu.
7. Câu chuyện được kể trong tác phẩm gợi cho em những suy nghĩ, bài học gì?
VĂN BẢN 3 ĐỌC VĂN BẢN Phạm Xuân Ẩn – tên người như cuộc đời⁽¹⁾ Trích, NGUYỄN THỊ NGỌC HẢI⁽²⁾ (1) Pi-tơ Rót-xơ Rên-giơ (Peter Ross Range) – “burô”⁽³⁾, sếp của ôn
VĂN BẢN 3
ĐỌC VĂN BẢN
Phạm Xuân Ẩn – tên người như cuộc đời⁽¹⁾
Trích, NGUYỄN THỊ NGỌC HẢI⁽²⁾
(1)
Pi-tơ Rót-xơ Rên-giơ (Peter Ross Range) – “burô”⁽³⁾, sếp của ông thời kì ở Việt Nam khi ông làm cho tờ Time⁽⁴⁾ đã nghĩ ra hẳn tên một cuốn sách để khuyến khích ông viết lại cuộc đời mình. “Nếu không có câu chuyện của anh, một mảng quan trọng của lịch sử sẽ bị thiếu”. – Pi-tơ viết. – “Không ai có một câu chuyện như anh để kể lại: làm việc trong một cơ quan báo chí Mỹ trong khi cung cấp tin tức cho miền Bắc. Không ai có một cuộc đời như đời anh, tham gia Việt Minh ở một lứa tuổi rất trẻ. Một câu chuyện lí thú biết bao!”.
Pi-tơ thuyết phục một cách đầy hứng khởi. Ông ta còn đề nghị cái tựa cho quyển sách ấy: A man of honor: The life of Pham Xuan An⁽⁵⁾. [...]
Ông đã trải đời mình cùng với lịch sử kháng chiến của Việt Nam, là quân nhân trong ba quân đội khác nhau. Tham gia Vệ quốc đoàn⁽⁶⁾ khi 18 tuổi, bị trả về vì thiếu súng đạn, vũ khí lúc đó dành cho thành phần cơ bản. Ông hoà vào phong trào học sinh sinh viên Trần Văn Ơn tại Sài Gòn năm 1950. Trở thành lính trong quân đội Pháp, không phải lính bộ binh, mà là bí thư cho trưởng phòng lo về chính trị trong
⁽¹⁾ Phạm Xuân Ẩn – tên người như cuộc đời là cuốn sách đầu tiên viết về Thiếu tướng tình báo, Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Phạm Xuân Ẩn (1927 – 2006).
⁽²⁾ Nguyễn Thị Ngọc Hải sinh năm 1944, quê ở Hà Nội, là nhà báo, nhà văn có nhiều kí sự viết về những nhân vật đặc biệt. Một số tác phẩm tiêu biểu của bà: Tôi chết bắt đầu một thế giới sống (1997), Phạm Xuân Ẩn – tên người như cuộc đời (2002), Trần Quốc Hương – người chỉ huy tình báo (2003), Đại tướng Mai Chí Thọ (2005),...
⁽³⁾ Burô (tiếng lóng): sếp (nghĩa trong văn bản).
⁽⁴⁾ Time: tạp chí nổi tiếng phát hành hằng tuần tại Mỹ.
⁽⁵⁾ A man of honor: The life of Pham Xuan An: Một người đáng trân trọng: Cuộc đời của Phạm Xuân Ẩn.
⁽⁶ Vệ quốc đoàn: tên gọi của Quân đội Nhân dân Việt Nam trong giai đoạn từ tháng 9 năm 1945 đến tháng 5 năm 1946.
quân đội. Khi hoà bình lập lại ở Đông Dương sau Hội nghị Giơ-ne-vơ (Genève), Mỹ can thiệp dựng Ngô Đình Diệm với chủ trương phá hoại Hiệp định, không chịu tổng
quân đội. Khi hoà bình lập lại ở Đông Dương sau Hội nghị Giơ-ne-vơ (Genève), Mỹ can thiệp dựng Ngô Đình Diệm với chủ trương phá hoại Hiệp định, không chịu tổng tuyển cử thống nhất Việt Nam sau hai năm như đã kí kết. Mỹ đổ tiền của vào Việt Nam để giúp họ Ngô đứng vững. […] Ông Ẩn do có tiếng Anh và thạo nghề, nên lại trở thành nhân viên dịch thuật tại Bộ Tổng tham mưu, tham dự vào việc thành lập những sư đoàn đầu tiên do Mỹ tuyển chọn và đào tạo. Năm 1957 ông là sinh viên Việt Nam đầu tiên đến học về báo chí ở quận Cam và sống ở Ca-li-phoóc-ni-a (California) trong hai năm. […] Nhưng không ai biết được ngoài việc học thực sự kiến thức, chàng sinh viên ấy đã trở thành Đảng viên Cộng sản từ năm 1953, được chính bác sĩ Phạm Ngọc Thạch tuyển vào Chiến khu D(1) từ 1952. Sang Mỹ học, ông Ẩn còn có nhiệm vụ tìm hiểu về văn hoá Mỹ vì Đảng đã nhìn thấy sự dính líu sâu sắc của Mỹ đối với Việt Nam. Muốn chiến thắng kẻ thù này, phải đào tạo những người có điều kiện như ông, "chuyển qua làm với Mỹ, phải được đào tạo trình độ phù hợp với yêu cầu của Mỹ". Sau khi học ở Mỹ về, Phạm Xuân Ẩn hành nghề báo chí, từ Việt Tấn xã dưới thời Ngô Đình Diệm, cho tới làm phóng viên cho các hãng nước ngoài tại Việt Nam như Roi-tơ(2) (Reuters), Time,… Ông là người Việt Nam duy nhất vào biên chế của hãng nước ngoài với lương rất cao thời đó, 750 đô la một tháng. Phạm Xuân Ẩn hành nghề báo chí và trở thành kí giả thực sự có tên tuổi. Chỉ có điều khác lạ là ông còn trở thành một vị Thiếu tướng, Anh hùng Lực lượng vũ trang của Quân đội Nhân dân Việt Nam.
Vì sao sau khi đất nước thống nhất, cả nước và thế giới biết rõ ông là tình báo, vậy mà người Mỹ trong giới báo chí hoạt động cùng thời với ông nay trở lại Việt Nam vẫn đem lòng tin tưởng và kính trọng ông? Đó là một nhân cách, một tài năng. Đời ông là một câu trả lời lớn cho nhiều câu hỏi vẫn làm đau đầu nhiều người bạn Mỹ của ông. Đến hôm nay họ quay lại đất nước này vẫn tìm ông để mong có câu giải đáp vì sao Mỹ thất bại ở Việt Nam. Vì sao một trí thức giỏi và sống có nhân cách theo "kiểu Mỹ" như ông Ẩn lại có thể là người đứng trong tổ chức chặt chẽ của Quân đội Nhân dân Việt Nam, của ngành tình báo vốn đầy hiểm nguy? Có những người Mỹ là bạn cũ trong giới báo chí của ông, nay đã mất nhưng dặn lại con cái họ sang Việt Nam hãy tìm đến ông Ẩn. Họ nói sẽ học được nhiều ở con người đó. Quả thật, cuốn sách viết về ông nên có tên là Người có cuộc đời bí ẩn như cái tên - chứ không cần đến cái tựa đề mà Pi-tơ Rót-xơ Rên-giơ đề nghị.
Bởi vì, cuộc đời ông không được ông viết ra bao giờ. Năm 1989, 14 năm sau ngày miền Nam giải phóng, Mo-li Xây-phơ (Morley Safer) chủ biên Chương trình 60phút(3)
(1) Chiến khu D: căn cứ cách mạng quan trọng của miền Đông Nam Bộ trong kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ. (2) Roi-tơ: hãng thông tấn quốc tế lớn, có trụ sở chính tại Luân Đôn (Anh). (3) Chương trình 60 phút(60 Minutes): chương trình tin tức nổi tiếng có thời lượng 60 phút, được phát sóng trên kênh CBS.
nổi tiếng của đài truyền hình CBS(1) đã trở lại Sài Gòn, gặp ông Phạm Xuân Ẩn như người bạn làm báo cũ trong thời kì chiến tranh. Cuộc gặp gỡ này đã được viết t
nổi tiếng của đài truyền hình CBS(1) đã trở lại Sài Gòn, gặp ông Phạm Xuân Ẩn như người bạn làm báo cũ trong thời kì chiến tranh. Cuộc gặp gỡ này đã được viết thành hẳn một chương trong cuốn sách Hồi tưởng: Khi trở lại thăm Việt Nam của Mo-li Xây-phơ do Nhà xuất bản Random House xuất bản năm 1989.
Hãy xem dưới mắt nhà báo phương Tây, ông Ẩn đã hiện ra như thế nào: "Phạm Xuân Ẩn đang đứng nơi cổng sắt đã mở sẵn với một cặp chó Đức kèm sát bên. Ẩn và những con chó thân yêu của anh ta. Anh ta thường dắt chó đi khắp nơi, hay uống cà phê buổi sáng ở khách sạn Continental với con chó Đức thò cái mõm đen ra khỏi gầm bàn. Anh ta tiến về phía tôi, mở rộng vòng tay choàng ôm hôn, một cung cách ít thấy ở người Việt".
Có lẽ Mo-li Xây-phơ đang sống lại những cảm xúc của một thời đã xa, khi họ còn làm báo ở Sài Gòn và Continental là nơi họ tụ họp mỗi buổi sáng vừa điểm tâm vừa trao đổi tin tức. Với Mo-li, lúc đó ông Ẩn là nhà báo thực thụ của tuần báo Time, người rất nhạy bén về các vấn đề thời cuộc, cả chính trị lẫn quân sự. Ông có nhiều mối quen biết quan trọng.
Lại lời Mo-li Xây-phơ: "Ở toà báo Time anh được coi là người khôn khéo. Ẩn luôn luôn được giao nhiệm vụ thuyết trình cho nhóm phóng viên mới tới. Và cũng chính anh ta là người gỡ mối cho những vấn đề chính trị rối mù của chính giới Việt Nam lúc đó. Anh là người cởi mở, dấn thân và có óc hài hước, luôn được niềm nở tiếp đón trong các giới quân sự và ngoại giao Việt - Mỹ và cũng là một trong số rất ít kí giả Việt được cho phép tham dự các buổi thuyết trình hạn chế của phái bộ Mỹ". […]
Mo-li nói ông Ẩn còn là một bí mật. Thật ra điều đó chỉ đúng với cảm giác của Mo-li, còn với người Việt Nam thì ông nếu có là một bí mật thì chỉ là vì ông ít bộc bạch cuộc đời mình. Người Việt Nam đều biết ông là anh hùng tình báo, một thiếu tướng được kính trọng. Không ai còn hỏi như Mo-li hỏi hôm đó: "Anh đang còn là một bí mật. Dân chúng vẫn chưa biết chắc là anh hoạt động cho phe nào. Vậy sự thật ra sao?".
"Ẩn cười lớn: Sự thật? Sự thật nào mới được chứ? Có một sự thật là trong 10 năm tôi là phóng viên cho toà soạn tuần báo Time và trước đó làm cho hãng Roi-tơ. Một sự thật khác nữa là tôi gia nhập phong trào cách mạng từ năm 1945 và là thành viên của họ từ đó với các chức vụ khác nhau. Hai sự thật, hai sự thật… đều thật". […]
(2) [...] Trong cuộc nói chuyện với các đồng nghiệp cũ khi họ trở lại Việt Nam sau này, ông Ẩn quan tâm thăm hỏi tin tức của các đồng nghiệp cũ như Phranh Mắc Cơ-lóc (Frank McCulloch), giám đốc văn phòng tuần báo Time tại Sài Gòn, Ri-chát Clơ-men
(1) CBS: viết tắt của Colombia Broadcasting System - hệ thống phát thanh Cô-lôm-bi-a, một công ti truyền thông lớn tại Mỹ.
(Richard Clurman), trưởng ban phóng viên cho Time - Life có văn phòng tại Niu Oóc (New York). Những người Mỹ đã biết ông Ẩn tới một phần tư thế kỉ mà vẫn còn nh
(Richard Clurman), trưởng ban phóng viên cho Time - Life có văn phòng tại Niu Oóc (New York). Những người Mỹ đã biết ông Ẩn tới một phần tư thế kỉ mà vẫn còn nhiều bất ngờ về ông. Sau nữa, chắc gì họ đã hiểu ông Ẩn như họ thường cho là họ hiểu. Như Mo-li Xây-phơ chẳng hạn. Xây-phơ viết: "Tội nghiệp cho Ẩn. Anh đã chọn chỗ đứng giữa vùng đất không người, tuỳ thuộc vào sự hình thành của lực lượng thứ ba. Chẳng có chỗ đứng nào cho một tâm hồn nhạy cảm như anh…". Mặc dù Xây-phơ cũng nhận ra rằng do ý nghĩa lịch sử, chỉ có một chỗ đứng như ông Ẩn đã đứng, dành cho những tâm hồn nhạy cảm. Nếu hiểu theo cách người Việt nghĩ thì do đất nước gặp ngoại xâm, tất cả những tâm hồn yêu nước, nhạy cảm, chỉ có một chỗ đứng giống nhau như vậy thôi, chỗ đứng trong đội quân những người cứu nước. Xây-phơ còn cho rằng nếu Gra-ham Grin (Graham Greene) nhìn Việt Nam theo một cách nào đó, ông có thể viết cuốn tiểu thuyết Người Việt Nam trầm lặng với Phạm Xuân Ẩn là nhân vật mẫu.
Rõ ràng Phạm Xuân Ẩn có cuộc đời của nhân vật tiểu thuyết. Nhưng các nhà báo Việt Nam cũng như nhà báo nước ngoài mới chỉ có được "vài chớp đèn flash(1)" nắm bắt những nét thoảng qua nào đó của cuộc đời ông theo một số sự kiện lịch sử lớn lao. Chưa ai có được tấm chân dung hay "bản hồ sơ về tâm hồn" với tính cách điển hình Việt Nam. Các thành tích của ông đã khắc ghi bằng danh hiệu Anh hùng cao quý do nhà nước tặng. Nhưng điều gì, hoàn cảnh nào đã tạo nên một người Việt đặc sắc như thế?
Đó là nỗi niềm mong ước của tôi, khi lưỡng lự bấm chuông một ngôi biệt thự ở vào vị trí rất đẹp nhưng chỉ vào hạng xoàng trên đường Lý Chính Thắng, Sài Gòn. Tôi không thể đủ điều kiện viết về ông theo cách chuẩn xác của những điệp vụ. Càng không muốn liệt kê theo các bản khai lí lịch đơn thuần. Tôi muốn tìm ra cái chất "Người Việt trầm lặng" mà Xây-phơ hình dung, hoặc là chất honor(2) trong cuộc đời ông mà Pi-tơ Rót-xơ Rên-giơ đề nghị. Nhưng sau hết, tôi muốn mọi người Việt Nam được đón lấy những gì dịu dàng nhất, can đảm nhất, yêu thương tươi cười nhất, từ cuộc đời của một con người cao gầy, mỏng manh như cây sậy. Sức mạnh của con người ấy được lấy từ mỏ năng lượng quý báu và thần diệu nào đã ban cho? Nếu như bạn đọc nào ao ước cùng tôi điều đó thì hãy đọc cuốn sách này. Nó là một phần chân dung để chúng ta tự hiểu, hình ảnh người Việt cao quý giống như chúng ta đang vẽ ra bản đồ của một tâm hồn. Một việc thật khó làm!
(Nguyễn Thị Ngọc Hải, Phạm Xuân Ẩn - tên người như cuộc đời,
NXB Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh, 2015, tr. 9 - 22)
(1) Đèn flash: còn gọi là đèn chớp, một loại đèn chuyên dụng trong nhiếp ảnh và quay phim, có khả năng phát ra ánh sáng mạnh để hỗ trợ cho việc ghi hình.
(2) Honor: tự trọng, tôn kính, danh dự.
Thực hành tiếng Việt LỰA CHỌN CÂU ĐƠN HOẶC CÂU GHÉP 1 Xác định quan hệ ý nghĩa giữa các vế trong những câu ghép dưới đây. Có thể tách mỗi vế của câu ghép thành
Thực hành tiếng Việt
LỰA CHỌN CÂU ĐƠN HOẶC CÂU GHÉP
1 Xác định quan hệ ý nghĩa giữa các vế trong những câu ghép dưới đây. Có thể tách mỗi vế của câu ghép thành một câu đơn được không? Vì sao?
a. Chẳng những thái ấp của ta không còn, mà bổng lộc các ngươi cũng mất; chẳng những gia quyến của ta bị tan, mà vợ con các ngươi cũng khốn; chẳng những xã tắc tổ tông ta bị giày xéo, mà phần mộ cha mẹ các ngươi cũng bị quật lên; chẳng những thân ta kiếp này chịu nhục, rồi đến trăm năm sau, tiếng dơ khôn rửa, tên xấu còn lưu, mà đến gia thanh các ngươi cũng không khỏi mang tiếng là tướng bại trận.
(Tần Quốc Tuấn, Hịch tướng sĩ)
b. Nếu con chưa đi, cụ Nghị chưa giao tiền cho, u chưa có tiền nộp sưu thì không khéo thầy con sẽ chết ở đình, chứ không sống được.
(Ngô Tất Tố, Tắt đèn)
Mục đích của việc lựa chọn câu đơn hoặc câu ghép
Do cấu trúc khác nhau nên câu đơn và câu ghép có sự khác biệt trong việc biểu đạt nghĩa, nhằm đến những mục đích giao tiếp khác nhau. Ví dụ:
Pháp chạy, Nhật hàng, vua Bảo Đại thoái vị.
(Hồ Chí Minh, Tuyên ngôn Độc lập)
Câu văn trên là một câu ghép đẳng lập có ba vế, liệt kê ba sự kiện. Để biểu đạt ý liệt kê này, chúng ta có thể dùng ba câu đơn: Pháp chạy. Nhật hàng. Vua Bảo Đại thoái vị. Tuy nhiên, việc thể hiện ba sự kiện bằng ba câu đơn riêng biệt như vậy sẽ không biểu đạt được hiệu quả ý nhấn mạnh sự nối tiếp và mối quan hệ chặt chẽ giữa ba sự kiện.
2 Hãy chuyển đổi các câu đơn trong mỗi trường hợp sau thành câu ghép và nhận xét sự khác biệt về ý nghĩa giữa các câu đơn ban đầu và câu ghép có được sau khi ch
2 Hãy chuyển đổi các câu đơn trong mỗi trường hợp sau thành câu ghép và nhận xét sự khác biệt về ý nghĩa giữa các câu đơn ban đầu và câu ghép có được sau khi chuyển đổi.
a. Rõ ràng Phạm Xuân Ẩn có cuộc đời của nhân vật tiểu thuyết. Nhưng các nhà báo Việt Nam cũng như nhà báo nước ngoài mới chỉ có được "vài chớp đèn flash" nắm bắt những nét thoảng qua nào đó của cuộc đời ông theo một số sự kiện lịch sử lớn lao. (Nguyễn Thị Ngọc Hải, Phạm Xuân Ẩn - tên người như cuộc đời)
b. Thầy dạy rất ân cần, tỉ mỉ, chỉ bảo cho chúng tôi từng li từng tí: cách tô màu, đánh bóng, cả cách gọt bút chì thế nào cho đẹp và dễ vẽ. Nhưng thú vị hơn cả là những câu chuyện của thầy. (Xuân Quỳnh, Thầy giáo dạy vẽ)
c. Chắc cô giáo rất vui trước món quà của em, giữa bao món quà của các bạn. Và em sẽ không để tên mình - tên người mang cánh buồm tặng cô. (Lâm Thị Mỹ Dạ, Cánh buồm ngũ sắc) 3 Các đoạn trích sau vừa có câu đơn vừa có câu ghép. Hãy chỉ ra sự phù hợp giữa kiểu cấu trúc câu và ý nghĩa cần biểu đạt của mỗi câu.
a. Chúng ta muốn hoà bình, chúng ta phải nhân nhượng. Nhưng chúng ta càng nhân nhượng, thực dân Pháp càng lấn tới, vì chúng quyết tâm cướp nước ta lần nữa! Không! Chúng ta thà hi sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ. (Hồ Chí Minh, Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến)
b. Vì sao sau khi đất nước thống nhất, cả nước và thế giới biết rõ ông là tình báo, vậy mà người Mỹ trong giới báo chí hoạt động cùng thời với ông nay trở lại Việt Nam vẫn đem lòng tin tưởng và kính trọng ông? Đó là một nhân cách, một tài năng. Đời ông là một câu trả lời lớn cho nhiều câu hỏi vẫn làm đau đầu nhiều người bạn Mỹ của ông. (Nguyễn Thị Ngọc Hải, Phạm Xuân Ẩn - tên người như cuộc đời) 4 Viết đoạn văn (khoảng 5 - 7 câu) trình bày cảm nghĩ của em về nhà tình báo Phạm Xuân Ẩn sau khi đọc văn bản Phạm Xuân Ẩn - tên người như cuộc đời, trong đoạn văn có ít nhất một câu ghép.
Trang 30
Trang 31
Trang 32
Trang 33
Trang 34
Trang 35
Trang 36
Củng cố, mở rộng Kể bảng theo mẫu sau (làm vào vở) và điền thông tin về hai văn bản Ba chàng sinh viên và Bài hát đồng sâu xu vào ô phù hợp: Văn bản Nội dung, B
Củng cố, mở rộng
Kể bảng theo mẫu sau (làm vào vở) và điền thông tin về hai văn bản Ba chàng sinh viên và Bài hát đồng sâu xu vào ô phù hợp:
Văn bản Nội dung, Ba chàng sinh viên, Bài hát đồng sâu xu
Vụ án
Không gian hiện trường
Hệ thống nhân vật: – Người điều tra – Nạn nhân – Nghi phạm – Thủ phạm
Ngôi kể
Chủ đề
Hãy diễn tả một sự việc hay chi tiết tiêu biểu trong văn bản Ba chàng sinh viên hoặc Bài hát đồng sâu xu bằng một hình thức nghệ thuật mà em thích (tranh, truyện tranh, hoạt cảnh,...).
Các văn bản trong bài học này đã giải mã những bí mật gì? Theo em, việc giải mã những bí mật trong thế giới tự nhiên và đời sống xã hội có ý nghĩa như thế nào?
Trang 38
Trang 39
Trang 40
Trang 41
Trang 42
Trang 43
Trang 44
Đọc TRI THỨC NGỮ VĂN Thơ sáu chữ, bảy chữ, tám chữ Thơ sáu chữ, bảy chữ, tám chữ là những thể thơ được xác định dựa vào số chữ (tiếng) trong mỗi dòng thơ. Các d
Đọc
TRI THỨC NGỮ VĂN
Thơ sáu chữ, bảy chữ, tám chữ
Thơ sáu chữ, bảy chữ, tám chữ là những thể thơ được xác định dựa vào số chữ (tiếng) trong mỗi dòng thơ. Các dòng thơ thường được ngắt nhịp một cách linh hoạt.
Bài thơ sáu chữ, bảy chữ, tám chữ có số lượng dòng không hạn chế; có thể chia khổ hoặc không; thường sử dụng vần chân, gieo vần liền hoặc vần cách.
Kết cấu
Kết cấu là toàn bộ cách tổ chức, sắp xếp, liên kết các yếu tố tạo nên tác phẩm nghệ thuật. Trong thơ, đó là cách tổ chức, sắp xếp, liên kết mạch cảm xúc, thế giới hình tượng và các phương tiện ngôn ngữ được dùng để biểu đạt.
Một số căn cứ để xác định chủ đề
Chủ đề của tác phẩm văn học thường được người đọc tự rút ra từ toàn bộ nội dung của tác phẩm. Tuy vậy, trong nhiều trường hợp, một số yếu tố nổi bật của tác phẩm có thể là căn cứ quan trọng để xác định chủ đề:
Nhan đề có thể hé lộ cho người đọc phần nào chủ đề của tác phẩm.
Một số yếu tố khác gắn với đặc trưng thể loại có thể giúp người đọc nắm được chủ đề của tác phẩm, chẳng hạn, với thơ: mạch cảm xúc, hình ảnh,...; với truyện, kịch: nhân vật, sự kiện, xung đột,..., đôi khi là lời phát biểu trực tiếp của nhân vật hay lời người kể chuyện.
Sự phát triển của ngôn ngữ: nghĩa mới của từ ngữ và từ ngữ mới
Từ vựng của một ngôn ngữ luôn vận động, phát triển cùng với sự vận động, phát triển của xã hội. Sự phát triển từ vựng thường diễn ra theo những hình thức sau: phát triển nghĩa của từ ngữ trên cơ sở nghĩa gốc của nó, sáng tạo từ ngữ mới trên cơ sở từ ngữ đã có, tiếp nhận từ ngữ tiếng nước ngoài.
VĂN BẢN ĐỌC
VĂN BẢN 1. Tiếng Việt, Lưu Quang Vũ
VĂN BẢN 2. Mưa xuân, Nguyễn Bính
VĂN BẢN 3. Một kiểu phát biểu luận đề độc đáo của Xuân Diệu ở bài thơ “Vội vàng”, Phan Huy Dũng
VĂN BẢN 1 TRƯỚC KHI ĐỌC Giới thiệu trước lớp một số câu ca dao, tục ngữ hay bài thơ nói về tiếng mẹ đẻ mà em đã sưu tầm được. Nghe bài hát Tiếng Việt (nhạc Lê T
VĂN BẢN 1
TRƯỚC KHI ĐỌC
Giới thiệu trước lớp một số câu ca dao, tục ngữ hay bài thơ nói về tiếng mẹ đẻ mà em đã sưu tầm được.
Nghe bài hát Tiếng Việt (nhạc Lê Tâm, lời thơ Lưu Quang Vũ) và nêu cảm nhận về tình cảm của người nghệ sĩ đối với tiếng nói dân tộc.
ĐỌC VĂN BẢN
Tiếng Việt (Lưu Quang Vũ)
Tiếng mẹ gọi trong hoàng hôn khói sẫm
Cánh đồng xa cò trắng rủ nhau về
Có con nghé trên lưng bùn ướt đẫm
Nghe xạc xào gió thổi giữa cau tre
Tiếng kéo gỗ nhọc nhằn trên bãi nắng
Tiếng gọi đò sông vắng bến lau khuya
Tiếng lụa xé đau lòng thoi sợi trắng
Tiếng dập dồn nước lũ xoáy chân đê
Tiếng cha dặn khi vun cành nhóm lửa
Khi hun thuyền⁽¹⁾ gieo mạ lúc đưa nôi
Tiếng mưa dội ào ào trên mái cọ
Nón ai xa thăm thẳm ở bên trời
"Đá cheo leo trâu trèo trâu trượt..."
Đi mòn đứng dứt cỏ đợi người thương
Đây muối mặn gừng cay lòng khế xót
Ta như chim trong tiếng Việt như rừng
Theo dõi
Số tiếng trong mỗi dòng, vần và nhịp thơ.
Hình dung
Những hình ảnh, âm thanh cuộc sống mà tiếng nói của con người đã hoà quyện trong đó.
⁽¹⁾ Hun thuyền: đốt lửa hong mặt ngoài thuyền gỗ hoặc thuyền nan nhằm chống ngấm nước, rêu mốc, bảo vệ thuyền.
Chưa chữ viết đã vẹn tròn tiếng nói Hình dung Vầng trăng cao đêm cá lặn sao mờ Những hình ảnh làm nổi bật vẻ đẹp Ôi tiếng Việt như bùn và như lụa(1) của tiếng V
Chưa chữ viết đã vẹn tròn tiếng nói Hình dung Vầng trăng cao đêm cá lặn sao mờ
Những hình ảnh làm nổi bật vẻ đẹp
Ôi tiếng Việt như bùn và như lụa(1) của tiếng Việt. Óng tre ngà và mềm mại như tơ Tiếng tha thiết, nói thường nghe như hát Kể mọi điều bằng ríu rít âm thanh Như gió nước không thể nào nắm bắt Dấu huyền trầm, dấu ngã chênh vênh Dấu hỏi dựng suốt ngàn đời lửa cháy Một tiếng vườn rợp bóng lá cành vươn Nghe mát lịm ở đầu môi tiếng suối Tiếng heo may gợi nhớ những con đường Một đảo nhỏ xa xôi ngoài biển rộng
Hình dung
Vẫn tiếng làng tiếng nước của riêng ta
Sức mạnh trường tồn và lan toả
Tiếng chẳng mất khi Loa Thành đã mất của tiếng Việt. Nàng Mị Châu quỳ xuống lạy cha già. Tiếng thao thức lòng trai ôm ngọc sáng Dưới cát vùi sóng dập chẳng hề nguôi Tiếng tủi cực kẻ ăn cầu ngủ quán Thành Nguyễn Du vằng vặc nỗi thương đời. Trái đất rộng giàu sang bao thứ tiếng Cao quý thâm trầm rực rỡ vui tươi Tiếng Việt rung rinh nhịp đập trái tim người Như tiếng sáo như dây đàn máu nhỏ. Buồm lộng sóng xô, mai về trúc nhớ Phá cũi lồng vời vợi cánh chim bay Tiếng nghẹn ngào như đời mẹ đắng cay Tiếng trong trẻo như hồn dân tộc Việt.
(1) Câu thơ này có bản in là: Ôi tiếng Việt như đất cày, như lụa; người biên soạn chọn bản này vì sát với bản gốc viết tay của nhà thơ.
Mỗi sớm dậy nghe bốn bề thân thiết Người qua đường chung tiếng Việt cùng Như vị muối chung lòng biển mặn Như dòng sông thương mến chảy muôn, tôi đời. Ai thuở tr
Mỗi sớm dậy nghe bốn bề thân thiết Người qua đường chung tiếng Việt cùng Như vị muối chung lòng biển mặn Như dòng sông thương mến chảy muôn, tôi đời.
Ai thuở trước nói những lời thứ nhất
Còn thô sơ như mảnh đá thay rìu Ðiều anh nói hôm nay, chiều sẽ tắt Ai người sau nói tiếp những lời yêu?, Chú ý Cách nhà thơ thể hiện tình cảm đối với tiếng Việt.
Ai phiêu bạt nơi chân trời góc biển Nhớ quặn lòng tiếng Việt tái tê Ai ở phía bên kia cầm súng khác Cùng tôi trong tiếng Việt quay về. Ôi tiếng Việt suốt đời tôi mắc nợ Quên nỗi mình quên áo mặc cơm ăn Trời xanh quá môi tôi hồi hộp quá Tiếng Việt ơi tiếng Việt ân tình. (Lưu Quang Vũ, Tiếng Việt, in trong Thơ NXB Giáo, Việt Nam 1945 - 1985, dục, 1987, tr. 297 - 299)
SAU KHI ĐỌC thơ, nhà viết kịch, nhà văn tài năng. Thơ Lưu Quang Vũ bay bổng, tài hoa, giàu cảm xúc, nhiều trăn trở, khát khao. Lưu Quang Vũ có đóng góp đặc biệt
SAU KHI ĐỌC
thơ, nhà viết kịch, nhà văn tài năng. Thơ Lưu Quang Vũ bay bổng, tài hoa, giàu cảm xúc, nhiều trăn trở, khát khao. Lưu Quang Vũ có đóng góp đặc biệt cho ngành sân khấu với những vở kịch đặt ra nhiều vấn đề thời sự nóng hổi, bức thiết của đời sống. Một số tác phẩm tiêu biểu: Hương cây - Bếp lửa (in chung, 1968), Mây trắng của đời tôi (1989), Bầy ong trong đêm sâu (1993),... (thơ); Hồn Trương Ba, da hàng thịt (1981), Người trong cõi nhớ (1982), Tôi và chúng ta (1984), Tin ở hoa hồng (1986),... (kịch); Mùa hè đang đến (1983), Người kép đóng hổ (1984),... (truyện).
Bài thơ Tiếng Việt được in trong tập thơ Mây trắng của đời tôi.
TRẢ LỜI CÂU HỎI
1. Xác định những đặc điểm của thể thơ tám chữ trong bài thơ Tiếng Việt.
Bài thơ Tiếng Việt là lời của ai, bộc lộ cảm xúc về đối tượng nào? Điều đó có ý nghĩa gì?
Trong cảm nhận của nhà thơ, tiếng Việt rất gần gũi thân thương, bao gồm muôn
vàn âm thanh của cuộc sống đời thường. Hãy phân tích một hình ảnh thơ thể hiện rõ điều đó.
4. Những yếu tố cụ thể trong tiếng Việt (âm thanh, ý nghĩa của từ ngữ) và chữ viết
tiếng Việt gợi lên trong tác giả những liên tưởng gì? Hãy phân tích một vài câu thơ thể hiện sự liên tưởng mà em thấy thú vị, độc đáo.
5. Trong các khổ thơ 8 đến 12, nhà thơ đã làm nổi bật sức mạnh trường tồn của tiếng
Việt như thế nào?
Phân tích tình cảm của nhà thơ đối với tiếng Việt được thể hiện qua ba khổ thơ cuối.
Xác định mạch cảm xúc và nhận xét về kết cấu của bài thơ.
Nêu chủ đề và căn cứ xác định chủ đề của bài thơ Tiếng Việt. Cảm hứng chủ đạo
của bài thơ là gì?
9. Em cần làm gì để giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt?
VIẾT KẾT NỐI VỚI ĐỌC
Viết đoạn văn (khoảng 7 - 9 câu) ghi lại cảm nghĩ của em về vẻ đẹp của tiếng Việt được thể hiện ở các khổ thơ 5, 6, 7 của bài thơ Tiếng Việt.
Thực hành tiếng Việt NGHĨA CỦA TỪ NGỮ 1 Xác định nghĩa của những từ ngữ in đậm trong các khổ thơ sau của bài thơ Tiếng Việt: a. Tiếng thao thức lòng trai ôm ngọ
Thực hành tiếng Việt
NGHĨA CỦA TỪ NGỮ
1 Xác định nghĩa của những từ ngữ in đậm trong các khổ thơ sau của bài thơ Tiếng Việt:
a.
Tiếng thao thức lòng trai ôm ngọc sáng
Dưới cát vùi sóng dập chẳng hề nguôi
Tiếng tủi cực kẻ ăn cầu ngủ quán
Thành Nguyễn Du vằng vặc nỗi thương đời.
b.
Buồm lộng sóng xô, mai về trúc nhớ
Phá cũi lồng vời vợi cánh chim bay
Tiếng nghẹn ngào như đời mẹ đắng cay
Tiếng trong trẻo như hồn dân tộc Việt.
2 Tìm và nêu tác dụng của từ láy được sử dụng trong các khổ thơ sau của bài thơ Tiếng Việt:
a.
Tiếng kéo gỗ nhọc nhằn trên bãi nắng
Tiếng gọi đò sông văng vẳng bến lau khuya
Tiếng lụa xé đau lòng thoi sợi trắng
Tiếng dập dồn nước lũ xoáy chân đê.
b.
Tiếng tha thiết, nói thường nghe như hát
Kể mọi điều bằng ríu rít âm thanh
Như gió nước không thể nào nắm bắt
Dấu huyền trầm, dấu ngã chênh vênh.
3 Tìm các thành ngữ được gợi nhắc trong bài thơ Tiếng Việt và cho biết nghĩa của các thành ngữ đó.
BIỆN PHÁP TU TỪ
4 Xác định và nêu tác dụng của biện pháp tu từ được sử dụng trong những đoạn thơ sau của bài thơ Tiếng Việt:
a.
Mỗi sớm dậy nghe bốn bề thân thiết
Người qua đường chung tiếng Việt cùng tôi
Như vị muối chung lòng biển mặn
Như dòng sông thương mến chảy muôn đời.
b.
Ơi tiếng Việt như bùn và như lụa
Óng tre ngà và mềm mại như tơ.
VĂN BẢN 2 TRƯỚC KHI ĐỌC Chia sẻ những câu ca dao, bài thơ viết về mùa xuân mà em biết. Nêu cảm nhận của em về mùa xuân. ĐỌC VĂN BẢN Mưa xuân (Nguyễn Bính) Em là
VĂN BẢN 2
TRƯỚC KHI ĐỌC
Chia sẻ những câu ca dao, bài thơ viết về mùa xuân mà em biết.
Nêu cảm nhận của em về mùa xuân.
ĐỌC VĂN BẢN
Mưa xuân (Nguyễn Bính)
Em là con gái trong khung cửi
Dệt lụa quanh năm với mẹ già
Lòng trẻ còn như cây lụa trắng
Mẹ già chưa bán chợ làng xa.
Bữa ấy mưa xuân phơi phới bay
Hoa xoan lớp lớp rụng vơi đầy
Hội chèo làng Đặng đi ngang ngõ,
Mẹ bảo: "Thôn Đoài hát tối nay"
Lòng thấy giăng tơ một mối tình
Em ngừng thoi lại giữa tay xinh
Hình như hai má em bừng đỏ
Có lẽ là em nghĩ đến anh.
Bốn bên hàng xóm đã lên đèn
Em ngửa bàn tay trước mái hiên
Mưa chấm bàn tay từng chấm lạnh
Thế nào anh ấy chả sang xem!
Theo dõi
Số tiếng trong mỗi dòng, vần và nhịp thơ.
Hình dung
Khung cảnh làng quê mùa xuân.
Em xin phép mẹ, vội vàng đi Mẹ bảo xem về kể mẹ nghe. Mưa bụi nên em không ướt áo Thôn Đoài cách có một thôi(1) đê. Thôn Đoài vào đám hát thâu đêm Em mải tìm an
Em xin phép mẹ, vội vàng đi Mẹ bảo xem về kể mẹ nghe. Mưa bụi nên em không ướt áo Thôn Đoài cách có một thôi(1) đê. Thôn Đoài vào đám hát thâu đêm Em mải tìm anh chả thiết xem. Chắc hẳn đêm nay giường cửi lạnh, Thoi ngà nằm nhớ ngón tay em.
Chờ mãi anh sang anh chẳng sang Thế mà hôm nọ hát bên làng, Hình dung Tâm trạng của "em" khi "anh"lỡ hẹn.
Năm tao bảy tuyết(2) anh hò hẹn
Để cả mùa xuân cũng nhỡ nhàng! Mình em lầm lụi trên đường về Có ngắn gì đâu một dải đê! Áo mỏng che đầu mưa nặng hạt Lạnh lùng thêm tủi với canh khuya. Bữa ấy mưa xuân đã ngại bay Hoa xoan đã nát dưới chân giày Hội chèo làng Đặng về ngang ngõ Mẹ bảo: "Mùa xuân đã cạn ngày." Anh ạ! Mùa xuân đã cạn ngày Bao giờ em mới gặp anh đây? Bao giờ hội Đặng đi ngang ngõ Để mẹ em rằng hát tối nay? (Tuyển tập Nguyễn Bính,, NXB Văn học, Hà Nội, 1986, tr. 25 - 26)
(1) Thôi: khoảng không gian tương đối dài; thôi đê: một đoạn đê dài. (2) Năm tao bảy tuyết (thành ngữ): nhiều lần.
SAU KHI ĐỌC Nguyễn Bính (1918 - 1966) quê ở Nam Định (nay thuộc tỉnh Ninh Bình), là nhà thơ nổi tiếng từ phong trào Thơ mới. Thơ Nguyễn Bính đằm thắm, thiết tha
SAU KHI ĐỌC
Nguyễn Bính (1918 - 1966) quê ở Nam Định (nay thuộc
tỉnh Ninh Bình), là nhà thơ nổi tiếng từ phong trào Thơ mới. Thơ Nguyễn Bính đằm thắm, thiết tha, gần gũi với ca dao, thể hiện tình yêu đối với làng quê và văn hoá truyền thống của dân tộc. Tác phẩm tiêu biểu: Tâm hồn tôi (1940), Lỡ bước sang ngang (1940), Hương cố nhân (1941), Mây Tần (1942), Nước giếng thơi (1956), Đêm sao sáng (1962) (thơ); Trông bóng cờ bay (1957), Tiếng trống đêm xuân (1958) (truyện thơ),...
Bài thơ Mưa xuân được in trong tập Lỡ bước sang ngang.
TRẢ LỜI CÂU HỎI
1. Xác định số tiếng trong mỗi dòng thơ, cách gieo vần, ngắt nhịp của bài thơ.
Bài thơ là lời tự tình của một cô gái xưng "em". Lời tự tình ấy cho biết câu chuyện gì
về cô gái?
3. Xác định bố cục, mạch cảm xúc của bài thơ.
4. Em cảm nhận như thế nào về sự thay đổi tâm trạng của cô gái từ lúc "mưa xuân
phơi phới bay" đến khi "mùa xuân đã cạn ngày"?
5. Không gian mùa xuân của làng quê Bắc Bộ và dòng tâm trạng, cảm xúc của cô gái
có mối liên hệ như thế nào? Chỉ ra những hình ảnh thơ thể hiện mối liên hệ đó.
6. Em có nhận xét gì về ngôn ngữ của bài thơ?
Hãy nêu cảm hứng chủ đạo, chủ đề của bài thơ Mưa xuân và cho biết căn cứ vào đâu em xác định được chủ đề đó.
VIẾT KẾT NỐI VỚI ĐỌC
Viết đoạn văn (khoảng 7 - 9 câu) nêu cảm nhận của em về không gian mùa xuân của làng quê Bắc Bộ được gợi lên trong bài thơ Mưa xuân.
Thực hành tiếng Việt SỰ PHÁT TRIỂN CỦA TỪ VỤNG Bên cạnh nghĩa gốc, các từ ngân hàng, cổng, gạo cội, lăn tăn còn có nghĩa chuyển mới xuất hiện. Hãy xác định nghĩ
Thực hành tiếng Việt
SỰ PHÁT TRIỂN CỦA TỪ VỤNG
Bên cạnh nghĩa gốc, các từ ngân hàng, cổng, gạo cội, lăn tăn còn có nghĩa chuyển mới xuất hiện. Hãy xác định nghĩa mới của mỗi từ và đặt câu với từ được dùng theo nghĩa mới đó.
Tìm từ ngữ mới trong tiếng Việt được hình thành theo hai cách sau (mỗi cách tìm 2 từ ngữ):
a. Tạo từ ngữ mới trên cơ sở những từ ngữ có sẵn trong tiếng Việt.
b. Tiếp nhận từ ngữ tiếng nước ngoài.
Đọc các đoạn thơ sau trong bài Mưa xuân và thực hiện yêu cầu nêu ở dưới:
a. Bữa ấy mưa xuân phơi phới bay
Hoa xoan lớp lớp rụng vơi đầy
Hội chèo làng Đặng đi ngang ngõ,
Mẹ bảo: "Thôn Đoài hát tối nay".
b. Lòng thấy giăng tơ một mối tình
Em ngừng thoi lại giữa tay xinh
Hình như hai má em bừng đỏ
Có lẽ là em nghĩ đến anh.
Yêu cầu:
(1) Xác định nghĩa của những từ ngữ in đậm trong các đoạn thơ.
(2) Cho biết nghĩa nào là nghĩa chuyển của từ ngữ đa nghĩa.
BIỆN PHÁP TU TỪ
Xác định biện pháp tu từ trong các khổ thơ sau của bài Mưa xuân và nêu tác dụng:
a. Em là con gái trong khung cửi
Dệt lụa quanh năm với mẹ già
Lòng trẻ còn như cây lụa trắng
Mẹ già chưa bán chợ làng xa.
Nghĩa mới của từ ngữ và từ ngữ mới
Từ vựng của tiếng Việt, như tất cả các ngôn ngữ khác, phát triển theo những cách chủ yếu sau:
• Phát triển nghĩa của từ ngữ trên cơ sở nghĩa gốc của nó. Ví dụ: ngôi sao có nghĩa chỉ "thiên thể nhìn thấy như điểm sáng lấp lánh trên bầu trời ban đêm", gần đây có thêm nghĩa chỉ "người đạt thành tích nổi bật trong biểu diễn nghệ thuật hoặc hoạt động thể thao, được công chúng khán giả hâm mộ"; chuột có nghĩa chỉ "thú gặm nhấm, mõm nhọn, tai bầu dục, đuôi thon dài, thường phá hại mùa màng và có thể truyền bệnh dịch hạch", gần đây có thêm nghĩa chỉ "bộ phận của máy tính, khi chuyển động trên một mặt phẳng cho phép làm chuyển dịch con chạy trên màn hình". Sự chuyển nghĩa ở những từ này dựa trên một số điểm tương đồng giữa các đối tượng được biểu thị. Những nghĩa chuyển đó được coi là nghĩa mới. Nghĩa mới của từ tuy xuất hiện trong thời gian gần đây nhưng được sử dụng rộng rãi trong giao tiếp.
• Tạo từ ngữ mới trên cơ sở những từ ngữ đã có trong tiếng Việt. Ví dụ: kinh tế tri thức (kinh tế + tri thức), năng lượng xanh (năng lượng + xanh), máy bay không người lái (máy bay + không + người lái), sốt giá (sốt + giá), dữ liệu lớn (dữ liệu + lớn), thư viện số (thư viện + số), thư điện tử (thư + điện tử),...
• Tiếp nhận từ ngữ tiếng nước ngoài. Ví dụ: in-tơ-nét, (quần) jean, (nhạc) pop, (máy) photocopy, mít tinh,...
VĂN BẢN 3 ĐỌC VĂN BẢN Một kiểu phát biểu luận đề độc đáo của Xuân Diệu ở bài thơ “Vội vàng” (Phan Huy Dũng) PHAN HUY DŨNG (1) Xuân Diệu có viết những truyện mà
VĂN BẢN 3
ĐỌC VĂN BẢN
Một kiểu phát biểu luận đề độc đáo của Xuân Diệu ở bài thơ “Vội vàng” (Phan Huy Dũng)
PHAN HUY DŨNG
(1) Xuân Diệu có viết những truyện mà ông tự gọi là truyện ý tưởng. Chẳng cứ văn xuôi, trong thơ ông cũng có những bài ý tưởng, luận đề. Vội vàng là một trong số đó.
(2) Bài thơ đã được cấu từ trên "luận đề" này: phải tận hưởng gấp gáp những lạc thú cuộc đời, bởi đời người hữu hạn, tuổi trẻ có kì mà thời gian trôi như nước xiết. Có bao nhiêu đoạn thơ là có chừng ấy luận điểm khẳng định cơ sở của hành động "vội vàng". Giữa chúng, tưởng có thể đặt thêm những quan hệ từ như bởi lẽ (sau bốn câu đầu), nhưng (sau chín câu tiếp đó), vì vậy (trước câu Mau đi thôi!...). Đây là một giả định có cơ sở, bởi chính trong bài thơ, nếu không có những quan hệ từ vừa kể thì các dạng câu và lớp từ rất đặc trưng của một văn bản đòi hỏi phải có sự lập luận lô-gíc đã xuất hiện khá dày rồi (các câu: Muốn... cho, Nói làm chi... nếu; các từ: nghĩa là, nên, phải chăng, cho,...).
(3) Tuy nhiên, không nên từ đặc điểm khá nổi bật này mà đánh đồng giá trị thẩm mĩ cá biệt, đích thực của bài thơ với giá trị luận đề được nó chứng minh. Luận đề đó tuy có nét mới mẻ so với thơ ca truyền thống nhưng chẳng phải là một "phát minh" của tác giả Thơ thơ. Nó vốn là con đẻ của ý thức về cái tôi cá nhân trong văn học phương Tây thế kỉ XIX và cũng có quan hệ xa gần với những niềm bâng khuâng ta từng bắt gặp trong thơ ca cổ điển phương Đông của Lí Bạch (Cổ nhân秉 chúc dạ du – Người xưa cầm đuốc chơi đêm), của Tô Thức (Chi khủng dạ thâm hoa thuỵ khứ/ Cổ thiêu cao chúc chiếu hồng trang – Canh khuya những sợ rồi hoa ngủ/ Khêu ngọn đèn cao ngắm vẻ hồng), của Nguyễn Trãi (Tiếc xuân cầm đuốc mảng chơi đêm)...
(4) Thực ra, có lẽ trong ý thức sáng tạo, Xuân Diệu luôn nghĩ mình phát ngôn theo sức hút của bản thân luận đề. Nhưng thực tế là: Luận đề trở nên hấp dẫn, trở n
(4) Thực ra, có lẽ trong ý thức sáng tạo, Xuân Diệu luôn nghĩ mình phát ngôn theo sức hút của bản thân luận đề. Nhưng thực tế là: Luận đề trở nên hấp dẫn, trở nên mới mẻ chính nhờ phần cá biệt hoá của Xuân Diệu - cá biệt hoá bằng thứ cảm xúc nồng nàn hình như chỉ riêng ông mới có.
Thoạt đầu, sự xuất hiện của hai "nhân vật" chính của bài thơ là tôi và cuộc đời (hay thời gian) có vẻ giống như sự hình tượng hoá của luận đề. Nhưng do là một nhà thơ của cảm giác, tác giả Vội vàng đã không bằng lòng với sự xuất hiện nhợt nhạt của "nhân vật" và ông đã tìm cách làm cho nó sống dậy. Cuộc đời (hay thời gian) không phải hiện ra như một khái niệm khô cứng mà như một thực thể sống động mang nhiều tính danh. Nó vừa là nắng, gió, vừa là tuần tháng mật, đồng nội xanh rì, cành tơ phơ phất, khúc tình si, ánh sáng chớp hàng mi, cặp môi gần, vừa là xuân, lượng trời, trời đất, tháng năm, sông núi, mùa,... Với nó, ta có thể tắt (Tôi muốn tắt nắng đi), buộc (Tôi muốn buộc gió lại), hôn (Tháng Giêng ngon như một cặp môi gần), cắn (Hỡi xuân hồng, ta muốn cắn vào ngươi!), ôm (Ta muốn ôm), riết (Ta muốn riết mây đưa và gió lượn), say (Ta muốn say cánh bướm với tình yêu), thâu (Ta muốn thâu trong một cái hôn nhiều),... Cũng vì nó, lòng ta dấy lên bao thứ tình cảm, vừa bâng khuâng, tiếc nuối (Nên bâng khuâng tôi tiếc cả đất trời), vừa hờn giận (Phải chăng hờn vì nỗi phải bay đi?), vừa sợ hãi (Phải chăng sợ độ phai tàn sắp sửa?). Tất cả những hành động và tình cảm đó đều có cơ sở, bởi cuộc đời tồn tại rất cụ thể bằng màu, hương, bằng âm thanh với cái ngon, vị ngọt riêng của nó. Việc nhân hoá, hình tượng hoá cuộc đời được tác giả thực hiện đạt đến nỗi chính ông cũng đâm ra tin chắc có sự hiện hình cụ thể của đối tượng ngay trước mắt mình. Trong cơn tự kỉ ám thị(1), nhà thơ hối hả níu giữ sắc màu, hương vị; tham lam vơ cả bàn tiệc của cuộc đời vào vòng tay, cất tiếng van vỉ thời gian hãy dừng lại, giãy giụa trong dự cảm tuyệt vọng (Chẳng bao giờ, ôi! Chẳng bao giờ nữa...), rồi sực tỉnh và quật lên trong cuộc chạy thi với thời gian (Mau đi thôi! Mùa chưa ngả chiều hôm)... Đến lượt mình, chứng kiến cuộc đọ sức, giằng giật giữa hai "nhân vật", độc giả bỗng bị tác giả ám thị, bị nhịp điệu của bài thơ chi phối, cũng thở gấp theo "làn roi quất" của thể thơ năm chữ với cách diễn tả đanh, gọn, cũng choáng ngợp với điệp ngữ này đây mời mọc giữa sự chuyển điệu bất ngờ của bài thơ (từ câu năm chữ sang câu tám chữ khai mở cảm xúc), cũng có một cảm giác ngon rất vật chất với câu Tháng Giêng ngon như một cặp môi gần mà sự bố trí từ ngon rơi đúng vào chỗ ngắt nhịp đã tạo nên một hiệu quả nghệ thuật tuyệt vời..., sau hết, cũng muốn reo vang cùng nhà thơ trong lời phán định cuối cùng từ một tư thế khẳng định bản ngã đầy quyền uy của một uy quyền xứng đáng: Hỡi xuân hồng, ta muốn cắn vào ngươi!...
Như vậy, sự "minh hoạ" của Xuân Diệu ở bài Vội vàng đã không dẫn đến cái chết của thơ ca mà ngược lại, nó làm cho tiếng nói của thơ ca trở nên say đắm hơn, vì tiếng nói ấy cất lên từ vũ đài chiến thắng của một cá tính sáng tạo đối với cái xác tư tưởng. Không nghi ngờ gì nữa, Xuân Diệu đã biến cái luận đề chung chung kia
(1) Tự kỉ ám thị: tự làm cho mình tiếp nhận một cách thụ động những ý nghĩ nào đó.
thành cái luận đề của riêng mình, thành sự chiêm nghiệm, thành điều tâm huyết của một cá thể, một cá nhân mê say sự sống. Ngoài những điều đã phân tích ở trên,
thành cái luận đề của riêng mình, thành sự chiêm nghiệm, thành điều tâm huyết của một cá thể, một cá nhân mê say sự sống. Ngoài những điều đã phân tích ở trên, có thể thấy thêm ngay trong cái khung lập luận lô-gíc có vẻ cứng nhắc của kết cấu bài thơ, bản sắc Xuân Diệu cũng được thể hiện rõ nét. Để "minh hoạ" luận đề, điều cần thiết là nêu các luận điểm. Nhưng đối với Xuân Diệu, sự vắn tắt của luận điểm dường như không thể chứa đựng hết, hay đúng hơn là buộc trói những nỗi niềm, những say sưa, chếnh choáng của ông. Để thoát ra khỏi mâu thuẫn này, ông tận dụng triệt để thủ pháp liệt kê, coi trọng chất lượng nhưng lại tham cả số lượng. Ai đó có thể tạm bằng lòng với một câu: Của ong bướm này đây tuần tháng mật, nhưng Xuân Diệu thì không, ông phải nói nữa, nói mãi, nói cho thoả. Cũng một ý đó, ngay ở đoạn này, ông đã kéo dôi bài thơ ra đến bốn câu. Đến khi không thể không dừng lại, ông vẫn tiếc, vẫn còn cố nói với thêm được một câu nữa: Và này đây ánh sáng chớp hàng mi... Chính câu thơ có kết từ và này và một câu khác nữa: Và non nước, và cây, và cỏ rạng đã phản ánh hết sức sinh động cá tính thơ Xuân Diệu: muốn giãi bày, muốn kể lể không thôi niềm yêu cuộc sống. Đọc toàn bộ thơ Xuân Diệu, ta sẽ thú vị nhận ra một điều: tần suất xuất hiện của kết từ và rất cao, kể cả khi nó không hiện diện trực tiếp, ta vẫn thấy bóng dáng nó thấp thoáng khắp nơi, như một ám ảnh. (5) Và... và... và... - đó là bàn tay ấm nóng của tác giả Thơ thơ, Gửi hương cho gió chìa ra về mọi hướng trong một niềm khao khát giao cảm vô biên.
(Phan Huy Dũng, Tác phẩm văn học trong nhà trường phổ thông, một góc nhìn, một cách đọc, NXB Giáo dục Việt Nam, 2009, tr. 116 - 118)
SAU KHI ĐỌC
TRẢ LỜI CÂU HỎI
1. Căn cứ vào nhan đề bài viết, hãy xác định luận đề của bài nghị luận.
2. Trong bài nghị luận, tác giả đã trình bày những luận điểm nào? Nêu mối quan hệ
giữa các luận điểm đó.
Xác định các lí lẽ và bằng chứng mà tác giả sử dụng để làm sáng tỏ luận điểm được
trình bày trong phần (4).
Trong bài nghị luận, tác giả có nêu ý kiến nhận xét trái chiều. Đó là ý kiến nào?
Việc nêu ý kiến đó có tác dụng gì?
Thông qua bài nghị luận trên, em thấy tác giả có ý kiến như thế nào về quan niệm sống
của Xuân Diệu? Em có tán thành ý kiến đó không? Vì sao?
6. Theo cảm nhận của tác giả bài nghị luận, trong "muôn điệu" của "tâm hồn" thơ,
bài thơ Vội vàng có đặc điểm riêng nào?
Trang 58
Trang 59
B. Viết đoạn văn ghi lại cảm nghĩ về một bài thơ tám chữ Ở các lớp 7, 8, em đã học cách viết đoạn văn nêu cảm xúc về bài thơ bốn chữ, năm chữ và đoạn văn nêu cả
B. Viết đoạn văn ghi lại cảm nghĩ về một bài thơ tám chữ
Ở các lớp 7, 8, em đã học cách viết đoạn văn nêu cảm xúc về bài thơ bốn chữ, năm chữ và đoạn văn nêu cảm nghĩ về một bài thơ tự do. Trong bài học này, em sẽ tìm hiểu cách viết đoạn văn nêu cảm nghĩ về một bài thơ tám chữ.
Yêu cầu:
Giới thiệu được bài thơ ( nhan đề, tác giả); nêu ấn tượng chung về bài thơ.
Nêu được cảm nghĩ về một số nét nổi bật trong nội dung và nghệ thuật của bài thơ; chỉ ra tác dụng của thể thơ tám chữ trong việc tạo nên nét độc đáo của bài thơ.
Khái quát được cảm nghĩ về bài thơ.
Phân tích bài viết tham khảo
Tình yêu đất nước trong bài thơ Tiếng Việt của Lưu Quang Vũ
Bài thơ Tiếng Việt của nhà thơ Lưu Quang Vũ để lại trong tôi niềm xúc động sâu xa về tình yêu quê hương, đất nước. Tình yêu ấy biểu hiện dung dị qua tình yêu tiếng Việt và ngân lên thành những lời ngợi ca ngôn ngữ dân tộc. Cảm xúc của bài thơ khởi nguồn từ cảm nhận về sự hoà quyện của tiếng Việt trong muôn vàn âm thanh, hình ảnh của cuộc sống bình dị; thể hiện thành niềm tự hào về vẻ đẹp, niềm tin vào sức mạnh trường tồn và lắng đọng trong ba khổ thơ cuối với những băn khoăn, khắc khoải về tương lai của tiếng nói dân tộc. Tiếng Việt biểu đạt tình cảm, suy tư của những người lao động, vang lên trong những khung cảnh thân thương, gợi cảm xúc bâng khuâng đến nao lòng đối với mỗi người Việt: tiếng mẹ gọi trên “Cánh đồng xa cò trắng rủ nhau về”, “Tiếng cha dặn khi vun cành nhóm lửa/ Khi hun thuyền gieo mạ lúc đưa nôì”; tiếng kéo gỗ, tiếng gọi đò, câu hát lời ru “rung rinh nhịp đập trái tim người”... Đó là tất cả những gì gần gũi, thân thiết, máu thịt nhất đối với mỗi chúng ta. Tiếng Việt kết tinh từ bao giọt mồ hôi mặn chat, những gừng cay muối mặn mà vẫn chan chứa những tâm tình ngọt ngào, say đắm của nhân dân. Biện pháp tu từ so sánh: “Ôi tiếng Việt như bùn và như lụa/ Óng tre ngà và mềm mại như tơ”, “Tiếng tha thiết, nói thường nghe như hát” thể hiện sự cảm nhận tinh tế, sâu sắc của nhà thơ về bản sắc dân tộc kết tinh trong tiếng nói: vừa mộc mạc, chân chất, vừa tinh tế, uyển chuyển, giàu nhạc tính. Biện pháp tu từ ẩn dụ:
Giới thiệu bài thơ (nhan đề, tác giả) và nêu ấn tượng chung về bài thơ.
Nêu cảm nghĩ về nội dung bài thơ.
Nêu cảm nghĩ về hình thức nghệ thuật của bài thơ (hình ảnh, biện pháp tu từ, đặc điểm thể thơ tám chữ) và tác dụng trong việc biểu đạt nội dung.
"Nghe mát lịm ở đầu môi tiếng suối" diễn tả một cách hình ảnh, nhấn mạnh khả năng gợi liên tưởng của ngôn ngữ dân tộc. Những câu thơ rất dung dị nhưng càng ngẫm
"Nghe mát lịm ở đầu môi tiếng suối" diễn tả một cách hình ảnh, nhấn mạnh khả năng gợi liên tưởng của ngôn ngữ dân tộc. Những câu thơ rất dung dị nhưng càng ngẫm càng thấy thấm thía, xúc động, khiến người đọc tự hào về vẻ đẹp của tiếng Việt. Không những đẹp, tiếng Việt còn có sức mạnh kì diệu. Trải qua bao thăng trầm của lịch sử, tiếng Việt vẫn như dòng sông chảy muôn đời lưu giữ truyền thống yêu nước, nhân ái, hoà hợp dân tộc của người Việt Nam; là sợi dây kết nối tâm hồn, tư tưởng của mọi cá nhân trong cộng đồng cũng như những người con lưu lạc, xa xứ. Trong ba khổ thơ cuối, nhà thơ bày tỏ mối băn khoăn, dự cảm về tương lai của tiếng Việt bằng câu hỏi: "Ai người sau nói tiếp những lời yêu?". Từ tình cảm yêu mến, tự hào về tiếng nói dân tộc, nhà thơ bày tỏ tình yêu và sự kính trọng nhân dân bởi chính họ - những người lao động kéo gỗ, chèo đò, dệt lụa, ăn cầu ngủ quán… - đã sáng tạo, đổ mồ hôi, công sức vun đắp cho tiếng Việt ngày càng giàu đẹp hơn và chịu đựng gian khổ, hi sinh, đổ máu để cho tiếng Việt mãi mãi là tiếng nói của một dân tộc có chủ quyền. Vẻ đẹp, sự kì diệu của tiếng Việt cũng là vẻ đẹp, sự kì diệu của tâm hồn nhân dân, dân tộc Việt Nam. Thể thơ tám chữ với lối gieo vần và Khái quát cảm nghĩ về cách ngắt nhịp tương đối linh hoạt khiến cho bài thơ trở bài thơ. thành một bản nhạc nhiều âm điệu... Bài thơ, với nội dung tư tưởng lớn lao, sâu sắc được thể hiện trong một hình thức dung dị mà tài hoa đã làm rung động trái tim biết bao thế hệ người đọc.
(Nhóm biên soạn)
Thực hành viết theo các bước 1 TRƯỚC KHI VIẾT
Mục đích viết
a. Lựa chọn bài thơ Trình bày cảm nghĩ về một bài thơ tám Hãy chọn trong số những bài thơ em đã chữ, qua đó giúp người đọc cảm nhận được cái hay, cái đẹp của bài thơ. học, đã đọc một bài thơ tám chữ mà em có ấn tượng sâu sắc và cảm nhận được giá trị Người đọc nội dung và nghệ thuật của nó. Những người yêu thơ, mong muốn tìm hiểu về bài thơ.
b. Tìm ý
Căn cứ vào yêu cầu của đoạn văn nêu cảm nghĩ về một bài thơ tám chữ, em hãy tiến hành những công việc sau:
Đọc kĩ bài thơ và ghi lại đặc điểm của tác phẩm trên các phương diện: + Vần thơ, nhịp thơ; chú ý những nét đặc sắc trong cách gieo vần, ngắt nhịp của bài thơ so với cách gieo vần, ngắt nhịp thông thường của thể thơ tám chữ.
Nội dung và mạch cảm xúc của bài thơ với những trạng thái, cung bậc cụ thể.
Những hình ảnh độc đáo, từ ngữ đặc sắc, biện pháp tu từ sáng tạo,... mà tác giả sử dụng để biểu đạt các cung bậc cảm xúc. Chủ đề, thông điệp của bài thơ. - Ghi
Những hình ảnh độc đáo, từ ngữ đặc sắc, biện pháp tu từ sáng tạo,... mà tác giả sử dụng để biểu đạt các cung bậc cảm xúc.
Chủ đề, thông điệp của bài thơ. - Ghi lại cảm nghĩ chung của em về bài thơ.
c. Lập dàn ý
Em hãy lập dàn ý theo gợi ý dưới đây:
Dàn ý
Mở đoạn: + Giới thiệu bài thơ (nhan đề, tác giả). + Nêu ấn tượng chung về bài thơ. - Thân đoạn: + Trình bày cảm nghĩ về nội dung (mạch cảm xúc, chủ đề, thông điệp,...) của bài thơ.
Nêu cảm nghĩ về những yếu tố nghệ thuật và tác dụng của chúng trong việc biểu đạt nội dung; nêu tác dụng của thể thơ tám chữ trong việc tạo nên nét đặc sắc của bài thơ.
Kết đoạn: Khái quát cảm nghĩ về bài thơ.
2 VIẾT BÀI
Viết các câu văn phù hợp để triển khai những nội dung đã xác định trong dàn ý. Các câu cần hướng về chủ đề chung của đoạn để tạo sự mạch lạc cho đoạn văn.
Sử dụng các từ ngữ diễn tả chân thực, chính xác cảm nghĩ về bài thơ; lưu ý sử dụng từ ngữ liên kết để đoạn văn được chặt chẽ.
3 CHỈNH SỬA BÀI VIẾT
Sau khi hoàn thành bài viết, em hãy rà soát và chỉnh sửa theo những gợi ý dưới đây: - Phần Mở đoạn đã giới thiệu được tên bài thơ, tác giả và nêu ấn tượng, cảm nghĩ chung của em về bài thơ chưa? Bổ sung nếu còn thiếu.
Phần Thân đoạn đã sử dụng những từ ngữ biểu đạt cảm nghĩ về mạch cảm xúc, chủ đề, thông điệp và những yếu tố nghệ thuật đặc sắc của bài thơ hay chưa? Các câu có cùng hướng về một chủ đề và có các từ ngữ liên kết phù hợp hay không? Bổ sung hoặc điều chỉnh nếu chưa đáp ứng được yêu cầu.
Phần Kết đoạn đã nêu khái quát cảm nghĩ về bài thơ chưa? Nếu chưa đáp ứng được yêu cầu thì cần chỉnh sửa hoặc viết lại.
Trang 63
Củng cố, mở rộng Lập bảng ghi lại những đặc điểm về nội dung và nghệ thuật của hai bài thơ Tiếng Việt (Lưu Quang Vũ), Mưa xuân (Nguyễn Bính). Tìm đọc một số bài
Củng cố, mở rộng
Lập bảng ghi lại những đặc điểm về nội dung và nghệ thuật của hai bài thơ Tiếng Việt (Lưu Quang Vũ), Mưa xuân (Nguyễn Bính).
Tìm đọc một số bài thơ của Lưu Quang Vũ và Nguyễn Bính. Trao đổi với các bạn về những nét đặc sắc trong sáng tác của mỗi nhà thơ.
Chia sẻ quan niệm về thơ ca, Thế Lữ viết:
Với Nàng Thơ, tôi có đàn muôn điệu;
Với Nàng Thơ, tôi có bút muôn màu.
(Cây đàn muôn điệu)
Viết đoạn văn (khoảng 7 – 9 câu) trình bày suy nghĩ của em về quan niệm đó.
Trang 65
Trang 66
Trình bày được ý kiến về một sự việc có tính thời sự; nghe và nhận biết được tính thuyết phục của một ý kiến, chỉ ra được những hạn chế (nếu có) như lập luận th
Trình bày được ý kiến về một sự việc có tính thời sự; nghe và nhận biết được tính thuyết phục của một ý kiến, chỉ ra được những hạn chế (nếu có) như lập luận thiếu lô-gíc, bằng chứng chưa đủ hay không liên quan.
Có tinh thần trách nhiệm đối với cộng đồng, đất nước và nhân loại; sẵn sàng lên tiếng trước những vấn đề quan trọng, gay cấn.
ĐỌC
TRI THỨC NGỮ VĂN
Thông tin khách quan và ý kiến chủ quan
Phân biệt thông tin khách quan và ý kiến chủ quan của người viết là yêu cầu quan trọng đối với việc đọc hiểu văn bản nghị luận. Nó giúp người đọc kiểm tra, đánh giá được độ tin cậy, thuyết phục của lập luận và từng bước phát triển tư duy phản biện.
Thông tin khách quan thường được thể hiện ở dạng bản tin, số liệu thống kê, phát hiện của các nhà nghiên cứu, kết quả thí nghiệm,...
Ý kiến chủ quan thường được đánh dấu bằng những cách diễn đạt như: tôi nghĩ, tôi tin, tôi cảm thấy, theo quan điểm của tôi, chúng tôi cần,...; hoặc các từ ngữ thể hiện cảm xúc, tình cảm, nhận xét như: thích, ghét, thú vị, rất đáng ghi nhận, thật sự có giá trị,...
Nghĩa và cách dùng tên viết tắt của các tổ chức quốc tế quan trọng
Trên sách báo, ta có thể gặp tên của một số tổ chức quốc tế được viết tắt. Tên viết tắt được cấu tạo bằng cách ghép những chữ cái đầu tiên của các từ trong tên gọi đầy đủ (thường bằng tiếng Anh). Ví dụ: ASEAN là tên viết tắt của Association of South East Asian Nations (Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á); WTO là tên viết tắt của World Trade Organization (Tổ chức Thương mại Thế giới);... Trong tạo lập văn bản, việc sử dụng tên viết tắt của các tổ chức quốc tế như vậy cần tuân theo một số quy định.
VĂN BẢN ĐỌC
VĂN BẢN 1. Đấu tranh cho một thế giới hoà bình, Ga-bri-en Gác-xi-a Mác-két (Gabriel García Márquez)
VĂN BẢN 2. Biến đổi khí hậu – mối đe doạ sự tồn vong của hành tinh chúng ta (trích Phát biểu của Tổng Thư kí Liên hợp quốc về biến đổi khí hậu), An-tô-ni-ô Gu-tê-rét (António Guterres)
VĂN BẢN 3. Bài ca chúc Tết thanh niên, Phan Bội Châu
VĂN BẢN 1 TRƯỚC KHI ĐỌC Em hãy cho biết đất nước nào đã phải hứng chịu những quả bom nguyên tử đầu tiên trên thế giới. Vì sao hằng năm ở đất nước đó, người ta v
VĂN BẢN 1
TRƯỚC KHI ĐỌC
Em hãy cho biết đất nước nào đã phải hứng chịu những quả bom nguyên tử đầu tiên trên thế giới. Vì sao hằng năm ở đất nước đó, người ta vẫn tổ chức tưởng niệm ngày bị ném bom nguyên tử?
ĐỌC VĂN BẢN
Đấu tranh cho một thế giới hoà bình$^{(1)}$
Trích, GA-BRI-EN GÁC-XI-A MÁC-KÉT$^{(2)}$
[...] Chúng ta đang ở đâu? Hôm nay ngày 8 – 8 – 1986, hơn 50 000 đầu đạn hạt nhân đã được bố trí trên khắp hành tinh. Nói nôm na ra, điều đó có nghĩa là mỗi người, không trừ trẻ con, đang ngồi trên một thùng 4 tấn thuốc nổ: tất cả chỗ đó nổ tung lên sẽ làm biến hết thảy, không phải là một lần mà là mười hai lần, mọi dấu vết của sự sống trên Trái Đất. Nguy cơ ghê gớm đó đang đè nặng lên chúng ta như thanh gươm Đa-mô-clét$^{(3)}$, về lí thuyết có thể tiêu diệt tất cả các hành tinh đang xoay quanh Mặt Trời, cộng thêm bốn hành tinh nữa, và phá huỷ thế thăng bằng của Hệ Mặt Trời. Không có một ngành khoa học hay công nghiệp nào có được những tiến bộ nhanh ghê gớm như ngành công nghiệp hạt nhân kể từ khi nó ra đời cách đây 41 năm, không có một đứa con nào của tài năng con người lại có một tầm quan trọng quyết định đến như vậy đối với vận mệnh thế giới.
Theo dõi
Nhân loại đang đối mặt với nguy cơ gì?
Niềm an ủi duy nhất trước tất cả những suy diễn kinh khủng đó là nhận thức được rằng việc bảo tồn sự sống trên Trái Đất ít tốn kém hơn là “dịch hạch”$^{(4)}$ hạt nhân.
Theo dõi
Cách sử dụng lí lẽ để tác động đến tình cảm và nhận thức của người đọc.
$^{(1)}$ Nhan đề của văn bản được dịch là Thanh gươm Đa-mô-clét (Damocles). Đấu tranh cho một thế giới hoà bình là nhan đề do nhóm tác giả biên soạn Ngữ văn 9, tập một, NXB Giáo dục, 2008 đặt. Văn bản trích tham luận do Ga-bri-en Gác-xi-a Mác-két, với tư cách là khách mời, đọc tại một hội nghị quốc tế họp tại Mê-hi-cô (Mexico) tháng 8 năm 1986 – thời điểm cuộc chạy đua vũ trang giữa Liên Xô và Mỹ đã lên đến đỉnh điểm. Đây là hội nghị lần thứ hai chống chạy đua vũ trang, đòi thủ tiêu vũ khí hạt nhân, do nguyên thủ sáu nước: Ấn Độ, Mê-hi-cô, Thuỵ Điển, Ác-hen-ti-na (Argentina), Hy Lạp, Tan-da-ni-a (Tanzania) tổ chức.
$^{(2)}$ Ga-bri-en Gác-xi-a Mác-két (1928 – 2014) là nhà văn nổi tiếng người Cô-lôm-bi-a (Colombia). Ông là tác giả của một số tiểu thuyết như Trăm năm cô đơn (1967), Tướng quân giữa mê hồn trận (1989),... Ngoài ra, ông còn viết một số bài luận đề cập đến những vấn đề thời sự của thế giới. Năm 1982, Ga-bri-en Gác-xi-a Mác-két đã được trao giải Nô-ben (Nobel) Văn học nhờ những đóng góp quan trọng trong lĩnh vực văn học, đặc biệt là các tiểu thuyết và truyện ngắn có sự kết hợp giữa hiện thực và huyền ảo nhằm phản ánh những vấn đề của cuộc sống ở vùng Mĩ La-tinh.
$^{(3)}$ Thanh gươm Đa-mô-clét: điển tích lấy từ một câu chuyện ngụ ngôn Hy Lạp cổ đại. (Tên ninh thần Đa-mô-clét được nhà vua cho ngồi vào ngai vàng và hưởng thụ sự sung sướng. Nhưng sau đó y mới biết có một thanh gươm sắc được nhà vua cho treo lơ lửng ngay phía trên đầu y chỉ bằng một sợi lông đuôi ngựa; từ câu chuyện đó, điển tích này được dùng với nghĩa: sự nguy hiểm, tai hoạ có thể xảy ra bất cứ lúc nào.)
$^{(4)}$ Dịch hạch: bệnh truyền nhiễm rất nguy hiểm, do một loại vi khuẩn từ bọ chét của chuột đã mắc bệnh truyền sang người, khi phát thì lây lan rất nhanh, đe doạ tính mạng nhiều người; ở đây ý nói vũ khí hạt nhân đe doạ loài người như bệnh dịch hạch.
Chỉ do sự tồn tại của nó không thôi, cái cảnh tận thế tiềm tàng trong các bệ phóng cái chết cũng đã làm tất cả chúng ta mất đi khả năng sống tốt đẹp hơn. Năm 19
Chỉ do sự tồn tại của nó không thôi, cái cảnh tận thế tiềm tàng trong các bệ phóng cái chết cũng đã làm tất cả chúng ta mất đi khả năng sống tốt đẹp hơn. Năm 1981, UNICEF(1) đã định ra một chương trình để giải quyết những vấn đề cấp bách cho Đánh giá 500 triệu trẻ em nghèo khổ nhất trên thế giới. Cách nêu bằng chứng kèm phân tích, Chương trình này dự kiến cứu trợ về y tế, giáo dục so sánh có tác dụng gì? sơ cấp, cải thiện điều kiện vệ sinh, và tiếp tế thực phẩm, nước uống. Nhưng tất cả đã tỏ ra là một giấc mơ không thể thực hiện được, vì tốn kém 100 tỉ đô la. Tuy nhiên, số tiền này cũng chỉ gần bằng những chi phí bỏ ra cho 100 máy bay ném bom chiến lược B.1B của Mỹ và cho dưới 7 000 tên lửa vượt đại châu. Và đây là một ví dụ khác trong lĩnh vực y tế: Giá của 10 chiếc tàu sân bay(2) mang vũ khí hạt nhân kiểu tàu Ni-mít (Nimitz), trong số 15 chiếc mà Hoa Kỳ dự định đóng từ nay đến năm 2000, cũng đủ để thực hiện một chương trình phòng bệnh trong cũng 14 năm đó và sẽ bảo vệ cho hơn 1 tỉ người khỏi bệnh sốt rét và cứu hơn 14 triệu trẻ em, riêng cho châu Phi mà thôi. Một ví dụ trong lĩnh vực tiếp tế thực phẩm: Theo tính toán của FAO(3), năm 1985, người ta thấy trên thế giới có gần 575 triệu người thiếu dinh dưỡng. Số lượng ca-lo trung bình cần thiết cho những người đó chỉ tốn kém không bằng 149 tên lửa MX... Chỉ cần 27 tên lửa MX là đủ trả tiền nông cụ cần thiết cho các nước nghèo để họ có được thực phẩm trong bốn năm tới. Một ví dụ trong lĩnh vực giáo dục: Chỉ hai chiếc tàu ngầm mang vũ khí hạt nhân là đủ tiền xoá nạn mù chữ cho toàn thế giới. […] Một nhà tiểu thuyết lớn của thời đại chúng ta đã đặt ra câu hỏi: Phải chăng Trái Đất chúng ta Theo dõi chính là địa ngục của các hành tinh khác? Có lẽ sự Cách bình luận của tác giả về việc giản đơn hơn nhiều: Nó chỉ là một cái làng vấn đề. nhỏ mà thánh thần đã bỏ quên ở ngoại vi vũ trụ. Tuy nhiên, ý nghĩ dai dẳng cho rằng Trái Đất là nơi độc nhất có phép màu của sự sống trong Hệ Mặt Trời, ý nghĩ đó đã đẩy chúng ta tới kết luận này, không thể khác được: Chạy đua vũ trang là đi ngược lại lí trí. Không những đi ngược lại lí trí con người mà còn đi ngược lại cả lí trí tự nhiên nữa. […] Từ khi mới nhen nhúm sự sống trên Trái Đất, đã phải trải qua 380 triệu năm con bướm mới bay được, rồi 180 triệu năm nữa bông hồng mới nở, chỉ để làm đẹp mà thôi. Cũng đã phải trải qua bốn kỉ địa chất(4), con người mới hát được hay hơn chim và mới chết vì yêu. Trong thời đại hoàng kim này của khoa học, trí tuệ con người chẳng có gì để tự hào vì đã phát minh ra một biện pháp, chỉ cần bấm nút một cái là đưa cả quá trình vĩ đại và tốn kém đó của hàng bao nhiêu triệu năm trở lại điểm xuất phát của nó.
(1) UNICEF (viết tắt của United Nations International Children's Emergency Fund): Quỹ Nhi đồng Liên hợp quốc. (2) Tàu sân bay: tàu chiến loại lớn chuyên dùng để chở máy bay, có sân bay để cho máy bay cất cánh, hạ cánh. (3) FAO (viết tắt của Food and Agriculture Organization): Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên hợp quốc. (4) Kỉ địa chất: đơn vị thời gian địa chất, bậc dưới của đại địa chất, dài từ hàng triệu đến hàng chục triệu năm.
Chúng ta đến đây để cố gắng chống lại việc đó, đem tiếng nói của chúng ta tham gia vào bản đồng ca của những người đòi hỏi một thế giới không có vũ khí và một c
Chúng ta đến đây để cố gắng chống lại việc đó, đem tiếng nói của chúng ta tham gia vào bản đồng ca của những người đòi hỏi một thế giới không có vũ khí và một cuộc sống hoà bình, công bằng. Nhưng dù cho tai hoạ có xảy ra thì sự có mặt của chúng ta ở đây cũng không phải là vô ích. [...] Tôi rất khiêm tốn nhưng cũng rất kiên Đánh giá quyết đề nghị mở ra một nhà băng lưu trữ trí nhớ Cách kết thúc văn bản có gì độc đáo? có thể tồn tại được sau thảm hoạ hạt nhân. Để cho nhân loại tương lai biết rằng sự sống đã từng tồn tại ở đây, bị chi phối bởi đau khổ và bất công nhưng cũng đã từng biết đến tình yêu và biết hình dung ra hạnh phúc. Để cho nhân loại tương lai hiểu điều đó và làm sao cho ở mọi thời đại, người ta đều biết đến tên những thủ phạm đã gây ra những lo sợ, đau khổ cho chúng ta, đã giả điếc làm ngơ trước những lời khẩn cầu hoà bình, những lời kêu gọi làm cho cuộc sống tốt đẹp hơn, để mọi người biết rằng bằng những phát minh dã man nào, nhân danh những lợi ích ti tiện nào, cuộc sống đó đã bị xoá bỏ khỏi vũ trụ này.
(G.G. Mác-két, Thanh gươm Đa-mô-clét, N.V. dịch, báo Văn nghệ, ngày 27 - 9 - 1986)
SAU KHI ĐỌC
TRẢ LỜI CÂU HỎI
1. Nêu luận đề của bài nghị luận. Từ luận đề đó, tác giả đã triển khai thành những
luận điểm nào? Chỉ ra mối quan hệ giữa các luận điểm đó.
Chọn một luận điểm, phân tích cách dùng lí lẽ, bằng chứng và chỉ ra vai trò của lí lẽ,
bằng chứng trong việc làm nổi bật luận điểm đó.
Dựa vào nội dung văn bản và các thông tin giới thiệu, chú thích, cho biết văn bản
được viết ra trong bối cảnh nào của thế giới. Từ đó, nêu tầm quan trọng của vấn đề được bàn luận.
Chiến tranh hạt nhân "không những đi ngược lại lí trí con người mà còn đi ngược lại
cả lí trí tự nhiên nữa" là ý kiến chủ quan hay thông tin khách quan? Để thuyết phục người đọc tin vào điều đó, tác giả đã chọn cách triển khai đoạn văn như thế nào?
5. Khi bàn về vấn đề được nêu, Mác-két bộc lộ thái độ gì? Chỉ ra cách thể hiện thái
độ của tác giả.
6. Qua văn bản này, tác giả muốn truyền đi thông điệp gì? Trong tình hình hiện nay
của thế giới, thông điệp đó còn có ý nghĩa nữa không? Vì sao?
VIẾT KẾT NỐI VỚI ĐỌC
Viết đoạn văn (khoảng 7 - 9 câu) với chủ đề: Vũ khí hạt nhân đang là hiểm hoạ đe doạ sự tồn vong của nhân loại.
Thực hành tiếng Việt NGHĨA VÀ CÁCH DÙNG TÊN VIẾT TẮT CÁC TỔ CHỨC QUỐC TẾ QUAN TRỌNG 1 Đọc văn bản Đấu tranh cho một thế giới hoà bình, gặp tên viết tắt của tổ c
Thực hành tiếng Việt
NGHĨA VÀ CÁCH DÙNG TÊN VIẾT TẮT CÁC TỔ CHỨC QUỐC TẾ QUAN TRỌNG
1 Đọc văn bản Đấu tranh cho một thế giới hoà bình, gặp tên viết tắt của tổ chức quốc tế như các trường hợp dưới đây, em cần làm gì? Vì sao phải làm như vậy?
a. Theo tính toán của FAO, năm 1985, người ta thấy trên thế giới có gần 575 triệu người thiếu dinh dưỡng.
b. Năm 1981, UNICEF đã định ra một chương trình để giải quyết những vấn đề cấp bách cho 500 triệu trẻ em nghèo khổ nhất trên thế giới.
2 Nhận xét việc sử dụng tên viết tắt các tổ chức quốc tế trong đoạn văn sau:
Việt Nam là một thành viên của UN, luôn cam kết hoàn thành nghĩa vụ với tổ chức này. Các cơ quan của UN như UNICEF, UNESCO, UNDP,... luôn đồng hành cùng Việt Nam trong việc thực hiện những chương trình quan trọng nhằm cải thiện đời sống của con người.
3 Đặt 4 câu, mỗi câu có sử dụng tên viết tắt của một tổ chức quốc tế sau đây:
– WTO
– WB
– ASEAN
– WHO
Nghĩa và cách dùng tên viết tắt các tổ chức quốc tế
• Nghĩa của tên viết tắt một tổ chức quốc tế bao gồm nghĩa của các từ trong tên đầy đủ của tổ chức đó, chẳng hạn, UNESCO (United Nations Educational, Scientific and Cultural Organization) nghĩa là Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hoá của Liên hợp quốc; EU (European Union) nghĩa là Liên minh châu Âu,... Nếu gặp tên viết tắt của một tổ chức quốc tế trong văn bản nhưng không có chú thích, cần tìm hiểu, tra cứu thông tin để biết được nghĩa của nó.
• Khi viết tắt tên các tổ chức quốc tế, cần lưu ý:
– Tất cả các chữ cái trong tên viết tắt phải được viết in hoa.
– Viết đúng trật tự các chữ cái trong tên viết tắt của tổ chức quốc tế.
– Đối với tên viết tắt của một tổ chức quốc tế chưa thật phổ biến, khi xuất hiện lần đầu trong văn bản, cần chú thích tên đầy đủ và nghĩa.
– Chỉ sử dụng tên viết tắt của tổ chức quốc tế khi cần thiết.
• Tên viết tắt của tổ chức quốc tế thường được đọc theo tên từng chữ cái trong tiếng Việt, chẳng hạn, ILO: i e-lờ ô, WHO: vê-kép hát ô, IMF: i em-mờ ép,... Tuy vậy, đôi khi tên viết tắt được đọc như một danh từ thông thường, chẳng hạn, UNESCO: iu-nét-xcô, UNICEF: iu-ni-xép, ASEAN: a-xê-an,...
VĂN BẢN 2 TRƯỚC KHI ĐỌC Biến đổi khí hậu đã gây tác hại như thế nào đối với lao động sản xuất và sinh hoạt của cư dân ở địa phương em? Vấn đề có nghiêm trọng kh
VĂN BẢN 2
TRƯỚC KHI ĐỌC
Biến đổi khí hậu đã gây tác hại như thế nào đối với lao động sản xuất và sinh hoạt của cư dân ở địa phương em? Vấn đề có nghiêm trọng không? Căn cứ vào đâu mà em kết luận như vậy?
ĐỌC VĂN BẢN
Biến đổi khí hậu – mối đe doạ sự tồn vong của hành tinh chúng ta$^{(1)}$
Trích Phát biểu của Tổng Thư kí Liên hợp quốc về biến đổi khí hậu, AN-TÔ-NI-Ô GU-TÊ-RÉT$^{(2)}$
Các bạn thân mến của hành tinh Trái Đất,
Cảm ơn các bạn đã đến trụ sở Liên hợp quốc ngày hôm nay. Tôi đã đề nghị các bạn đến đây để nghe tiếng chuông báo động. Biến đổi khí hậu là vấn đề hạn định$^{(3)}$ thời đại chúng ta – và chúng ta đang ở vào một thời điểm có tính hạn định. Chúng ta phải đối mặt với một mối đe doạ trực tiếp đến sự tồn vong. Biến đổi khí hậu diễn biến nhanh hơn tốc độ của chúng ta – và điều đó đã gây nên một quả bom âm thanh SOS$^{(4)}$ qua thế giới chúng ta. Nếu chúng ta không thay đổi tiến trình đến năm 2020, chúng ta có nguy cơ làm mất đi thời điểm mà chúng ta có thể tránh được một sự biến đổi khí hậu phi mã$^{(5)}$, với những hậu quả tàn khốc đối với con người và toàn bộ hệ thống tự nhiên vẫn dung dưỡng chúng ta. Đó là lí do vì sao, hôm nay, tôi kêu gọi các bạn về vai trò lãnh đạo – từ các nhà chính trị, từ các doanh nghiệp và các nhà khoa học và từ công chúng ở mọi nơi. Chúng ta có các công cụ để tiến hành các hành động của mình một cách hiệu quả. Cái chúng ta còn thiếu – thậm chí là cả sau Thoả thuận Pa-ri là vai trò lãnh đạo và mong muốn làm điều cần thiết. [...]
Theo dõi
Cách nêu vấn đề và xác định tầm quan trọng của vấn đề.
Cái khiến cho tất cả những chuyện này còn gây bối rối hơn đó là chúng ta đã được cảnh báo. Các nhà khoa học đã nói cho chúng ta từ nhiều thập kỉ trước. Nói đi và nói lại. Quá nhiều nhà lãnh đạo đã từ chối lắng nghe. Quá ít người đã hành động với tầm nhìn mà khoa học đòi hỏi. Chúng ta nhìn thấy kết quả. Trong một số trường hợp,
$^{(1)}$ Nhan đề do người biên soạn đặt. Văn bản này là bài phát biểu của An-tô-ni-ô Gu-tê-rét, Tổng Thư kí Liên hợp quốc tại cuộc họp Đại hội đồng Liên hợp quốc (ở Niu Oóc, Hoa Kì) năm 2018. Bài phát biểu gióng lên hồi chuông báo động chính phủ các quốc gia vì họ đã làm ngơ quá lâu trước những lời kêu gọi khẩn thiết của các nhà khoa học về tình trạng khí thải nhà kính tăng vọt, đẩy hành tinh của chúng ta tới bờ vực thẳm.
$^{(2)}$ An-tô-ni-ô Gu-tê-rét sinh năm 1949, là nhà chính trị và ngoại giao người Bồ Đào Nha, từng giữ chức Thủ tướng Bồ Đào Nha từ năm 1995 đến năm 2002. Năm 2017, ông được bầu làm Tổng Thư kí Liên hợp quốc.
$^{(3)}$ Hạn định: mức giới hạn cần định trước.
$^{(4)}$ SOS: tín hiệu cấp cứu quốc tế, được chấp nhận và sử dụng rộng rãi trên toàn cầu; trong văn bản này có nghĩa là cấp cứu, khẩn cấp.
$^{(5)}$ Phi mã: ngựa chạy, ý nói là rất nhanh (nghĩa trong văn bản).
chúng rất gần với các kịch bản "trường hợp xấu nhất" của các nhà khoa học. Băng ở vùng biển Bắc Cực đang biến đi nhanh hơn là chúng ta có thể hình dung. Năm nay
chúng rất gần với các kịch bản "trường hợp xấu nhất" của các nhà khoa học. Băng ở vùng biển Bắc Cực đang biến đi nhanh hơn là chúng ta có thể hình dung. Năm nay, lần đầu tiên, lớp băng dày quanh năm ở bắc Grin-len (Greenland) bắt đầu vỡ. Sự nóng lên đột ngột này Theo dõi ở Bắc Cực tác động đến mô hình khí hậu của phần Cách sử dụng bằng chứng. bắc bán cầu. Nạn cháy rừng kéo dài hơn và lan đi xa hơn. Một số đám cháy lớn đến mức chúng thổi muội và tro khắp thế giới, nhuộm đen các khối băng trôi và các chỏm băng, khiến cho chúng tan chảy càng nhanh hơn. Các đại dương bị nhiễm a-xít nặng hơn, đe doạ nền tảng của chuỗi thức ăn(1) duy trì sự sống. San hô chết trên diện rộng, làm suy giảm thêm hoạt động đánh bắt cá có tính sống còn. Và trên đất liền, mức các-bon đi-ô-xít cao trong khí quyển làm cho các vụ trồng lúa ít dưỡng chất hơn, đe doạ sự thịnh vượng và an ninh lương thực đối với hàng tỉ người. Sự biến đổi khí hậu càng trầm trọng, chúng ta sẽ thấy việc nuôi sống mình càng khó khăn hơn. Tốc độ diệt chủng sẽ tăng vọt khi môi trường sống bị thu hẹp lại. Ngày càng nhiều người buộc phải di cư khỏi quê nhà khi mà đất đai - nguồn sống chủ yếu của họ - không còn sản sinh hoa lợi. Điều này thực sự đã dẫn đến nhiều cuộc xung đột địa phương vì các nguồn tài nguyên đang dần teo tóp lại. […] Ngọn núi phía trước chúng ta rất cao. Nhưng Theo dõi nó không phải là không thể vượt qua. Chúng ta biết cách để trèo qua nó. Nói một cách đơn giản, Cách chuyển luận điểm và nội dung
được bàn ở luận điểm.
chúng ta cần lắp phanh lên thứ khí nhà kính phát thải gây nguy hại và lèo lái các tác động khí hậu. Chúng ta cần nhanh chóng thoát khỏi sự phụ thuộc vào các nhiên liệu hoá thạch(2). Chúng ta cần thay thế chúng với năng lượng sạch từ nước, gió và mặt trời. Chúng ta phải ngăn chặn nạn phá rừng, phục hồi các cánh rừng bị xuống cấp và thay đổi phương thức canh tác. Chúng ta cần gắn kết kinh tế tuần hoàn(3) với việc sử dụng hiệu quả các nguồn tài nguyên. […] Giờ đây chúng ta đang đứng ở ngã tư của sự Theo dõi sinh tồn. Nếu chúng ta chọn được đúng đường - con đường hợp lẽ duy nhất - chúng ta sẽ phải tập Giải pháp cho vấn đề và trách nhiệm
của các đối tượng.
trung toàn bộ sức mạnh của kĩ năng con người. Nhưng kĩ năng đã có rồi và đang cho ta các giải pháp. Và vì vậy, các bạn thân mến, một thông điệp trung tâm khác - công nghệ ở về phía chúng ta trong cuộc chiến nhằm vào biến đổi khí hậu. Sự gia tăng năng lượng tái tạo là rất lớn. Ngày nay, nó đang đua tranh với - thậm chí còn rẻ hơn - than đá và dầu mỏ, đặc biệt nếu như người ta tính đến cái giá phải trả của sự ô nhiễm. […]
(1) Chuỗi thức ăn: mô hình mô tả mối quan hệ giữa các loài sinh vật trong một hệ sinh thái, ở đó, sinh vật này sẽ ăn sinh vật khác để có được nguồn dinh dưỡng nuôi sống cơ thể. (2) Nhiên liệu hoá thạch: các nguồn năng lượng được sản xuất từ tàn dư hữu cơ của các sinh vật đã chết và phân huỷ trong hàng triệu năm trước như dầu mỏ, than đá, khí đốt,... (3) Kinh tế tuần hoàn: mô hình kinh tế dựa trên chu trình khép kín, các chất thải được tái sử dụng, trở thành nguyên liệu cho sản xuất, từ đó giảm được tác động tiêu cực đến môi trường, hệ sinh thái và sức khoẻ con người.
Đó đều là những bước tiến vô cùng quan trọng. Nhưng không đủ. Việc chuyển đổi sang một tương lai sạch hơn, xanh hơn đòi hỏi phải tăng tốc. Chúng ta đang đứng tr
Đó đều là những bước tiến vô cùng quan trọng. Nhưng không đủ. Việc chuyển đổi sang một tương lai sạch hơn, xanh hơn đòi hỏi phải tăng tốc. Chúng ta đang đứng trước một thời điểm "bỏ lỡ là mất luôn" thực sự. […] Đó là một lí do khác để hành động - bổn phận về đạo đức. Các quốc gia giàu nhất chịu trách nhiệm nhiều nhất về khủng hoảng khí hậu, nhưng các quốc gia nghèo nhất và các dân tộc và cộng đồng bình thường nhất lại phải nhận những tác động trước nhất và tồi tệ nhất. Chúng ta đã thấy sự bất công này trong chu kì hạn hán cực đoan và bão lụt, thậm chí còn dữ dội hơn diễn ra không ngừng và ngày càng gia tăng. Phụ nữ và trẻ em gái là những đối tượng đặc biệt phải trả giá - không chỉ vì cuộc sống của họ sẽ trở nên khó khăn hơn mà bởi vì, khi thảm hoạ xảy ra, phụ nữ và trẻ em gái luôn phải gánh chịu nặng nề hơn. Các quốc gia giàu có do đó không chỉ cần cắt giảm lượng khí phát thải mà còn phải làm nhiều hơn để đảm bảo rằng những người bình thường nhất có thể phát triển khả năng phục hồi cần thiết để sống qua được những tổn hại mà các khí phát thải đó gây ra. […] Đã đến lúc các nhà lãnh đạo của chúng ta thể hiện rằng họ quan tâm đến những người mà họ nắm số phận trong tay. Chúng ta cần họ thể hiện rằng họ quan tâm đến tương lai - và ngay cả hiện tại. Đó là lí do vì sao tôi xin phép được nhấn mạnh tới sự đại diện của giới trẻ trong những Theo dõi người nghe hôm nay. Điều cần thiết là xã hội Cách kêu gọi và nêu kế hoạch dân sự - thanh niên, các nhóm phụ nữ, khu vực tư hành động. nhân, các cộng đồng tín ngưỡng, các nhà khoa học và các phong trào của những người dân thường trên khắp thế giới - đòi các nhà lãnh đạo của họ phải vào cuộc. Như tôi đã được Đặc phái viên về Thanh niên của tôi nhắc nhở. Đặc biệt, tôi kêu gọi vai trò lãnh đạo của phụ nữ. Khi phụ nữ được trao quyền lãnh đạo, họ là những người biết hướng tới giải pháp. Không gì quan trọng bằng tương lai của chúng ta, và số phận của nhân loại tuỳ thuộc vào cách chúng ta ứng phó với sự thách thức của khí hậu. […] Tôi kêu gọi tất cả các nhà lãnh đạo tới hội nghị thượng đỉnh(1) đang được chuẩn bị vào năm tới để báo cáo không chỉ về những gì họ đang làm, mà còn là những gì họ dự tính sẽ làm khi họ họp lại vào năm 2020 tại hội nghị khí hậu của Liên hợp quốc, ở đó các thoả thuận sẽ được thay đổi và chắc chắn được tăng cường một cách đầy tham vọng. Và đó là lí do vì sao tôi kêu gọi xã hội dân sự, đặc biệt những người trẻ tuổi, tham gia vào chiến dịch vì tác động khí hậu. Chúng ta hãy sử dụng năm tới cho các quyết định có tính chuyển đổi trong các phòng họp, phòng VIP(2) và các nghị viện(3) trên khắp thế giới. Chúng ta hãy nêu các tầm nhìn của mình, thiết lập các liên minh và làm cho các nhà lãnh đạo của chúng ta phải lắng nghe. Tôi cam kết cá nhân mình và toàn thể Liên hợp quốc sẽ tham gia vào nỗ lực này. Chúng tôi sẽ ủng hộ tất cả các nhà lãnh đạo nào chấp nhận thách thức mà tôi đã vạch ra hôm nay. Các bạn thân mến, không có thời gian để lãng phí nữa.
(1) Hội nghị thượng đỉnh: cuộc họp tập trung những nhà lãnh đạo quan trọng từ các quốc gia để thảo luận về các vấn đề chính trị, kinh tế, an ninh hay các vấn đề toàn cầu khác. (2) VIP: viết tắt của cụm từ Very Important Person, có nghĩa là người rất quan trọng; VIP thường được sử dụng để chỉ những người có địa vị, quyền lực, hoặc có vai trò quan trọng trong một cộng đồng hoặc sự kiện nào đó, về sau mở rộng để chỉ những gì sang trọng phục vụ cho người hoặc sự kiện quan trọng, như phòng VIP, vé VIP,... (3) Nghị viện: tổ chức lập pháp trong hệ thống chính trị của một số quốc gia (còn được gọi là quốc hội, đại hội đại biểu hoặc hội đồng lập pháp), có nhiệm vụ thực hiện chức năng lập pháp và giám sát các hoạt động của chính phủ.
Như những vụ cháy rừng và các đợt nóng dữ dội trong mùa hè này đã cho thấy, thế giới đang thay đổi trước mắt chúng ta. Chúng ta đang tiến đến bên bờ vực thẳm. K
Như những vụ cháy rừng và các đợt nóng dữ dội trong mùa hè này đã cho thấy, thế giới đang thay đổi trước mắt chúng ta. Chúng ta đang tiến đến bên bờ vực thẳm. Không quá muộn để thay đổi chiều hướng này, nhưng mỗi ngày qua đi có nghĩa là thế giới lại nóng lên một chút và cái giá chúng ta phải trả cho sự thụ động của mình lại tăng thêm. Mỗi ngày chúng ta bỏ lỡ không hành động là một ngày chúng ta bước một chút gần hơn tới cái số phận mà không ai trong chúng ta mong muốn - một số phận mà qua các thế hệ sẽ cộng hưởng thành sự huỷ hoại đối với nhân loại và sự sống trên Trái Đất. Số phận của chúng ta ở trong tay chúng ta. Thế giới trông chờ mỗi chúng ta chấp nhận sự thách thức trước khi quá muộn. Tôi trông chờ vào tất cả các bạn.
Xin cảm ơn.
(An-tô-ni-ô Gu-tê-rét, Phát biểu của Tổng Thư kí Liên hợp quốc về biến đổi khí hậu, Huy Toàn dịch, in trong Những bài diễn văn làm thay đổi thế giới từ 1945 đến nay, Ca-lô Ba-tà (Carlo Batà) (Chủ biên) NXB Kim Đồng, Hà Nội, 2022, tr. 199 - 202)
SAU KHI ĐỌC
TRẢ LỜI CÂU HỎI
1. Luận đề của văn bản là gì? Những luận điểm nào đã được triển khai nhằm làm nổi
bật luận đề? Chỉ ra mối quan hệ giữa các luận điểm đó.
2. Phân tích một số ví dụ để thấy được cách tác giả sử dụng lí lẽ và bằng chứng để
làm sáng tỏ luận điểm.
3. Trong phần đầu của văn bản, tác giả cho rằng: "Chúng ta phải đối mặt với một
mối đe doạ trực tiếp đến sự tồn vong". Theo em, vấn đề được nêu như vậy là đúng hay sai? Vì sao?
Xác định vị thế xã hội của tác giả khi trình bày ý kiến về vấn đề. Vị thế đó cho phép
tác giả thể hiện thái độ gì khi đối thoại?
5. Trong văn bản, những thông tin khách quan nào được tác giả nêu ra? Dựa vào đâu
em nhận biết điều đó?
6. Tác giả đã nêu những giải pháp gì để ứng phó với tình trạng biến đổi khí hậu
hiện nay? Ai là người có trách nhiệm thực thi các giải pháp đó?
Đối tượng tác động của văn bản Biến đổi khí hậu - mối đe doạ sự tồn vong của hành tinh chúng ta và văn bản Đấu tranh cho một thế giới hoà bình của Mác-két giống nhau như thế nào? Nêu ý nghĩa của sự giống nhau đó.
Em rút ra được thông điệp gì sau khi đọc văn bản Biến đổi khíhậu - mối đe doạ sự tồn vong của hành tinh chúng ta?
VIẾT KẾT NỐI VỚI ĐỌC
Viết đoạn văn (khoảng 7 - 9 câu) trả lời câu hỏi: Phải chăng nhân loại không còn cách gì để đối phó với tình trạng Trái Đất ngày càng nóng lên?
Thực hành tiếng Việt LỰA CHỌN CÂU ĐƠN HOẶC CÂU GHÉP, CÁC KIỂU CÂU GHÉP Xác định câu đơn và câu ghép trong đoạn văn sau: Chúng ta đang ở đâu? Hôm nay ngày 8 – 8
Thực hành tiếng Việt
LỰA CHỌN CÂU ĐƠN HOẶC CÂU GHÉP, CÁC KIỂU CÂU GHÉP
Xác định câu đơn và câu ghép trong đoạn văn sau:
Chúng ta đang ở đâu? Hôm nay ngày 8 – 8 – 1986, hơn 50 000 đầu đạn hạt nhân đã được bố trí trên khắp hành tinh. Nói nôm na ra, điều đó có nghĩa là mỗi người, không trừ trẻ con, đang ngồi trên một thùng 4 tấn thuốc nổ: tất cả chỗ đó nổ tung lên sẽ làm biến hết thảy, không phải là một lần mà là mười hai lần, mọi dấu vết của sự sống trên Trái Đất. Nguy cơ ghê gớm đó đang đè nặng lên chúng ta như thanh gươm Đa-mô-clét, về lí thuyết có thể tiêu diệt tất cả các hành tinh đang xoay quanh Mặt Trời, cộng thêm bốn hành tinh nữa, và phá huỷ thế thăng bằng của Hệ Mặt Trời.
(G.G. Mác-két, Đấu tranh cho một thế giới hoà bình)
Chỉ ra kiểu câu ghép của từng câu sau và cho biết cách nối các vế của mỗi câu.
a. Đứa trẻ thì ngây thơ, chỉ kể lại những điều mà đêm đêm mẹ thường dạy khi cha vắng nhà; nó không thể phân biệt được đùa với thật vì mới có ba tuổi đầu và tin lời mẹ.
(Nguyễn Đăng Na, "Người con gái Nam Xương" – một bi kịch của con người)
b. Mấy chiếc chân bàn lung lay trong lớp đã đóng lại nhưng không ai đánh giá đúng ý nghĩa đôi bàn tay khéo léo của Quỳnh.
(Trần Văn Toàn, Từ "Thằng quỷ nhỏ" của Nguyễn Nhật Ánh nghĩ về những phẩm chất của một tác phẩm viết cho thiếu nhi)
c. Nhưng dù cho tai hoạ có xảy ra thì sự có mặt của chúng ta ở đây cũng không phải là vô ích.
(G.G. Mác-két, Đấu tranh cho một thế giới hoà bình)
d. Không gì quan trọng bằng tương lai của chúng ta, và số phận của nhân loại tuỳ thuộc vào cách chúng ta ứng phó với sự thách thức của khí hậu.
(A. Gu-tê-rét, Biến đổi khí hậu – mối đe doạ sự tồn vong của hành tinh chúng ta)
Đọc đoạn văn sau và thực hiện nhiệm vụ nêu ở dưới:
Có thể nói, với "Người con gái Nam Xương", Nguyễn Dữ đã vượt khỏi những công thức thông lệ về hình tượng người phụ nữ trong thể truyền kì. Vũ Nương không phải là hình tượng một trang liệt nữ, nàng chỉ là một người đàn bà bình thường như bao người vợ, người mẹ trong đời thực. Phản ánh số phận Vũ Thị Thiết, Nguyễn Dữ
VĂN BẢN 3 ĐỌC VĂN BẢN Bài ca chúc Tết thanh niên (PHAN BỘI CHÂU) Dậy! Dậy! Dậy! Bên án(1) một tiếng gà vừa gáy, Chim trên cây liền ngỏ ý chào mừng. Xuân ơi xuân
VĂN BẢN 3
ĐỌC VĂN BẢN
Bài ca chúc Tết thanh niên (PHAN BỘI CHÂU)
Dậy! Dậy! Dậy!
Bên án(1) một tiếng gà vừa gáy,
Chim trên cây liền ngỏ ý chào mừng.
Xuân ơi xuân, xuân có biết cho chăng?
Thẹn cùng sông, buồn cùng núi, tủi cùng trăng.
Hai mươi năm lẻ(2) đã từng chua với xót.
Trời đất may còn thân sống sót;
Tháng ngày khuây khoả lũ đầu xanh(3).
Thưa các cô, các chị, lại các anh:
Đời đã mới, người càng nên đổi mới.
Mở mắt thấy rõ ràng tân vận hội,
Xúm vai vào xốc vác cựu giang sơn(4).
Đi cho êm, đứng cho vững, trụ cho gan.
Dây thành bại quyết ghe phen(5) liên hiệp lại,
Ai hữu chí từ nay xin gắng gỏi:
(1) Án: bàn cao có mặt bàn hẹp.
(2) Hai mươi năm lẻ: số năm Phan Bội Châu bôn ba hoạt động ở nước ngoài.
(3) Đầu xanh: tóc xanh (chỉ thanh thiếu niên, người trẻ tuổi); trong thời gian bị giam lỏng ở Huế, mặc dù sống kham khổ, thiếu thốn, Phan Bội Châu vẫn nuôi dạy con của một số đồng chí đã hi sinh.
(4) Cựu giang sơn: non nước cũ; các chí sĩ cách mạng đầu thế kỉ XX thường dùng cụm từ này để chỉ đất nước khi còn có chủ quyền, đối lập với tình trạng đất nước bị thực dân Pháp đô hộ.
(5) Ghe phen: có lúc.
Xếp bút nghiên mà tu dưỡng lấy tinh thần. Đừng ham chơi, đừng ham mặc, đừng ham ăn, Dựng gan óc lên đánh tan sắt lửa, Xối máu nóng rửa vết nhơ nô lệ, Mới thế nà
Xếp bút nghiên mà tu dưỡng lấy tinh thần. Đừng ham chơi, đừng ham mặc, đừng ham ăn, Dựng gan óc lên đánh tan sắt lửa, Xối máu nóng rửa vết nhơ nô lệ, Mới thế này là mới hỡi chư quân(1) Chữ rằng: nhật nhật tân, hựu nhật tân(2)… (Phan Bội Châu - Tác phẩm chọn lọc, Trần Hải Yến giới thiệu và tuyển chọn, NXB Giáo dục Việt Nam, 2009, tr. 64 - 65)
SAU KHI ĐỌC
Phan Bội Châu (1867 - 1940) quê ở Nghệ An, là một nhà cách mạng lớn - người luôn sục sôi tinh thần yêu nước và khát vọng giải phóng dân tộc. Ông kết giao với nhiều nhà cách mạng, từng bôn ba nhiều năm ở nước ngoài, thành lập các tổ chức yêu nước, chống thực dân Pháp. Di sản văn học của Phan Bội Châu rất phong phú, với nhiều thể loại, nội dung chính là kêu gọi tinh thần yêu nước, giải phóng dân tộc. Một số tác phẩm chính: Hải ngoại huyết thư (1906), Ngục trung thư (1914), Trùng Quang tâm sử (khoảng 1905 - 1914),... Bài ca chúc Tết thanh niên được viết theo thể hát nói, nằm trong lời đáp từ của Phan Bội Châu khi học sinh Trường Quốc học và Trường dòng ở Huế tổ chức chúc thọ ông, ngày 29 tháng 01 năm 1927.
TRẢ LỜI CÂU HỎI
1. Cho biết bài thơ được sáng tác trong hoàn cảnh nào. Dựa vào đâu em biết được
điều đó?
2. Nêu bố cục của bài thơ. Mạch cảm xúc của bài thơ được thể hiện như thế nào qua
bố cục?
Phân tích tâm trạng của tác giả thể hiện trong bài thơ. Nhận xét về đặc điểm lời thơ
biểu đạt tâm trạng đó.
4. Bài thơ đã thể hiện kì vọng gì của tác giả đối với thế hệ trẻ lúc bấy giờ?
Đặt trong bối cảnh cuộc sống hôm nay, lời kêu gọi tuổi trẻ thể hiện trong bài thơ có
ý nghĩa như thế nào?
(1) Chư quân: các người. (2) Nhật nhật tân, hựu nhật tân: theo sách Đại học (một trong những cuốn sách kinh điển của Trung Quốc thời xưa), bài minh đề ở thùng tắm của vua Thành Thang có câu: Cẩu nhật tân, nhật nhật tân, hựu nhật tân, nghĩa là "ngày một mới, ngày một mới, lại ngày một mới".
Viết Viết bài văn nghị luận về một vấn đề cần giải quyết (trong đời sống xã hội) Trong thực tế, nhiều khi chúng ta phải đối mặt với những vấn đề của đời sống xã
Viết
Viết bài văn nghị luận về một vấn đề cần giải quyết (trong đời sống xã hội)
Trong thực tế, nhiều khi chúng ta phải đối mặt với những vấn đề của đời sống xã hội. Việc quan tâm, bàn luận về những vấn đề như vậy là hết sức cần thiết, không chỉ có ý nghĩa đối với mỗi cá nhân, mà còn có khả năng tác động đến nhận thức của nhiều người. Từ đó, mọi người có thể chung tay hành động, góp phần giải quyết vấn đề bằng những việc làm thiết thực, phù hợp với khả năng của mình.
Yêu cầu:
Nêu được vấn đề cần giải quyết trong đời sống xã hội (liên quan đến sự phát triển đất nước, đời sống của cộng đồng, quyền lợi và nghĩa vụ của cá nhân,...) để bàn luận.
Trình bày được bản chất, phạm vi tác động của vấn đề đối với đời sống xã hội (theo hướng tích cực hoặc tiêu cực); tổ chức được hệ thống luận điểm chặt chẽ, lí lẽ sắc bén, bằng chứng xác thực và tiêu biểu.
Nêu được ý kiến trái chiều về vấn đề được bàn luận để phản bác một cách có cơ sở.
Đề xuất được các giải pháp khả thi để giải quyết những bất cập trong phạm vi vấn đề.
Phân tích bài viết tham khảo
Bảo tồn và phát huy giá trị các di sản văn hoá của đất nước
Đã bao giờ bạn đến với non thiêng Yên Tử (Quảng Ninh), ngắm những di tích cổ kính gắn với tên tuổi Phật hoàng Trần Nhân Tông từ thế kỉ XIII? Đã bao giờ bạn đến với Hoa Lư (Ninh Bình), tận mắt nhìn thấy những ngôi đền, ngôi nhà hết sức giản dị – dấu tích kinh đô của nước ta thời nhà Đinh từ hơn 1 000 năm trước? Hay đã có khi nào bạn về Bắc Ninh dự hội Lim (tổ chức vào ngày 13 tháng Giêng hằng năm), hoà nhập vào không khí lễ hội dân gian, được nghe những làn điệu dân ca quan họ mượt mà, tình tứ? Cần hiểu rằng, đó là những di sản đã được bảo tồn qua hàng trăm, hàng ngàn năm. Và hôm nay, chúng ta có trách nhiệm tiếp tục công việc hệ trọng đó.
Nêu vấn đề nghị luận.
Di sản văn hoá của đất nước gồm những gì? Đó là toàn bộ giá trị văn hoá ẩn chứa trong những di sản vật thể và phi vật thể, gắn bó với cuộc sống của cộng đồng trong suốt
Trình bày bản chất của vấn đề.
chiều dài lịch sử. Chúng được tạo tác bởi bàn tay, khối óc của con người, nhằm phục vụ đời sống vật chất và tinh thần của con người. Các công trình kiến trúc nh
chiều dài lịch sử. Chúng được tạo tác bởi bàn tay, khối óc của con người, nhằm phục vụ đời sống vật chất và tinh thần của con người. Các công trình kiến trúc như Chùa Một Cột, Văn Miếu - Quốc Tử Giám (Hà Nội); Thành nhà Hồ (Thanh Hoá); Cố đô Huế, Chùa Thiên Mụ (thành phố Huế); Nhà thờ Đức Bà (Thành phố Hồ Chí Minh),... và bao nhiêu chùa chiền, đền đài, cầu, tháp,… được xây dựng cách đây hàng thế kỉ chính là các di sản văn hoá. Những pho sách cổ viết bằng chữ Hán hoặc chữ Nôm, đúc kết trí tuệ của các thế hệ đi trước cũng là di sản văn hoá. Từ các loại hình sân khấu dân gian như chèo, tuồng, ca kịch, múa rối,… cho đến những làn điệu dân ca của 54 dân tộc trên khắp mọi miền đất nước,… đều là di sản văn hoá. Như vậy, ở bất cứ không gian sống nào, chứng tích của quá khứ thể hiện qua di sản văn hoá cũng đang hiện diện trong đời sống của con người hôm nay. Khó mà đo đếm được sự quý giá của di sản văn hoá. Dùng lí lẽ và bằng chứng Trước hết, di sản văn hoá đại diện cho những giá trị tinh thần, làm sáng tỏ luận điểm 1: góp phần quan trọng tạo nên bản sắc của quốc gia. Có những Sự quý giá của di sản di sản đã gắn với danh xưng của quốc gia, chẳng hạn: văn hoá. "đất nước kim tự tháp" (Ai Cập), "đất nước chùa tháp" (Cam-pu-chia), "đất nước của tháp Ép-phen (Eiffel)" (Pháp),… Vì đã trường tồn qua hàng trăm, hàng ngàn năm, cho nên di sản văn hoá giúp con người hiểu rõ hơn về lịch sử, về truyền thống lao động và đấu tranh, về bề dày kinh nghiệm thẩm mĩ, về quan niệm đạo đức của một cộng đồng, có tác dụng lớn trong việc giáo dục truyền thống cho thế hệ trẻ. Di sản văn hoá đã trở thành nguồn tài nguyên quý giá cho sự phát triển ngành du lịch. Nhiều người nước ngoài hết sức thích thú, phấn khích khi xem múa rối nước của Việt Nam, lặng lẽ đắm mình vào không gian trầm mặc của Văn Miếu - Quốc Tử Giám, đi từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác khi khám phá địa đạo Củ Chi,… Cũng cần nói thêm, những di sản độc đáo, có giá trị cao không chỉ là báu vật của quốc gia, mà còn trở thành vốn quý của cả nhân loại khi được UNESCO công nhận là di sản văn hoá thế giới. Mặc dù di sản văn hoá quý giá như vậy, nhưng hiện nay
Dùng lí lẽ và bằng chứng
nhiều công trình không tránh khỏi tình trạng xuống cấp, hư làm sáng tỏ luận điểm 2: hại, mất mát do đạn bom trong chiến tranh, do thời tiết khắc Thực trạng của việc nghiệt, do cách bảo tồn sơ sài bắt nguồn từ sự thiếu hiểu bảo vệ di sản văn hoá biết, thiếu tinh thần trách nhiệm hoặc trình độ quản lí còn hiện nay. hạn chế,… Có những nơi quá chú trọng lợi ích kinh tế trước mắt nên đã không ngần ngại xâm hại di sản. Không ít người
Nêu và phản bác ý kiến
lại cho rằng, di sản phải được tôn tạo, phải được làm mới để trái chiều. "vĩnh cửu hoá". Thật là một quan niệm sai lầm! Xuất phát từ sự thiếu hiểu biết đó mà họ đã huy động nhiều tiền của để "tôn tạo" di sản theo hướng "hiện đại hoá", khiến bao nhiêu công trình trở nên lai căng, biến dạng, mất hết vẻ đẹp tinh xảo nguyên sơ vốn có. Thật xót xa khi những cuốn sách quý trong kho tư liệu cha ông để lại bị mục nát, hư hỏng hoặc thất lạc. Nếu cứ như thế, sẽ đến lúc có những bảo vật hoàn toàn biến mất khỏi vốn di sản của quốc gia. Thực trạng đó cho thấy việc bảo tồn di sản văn hoá truyền thống vẫn luôn là vấn đề có tính thời sự.
Làm sao để giữ gìn, phát huy và trao truyền cho các thế hệ mai sau những giá trị tinh thần, vật chất vô giá do Đề xuất giải pháp tăng cha ông để lại? Câu hỏi nà
Làm sao để giữ gìn, phát huy và trao truyền cho các thế hệ mai sau những giá trị tinh thần, vật chất vô giá do Đề xuất giải pháp tăng cha ông để lại? Câu hỏi này không dành cho riêng ai. Có cường bảo vệ di sản nhiệm vụ thuộc về nhà nước và các cơ quan chuyên trách văn hoá. như việc ban hành văn bản pháp luật, ban hành chính sách nhằm tăng cường năng lực điều hành, quản lí và phát huy giá trị của di sản văn hoá. Có việc thuộc về các nhà khoa học - những chuyên gia có kiến thức sâu rộng về chuyên môn, có khả năng đưa ra những phương pháp bảo tồn hợp lí nhất. Có việc thuộc chức năng của những đơn vị trực tiếp quản lí di sản cụ thể. Và dĩ nhiên, cả cộng đồng cũng như mỗi cá nhân đều phải có trách nhiệm với di sản văn hoá của đất nước, nhất là những gì có liên quan, gần gũi với đời sống hằng ngày của mọi người. Là những con người thuộc thế hệ trẻ của đất nước, mỗi học sinh chúng ta cần phải ý thức rõ về trách nhiệm đó. Trong việc thụ hưởng di sản văn hoá như tổ chức hoạt động tham quan, học tập, trải nghiệm,… chúng ta cần luôn tuân thủ nghiêm túc các quy định; tuyệt đối tránh những việc làm có thể gây tổn hại đối với di sản; ngăn cản hoặc tố giác những kẻ cố tình phá hoại; biết giữ gìn di sản bằng sự hiểu biết và thái độ trân quý. Có như vậy, di sản văn hoá mới có thể tiếp tục tồn tại bền lâu với tương lai của đất nước.
Thực hành viết theo các bước
1 TRƯỚC KHI VIẾT, Mục đích viết
a. Lựa chọn đề tài Muốn chọn được đề tài phù hợp để viết bài, em cần chú ý phạm vi nội dung mà phần Viết giới hạn (vấn đề cần giải quyết trong đời sống xã hội). Em chú ý thu thập tư liệu từ các nguồn khác nhau (sách báo, các phương tiện truyền thông,...) làm cơ sở cho việc tìm đề tài. Có thể tham khảo một số vấn đề sau:, Thuyết phục người đọc đồng tình với ý kiến của người viết về một vấn đề cần giải quyết trong đời sống xã hội hiện nay để mỗi cá nhân thấy được trách nhiệm của mình. Người đọc Những người quan tâm đến các vấn đề thiết yếu của đời sống xã hội, thấy được sự tác động của những vấn đề đó đối với cá nhân, cộng đồng, đất nước.
Bảo vệ, khôi phục rừng và trồng cây phủ xanh đồi trọc. - Công cuộc chuyển đổi số và vai trò của mỗi người.
(Nhóm biên soạn)
Giữ gìn nguồn nước cho hôm nay và mai sau. - Văn hoá giao thông và trách nhiệm của mỗi người. - Vai trò của thực phẩm sạch trong cuộc sống hằng ngày.
b. Tìm ý Khi đã xác định được đề tài bài viết, cần tiến hành việc tìm ý. Phải tìm hiểu kĩ vấn đề để nắm được bản chất và các khía cạnh của nó. Từ kinh nghiệm vi
b. Tìm ý
Khi đã xác định được đề tài bài viết, cần tiến hành việc tìm ý. Phải tìm hiểu kĩ vấn đề để nắm được bản chất và các khía cạnh của nó. Từ kinh nghiệm viết bài nghị luận khi thực hiện ở phần Viết của bài 1. Thế giới kì ảo và bài 3. Hồn nước nằm trong tiếng mẹ cha, em có thể đặt ra các câu hỏi để tìm ý theo cách tương tự, chẳng hạn: - Vấn đề cần được giải quyết là gì? Phần Mở bài của bài viết tham khảo nêu vấn đề di sản văn hoá và trách nhiệm của mỗi người trong việc bảo tồn các di sản. - Ý kiến của em về vấn đề như thế nào? Trong bài viết tham khảo, người viết trình bày quan điểm của mình về sự quý giá của di sản văn hoá, khẳng định tầm quan trọng của việc bảo tồn, phát huy những di sản văn hoá truyền thống đối với quốc gia và nhân loại. Người viết cũng báo động và phân tích tình trạng xuống cấp, hư hại, mất mát của di sản văn hoá do nhiều nguyên nhân khác nhau. - Có thể xuất hiện ý kiến nào trái ngược với quan điểm của người viết? Cần dùng những lí lẽ, bằng chứng nào để phản bác? Có thể có nhiều góc nhìn khác nhau về vấn đề bảo tồn và phát huy giá trị các di sản văn hoá, vì vậy, ý kiến trái chiều khá đa dạng. Bài viết đã nêu và phản bác ý kiến cho rằng di sản văn hoá cần được tôn tạo, làm mới theo hướng "hiện đại hoá", "vĩnh cửu hoá". - Cần có giải pháp nào để giải quyết vấn đề? Bài viết tham khảo nêu một số giải pháp cần thực hiện để giữ gìn và phát huy giá trị của các di sản văn hoá; đề cao trách nhiệm của mỗi người khi tham gia giải quyết vấn đề; liên hệ với bản thân (ở phần Kết bài).
c. Lập dàn ý
Các ý đã tìm được chỉ mới tồn tại dưới dạng liệt kê. Em cần lập dàn ý bằng cách sắp xếp những ý đó vào các phần theo trật tự hợp lí.
Dàn ý
Mở bài: Giới thiệu vấn đề cần giải quyết trong đời sống xã hội, nêu sự cần thiết phải bàn luận về vấn đề.
Thân bài: + Trình bày ý kiến của bản thân về vấn đề, triển khai thành hệ thống luận điểm. Luận điểm 1: Bản chất của vấn đề đời sống được bàn luận, biểu hiện của vấn đề trong thực tế xã hội (dùng lí lẽ và bằng chứng để làm sáng tỏ). Luận điểm 2: Sự tác động của vấn đề đối với cá nhân, cộng đồng, đất nước theo hướng tích cực hoặc tiêu cực (dùng lí lẽ và bằng chứng để làm sáng tỏ). Luận điểm 3: Trách nhiệm của mỗi người trước vấn đề (dùng lí lẽ và bằng chứng để làm sáng tỏ).
...
Nêu ý kiến trái chiều về vấn đề để phản bác. Đề xuất giải pháp khả thi để giải quyết vấn đề đời sống được bàn luận. – Kết bài: Khẳng định tầm quan trọng của việ
Nêu ý kiến trái chiều về vấn đề để phản bác.
Đề xuất giải pháp khả thi để giải quyết vấn đề đời sống được bàn luận.
– Kết bài: Khẳng định tầm quan trọng của việc nhận thức đúng đắn và giải quyết
thoả đáng vấn đề nêu ra.
VIẾT BÀI
2
Khi viết bài, em cần chú ý:
– Bám sát yêu cầu của kiểu bài và dàn ý đã lập để triển khai các phần của bài viết.
– Rút kinh nghiệm từ việc viết bài văn nghị luận xã hội (ở các bài trước), từ việc đọc
văn bản nghị luận ở bài học này cũng như qua tìm hiểu bài viết tham khảo, em cần
vận dụng linh hoạt kĩ thuật viết các phần của bài văn.
– Có thể mở bài bằng lối trực tiếp (giới thiệu nhanh vấn đề nghị luận) hoặc gián tiếp
(dùng một mẩu chuyện, một thông tin, một câu nói nổi tiếng hoặc nêu ý tương phản,...
để dẫn đến vấn đề bàn luận).
– Khi triển khai các luận điểm của phần Thân bài, cần đặc biệt chú ý việc sử dụng
lí lẽ và bằng chứng để tăng sức thuyết phục của bài văn nghị luận (quan sát cách trình bày
lí lẽ và nêu bằng chứng ở các văn bản đọc và bài viết tham khảo để học tập cách viết).
– Kết bài nên liên hệ tới trách nhiệm của mỗi người trong việc giải quyết vấn đề.
CHỈNH SỬA BÀI VIẾT
3
– Đọc bài viết thật kĩ, đặt câu hỏi để tự kiểm tra lại từng phần, từng khía cạnh và
thao tác được sử dụng:
Vấn đề bàn luận có được nêu rõ ràng không?
Bản chất và từng khía cạnh của vấn đề đã được làm rõ chưa? Bản thân có ý kiến
như thế nào về vấn đề? Tầm quan trọng của vấn đề đối với đời sống xã hội có được
làm nổi bật không?
Thực trạng của vấn đề đã được nêu cụ thể chưa? Giải pháp đề xuất có tính khả
thi không? Trách nhiệm của bản thân trong việc tham gia giải quyết vấn đề được nêu
như thế nào?
Có nêu được ý kiến trái chiều để phản bác không? Nếu có, việc phản bác đã
đủ cơ sở chưa?
Ở từng luận điểm, lí lẽ và bằng chứng được sử dụng như thế nào? Có đảm bảo
sức thuyết phục không?
Bài viết có những lỗi nào về chính tả, diễn đạt (dùng từ, đặt câu, liên kết đoạn)?
– Sau khi rà soát, nếu phát hiện thấy chỗ nào chưa đạt yêu cầu thì cần bổ sung,
chỉnh sửa hoặc thay thế.
83
Trang 84
Củng cố, mở rộng 1. Kẻ bảng vào vở để hệ thống hoá kiến thức về hai văn bản nghị luận Đấu tranh cho một thế giới hoà bình và Biến đổi khí hậu – mối đe doạ sự tồ
Củng cố, mở rộng
1. Kẻ bảng vào vở để hệ thống hoá kiến thức về hai văn bản nghị luận Đấu tranh cho một thế giới hoà bình và Biến đổi khí hậu – mối đe doạ sự tồn vong của hành tinh chúng ta, trong bảng có các cột để ghi các thông tin: vấn đề được bàn luận, các luận điểm chính, lí lẽ, bằng chứng.
2. Trình bày ý kiến của em về đề tài: "Chỉ có con người mới cải thiện được tình trạng biến đổi khí hậu trên Trái Đất". Hãy lập dàn ý, viết phần Mở bài và đoạn đ
2. Trình bày ý kiến của em về đề tài: "Chỉ có con người mới cải thiện được tình trạng biến đổi khí hậu trên Trái Đất". Hãy lập dàn ý, viết phần Mở bài và đoạn đầu của Thân bài.
3. Dựa vào dàn ý của bài viết ở câu 2 để lập dàn ý cho bài thuyết trình; dựa vào dàn ý đó để tập trình bày bài nói.
4. Tìm đọc hai văn bản nghị luận xã hội, ghi vắn tắt vào vở các thông tin: luận đề, các luận điểm chính, cách sử dụng lí lẽ và bằng chứng, mối liên hệ giữa vấn đề nghị luận với đời sống.
Trang 87
Trang 88
Trang 89
Thuyết minh được (dưới hình thức nói) về một danh lam thắng cảnh hay một di tích lịch sử, có sử dụng các sơ đồ, bảng biểu, hình ảnh minh hoạ. Tự hào về vẻ đẹp m
Thuyết minh được (dưới hình thức nói) về một danh lam thắng cảnh hay một di tích lịch sử, có sử dụng các sơ đồ, bảng biểu, hình ảnh minh hoạ.
Tự hào về vẻ đẹp muôn màu của đất nước và truyền thống lịch sử anh hùng của dân tộc; có ý thức gìn giữ những di sản quý báu do ông cha để lại và bảo vệ sự toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam.
ĐỌC
TRI THỨC NGỮ VĂN
Văn bản giới thiệu một danh lam thắng cảnh
Văn bản giới thiệu một danh lam thắng cảnh thuộc loại văn bản thuyết minh, được viết ra nhằm đưa đến cho người đọc những thông tin khái quát về một cảnh quan đáng du ngoạn, thưởng lãm. Cảnh quan được đề cập thường có sự kết hợp hài hoà giữa vẻ đẹp vốn có của thiên nhiên (thắng cảnh) và vẻ đẹp của các công trình nhân tạo, trong đó phổ biến là loại công trình phục vụ cho hoạt động tín ngưỡng (danh lam).
Văn bản giới thiệu một danh lam thắng cảnh có thể được triển khai theo nhiều cách khác nhau. Tuy vậy, việc tạo lập mọi văn bản thuộc kiểu này đều phải đảm bảo các yêu cầu chính: nêu được vị trí không gian và quá trình hình thành cảnh quan; miêu tả được cấu trúc và vẻ đẹp của cảnh quan; đánh giá được ý nghĩa của cảnh quan đối với đời sống con người; phối hợp hiệu quả phương tiện ngôn ngữ và phi ngôn ngữ khi thể hiện tất cả nội dung trên.
Văn bản giới thiệu một di tích lịch sử
Văn bản giới thiệu một di tích lịch sử thuộc loại văn bản thuyết minh. Nội dung của nó nói về những địa điểm, công trình (bao gồm cả di vật, cổ vật tồn tại trong đó) còn ghi dấu các sự kiện đáng nhớ của lịch sử đất nước, dân tộc, nhân loại. Thông qua việc kết nối quá khứ với hiện tại, văn bản khơi dậy ý thức trân trọng lịch sử, vun đắp thái độ yêu quý, giữ gìn những “trang sử sống” có thể gửi đến tương lai nhiều bài học có ý nghĩa. Trong nhiều trường hợp, di tích lịch sử là một bộ phận hữu cơ của danh lam thắng cảnh. Vì vậy, giữa văn bản giới thiệu về di tích lịch sử với văn bản giới thiệu về danh lam thắng cảnh có một số điểm tương đồng trên cả hai phương diện nội dung và hình thức.
Cách trình bày thông tin trong văn bản thông tin
Tuỳ vào mục đích và nội dung thông tin mà người viết sẽ chọn những cách triển khai văn bản linh hoạt, phù hợp.
Kiểu văn bản giới thiệu về một danh lam thắng cảnh hoặc di tích lịch sử thường được triển khai theo cách riêng: đi từ cái nhìn tổng quan đến miêu tả cụ thể các bộ phận hợp thành của đối tượng; trình bày xen kẽ tình trạng thực tế và lịch sử hình thành của đối tượng; chú ý đặt đối tượng giới thiệu vào đúng loại của nó để thực hiện những so sánh, đánh giá cần thiết.
VĂN BẢN 1 TRƯỚC KHI ĐỌC Khi đi tham quan hay du lịch, em có thường tìm hiểu trước về nơi sắp đến không? Nếu có, loại tài liệu em quan tâm tìm đọc, xem, nghe là
VĂN BẢN 1
TRƯỚC KHI ĐỌC
Khi đi tham quan hay du lịch, em có thường tìm hiểu trước về nơi sắp đến không? Nếu có, loại tài liệu em quan tâm tìm đọc, xem, nghe là gì?
Kể tên một số danh lam thắng cảnh có di tích lịch sử mà em đã đến hoặc đã biết.
ĐỌC VĂN BẢN
Yên Tử, núi thiêng
THI SẢNH$^{(1)}$
Giữa những cánh cung núi trùng điệp của khu Đông Bắc mênh mông, Yên Tử cao 1 068 m, vút lên chon von tựa một vọng gác. Từ xưa cảnh núi rừng Yên Tử đã nổi tiếng là một nơi ngoạn mục. Các triều đại phong kiến ở nước ta đều liệt Yên Tử
Theo dõi
Có điểm gì đáng chú ý trong cách tác giả nêu cảm nhận chung và đánh giá khái quát về đối tượng được giới thiệu?
(1) Thi Sảnh (1941 – 2020) tên khai sinh là Nguyễn Thanh Sỹ, quê ở Quảng Trị, là nhà thơ, nhà văn, nhà nghiên cứu lịch sử – văn hoá, đã viết nhiều tác phẩm, công trình về lịch sử, thắng cảnh, di tích của vùng đất mỏ Quảng Ninh – nơi ông có quá trình công tác và gắn bó lâu dài. Tác phẩm chính: Lịch sử phong trào công nhân Quảng Ninh (tập 1, 1974; tập 2, 1984); Cõi thiêng Yên Tử (2002); Thức với dòng sông (2004); Quảng Ninh, miền đất những kì tích (2004); Hình bóng xưa (2005); Vịnh Hạ Long – hành trình một kỉ quan (2012).
vào loại "danh sơn" (núi đẹp). Sau khi Thiền phái Trúc Lâm ra đời và đi liền với nó, hệ thống chùa tháp uy nghi mọc lên chi chít, thì Yên Tử càng thêm quyến rũ
vào loại "danh sơn" (núi đẹp). Sau khi Thiền phái Trúc Lâm ra đời và đi liền với nó, hệ thống chùa tháp uy nghi mọc lên chi chít, thì Yên Tử càng thêm quyến rũ du khách bốn phương.
Yên Tử ngày nay thuộc thành phố Uông Bí(1), Theo dõi cách trung tâm thành phố 14 km về phía tây bắc.
Người viết cho biết điều gì về toạ độ
Từ Hòn Gai, ngược trục đường 18A 40 km, ta sẽ không gian của núi thiêng Yên Tử? đến Uông Bí. Tại đây ta nghỉ ngơi chốc lát, chuẩn bị thêm lương thực, thực phẩm cho chuyến hành hương tới "Núi vua hoá Phật" và ngắm cảnh vật thành phố. Từ cổng nhà máy điện Uông Bí, ta theo đường vào mỏ Vàng Danh đến Lán Tháp, đến đây ta rẽ phía tây theo con đường qua xã Thượng Yên Công(2) và đi tiếp 4 km nữa thì đến Yên Tử. Đoạn đường từ Lán Tháp vào Yên Tử dài 9 km, đi giữa lòng thung lũng dài và hẹp, giới hạn bởi dãy núi Cánh Gà ở phía nam, Bảo Đài ở phía bắc, thoạt trông như những thành quách cổ xưa. Những khu vườn xum xuê cây ăn quả: vải, nhãn, mận, đào, mùa nào thức ấy, những mảnh ruộng mía thân tím thẳng tắp, nối tiếp hai bên đường. Suối Giải Oan trong veo, chảy ngoằn ngoèo trong thung lũng, trên nền đá cuội và sỏi trắng, cắt con đường từ Lán Tháp
Hình dung
vào Yên Tử 9 đoạn, khiến du khách ngỡ là 9 con suối khác nhau. Hai bên bờ suối, hoa dành và hoa Vẻ đẹp của lối vào Yên Tử đã được bướm vàng rộm. Đây đó có những khóm hoa hải miêu tả bằng những chi tiết, hình
ảnh nào?
đường chen với hoa thuỷ tiên đang nở bung những cánh mỏng phớt tím. Vào mùa xuân, sau Tết âm lịch, khi tiết trời dịu mát, rừng Yên Tử nở lộc đơm hoa. Khách thập phương rộn ràng đổ về Yên Tử trẩy hội. Khách tham quan thuộc nhiều lứa tuổi, nhiều nghề nghiệp, kể cả trong nước và ngoài nước, hăm hở, nhằm đỉnh núi mờ sương bước vội, mong chóng đến nơi mà mình mơ ước. Tên xa xưa của Yên Tử là Núi Voi, bởi dáng núi giống hình con voi quay đầu về phía biển. Trong sử sách, Yên Tử còn có tên là Bạch Vân Sơn (núi mây trắng), bởi quanh năm đỉnh núi chìm trong mây trắng. Từ xưa, nhiều tín đồ đạo Phật ở nước ta đã say đắm cảnh vật Yên Tử "Lối đi có trúc, khe suối có hoa" (thơ Phạm Sư Mạnh), cũng là nơi thâm nghiêm, u tịch. Họ đã đến dựng chùa mái tranh vách nứa dưới chân núi Yên Tử, ngày ngày cầu kinh niệm Phật. Theo Hải Dương phong vật chí, từ xưa Yên Tử đã nổi danh là "Phúc địa thứ tư của Giao Châu", là ngọn núi thiêng, chốn tu hành tuyệt đỉnh của những người mộ đạo như dân gian truyền tụng:
(1) Thành phố Uông Bí: trước đây là đơn vị hành chính trực thuộc tỉnh Quảng Ninh. (2) Xã Thượng Yên Công: nay thuộc phường Yên Tử, tỉnh Quảng Ninh.
Nào ai quyết chí tu hành Có về Yên Tử mới đành lòng tu. Theo một số thư tịch cổ, vào đầu Công nguyên, một người Trung Quốc tên là An Kỳ Sinh đã lặn Liên hệ lội
Nào ai quyết chí tu hành Có về Yên Tử mới đành lòng tu.
Theo một số thư tịch cổ, vào đầu Công nguyên, một người Trung Quốc tên là An Kỳ Sinh đã lặn Liên hệ lội tới Yên Tử tu tiên và luyện đan để tìm thuốc Trong một văn bản giới thiệu về
danh lam thắng cảnh, việc cung cấp
trường sinh bất tử. An Kỳ Sinh là bạn thân của những thông tin mang tính lịch sử có Khoái Thông, người từng bày mưu tính kế cho ý nghĩa gì? Tây Sở Bá Vương Hạng Vũ. Đến Yên Tử, An Kỳ Sinh ở hẳn trong núi, vừa tu đạo, vừa luyện thuốc. Ông lập ra Am Dược, Am Hoa, Am Thung. Thuốc trường sinh chắc chắn ông không tìm thấy nhưng tục truyền, khi mất, ông đã hoá thân vào núi. Khối đá có hình người trên đỉnh Yên Tử được người đời sau gọi là tượng An Kỳ Sinh. […] Đạo Phật phát triển cực thịnh trong thời Lý. Ngôi chùa sớm nhất dựng trong thời kì này ở Yên Tử là chùa Phù Vân. Theo sách Thiền uyển tập anh, Thông Thiền cư sĩ, đệ tử của Thường Chiếu thuộc thế hệ 13 của dòng Thiền Vô Ngôn Thông đã tu hành ở chùa này vào cuối thời Lý. Ông mất ở đây năm 1228. Đến thời Trần, vị cao tăng trụ trì ở Yên Tử có uy tín lớn thời bấy giờ, được Trần Thái Tông khi lên ngôi vua, phong tặng là Phù Vân quốc sư.
Năm Bính Thân (tức năm 1236), ngày 3 tháng 4, vào lúc 10 giờ đêm, mang nỗi u uất trong lòng không giãi bày được cùng ai, vua Trần Thái Tông đã vượt thành, trốn khỏi Thăng Long, ruổi ngựa theo hướng núi Yên Tử. Đến 2 giờ chiều ngày 5 tháng 4, Thái Tông đến chân núi. Sáng ngày 6, ông trèo lên núi, gặp nhà sư Phù Vân, một người bạn cũ, để đưa một lời thỉnh cầu. […] Nhà sư Phù Vân trả lời: "Núi Suy luận vốn không có Phật. Phật ở trong tâm. Tâm lặng Những thông tin mở rộng về đạo
Phật và các vị chân tu cần thiết
lẽ mà biết, ấy là chân Phật. Nay bệ hạ giác ngộ như thế nào đối với một văn bản được cái tâm ấy, thì lập tức thành Phật. Không giới thiệu núi thiêng Yên Tử? phải khốn khổ đi tìm ở bên ngoài". Câu trả lời của Phù Vân quốc sư thể hiện một quan điểm mới về Thiền. Chính Thái Tông khi nhắc lại câu nói của Phù Vân quốc sư, đã gọi ông là Trúc Lâm đạo sĩ. Phải chăng người đặt nền móng cho phái Thiền Trúc Lâm, một Thiền phái Phật giáo đặc trưng Việt Nam […], mà sau này Trần Nhân Tông là ông tổ thứ nhất, chính là Phù Vân quốc sư?
Nhưng Yên Tử thật sự trở thành nơi trung tâm náo nhiệt của Phật giáo Trúc Lâm chỉ từ khi vua Trần Nhân Tông đến Yên Tử tu hành. Từ đó, cảnh sắc thiên nhiên ngoạ
Nhưng Yên Tử thật sự trở thành nơi trung tâm náo nhiệt của Phật giáo Trúc Lâm chỉ từ khi vua Trần Nhân Tông đến Yên Tử tu hành. Từ đó, cảnh sắc thiên nhiên ngoạn mục hoà quyện với chùa, am, tháp cổ kính của Yên Tử, vừa như chốn thần tiên, vừa lại gần gũi, gắn bó với con người. […]
(Theo Thi Sảnh, Cõi thiêng Yên Tử, Sở Văn hoá - Thông tin Quảng Ninh, 2002, tr. 11 - 15)
Sơ đồ khu di tích Yên Tử, in trong Cõi thiêng Yên Tử
SAU KHI ĐỌC
TRẢ LỜI CÂU HỎI
1. Yên Tử, núi thiêng thuộc loại văn bản gì? Em căn cứ vào đâu để xác định như vậy?
2. Văn bản được bố cục như thế nào? Nêu nội dung cụ thể của từng phần trong bố cục
và chỉ ra mạch kết nối các nội dung đó.
3. Căn cứ vào nội dung văn bản, cho biết những lí do chính khiến Yên Tử được nhìn
nhận là "núi thiêng".
Nhận xét về tỉ lệ của các đoạn miêu tả và dẫn tư liệu lịch sử trong văn bản (tỉ lệ như
thế nào, có hợp lí không và thể hiện ý tưởng gì của tác giả).
Liệt kê những chi tiết thể hiện cách giải thích tên gọi của một số vị trí và di tích trong
quần thể du lịch tâm linh Yên Tử. Việc giải thích đó đáp ứng yêu cầu gì của loại văn bản giới thiệu một cảnh quan?
6. Yếu tố biểu cảm đã được tác giả sử dụng như thế nào? Yếu tố đó đóng vai trò gì
trong việc làm tăng tính hấp dẫn của văn bản?
7. Nêu tác dụng của việc đưa sơ đồ khu di tích Yên Tử vào văn bản. Theo em, vì sao
những sơ đồ thuộc loại này thường được hiệu chỉnh qua các lần công bố khác nhau?
Thực hành tiếng Việt BIẾN ĐỔI CẤU TRÚC CÂU 1 Xếp đặt các từ ngữ theo trật tự khác hoặc chuyển cụm chủ ngữ – vị ngữ thành cụm danh từ trong những câu dưới đây và
Thực hành tiếng Việt
BIẾN ĐỔI CẤU TRÚC CÂU
1 Xếp đặt các từ ngữ theo trật tự khác hoặc chuyển cụm chủ ngữ – vị ngữ thành cụm danh từ trong những câu dưới đây và nhận xét về sự biến đổi nghĩa có thể có ở từng câu sau việc làm đó.
a. Các bạn tán thưởng bài thuyết minh của em về danh lam thắng cảnh.
b. Con người đã phá vỡ sự toàn vẹn của cảnh quan vì tiến hành một số hoạt động vô ý thức.
c. Tác phẩm ấy ra đời đã đánh dấu một thành tựu mới của truyện ngắn Việt Nam hiện đại.
2 Biến đổi câu bị động sau thành câu chủ động và cho biết nghĩa của câu đã thay đổi như thế nào sau sự biến đổi này.
Khối đá có hình người trên đỉnh Yên Tử được người đời sau gọi là tượng An Kỳ Sinh.
(Theo Thi Sảnh, Yên Tử, núi thiêng)
3 Đọc câu sau và thực hiện các yêu cầu nêu ở dưới:
Chính Thái Tông khi nhắc lại câu nói của Phù Vân quốc sư, đã gọi ông là Trúc Lâm đạo sĩ.
(Theo Thi Sảnh, Yên Tử, núi thiêng)
a. Xác định căn cứ để xếp câu trên vào kiểu câu chủ động.
Nhận biết một số hình thức biến đổi cấu trúc câu
Việc biến đổi cấu trúc câu thường được thực hiện theo những hình thức sau:
• Thay đổi trật tự của các từ ngữ trong câu. So sánh hai câu sau:
(1) Xin cảm ơn quý vị đã ủng hộ chúng tôi trong việc triển khai dự án này.
(2) Xin cảm ơn quý vị đã ủng hộ việc triển khai dự án này của chúng tôi.
Câu (1) thể hiện sự ủng hộ hướng vào chủ thể (chúng tôi – người thực hiện dự án), còn câu (2) thể hiện sự ủng hộ hướng vào đối tượng (dự án).
• Chuyển cụm chủ ngữ – vị ngữ thành cụm danh từ. So sánh hai câu sau:
(1) Chúng tôi tiến bộ về kĩ năng viết nhờ luyện viết thường xuyên.
(2) Sự tiến bộ về kĩ năng viết của chúng tôi là kết quả của việc luyện viết thường xuyên.
Câu (1) đưa thông tin đơn giản về chủ thể (chúng tôi) và hoạt động hay thành tích của chủ thể (tiến bộ về kĩ năng viết). Câu (2), vì muốn nhấn mạnh kết quả của hoạt động do chủ thể thực hiện mà không cần nói về quá trình thực hiện hoạt động đó nên đã dùng cụm danh từ để “gói” lại cụm chủ ngữ – vị ngữ, theo đó, làm nổi bật hơn ý muốn biểu đạt ở sau.
• Chuyển câu chủ động (có chủ ngữ thể hiện chủ thể của hoạt động) thành câu bị động (có chủ ngữ thể hiện đối tượng của
VĂN BẢN 2 TRƯỚC KHI ĐỌC Yêu thiên nhiên là một tình cảm tự nhiên và đặc biệt của con người. Theo em, tình yêu đó có những biểu hiện nổi bật nào? Trong bối cảnh
VĂN BẢN 2
TRƯỚC KHI ĐỌC
Yêu thiên nhiên là một tình cảm tự nhiên và đặc biệt của con người. Theo em, tình yêu đó có những biểu hiện nổi bật nào?
Trong bối cảnh đời sống hiện đại, việc tạo ra một không gian cư trú gần gũi, thân thiện với thiên nhiên có thể gặp phải những thách thức gì?
ĐỌC VĂN BẢN
Văn hoá hoa – cây cảnh
TRẦN QUỐC VƯỢNG$^{(1)}$
Thiên nhiên, về bản chất là phong phú và đa dạng, mãi mãi còn tiềm ẩn nhiều kì thú và kì vĩ, kì bí,... không hẳn là "bất khả tri"$^{(2)}$ nhưng cho dù con người, qua lịch sử, đã thu thập được một kho
Theo dõi
Tác giả đang khơi gợi sự chú ý về vấn đề gì?
$^{(1)}$ Trần Quốc Vượng (1934 – 2005) quê ở Hà Nam (nay thuộc tỉnh Ninh Bình), là học giả có những đóng góp quan trọng trong việc xây dựng và phát triển một số ngành nghiên cứu về lịch sử, khảo cổ, văn hoá ở Việt Nam, đi đầu trong việc thực hiện lối tiếp cận liên ngành trong nghiên cứu khoa học. Các tác phẩm chính của ông: Sơ yếu khảo cổ học nguyên thuỷ ở Việt Nam (1960), Theo dòng lịch sử (1996), Cơ sở văn hoá Việt Nam (1996), Việt Nam – cái nhìn địa văn hoá (1998), Văn hoá Việt Nam – Tìm tòi và suy ngẫm (2000),...
$^{(2)}$ Bất khả tri: không thể biết.
tri thức về tự nhiên song chưa bao giờ đã hiểu biết hết tự nhiên. Luôn luôn, tự nhiên, cũng như người đàn bà xinh đẹp, duyên dáng, đậm thấm và sâu sắc, lưu giữ
tri thức về tự nhiên song chưa bao giờ đã hiểu biết hết tự nhiên. Luôn luôn, tự nhiên, cũng như người đàn bà xinh đẹp, duyên dáng, đậm thấm và sâu sắc, lưu giữ một chất "huyền" nào đó, vẫy gọi, kích thích con người tiếp cận… nhưng bao giờ cũng là cảnh tình "tuy xa mà gần, tuy gần mà xa…".
Thiên nhiên Đông Nam Á và Việt Nam – xứ sở châu Á gió mùa nhiệt ẩm – lại càng phong phú và đa dạng hơn bất cứ nơi đâu, vừa gắn với đại lục, vừa thông với đại dương, đủ dạng địa hình, hệ thực vật có trên 7 000 loài có hạt, xếp vào 267 họ, xấp xỉ 2 000 chi… Nhà bác học Lê Quý Đôn của xứ Sơn Nam Hạ⁽¹⁾ nói giản dị: Cây cỏ miền nhiệt đới hương nồng thắm hơn, sắc nhiều màu hơn cây cỏ xứ lạnh…
Con người – loài người là một sản phẩm của tự nhiên trên diễn trình⁽²⁾ lịch sử vũ trụ và là một thành phần của tự nhiên từ hàng triệu năm về trước đến ngày nay. Thoạt kì thuỷ⁽³⁾, con người lệ thuộc gần như hoàn toàn và nặng nề vào môi sinh tự nhiên, các hệ sinh thái tự nhiên; nhưng về bản thể⁽⁴, con người là một sinh vật có tư duy, có ý thức, có mô hình hành động được lựa chọn và chịu trách nhiệm về sự lựa chọn của mình, do vậy mà con người không thích nghi thụ động với hoàn cảnh tự nhiên, mà là ứng biến – thích ứng và biến đổi nó – xây dựng các hệ sinh thái – nhân văn mà nhiều người gọi là thiên nhiên thứ hai, xây dựng các nền văn hoá với những ứng xử khác nhau, với tự nhiên, với xã hội và với bản thân mình… […]
Phương Đông – trong đó có Việt Nam – trên đại thể có truyền thống sống hài hoà với tự nhiên. Người Việt Nam dựa vào tự nhiên mà làm ăn và đánh giặc. "Trông trời, trông đất, trông mây/ Trông mưa, trông gió, trông ngày, trông đêm…". Theo thuyết tính linh⁽⁵⁾, vạn vật đều có hồn: Hồ Gươm – Hồ Tây, núi Nùng, sông Nhị, nơi "lăng hồn núi sông ngàn năm" (Nguyễn Đình Thi); "Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ" (Nguyễn Du); vui "tình cá nước", "hoa cười", cây "ngả nghiêng chao"; ứng xử tế nhị "nâng như nâng trứng, hứng như hứng hoa"; thậm chí tín mê "thần cây đa, ma cây gạo…" với tục thờ cây cối… […]
Văn minh lớn Trung Hoa, đến thời Hán, vài thế kỉ trước sau Công nguyên thì nghề xây dựng hoa viên, trồng hoa, cây cảnh đã trở thành một ngành nghệ thuật lớn và tinh tế, một nghệ thuật cung đình và quý tộc, tất nhiên: thượng uyển, thượng lâm…
Chú ý
Đầu là điều kiện then chốt dẫn đến sự xuất hiện của "thiên nhiên thứ hai"?
Theo dõi
Cách tác giả đưa thông tin về "truyền thống sống hài hoà với tự nhiên" của người Việt Nam có điểm gì độc đáo?
⁽¹⁾ Sơn Nam Hạ: tên gọi của một lộ (đơn vị hành chính có từ thời Hậu Lê) thuộc các tỉnh Ninh Bình và Hưng Yên ngày nay.
⁽²⁾ Diễn trình: quá trình diễn biến.
⁽³⁾ Thoạt kì thuỷ: như thoạt tiên hay thoạt đầu, chỉ tình trạng lúc ban đầu của một đối tượng, sự việc nào đó.
⁽⁴⁾ Bản thể: bản chất (theo cái nhìn của triết học).
⁽⁵⁾ Thuyết tính linh: một lí thuyết về sáng tạo văn học đề cao yếu tố thiên bẩm và sự tự nhiên, chân tình của cảm xúc, cho rằng giữa con người với vạn vật có mối liên hệ bí ẩn.
Bon-sai (nguyên nghĩa: cây trồng trong chậu cạn), (Thiền) và Sin-tô (Thần đạo), đã trở thành một nghệ Như tự nhiên ư? Vậy mà không phải vậy… Văn học Trung Hoa Đ
Bon-sai (nguyên nghĩa: cây trồng trong chậu cạn), (Thiền) và Sin-tô (Thần đạo), đã trở thành một nghệ Như tự nhiên ư? Vậy mà không phải vậy… Văn học Trung Hoa Đường - Tống có tư duy duy Cổ thi thiên ái thiên nhiên mĩ. (Thơ xưa nghiêng chuộng thiên (Hồ Chí Người Việt Nam mang chở "tính người" phổ thiên nhiên thứ nhất, […] biết chọn non nước "sơn Ninh Bình, Ngũ Hành Sơn - Đà Nẵng, Hương Sơn xây đền - chùa - tháp - miếu… Từ nơi dân dã: "cây gạo đầu làng", "cây đa bến Khen ai khéo vẽ dư đồ Trước sông Nhị Thuỷ, sau hồ Hoàn (Ca dao Hà Mà người Việt Nam cũng biết tạo dựng một thiên nhiên thứ nhất, từ làng quê với "Ao thu lạnh lẽo nước mọc bờ ao", với "ngõ trúc quanh co" (Yên Đổ), với dòng sông" (Văn Cao)… đến cửa nhà quan: Hé cửa đêm chờ hương quế lọt Quét hiên ngày lệ bóng hoa tan. (Nguyễn đến nơi ở của Chủ tịch nước: Trăng lồng cổ thụ bóng lồng (Hồ Chí Nếu nước Việt phương Nam truyền thống là "tổng", với thế kỉ XII, gắn liền với Zen thuật tuyệt vời của người Nhật Bản: mĩ với thiên nhiên: nhiên đẹp.) Minh) quát, biết ngưỡng mộ cái Đẹp của thuỷ hữu tình" (Dục Thuý Sơn - - Hà Tĩnh, Hà Tây(1),…) mà dựng nước"… đến chốn thị thành: Gươm. Nội cổ) nhiên thứ hai hài hoà với thiên trong veo" với "Trúc xinh trúc "bóng cau với con thuyền một Trãi) hoa… Minh) của các làng, thì có làng ruộng,
làng vườn, làng nghề, làng buôn… mà cũng có
làng hoa: "đất Ngọc Hà, hoa Hữu Tiệp", làng đào Nhật Tân, "đồng Bông" làng quất Nghi Tàm của Kẻ Chợ - Thăng Long, Vị Khê, Trình Xuyên, Phụ Long của Nam Định(2), Kim Long của Huế, làng hoa Đà Lạt của Lâm Đồng…, Suy luận Bề rộng của những thông tin được trình bày trong văn bản có mối liên hệ như thế nào với khái niệm "văn hoá" xuất hiện ở nhan đề?
Thăng Long Lý - Trần - Lê, ngoài Hoàng thành và buôn bán - thủ công, có thập tam trại(3) rau - hoa - chợ Hoàng Hoa, được sử biên niên ghi lại từ đầu thế, Tử Cấm thành, có 36 phố phường quả, trong đó có trại Hàng Hoa và kỉ XVI:
(1) Hà Tây: nay thuộc thành phố Hà Nội. (2) Nam Định: nay thuộc tỉnh Ninh Bình. (3) Thập tam trại: mười ba trại.
Con gái ở trại Hàng Hoa Ăn cơm nửa bữa, ngủ nhà nửa đêm… - Đất Ngọc Hà tốt tươi phong cảnh Gái Ngọc Hà vừa đảm vừa xinh. […] Ở xứ Bắc(1), thời Lý có Hoa Lâm (rừ
Con gái ở trại Hàng Hoa
Ăn cơm nửa bữa, ngủ nhà nửa đêm… - Đất Ngọc Hà tốt tươi phong cảnh
Gái Ngọc Hà vừa đảm vừa xinh. […] Ở xứ Bắc(1), thời Lý có Hoa Lâm (rừng hoa) bên bờ sông Thiên Đức (Đuống). Ở Thành Nam(2), quê hương Tức Mặc nhà Trần, với hành cung Thiên Trường rồi với biệt cung Trùng Quang của các vua Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông thì cũng mọc dựng những Hoa Nha, Liễu Nha… vườn hoa, bến liễu, rặng quất vàng! […] Đến thăm quê cũ nhà Trần, ngoài tháp chùa Phổ Minh, đền Trần, đền Bảo Lộc,… ta còn bắt gặp các địa danh Hoa Nha, Liễu Nha vang bóng một thời "hào khí Đông A". Song nơi đó giờ đây không còn bến liễu, vườn hoa… và dòng sông xưa nay đã hoá nên đồng. Song văn hoá hoa - cây cảnh vẫn được bảo tồn ở Vị Khê - Nam Điền, ở Trình Xuyên (vốn là Trần Xuyên - dòng sông nhà Trần), ở Phụ Long bên bờ Đại Hoàng giang nay mang tên chung sông Cái - Nhị Hà - Hồng Hà. Đấy là những làng vườn hoa - cây cảnh cổ truyền nay được phục hồi một phần ở đầu xóm thôn Tức Mặc, vừa mang giá trị cổ truyền, vừa mang bản sắc mới văn hoá kinh doanh trong cơ chế thị trường…
Thú chơi hoa - cây cảnh cần có sự thung dung thong dong của con người không vướng bụi trần […]. Cần ngày càng nhiều lên một tầng lớp trung lưu, với mức sống có "bát ăn bát Kết nối để", nếp sống trung lưu và lối sống đan xen lao Vấn đề "mức sống" được đề cập ở động căng tràn và thư giãn buông xả… đây gợi cho em nghĩ tới thực tế nào? Ngày xưa, những nếp nhà ở Kẻ Chợ - Thăng Long, ở phố Hiến Nam, ở Vị Xuyên - Vị Hoàng… có hình ống: Nhà thị thành là kết quả xoay dọc đầu hồi ra ngoài đường phố của các nếp nhà thôn dã. Lớp nhà trên cách nếp nhà dưới một khoảng sân con. Ở đó, trong ngôi nhà trung lưu nho nhã thường có non bộ, một vài chậu cây cảnh, một gốc đinh lăng, một khóm sói, khóm hồng hay một gốc chi mai… Nhà ông nội, ông ngoại tôi - những cụ tú, cụ cử quê gốc xứ Nam - thường là vậy: Một ngôi nhà 3 - 5 gian, hàng hiên có tường hoa đặt vài chậu địa lan, trước cửa giữa nhà là đôi sấu, bên cạnh đó là gốc ngâu, gốc mộc. Sân vây "tường hoa", quanh sân đào các hốc trồng đào, mai, tường vi, lửa lựu… và xếp nhiều chậu bồn cây cảnh đỗ quyên, quất, hồng,… vườn hoa nhỏ trước sân là vạn tuế, tùng, bách, mẫu đơn, trạng nguyên, quân tử,… Nay thì cây cảnh - cây hoa phả vào bao lơn(3) các nhà tầng và ngự trị cả ở phòng khách cơ quan cùng vài góc phòng văn của nhà văn hoá…
(Trần Quốc Vượng, Văn hoá Việt Nam - Tìm tòi và suy ngẫm, NXB Văn hoá Dân tộc - tạp chí Văn hoá Nghệ thuật, Hà Nội, 2000, tr. 578 - 584)
(1) Xứ Bắc: vùng Kinh Bắc thuộc Bắc Kì (nghĩa trong văn bản). (2) Thành Nam: tức Nam Định, thuộc tỉnh Ninh Bình ngày nay. (3) Bao lơn: phần nhô ra ngoài hiên hoặc ngoài sàn gác, xung quanh có lan can.
Thực hành tiếng Việt MỞ RỘNG CẤU TRÚC CÂU 1. Cho biết tác dụng của việc dùng trạng ngữ trong những câu sau: a. Giữa những cánh cung núi trùng điệp của khu Đông
Thực hành tiếng Việt
MỞ RỘNG CẤU TRÚC CÂU
1. Cho biết tác dụng của việc dùng trạng ngữ trong những câu sau:
a. Giữa những cánh cung núi trùng điệp của khu Đông Bắc mênh mông, Yên Tử cao 1 068 m, vút lên chon von tựa một vọng gác.
(Theo Thi Sảnh, Yên Tử, núi thiêng)
b. Sau khi Thiền phái Trúc Lâm ra đời và đi liền với nó, hệ thống chùa tháp uy nghi mọc lên chi chít,
Nhận biết một số hình thức mở rộng cấu trúc câu
Mở rộng cấu trúc câu là bổ sung hoặc mở rộng một thành phần câu nhằm tăng lượng thông tin cho câu. Việc mở rộng cấu trúc câu thường được thể hiện qua một số hình thức sau:
• Bổ sung thành phần câu, thường là trạng ngữ hoặc thành phần biệt lập. Ví dụ:
(1) Từ câu “Đã đến lúc Việt Nam cần thay đổi về tư duy đối với vùng đất quan trọng này, từ “sống chung với lũ” mang nặng hàm ý chấp nhận và chịu đựng sang “chào đón” lũ.”
(Lê Anh Tuấn, Miền châu thổ sông Cửu Long cần chuyển đổi từ sống chung sang chào đón lũ)
thì Yên Tử càng thêm quyến rũ du khách bốn phương. (Theo Thi Sảnh, Yên Tử, núi thiêng) 2 So sánh hai câu sau và cho biết câu b (câu mở rộng thành phần) được bổ
thì Yên Tử càng thêm quyến rũ du khách bốn phương. (Theo Thi Sảnh, Yên Tử, núi thiêng) 2 So sánh hai câu sau và cho biết câu b (câu mở rộng thành phần) được bổ sung thông tin gì so với câu a:
a. Sáng tác của ông, dù được viết theo thể loại nào, cũng đều giàu chất suy tưởng, trí tuệ.
b. Sáng tác của ông, dù là thơ cách luật (lục bát, bảy chữ, năm chữ, tứ tuyệt,...) hay thơ tự do, tất cả đều giàu chất suy tưởng, trí tuệ. 3 Mở rộng cấu trúc các câu sau bằng trạng ngữ hoặc thành phần biệt lập phù hợp và cho biết tác dụng của việc mở rộng này:
a. Yên Tử thật sự trở thành nơi trung tâm náo nhiệt của Phật giáo Trúc Lâm chỉ từ khi vua Trần Nhân Tông đến Yên Tử tu hành. (Theo Thi Sảnh, Yên Tử, núi thiêng)
b. Nhiều ngôn ngữ trên thế giới có nguy cơ biến mất.
c. Các nền giáo dục trên thế giới cần phải thay đổi nội dung và phương pháp giáo dục. 4 Dùng cụm chủ ngữ - vị ngữ để mở rộng một thành phần câu trong mỗi câu sau:
a. Cuốn truyện trinh thám có nhiều tình huống nghẹt thở.
b. Tương truyền, dãy Hồng Lĩnh có 99 ngọn núi.
c. Nhiều người mong ước được một lần đến thăm Yên Tử.
có thể mở rộng thành câu: "Trong bối cảnh
biến đổi khí hậu đang diễn biến phức tạp, đã đến lúc Việt Nam cần thay đổi về
tư duy đối với vùng đất quan trọng này, từ "sống chung với lũ" mang nặng hàm ý chấp nhận và chịu đựng sang "chào đón" lũ". Câu mở rộng đã bổ sung thành phần trạng ngữ vào câu gốc để làm rõ hơn lí do cần phải "thay đổi về tư duy" đối với vấn đề. (2) Từ câu "Để viết được một truyện như vậy, ngoài tình cảm yêu mến dành cho các bạn trẻ, tác giả còn phải thực sự am hiểu tâm lí tuổi mới lớn." có thể mở rộng thành câu: "Để viết được một truyện như vậy, ngoài tình cảm yêu mến dành cho các bạn trẻ, tác giả còn phải thực sự am hiểu tâm lí tuổi mới lớn - lứa tuổi đã bắt đầu
bớt hồn nhiên bởi sự xuất hiện những rắc rối rất cần được quan tâm giải quyết.".
Câu mở rộng đã bổ sung thành phần biệt lập (phụ chú) để làm rõ thêm "tâm lí tuổi mới lớn".
Mở rộng thành phần câu Ngoài những hình thức mở rộng thành phần câu bằng cụm từ chính phụ (cụm danh từ, cụm động từ, cụm tính từ) đã được thực hành ở lớp 7, thành phần câu có thể được mở rộng bằng cụm chủ ngữ - vị ngữ. So sánh các câu trong mỗi cặp câu sau: (1) a. Cuốn sách rất hay. b. Cuốn sách mà anh cho tôi mượn rất hay. (2) a. Hôm qua, tôi rất vui vì được gặp lại một
người bạn cũ. b. Hôm qua, tôi rất vui vì được gặp lại một người bạn cũ mà tôi đã có nhiều năm gắn bó. Câu (b) trong ví dụ (1) có chủ ngữ được mở rộng bằng cụm chủ ngữ - vị ngữ (anh cho
tôi mượn), còn câu (b) trong ví dụ (2) có
bổ ngữ được mở rộng bằng cụm chủ ngữ - vị ngữ (tôi đã có nhiều năm gắn bó). Việc mở rộng thành phần câu như vậy giúp câu cung cấp được thông tin cụ thể hơn. Câu (b) trong ví dụ (1) cho biết cuốn sách nào được nói đến. Câu (b) trong ví dụ (2) cho biết người bạn cũ đó có mối quan hệ như thế nào đối với nhân vật "tôi".
VĂN BẢN 3 ĐỌC VĂN BẢN Tình sông núi TRẦN MAI NINH⁽¹⁾ Trăng nghiêng trên sông Trà Khúc... Mây lờ và nước reo Nắng bợt chen dừa Tam Quan Gió buồn uốn éo Bồng Sơn
VĂN BẢN 3
ĐỌC VĂN BẢN
Tình sông núi
TRẦN MAI NINH⁽¹⁾
Trăng nghiêng trên sông Trà Khúc...
Mây lờ và nước reo
Nắng bợt chen dừa Tam Quan
Gió buồn uốn éo
Bồng Sơn dìu dịu như bài thơ
Mờ soi Bình Định trăng mờ
Phú Phong rộng
Phù Cát lì
An Khê cao vút vút,
Gió lạnh – rừng buồn,
Mượn ai kín hộ nước nguồn về đây
Gặp sông Cầu khó rời tay!
Sông Cầu của đất, nước này là duyên.
Vũng Lắm dặm lá thuyền;
Nhiều dừa che ít mái tranh
Vừa đẹp – vừa lành,
Hỏi ai tới đó sao đành lòng đi?
Tuy Hoà ngay dọc ngõ
Dậy sáng, – dịu màu tươi
Nha Trang cười
Nha Trang đẹp
Diên Khánh xanh um.
… Tôi lim dim cặp mắt
Không thấy nơi nào không đẹp
Không giàu
⁽¹⁾ Trần Mai Ninh (1917 – 1948) quê ở Hà Nội nhưng lớn lên ở Thanh Hoá. Thời kì đầu của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, ông đã viết những bài thơ tự do giàu tính cách tân, nóng bỏng tinh thần chiến đấu, tràn đầy niềm tin vào cách mạng và tương lai tươi sáng của đất nước, dân tộc. Tác phẩm chính: Thơ văn Trần Mai Ninh (1980).
Lúa xanh như biển rộng Mì vươn cao khắp các sườn đèo Rẫy đè lên rẫy Bắp và khoai tiếp bắp và khoai… Mấy sông là mấy vạn chài Ngựa xe rào rạt đổ người sang ngang
Lúa xanh như biển rộng Mì vươn cao khắp các sườn đèo Rẫy đè lên rẫy Bắp và khoai tiếp bắp và khoai… Mấy sông là mấy vạn chài Ngựa xe rào rạt đổ người sang ngang Gầu nước gieo vàng Tiếng thoi nghe dội rộn ràng vách nghiêng Dân tộc rớt mồ hôi thấm đất Bắp căng như đồng Tay ghì cán cuốc Tay ghì tay xe Nhìn quanh là cả bốn bề cần lao… Có mối tình nào hơn thế nữa? Ăn sâu lòng đất, thấm lòng người Đượm lều tranh, thơm dậy ngàn khơi Khi vui non nước cùng cười Khi căm non nước với người đứng lên! Có mối tình nào hơn thế nữa, Nói bằng súng, bằng gươm sáng rền Có mối tình nào hơn thế nữa Trộn hoà lao động với giang sơn Có mối tình nào hơn Tổ quốc?
(Thơ Việt Nam 1945 - 1975, NXB Tác phẩm mới, Hà Nội, 1976, tr. 264 - 265)
SAU KHI ĐỌC
TRẢ LỜI CÂU HỎI
1. Nhan đề Tình sông núi có thể cho biết điều gì về cảm hứng sáng tác bài thơ của
tác giả Trần Mai Ninh?
Nêu nội dung cụ thể của từng đoạn trong bài thơ và khái quát mạch cảm xúc xuyên suốt tác phẩm.
3. Các địa danh xuất hiện ở đoạn đầu bài thơ gắn với vùng miền nào của đất nước? Phát biểu suy nghĩ của em về mối quan hệ giữa tình yêu dành cho một miền đất cụ
3. Các địa danh xuất hiện ở đoạn đầu bài thơ gắn với vùng miền nào của đất nước? Phát biểu suy nghĩ của em về mối quan hệ giữa tình yêu dành cho một miền đất cụ thể với tình yêu Tổ quốc nói chung qua những gì được bài thơ gợi lên.
4. Trong bài thơ, tác giả đã chú ý làm nổi bật những đặc điểm gì của sông núi quê hương? Những đặc điểm đó được phát hiện từ góc nhìn nào?
5. Phân tích cách tác giả tự bộc lộ mình trong bài thơ. Tác giả đã xác lập chỗ đứng của mình như thế nào giữa cộng đồng dân tộc?
6. Khi nói về những người con của đất nước, đối tượng nào được tác giả đặt vào vị trí trung tâm? Điều này có ý nghĩa gì?
7. Phân tích những nét độc đáo của bài thơ trên phương diện nghệ thuật (chú ý nhịp điệu, cách sử dụng động từ, sự phối hợp giữa miêu tả cụ thể và nêu mệnh đề khái quát, sự xuất hiện của những câu hỏi tu từ,...).
Trang 105
Trang 106
Trang 107
Trang 108
Củng cố, mở rộng 1. Nêu những điểm tương đồng và khác biệt giữa các văn bản được đưa vào bài học (kể cả bài viết tham khảo) để nhận thấy tính chất đa dạng của l
Củng cố, mở rộng
1. Nêu những điểm tương đồng và khác biệt giữa các văn bản được đưa vào bài học (kể cả bài viết tham khảo) để nhận thấy tính chất đa dạng của loại văn bản có đề cập các phương diện địa lí, lịch sử, văn hoá của đất nước.
2. Phối hợp với các bạn trong lớp xây dựng một tủ sách gồm những tài liệu viết về các danh lam thắng cảnh và di tích lịch sử trên đất nước Việt Nam. Chú ý lập thư mục cho những tài liệu sưu tầm được.
3. Tạo lập văn bản thuyết minh bằng hình ảnh (có kèm theo các lời dẫn giải cần thiết) về một danh lam thắng cảnh hay di tích lịch sử ở địa phương em.
4. Mô phỏng cách làm của hướng dẫn viên du lịch (dựa vào quan sát thực tế hoặc việc theo dõi một số chương trình trên truyền hình) để giới thiệu với các bạn trong nhóm học tập về một cảnh quan thiên nhiên hay di tích lịch sử nổi tiếng.
Trang 110
Trang 111
Trang 112
Trang 113
ĐỌC TRI THỨC NGỮ VĂN Sơ giản về lịch sử văn học Việt Nam và vai trò của tri thức về lịch sử văn học trong đọc hiểu văn bản Hai bộ phận của nền văn học: văn học
ĐỌC
TRI THỨC NGỮ VĂN
Sơ giản về lịch sử văn học Việt Nam và vai trò của tri thức về lịch sử văn học trong đọc hiểu văn bản
Hai bộ phận của nền văn học: văn học dân gian và văn học viết
Văn học dân gian và văn học viết là hai bộ phận của nền văn học dân tộc. Văn học dân gian là các sáng tác truyền miệng của nhân dân, ra đời trước khi có văn học viết và còn tồn tại cho đến ngày nay, bao gồm: ca dao, tục ngữ, truyền thuyết, truyện cổ tích, truyện ngụ ngôn, truyện cười,... Văn học viết bao gồm sáng tác của các tác giả cụ thể, ra đời cùng sự xuất hiện và phát triển của chữ viết, tồn tại song song với văn học dân gian trong quá trình phát triển của nền văn học dân tộc. Một số thể loại của văn học viết trong giai đoạn đầu có tính chất ghi chép, mô phỏng, biên soạn lại các sáng tác dân gian. Truyện truyền kì, truyện thơ Nôm,... là những bằng chứng cụ thể. Tuy nhiên, cùng với sự phát triển của nền văn học dân tộc qua các thời kì lịch sử, các thể loại văn học viết càng ngày càng mang tính độc lập và có sự tách biệt rõ rệt với các thể loại văn học dân gian.
Trong nền văn học Việt Nam, văn học viết ra đời khoảng thế kỉ X và có sự phát triển mạnh mẽ từ thế kỉ XV với cả hai bộ phận thơ văn chữ Hán và thơ văn chữ Nôm gắn với các thể loại: thơ Đường luật, thơ song thất lục bát, thơ lục bát, truyện thơ Nôm, truyện truyền kì, truyện lịch sử, truyện kí,...
Từ thế kỉ XX, văn học viết bằng chữ quốc ngữ ngày càng phát triển với các thể loại: thơ hiện đại (thơ bốn chữ, thơ năm chữ, thơ tự do,...), truyện ngắn, tiểu thuyết, kí, kịch,...
Văn học dân gian và văn học viết Việt Nam có mối quan hệ sâu sắc trong suốt quá trình hình thành và phát triển, cùng góp phần tạo nên sự phong phú, đa dạng và bản sắc của nền văn học dân tộc.
Các thời kì của văn học viết Việt Nam
Việc phân định thời kì văn học thường căn cứ vào các yếu tố hình thức, nghệ thuật (chữ viết, thể loại) và mối quan hệ giữa sáng tác văn học với các đặc điểm lịch sử, xã hội quan trọng trong quá trình phát triển của cộng đồng dân tộc. Có thể xác định các thời kì của văn học viết Việt Nam như sau:
– Thời kì trung đại (từ khoảng thế kỉ X đến cuối thế kỉ XIX): Văn học viết Việt Nam được sáng tác chủ yếu bằng chữ Hán và chữ Nôm với nhiều thể loại có nguồn gốc từ văn học dân gian hoặc ảnh hưởng từ nền văn học Trung Quốc nhưng đã được Việt hoá để thể hiện đời sống và tâm hồn dân tộc. Cùng với sự phát triển của quốc gia phong kiến tự chủ, nền văn học viết Việt Nam thời kì này đạt được những giá trị to lớn về cả nội dung và nghệ thuật, khẳng định được bản sắc con người và truyền thống của dân tộc: tinh thần yêu nước, ý chí tự cường, lòng nhân ái cùng nhiều giá trị nhân văn sâu sắc.
Thời kì hiện đại (từ đầu thế kỉ XX đến nay): Văn học viết Việt Nam được sáng tác chủ yếu bằng chữ quốc ngữ với các thể loại ảnh hưởng từ văn học phương Tây nhưn
Thời kì hiện đại (từ đầu thế kỉ XX đến nay): Văn học viết Việt Nam được sáng tác chủ yếu bằng chữ quốc ngữ với các thể loại ảnh hưởng từ văn học phương Tây nhưng vẫn có sự kế thừa và phát huy vốn văn hoá, văn học dân tộc. Các giai đoạn của văn học thời kì này gắn bó mật thiết với những dấu mốc lịch sử quan trọng của đất nước: Cách mạng tháng Tám năm 1945; kháng chiến chống thực dân Pháp kết thúc, đánh dấu bằng chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ năm 1954; cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ thắng lợi, thống nhất đất nước năm 1975; công cuộc đổi mới để xây dựng đất nước, hội nhập quốc tế từ thập niên 80 - 90 của thế kỉ XX đến nay. Kế thừa và phát huy các giá trị của nền văn học trước đó, văn học viết Việt Nam hiện đại đã đạt được những thành tựu nổi bật nhờ những cách tân nghệ thuật mạnh mẽ, khẳng định được bản sắc dân tộc trong quan hệ với văn học các nước trong khu vực và trên thế giới.
Vận dụng tri thức về lịch sử văn học trong đọc hiểu văn bản
Việc đọc hiểu văn bản văn học trước hết cần tập trung vào những yếu tố trong văn bản: ngôn ngữ, bố cục, hình tượng, chi tiết, đề tài, chủ đề,... Tuy nhiên, bên cạnh đó, các tri thức về lịch sử văn học có thể góp phần giúp người đọc hiểu sâu hơn nội dung và đặc điểm nghệ thuật của tác phẩm. Việc hiểu mối quan hệ giữa văn học dân gian và văn học viết giúp cắt nghĩa rõ hơn nguồn gốc của các yếu tố ngôn từ, chi tiết nghệ thuật trong tác phẩm: dấu ấn của ca dao, tục ngữ, truyện dân gian trong một số tác phẩm văn học viết. Xác định được bối cảnh ra đời của tác phẩm và ảnh hưởng của các sự kiện lịch sử, xã hội đến việc lựa chọn đề tài, hình tượng, nhân vật,..., người đọc có thể lí giải sâu hơn về ý nghĩa, giá trị của các chi tiết nghệ thuật và chủ đề của tác phẩm. Tri thức về nguồn gốc thể loại văn học cần thiết đối với việc giải thích những đặc điểm mang tính kế thừa hoặc dấu ấn riêng của tác giả trong các yếu tố nghệ thuật và nội dung của tác phẩm. Những tri thức cơ bản về lịch sử văn học bao gồm: mối quan hệ giữa các bộ phận văn học; các thời kì phát triển của nền văn học; nguồn gốc và sự phát triển của các thể loại; bối cảnh ra đời của tác phẩm; mối quan hệ giữa nhà văn và đời sống lịch sử, xã hội; mối quan hệ giữa các tác giả, tác phẩm tiêu biểu ở từng giai đoạn văn học.
Bài phỏng vấn Mục đích của việc phỏng vấn
Trong các lĩnh vực truyền thông - báo chí, chính trị - xã hội hoặc văn học -nghệ thuật,... một cuộc phỏng vấn diễn ra khi người lấy tin và đưa tin (thường là phóng viên, nhà báo hoặc người đại diện một tổ chức, một cộng đồng) cần tìm hiểu và thu thập thông tin về các sự việc, vấn đề đang thu hút sự chú ý hoặc có tầm ảnh hưởng quan trọng. Mục đích của việc phỏng vấn là tạo được đối thoại trực tiếp hoặc gián tiếp với những người tham gia, chứng kiến, có vai trò hoặc liên quan đến sự việc, vấn đề đang được đề cập nhằm cung cấp thông tin mới cho người nghe, người xem, người đọc một cách khách quan.
Nội dung và hình thức của bài phỏng vấn
Bài phỏng vấn thuộc loại văn bản thông tin, có hai hình thức: nói và viết. Cuộc phỏng vấn trực tiếp thường diễn ra theo hình thức nói. Người phỏng vấn nêu câu hỏi liên quan đến các khía cạnh của sự việc, vấn đề nhằm khai thác thông tin; người được phỏng vấn trả lời câu hỏi, qua đó cung cấp thông tin, nêu ý kiến của mình. Bài phỏng vấn trực tiếp được ghi hình, ghi âm để truyền đạt đến người nghe, người xem.
Trước khi đọc Em thường tìm sách để đọc từ những nguồn nào? Hãy chia sẻ một vài kinh nghiệm tìm sách để đọc của em. Xây dựng mục tiêu và kế hoạch đọc sách của e
Trước khi đọc
Em thường tìm sách để đọc từ những nguồn nào? Hãy chia sẻ một vài kinh nghiệm tìm sách để đọc của em.
Xây dựng mục tiêu và kế hoạch đọc sách của em trong dự án Văn học – lịch sử tâm hồn. Chú ý chọn đọc những tác phẩm tiêu biểu của văn học Việt Nam thuộc các bộ phận và thời kì, giai đoạn theo dòng lịch sử văn học.
Cùng đọc và suy ngẫm
Đọc như một sự hồi tưởng
Đời sống được tác giả tái hiện trong tác phẩm văn học và được làm sống dậy trong tâm trí các thế hệ người đọc. Vì thế, với độc giả, đọc cũng là quá trình đồng sáng tạo. Thế giới đời sống được tác giả tái hiện trong tác phẩm và dòng hồi tưởng của độc giả tiếp nối, đan xen và giao hoà với nhau trong quá trình đọc. Sức sống, sức hấp dẫn của tác phẩm văn học được bộc lộ qua khả năng tạo nên một quá trình đồng sáng tạo liên tục như vậy.
Trong quá trình tiếp nhận tác phẩm văn học, các bài nghiên cứu, tổng thuật về lịch sử văn học giúp cho người đọc có một cái nhìn hệ thống về quá trình phát triể
Trong quá trình tiếp nhận tác phẩm văn học, các bài nghiên cứu, tổng thuật về lịch sử văn học giúp cho người đọc có một cái nhìn hệ thống về quá trình phát triển các thể loại văn học, mối quan hệ giữa những vấn đề đời sống, lịch sử – xã hội và tác phẩm, sự biến đổi và những thành tựu quan trọng của các thời kì, giai đoạn văn học,... Hãy đọc văn bản dưới đây để hiểu rõ hơn về các thời kì phát triển và các bộ phận của văn học Việt Nam.
Đọc văn bản
Văn học Việt Nam từ khu vực ra thế giới, từ truyền thống đến hiện đại
TRẦN ĐÌNH SỬ
Văn học Việt Nam là một nền văn học vừa cổ xưa vừa non trẻ và đang hội nhập với thế giới hiện đại.
Nói cổ xưa vì văn học Việt Nam gắn với lịch sử hàng nghìn năm của dân tộc Việt bắt đầu từ thời kì các Vua Hùng, gắn với văn học dân gian truyền miệng vốn có vị trí rất quan trọng, nó lưu giữ tinh thần, trí tuệ, ngôn ngữ và là nền tảng của văn học viết của người Việt qua bao nhiêu biến cố lịch sử truyền lại cho thời hôm nay.
Theo dõi
Những biểu hiện cho thấy đặc điểm “cổ xưa” và “non trẻ” của văn học Việt Nam.
Nói là non trẻ vì khác với các nền văn học như Ấn Độ, Trung Hoa, Hy Lạp,... là nền văn học “già” có từ “thời gian trúc” trước Công nguyên, văn học viết Việt Nam mới xuất hiện từ thế kỉ X sau khi giành lại độc lập từ các triều đại Trung Hoa.
Văn học viết Việt Nam bắt đầu với thứ văn tự ngoại lai là chữ Hán. Sự xâm chiếm của nhà Tần năm 214 trước Công nguyên và sau đó của nhà Hán năm 111 trước Công nguyên làm gián đoạn sự hình thành “văn tự sơ khai không theo hình thức mẫu Hán” của các tộc Choang – Tày – Việt và áp lực chữ Hán khiến người Việt quen với hình thức chữ Hán sau nghìn năm Bắc thuộc, nhưng dưới thời Bắc thuộc người Việt không có văn học viết. Theo sưu tầm của Trần Nghĩa, suốt nghìn năm Bắc thuộc, số bài văn do người Việt viết còn lại vẹn vẹn có 25 văn bản. Phải có một quốc gia độc lập, người Việt trở thành chủ thể thì mới có được văn học của mình. Từ thế kỉ X, khi quốc gia đã giành lại được độc lập, để xây dựng lại nền học vấn, giáo dục, khoa cử và văn học của mình, người Việt đã buộc phải di thực⁽¹⁾ cả một ngôn ngữ, văn tự ngoại lai là chữ Hán, văn ngôn, các thể loại, thậm chí cả phong cách, điển cố, thể thức
Theo dõi
Quá trình hình thành của văn học viết Việt Nam: thời gian, nguồn gốc và loại chữ viết, số lượng văn bản.
⁽¹⁾ Di thực: vay mượn và có chuyển đổi, cải biến các yếu tố được vay mượn đó cho phù hợp với văn hoá bản địa (nghĩa trong văn bản).
diễn đạt trong văn bản hành chính và sáng tác văn thơ. Sự mô phỏng, vay mượn là không tránh khỏi. Điều quan trọng là người Việt Nam đã vượt qua sự mô phỏng tầm
diễn đạt trong văn bản hành chính và sáng tác văn thơ. Sự mô phỏng, vay mượn là không tránh khỏi. Điều quan trọng là người Việt Nam đã vượt qua sự mô phỏng tầm thường để đạt đến tinh hoa như nguyên mẫu và đi sâu biểu đạt tâm hồn dân tộc mình. Văn học chữ Hán thời Lý - Trần có những thành tựu độc đáo, đến thời Hậu Lê thế kỉ XV - XVII văn học chữ Hán đã phồn vinh. Các tác gia văn học chữ Hán của Việt Nam đương thời đã thấy Hán văn của họ "không nhường Hán Đường" (Ngô Thì Nhậm), và nhà văn Trung Quốc hiện đại đã thấy trong văn học chữ Hán ấy có những "đại bút trác việt". Văn học chữ Hán Việt Nam là một bộ phận của văn học chữ Hán Đông Á có bản sắc riêng, mang đậm tinh thần Việt Nam. Không thể mãi mãi viết bằng chữ Hán, người Theo dõi Việt Nam đã mô phỏng chữ Hán để sáng tạo ra chữ Nôm, thứ chữ thiên về biểu ý và biểu âm, Sự ra đời và phát triển của văn học
viết bằng chữ Nôm: thời gian, nguồn
để sáng tác tác phẩm bằng tiếng Việt. Sau những gốc và thể loại. mầm mống từ đầu thế kỉ XII - XIII, đến thế kỉ XV đã có những tác phẩm hoàn chỉnh như Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi (1380 - 1442). Tập thơ này đánh dấu sự hình thành văn học dân tộc bằng tiếng dân tộc. Văn học tiếng Việt hình thành hầu như cùng thời với nhiều nền văn học lớn châu Âu như Anh, Đức, Ý. Từ thế kỉ XVI trở đi đã có cả một dòng văn học tiếng Việt phát triển rầm rộ, đạt đến cực thịnh trong thế kỉ XVIII, cơ hồ lấn át thơ văn chữ Hán. Nó đã sáng tạo ra các thể loại văn học độc lập của riêng người Việt, Việt hoá nhiều thể loại văn học chữ Hán, biến thành tài sản của người Việt. Văn học tiếng Việt đã đạt đến mức nghệ thuật cổ điển, kết tinh trong Truyện Kiều của đại thi hào Nguyễn Du (1765 - 1820) và sáng tác của nhiều tác gia khác. Văn học chữ Nôm đã giúp cho văn học cổ điển Việt Nam thoát dần các khuôn mẫu Hán, trở về với các truyền thống Đông Nam Á, như các truyện thơ, để trở thành nền văn học độc lập, biểu hiện sâu sắc tâm hồn Việt Nam. Tuy vậy, chữ Nôm là một thứ chữ rất phức tạp, khó phổ biến cho nhiều người vì người học phải biết chữ Hán trước đã rồi thì mới có thể đọc được và viết được chữ Nôm. Sự lệ thuộc vào chữ Hán của thứ chữ này khiến cho nó có thể gây khó cho người sử dụng. Đó là một điều rất bất tiện, chưa nói đến bất tiện trong phiên âm các từ trong tiếng phương Tây và dạy tiếng Việt cho người nước ngoài.
Văn học Việt Nam đã kết tinh các truyền thống của văn học Đông Á. Văn học Việt Nam chịu ảnh hưởng của Phật giáo, Nho giáo, Đạo giáo lâu đời, đồng thời chịu ảnh hưởng sâu sắc của truyền thống bản địa và khu vực. Tuy nhiên, văn học Việt Nam cũng không ở mãi Theo dõi trong cái khung khu vực. Sự tiếp xúc Đông Tây bắt đầu từ các giáo sĩ phương Tây đã tạo ra thứ chữ kiểu Sự ra đời và phát triển của văn học La-tinh để ghi âm tiếng Việt, sau này gọi là chữ viết bằng chữ quốc ngữ: thời gian,
nguồn gốc và thể loại.
quốc ngữ. Sự xâm lược của thực dân Pháp, một mặt gây nên những biến động chính trị, xã hội, mặt khác tạo nên sự tiếp xúc của Việt Nam
với phương Tây, dấy lên phong trào canh tân theo các tư tưởng tư sản Âu Mỹ. Cuối thế kỉ XIX - đầu thế kỉ XX, khi chữ Hán và các kì thi Hán học bị bãi bỏ, chữ qu
với phương Tây, dấy lên phong trào canh tân theo các tư tưởng tư sản Âu Mỹ. Cuối thế kỉ XIX - đầu thế kỉ XX, khi chữ Hán và các kì thi Hán học bị bãi bỏ, chữ quốc ngữ thịnh hành và cùng với nó, một nền văn học hiện đại theo kiểu châu Âu dần dần xuất hiện. Chữ quốc ngữ rất dễ học, chỉ học một thời gian ngắn là người ta có thể thoát nạn mù chữ mà không cần phải biết một thứ chữ nào trước đó làm tiền đề. Chữ quốc ngữ gắn liền với lời ăn tiếng nói hằng ngày, đoạn tuyệt hẳn với truyền thống văn ngôn khiến cho văn xuôi phát triển. Tuy có làm gián đoạn truyền thống nhưng chữ quốc ngữ mở ra viễn cảnh mới rộng lớn, và sẽ được bù đắp lại bằng phiên dịch và phiên âm. Đến lúc này, người Việt lại bắt đầu di thực các thể loại văn học châu Âu như du kí, phóng sự, kịch nói, tiểu thuyết, truyện ngắn, phê bình, khảo luận, luận văn, xã luận, thơ tự do,... Từ mô phỏng đến sáng tạo là con đường tưởng như rất dài nhưng lại rất ngắn. Với chữ quốc ngữ, văn học Việt Nam đã chịu ảnh hưởng nhiều mặt của văn học phương Tây và đã tự thay đổi mình trong cả tư duy và diễn đạt. Ý thức lô-gíc và lí tính gia tăng rõ rệt ngay trong cấu trúc ngôn ngữ. Hơn nửa thế kỉ, từ 1885 đến 1945, văn học Việt Nam (từ một nền văn Theo dõi học trung đại cổ xưa với truyền thống khu vực) đã Sự thay đổi của chữ viết và đặc điểm hoá thân thành một nền văn học hiện đại theo mô văn học. hình châu Âu, trở thành một bộ phận của văn học thế giới.
Vậy là với sự thay đổi ba thứ chữ viết, văn học Việt Nam đã tự thay đổi vận mệnh của mình, từ chỗ phụ thuộc vào các khuôn mẫu cổ xưa của chữ Hán, chuyển sang bắt đầu tự chủ bằng chữ Nôm, rồi hoà nhịp với thế giới đa dạng, tự do với chữ quốc ngữ. Sự thay đổi này đã thể hiện sức sống mạnh mẽ của văn học Việt Nam.
Trong lịch sử văn học Việt Nam, văn học Theo dõi thế kỉ XX có vị trí và ý nghĩa đặc biệt, đồng thời trải qua con đường quanh co do mấy cuộc chiến tranh Vị trí và đặc điểm của văn học
Việt Nam thế kỉ XX.
tạo nên. Từ đầu thế kỉ XX đến 1945, ở Việt Nam hình thành một nền văn học hiện đại thực thụ và đã chớm có khuynh hướng hiện đại chủ nghĩa. Từ ngày thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà theo khuynh hướng xã hội chủ nghĩa, văn học thiên về phục vụ công cuộc chiến đấu, bảo vệ Tổ quốc. Sau năm 1954, đất nước chia làm hai miền, văn học miền Bắc vẫn đi vào con đường văn học vô sản, xã hội chủ nghĩa; còn ở miền Nam văn học đi theo ảnh hưởng của văn học Âu Mỹ đương đại. Sau năm 1975, đất nước thống nhất nhưng gặp rất nhiều khó khăn về kinh tế, khó khăn do chiến tranh biên giới phía tây nam và chiến tranh biên giới phía bắc gây ra. Văn học bộc lộ những yếu kém của chính sách văn nghệ, dẫn đến cuộc đổi mới có tính "cởi trói" cuối năm 1986. Cuối những năm chín mươi của thế kỉ XX sang đầu thế kỉ XXI, sự thâm nhập của in-tơ-nét cùng với sự kiện Việt Nam gia nhập WTO (2007), văn học có những đổi thay mới, vừa duy trì chủ nghĩa hiện thực vừa có dấu hiệu hiện đại chủ nghĩa và hậu hiện đại.
Với vị trí chính trị đặc biệt, Việt Nam đã phải trải qua nhiều cuộc chiến tranh, văn học Việt Nam trước sau đều mang âm hưởng chủ đạo của chủ nghĩa yêu nước và
Với vị trí chính trị đặc biệt, Việt Nam đã phải trải qua nhiều cuộc chiến tranh, văn học Việt Nam trước sau đều mang âm hưởng chủ đạo của chủ nghĩa yêu nước và bên cạnh đó là tiếng nói tố cáo sự bất công, oan khuất, chế giễu sự giả dối và tham tàn, thể hiện khát vọng tự do, dân chủ và hạnh phúc. Gần mười thế kỉ, văn học Việt Nam tuy đã có nhiều thành tựu xuất sắc, song hầu như ngưng trệ trong thi pháp trung đại, nhưng từ cuối thế kỉ XIX đến đầu thế kỉ XX thi pháp văn học bắt đầu đổi thay căn bản, hoàn toàn lột xác để trở thành một nền văn học mới, hiện đại, nhanh chóng trải qua hầu hết các trào lưu văn học trên thế giới dưới dạng rút gọn và tiếp tục hội nhập sâu rộng vào quá trình văn học thế giới.
(Theo Trần Đình Sử (Chủ biên), Lược sử văn học Việt Nam, NXB Đại học Sư phạm, Hà Nội, 2021, tr. 9 - 13)
Sau khi đọc
TRẢ LỜI CÂU HỎI
1. Vì sao có thể nhận định rằng nền văn học Việt Nam "vừa cổ xưa vừa non trẻ"?
2. Nền văn học viết Việt Nam đã hình thành và phát triển qua những thời kì nào?
Nêu rõ nguồn gốc, đặc điểm của chữ viết và thể loại ở từng thời kì.
3. Văn học viết bằng chữ Hán và văn học viết bằng chữ Nôm có quan hệ với nhau
như thế nào? Nêu rõ điểm tương đồng và khác biệt của hai bộ phận văn học này trong thời kì trung đại.
4. Những yếu tố lịch sử, xã hội nào có ảnh hưởng quan trọng, tạo nên các đặc điểm
nổi bật của văn học Việt Nam thế kỉ XX?
5. Tính truyền thống và hiện đại của nền văn học Việt Nam được biểu hiện rõ nhất
qua những đặc điểm nào?
VIẾT KẾT NỐI VỚI ĐỌC
Viết đoạn văn (khoảng 10 - 15 câu) với câu chủ đề: "Trong mỗi thời kì, văn học Việt Nam đều có những tác phẩm tiêu biểu, độc đáo về nghệ thuật và chứa đựng giá trị nội dung sâu sắc".
Đọc trong một thế giới đầy biến động
Trong thời đại của công nghệ số và các phương tiện nghe - nhìn, văn hoá đọc của chúng ta có gì thay đổi? Khi mà cách sống, cách làm việc, học tập, vui chơi, giải trí của mỗi người thay đổi không ngừng do sự tác động của công nghệ và truyền thông, đọc sách có còn là nhu cầu quan trọng, cần thiết? Người viết, người đọc cần thích ứng như thế nào với tình hình đó? Hãy đọc bài phỏng vấn nhà văn Nguyễn Nhật Ánh của phóng viên tạp chí Văn học và Tuổi trẻ để cùng suy nghĩ thêm về vấn đề này.
Văn hoá đọc với nhà văn và độc giả trong thời đại công nghệ số Công nghệ số và các phương tiện nghe – nhìn đang có nhiều ảnh hưởng, tác động, thường bị đánh giá
Văn hoá đọc với nhà văn và độc giả trong thời đại công nghệ số
Công nghệ số và các phương tiện nghe – nhìn đang có nhiều ảnh hưởng, tác động, thường bị đánh giá là tiêu cực đối với văn hoá đọc, cụ thể là với việc đọc sách theo cách truyền thống. Đã có nhiều ý kiến xung quanh vấn đề này trên các diễn đàn, trên mạng xã hội. Phóng viên (PV) của tạp chí “Văn học và Tuổi trẻ” đã có cuộc phỏng vấn với một “người đương thời” – người trong cuộc – nhà văn Nguyễn Nhật Ánh (NNA) về vấn đề này.
Theo dõi
Nội dung chính của văn bản là gì?
– PV: Thưa nhà văn NNA, từ những tác phẩm ban đầu như Bàn có năm chỗ ngồi (1987), Cô gái đến từ hôm qua (1989), Chú bé rắc rối (1989), Thằng quỷ nhỏ (1990),... rồi Kinh vạn hoa (1995) đến Tôi là Bê-tô (2007), Cho tôi xin một vé đi tuổi thơ (2008), Tôi thấy hoa vàng trên cỏ xanh (2010) và gần đây nhất với Cây chuối non đi giày xanh (2018), Ra bờ suối ngắm hoa kèn hồng (2022),..., rất nhiều tác phẩm của ông đã để lại niềm yêu mến, say mê trong lòng độc giả gần 40 năm qua. Đường như đã hình thành hẳn một “văn hoá đọc” gắn liền với những tác phẩm của NNA. Là nhà văn có sức thu hút đặc biệt với các thế hệ độc giả, đặc biệt là độc giả trẻ, ông có suy nghĩ gì về vấn đề “văn hoá đọc” trong thời đại công nghệ số?
Theo dõi
Cách mở đầu, dẫn dắt và nêu câu hỏi của người phỏng vấn.
– NNA: Trong thời đại công nghệ số, thời gian dành cho việc đọc chắc chắn ít hơn. Một ngày vẫn chỉ có 24 tiếng đồng hồ, nhưng bây giờ chúng ta “chi tiêu” khoảng thời gian đó cho nhiều thứ hơn. Giống như trước đây chúng ta chỉ dành tiền để mua sách, bây giờ phải san sẻ cho nhu cầu mua vé xem phim, xem ca nhạc, học ngoại ngữ, tập thể thao, vào công viên giải trí,...
Theo dõi
Cách trả lời của người được phỏng vấn.
– PV: Thưa nhà văn, vậy thì sự thay đổi của văn hoá đọc có tác động như thế nào tới quá trình sáng tác của ông với vai trò là một nhà văn luôn nuôi dưỡng niềm đam mê đọc sách của các thế hệ độc giả trẻ tuổi?
Theo dõi
Cách triển khai các luận điểm trong câu hỏi phỏng vấn.
– NNA: Tôi nghĩ những thay đổi đó có tác động nhất định đến nghề viết. Nhưng điều này đặt nỗi lo lên vai nhà xuất bản và nhà phát hành nhiều hơn. Vì họ là những đơn vị trực tiếp đối diện với thương trường. Nhà văn ít lo nghĩ hơn, vì nhà văn sáng tác
dựa vào hứng thú và đam mê. Chính lòng yêu nghề là điểm tựa của nhà văn. Nó là rào chắn tinh thần giúp cảm hứng sáng tác của nhà văn không bị "xuyên thủng" bởi
dựa vào hứng thú và đam mê. Chính lòng yêu nghề là điểm tựa của nhà văn. Nó là rào chắn tinh thần giúp cảm hứng sáng tác của nhà văn không bị "xuyên thủng" bởi những gì không thuộc về văn chương. Hơn nữa, tôi luôn vững tin rằng dù thời gian dành cho sách ít đi, con người vẫn cần tới sách như một người bạn lớn. Thời đại công nghệ phát triển, có nhiều cánh cửa mở ra thế giới. Chúng ta có thể thu lượm kiến thức bằng nhiều cách và từ nhiều nguồn khác nhau nhưng để làm giàu trí tưởng tượng và tặng cho tâm hồn những cuộc phiêu lưu kì thú, tôi nghĩ chỉ có sách mới làm được. - PV: Là một nhà văn đã có rất nhiều tác phẩm được chuyển thể thành phim và phim được chuyển Theo dõi thể từ tác phẩm văn học của ông cũng tạo nên một Cách tiếp nối, duy trì và phát triển sức hút rất lớn, theo ông sức hút của những bộ vấn đề trong câu hỏi phỏng vấn. phim chuyển thể và tác phẩm văn học có điều gì khác biệt? - NNA: Về khía cạnh hình thức, chắc chắn là có khác. Vì đó là hai loại hình nghệ thuật khác nhau. Đạo diễn kể bằng hình ảnh câu chuyện mà nhà văn kể bằng con chữ. Về mặt thưởng thức, độc giả có thể đọc cuốn sách trong một giờ, một tuần hay một tháng, thậm chí có thể bỏ đi làm một việc gì đó giữa hai trang sách mà không bị ảnh hưởng gì. Khán giả xem phim thì khác. Họ phải tập trung theo dõi câu chuyện trong 90 phút hoặc hơn, không được để mất tập trung nếu không muốn bị mất cảm hứng và "rơi" ra khỏi câu chuyện. Để thu hút và "thao túng" khán giả trong một thời lượng eo hẹp, đạo diễn buộc phải chọn cách kể gọn ghẽ, chưng cất những gì tinh tuý nhất, lược bỏ những yếu tố dàn trải trong tiểu thuyết. Cho dù như vậy, nếu đạo diễn vẫn giữ được hồn cốt của tác phẩm văn học, bảo tồn được thông điệp và tinh thần của cuốn sách thì sự khác biệt giữa hai thể loại sẽ giảm đến mức tối đa. Bởi vì sự cuốn hút của một cuốn sách hay một bộ phim về căn bản vẫn là chạm được vào cảm xúc của người đọc, người xem. Khi chinh phục được trái tim của người thưởng ngoạn, sự hoà điệu sẽ ngân lên, khi đó sự khác biệt giữa tác phẩm văn học và tác phẩm điện ảnh sẽ trở về mức thấp nhất. Tôi thấy hoa vàng trên cỏ xanh và Mắt biếc phần nào đã làm được điều này. - PV: Ông có điều gì muốn chia sẻ với bạn đọc trẻ về vấn đề văn hoá đọc trong thời đại công nghệ số? - NNA: Bạn đọc trẻ tất nhiên vẫn phải tương thích với công nghệ số ngày càng phát triển, thậm chí chiếm vị trí trung tâm trong sinh hoạt hằng ngày của xã hội. Tóm lại, bạn đọc phải mặc và thích mặc chiếc áo của thời đại mình là điều không thể đảo ngược và không có lí do gì để đảo ngược. Tôi chỉ muốn nói, cho dù công nghệ phát triển đến mức nào thì sách vẫn đóng vai trò quan trọng trong đời sống tinh thần của con người. Bởi sách không chỉ để giải trí mà nó còn bồi đắp tâm thức văn hoá trong cộng đồng và trong mỗi cá nhân.
– PV: Xin phép được hỏi ông một câu nữa: Nếu có cỗ máy thời gian, có bao giờ nhà văn muốn quay trở lại thời kì tác giả là người viết trong một thời đại mà văn t
– PV: Xin phép được hỏi ông một câu nữa: Nếu có cỗ máy thời gian, có bao giờ nhà văn muốn quay trở lại thời kì tác giả là người viết trong một thời đại mà văn tự và sách in là độc tôn?
– NNA: Chúng ta vẫn nên tuân theo dòng chảy tự nhiên. Tôi không muốn đi ngược lại quy luật phát triển và nhà văn được hưởng những biệt lệ. Tôi không muốn để người khác sống thay thời đại mình. Cạnh tranh với công nghệ giải trí là một thử thách đối với người viết, giúp nhà văn vượt lên chính mình. Điều đó đem lại lợi ích cho người viết và cho chính bạn đọc.
Theo dõi
Cách nêu câu hỏi kết thúc cuộc phỏng vấn.
– PV: Xin trân trọng cảm ơn nhà văn và kính chúc nhà văn sức khoẻ. Rất mong đợi được tiếp tục đọc những tác phẩm mới, hấp dẫn của ông dành cho các thế hệ độc giả.
Chú ý
Những yếu tố ngôn ngữ thể hiện phép lịch sự và ý thức tôn trọng người được phỏng vấn.
(Theo Hà Ngân, tạp chí Văn học và Tuổi trẻ, tháng 5/2023)
Sau khi đọc
TRẢ LỜI CÂU HỎI
Vấn đề mà cuộc phỏng vấn đề cập được trình bày ở phần nào của văn bản?
Vấn đề chính của cuộc phỏng vấn được triển khai bằng mấy câu hỏi? Nêu rõ mối quan hệ giữa vấn đề chính và các thông tin được triển khai trong hệ thống câu hỏi phỏng vấn.
Câu trả lời của người được phỏng vấn có quan hệ như thế nào với vấn đề được nêu trong câu hỏi?
Những yếu tố ngôn ngữ nào thể hiện phép lịch sự và ý thức tôn trọng người được phỏng vấn trong cách đặt vấn đề, triển khai vấn đề và kết thúc cuộc phỏng vấn?
VIẾT KẾT NỐI VỚI ĐỌC
Nếu được phỏng vấn một nhà văn hoặc nhà thơ về một vấn đề mà em quan tâm, em sẽ chọn vấn đề gì? Nêu 3 – 5 câu hỏi mà em dự định trao đổi với tác giả đó, đồng thời đóng vai tác giả để trả lời các câu hỏi vừa nêu.
Đọc để tự học và thực hành
1. Chọn đọc tác phẩm kinh điển
Trong thời đại phát triển của công nghệ số và các phương tiện nghe – nhìn, người đọc gặp những thách thức không nhỏ, nhưng cũng có nhiều cơ hội để phát triển năng lực tự học, vận dụng những điều hữu ích thu nhận được từ việc đọc vào cuộc sống.
Với hiểu biết của em về lịch sử văn học Việt Nam, hãy lên danh mục những tác phẩm tiêu biểu cần đọc trong từng thời kì. Chọn đọc một số tác phẩm mà em yêu thích
Với hiểu biết của em về lịch sử văn học Việt Nam, hãy lên danh mục những tác phẩm tiêu biểu cần đọc trong từng thời kì. Chọn đọc một số tác phẩm mà em yêu thích và ghi chú thông tin vào phiếu đọc theo gợi ý sau:
a. Mối quan hệ giữa tác phẩm và bối cảnh lịch sử, xã hội.
b. Thể loại, chữ viết, đề tài và hình tượng trong tác phẩm.
c. Đặc điểm nổi bật về nghệ thuật, nội dung của tác phẩm. d. Dự đoán ảnh hưởng, tác động của môi trường văn học tới những yếu tố trong tác phẩm: mối quan hệ giữa tác phẩm và thời kì, giai đoạn văn học; với các tác phẩm khác,...
e. Những thông điệp mà tác phẩm mang đến cho người đọc.
2. Gặp gỡ độc giả "đặc biệt"
Đọc bài thơ dưới đây hoặc sưu tầm, tìm đọc một số tác phẩm có nội dung, cảm xúc tương đồng và ghi chép các thông tin về những vấn đề sau:
a. Mối quan hệ giữa thể loại, đề tài, hình tượng hoặc một số chi tiết nghệ thuật trong tác phẩm với những tác phẩm khác (mà em đã đọc, tìm hiểu).
b. Tính chất "đặc biệt" của tác giả - độc giả trong tác phẩm.
Bên mộ cụ Nguyễn Du
VƯƠNG TRỌNG(1)
Tưởng rằng phận bạc Ðạm Tiên
Ngờ đâu cụ Nguyễn Tiên Ðiền nằm đây
Ngửng trời cao, cúi đất dày Cắn môi, tay nắm bàn tay của mình
Một vùng cồn bãi trống trênh Cụ cùng thập loại chúng sinh nằm kề. Hút tầm chẳng cánh hoa lê Bạch đàn đôi ngọn gió về nỉ non
Xạc xào lá cỏ héo hon
Bàn chân cát bụi, lối mòn nhỏ nhoi
Lặng yên bên nấm mộ rồi
Chưa tin mình đã đến nơi mình tìm!
(1) Vương Trọng sinh năm 1943, quê ở Nghệ An, là tác giả của nhiều tập thơ về đề tài chiến tranh, tình yêu quê hương, đất nước, gia đình,... Các tác phẩm chính: Thơ người ra trận (in chung, 1972), Khoảng trời quê hương (1979), Những ngày xa (1986), Về thôi nàng Vọng phu (1991),...
Không cành để gọi tiếng chim Không hoa cho bướm mang thêm nắng trời Không vầng cỏ ấm tay người Nén hương tỏa mộ cảm rồi, lại xiêu Thanh minh trong những câu Kiề
Không cành để gọi tiếng chim
Không hoa cho bướm mang thêm nắng trời
Không vầng cỏ ấm tay người
Nén hương tỏa mộ cảm rồi, lại xiêu
Thanh minh trong những câu Kiều
Rung rung con đực với chiều Nghi Xuân.
Cúi đầu tưởng nhớ vĩ nhân
Phong trần còn để phong trần riêng ai
Bao giờ cây súng rời vai
Nung vôi, chở đá tượng đài xây lên
Trái tim lớn giữa thiên nhiên
Tình thương nối nhịp suốt nghìn năm xa...
(Tuyển tập thơ Vương Trọng,
NXB Hội Nhà văn, Hà Nội, 2011, tr. 6 – 7)
Trang 126
Trang 127
Trang 128
Trang 129
Trang 130
Trang 131
Trang 132
Trang 133
Trang 134
Trang 135
Trang 136
Trang 137
Trang 138
Trang 139
Trang 140
Trang 141
Trang 142
Trang 143
Trang 144
Trang 145
Trang 146
Trang 147
Trang 148
cover-last