SGV - Ngữ văn 12 - Chuyên đề
0/0
minus
100%
plus
Ghi chú
setting
share
Nền
Đọc offline

Lưu sách trên máy

Đang kiểm tra...

list Mục lục
list Mục lục
Phần 1. Tìm hiểu một số hướng nghiên cứu văn học hiện đại
I. Nghiên cứu cảm quan nghệ thuật trong văn học hiện đại
II. Nghiên cứu cách tân nghệ thuật trong văn học hiện đại
Phần 2. Viết báo cáo nghiên cứu về một vấn đề văn học hiện đại
II. Viết báo cáo nghiên cứu
I. Chuẩn bị viết
III. Chỉnh sửa, hoàn thiện
Phần 3. Thuyết trình về kết quả của báo cáo nghiên cứu
I. Thuyết trình trong nhóm học tập
II. Thuyết trình trong hoạt động ngoại khoá
Phần 1. Thưởng thức một tác phẩm nghệ thuật được chuyển thể từ văn học
I. Xem một bộ phim được chuyển thể từ văn học
II. Xem một bức tranh được chuyển thể từ văn học
III. Nghe một ca khúc được chuyển thể từ văn học
Phần 2. Viết bài phân tích, giới thiệu và thuyết trình về một tác phẩm nghệ thuật được chuyển thể từ văn học
I. Viết bài văn phân tích, giới thiệu một tác phẩm điện ảnh được chuyển thể từ văn học
II. Thuyết trình về một tác phẩm điện ảnh được chuyển thể từ văn học
Phần 3. Thực hành chuyển thể tác phẩm văn học
I. Các bước tiến hành chuyển thể
II. Công bố tác phẩm
III. Tổng kết, đánh giá
Tri thức tổng quát
Tri thức tổng quát các trường phái văn học
Phần 1. Tìm hiểu cách nghiên cứu phong cách sáng tác của một trường phái văn học
I. Đọc bài viết tham khảo
II. Xác định các thao tác cần thực hiện khi nghiên cứu phong cách sáng tác của một trường phái văn học
Phần 2. Viết bài giới thiệu về phong cách sáng tác của một trường phái văn học được thể hiện qua những tác phẩm cụ thể
I. Đọc bài viết tham khảo
II. Thực hành viết
Phần 3. Thuyết trình về phong cách sáng tác của một trường phái văn học
I. Chuẩn bị
III. Trao đổi, rút kinh nghiệm
II. Thuyết trình
Học liệu
Đang xem trang 0 Học liệu dưới đây tương ứng với nội dung bạn đang đọc
empty Không có học liệu bổ trợ
cover-first
page-1
Trang 1
Trang 2
Trang 3
Trang 4
Trang 5
Trang 6
Trang 7
Trang 8
Trang 9
Trang 10
Trang 11
Trang 12
Trang 13
Trang 14
Trang 15
Trang 16
Trang 17
Trang 18
1. Nghiên cứu cảm quan nghệ thuật trong văn học hiện đại
1. Nghiên cứu cảm quan nghệ thuật trong văn học hiện đại
Trang 20
Trang 21
Trang 22
Trang 23
2. Nghiên cứu cách tân nghệ thuật trong văn học hiện đại
2. Nghiên cứu cách tân nghệ thuật trong văn học hiện đại
Trang 25
Trang 26
Trang 27
Trang 28
Trang 29
Trang 30
2. Viết báo cáo nghiên cứu
2. Viết báo cáo nghiên cứu
3. Chỉnh sửa, hoàn thiện Sau khi HS hoàn thành bài viết, GV có thể hướng dẫn HS tự rà soát, chỉnh sửa dựa vào bảng kiểm trong SGK hay chuyển bài viết cho những
3. Chỉnh sửa, hoàn thiện
Sau khi HS hoàn thành bài viết, GV có thể hướng dẫn HS tự rà soát, chỉnh sửa dựa vào bảng kiểm trong SGK hay chuyển bài viết cho những HS hoặc nhóm HS khác để góp ý, sửa chữa chéo cho nhau. GV cũng có thể hướng dẫn HS công bố tất cả các bài nghiên cứu dưới dạng một tập san, tạp chí nội bộ hoặc trên các phương tiện truyền thông khác và thu lại phản hồi của các HS trong lớp.
Hoạt động 1 Thuyết trình trong nhóm học tập a. Chuẩn bị Tuỳ vào sự lựa chọn thuyết trình từng phần hoặc toàn bộ kết quả của báo cáo nghiên cứu, GV yêu cầu HS ch
Hoạt động 1 Thuyết trình trong nhóm học tập
a. Chuẩn bị
Tuỳ vào sự lựa chọn thuyết trình từng phần hoặc toàn bộ kết quả của báo cáo nghiên cứu, GV yêu cầu HS chuẩn bị theo các nội dung đã trình bày trong SGK. HS tự xây dựng đề cương bài thuyết trình, chuẩn bị các phương tiện hỗ trợ (nếu có). - Với hoạt động thuyết trình từng phần kết quả của báo cáo nghiên cứu, GV nên đọc duyệt trước và góp ý kịp thời phần HS chọn để trình bày, giúp HS thêm tự tin vào bản thân.
b. Thuyết trình
GV hướng dẫn HS tiến hành thuyết trình theo các nội dung đã nêu trong SGK. - GV lưu ý HS phân bổ thời gian phù hợp với từng kiểu trình bày: thuyết trình từng phần kết quả của báo cáo nghiên cứu cần ngắn gọn, tập trung; thuyết trình toàn bộ kết quả của báo cáo nghiên cứu cần đầy đủ, rõ ràng.
Hoạt động 2 Thuyết trình trong hoạt động ngoại khoá a. Mục đích của hoạt động Dưới sự hướng dẫn và hỗ trợ của GV, HS có thể tự tổ chức hoặc tham gia vào một hoạ
Hoạt động 2 Thuyết trình trong hoạt động ngoại khoá
a. Mục đích của hoạt động
Dưới sự hướng dẫn và hỗ trợ của GV, HS có thể tự tổ chức hoặc tham gia vào một hoạt động ngoại khoá phù hợp để thuyết trình về kết quả của báo cáo nghiên cứu. - HS biết cách điều chỉnh bài thuyết trình cả về nội dung và hình thức sao cho phù hợp
với quy mô và tính chất của hoạt động ngoại khoá. - HS có điều kiện phát triển kĩ năng làm việc nhóm, kĩ năng giao tiếp, kĩ năng hợp tác,…
b. Phối hợp hoạt động khi thuyết trình
Bên cạnh việc hướng dẫn HS phối hợp hoạt động khi thuyết trình theo các chỉ dẫn và gợi ý trong CĐHT Ngữ văn lớp 12 - SGK, GV nên lưu ý HS về một số đặc điểm riêng của việc thuyết trình trong hoạt động ngoại khoá (về hình thức, mục đích, đối tượng người nghe,…) đã được nêu ra và phân tích trong mục 1 và mục 2 của SGK (tr. 32 - 33). Từ đó, GV giúp HS điều chỉnh bài trình bày và sử dụng các phương tiện hỗ trợ sao cho phù hợp nhất với hoạt động ngoại khoá. Lưu ý: Hoạt động ngoại khoá có thể rất đa dạng do điều kiện tổ chức của lớp học, nhà trường và địa phương. Một số hoạt động được nêu ra trong SGK như câu lạc bộ văn học, ngày hội văn hoá nghệ thuật, hội thảo khoa học của trường,… là những ví dụ mang tính tham khảo. GV và HS có thể lựa chọn phương pháp tổ chức hoạt động một cách chủ động và linh hoạt, tuỳ tình hình thực tế.
Trang 35
Trang 36
Trang 37
1. Xem một bộ phim được chuyển thể từ văn học Mục đích của phần này là giúp HS hiểu được mối quan hệ giữa văn học và điện ảnh, hiểu được ngôn ngữ của điện ảnh v
1. Xem một bộ phim được chuyển thể từ văn học
Mục đích của phần này là giúp HS hiểu được mối quan hệ giữa văn học và điện ảnh, hiểu được ngôn ngữ của điện ảnh và biết cách thưởng thức, đánh giá một bộ phim được chuyển thể từ tác phẩm văn học. Ngoài gợi ý của SGK, GV cũng có thể chọn xem một bộ phim khác phù hợp với sở thích của HS và điều kiện của nhà trường.
Trang 39
Trang 40
Trang 41
Trang 42
Trang 43
2. Xem một bức tranh được chuyển thể từ văn học
2. Xem một bức tranh được chuyển thể từ văn học
Trang 45
3. Nghe một ca khúc được chuyển thể từ văn học
3. Nghe một ca khúc được chuyển thể từ văn học
1. Viết bài phân tích, giới thiệu một tác phẩm điện ảnh được chuyển thể từ văn học
1. Viết bài phân tích, giới thiệu một tác phẩm điện ảnh được chuyển thể
từ văn học
Trang 48
Trang 49
1. Các bước tiến hành chuyển thể
1. Các bước tiến hành chuyển thể
Trang 51
Trang 52
Trang 53
3. Tổng kết, đánh giá GV hướng dẫn HS tự đánh giá lại quá trình làm việc của mình, đánh giá sản phẩm của bạn dựa trên các câu hỏi gợi ý trong SGK Chuyên đề học
3. Tổng kết, đánh giá
GV hướng dẫn HS tự đánh giá lại quá trình làm việc của mình, đánh giá sản phẩm của bạn dựa trên các câu hỏi gợi ý trong SGK Chuyên đề học tập Ngữ văn 12 (tr. 55).
GV tổng kết lại các nội dung được học trong CĐ, định hướng và gợi ý cách ứng dụng các kiến thức, kĩ năng đã học vào cuộc sống, đánh giá thái độ và kết quả học tập của HS trong hoạt động thực hành chuyển thể cũng như trong cả quá trình học tập CĐ này.
Trang 55
Trang 56
Trang 57
Trang 58
Trang 59
Hoạt động 1 Đọc bài viết tham khảo Bài viết tham khảo được giới thiệu ở Phần 1 trong SGK Chuyên đề học tập Ngữ văn 12 mang đậm tính chất phê bình văn học hơn là
Hoạt động 1 Đọc bài viết tham khảo
Bài viết tham khảo được giới thiệu ở Phần 1 trong SGK Chuyên đề học tập Ngữ văn 12 mang đậm tính chất phê bình văn học hơn là tính chất học thuật, nghiên cứu. Tuy nhiên, với HS, đây là văn bản đọc phù hợp, vừa có những phân tích sinh động về một tiểu thuyết nổi tiếng của văn hào Vích-to Huy-gô - nhà văn từng được các em biết tới khi học đoạn trích
Người cầm quyền khôi phục uy quyền ở SGK Ngữ văn lớp 10, lại vừa có những luận điểm khái quát chạm đến bản chất của một trường phái văn học từng gây ảnh hưởng lớn đến văn học hiện đại Việt Nam: trường phái lãng mạn.
GV dặn HS đọc và tìm hiểu trước về văn bản khi chuẩn bị bài ở nhà. Trên lớp, có thể dành thời gian (khoảng 5 phút cho HS đọc lại văn bản, sau đó trao đổi về các vấn đề được nêu lên trong ba câu hỏi ở SGK (tr. 66). Qua hướng dẫn HS đọc văn bản, GV cần cho các em thấy được: bài viết của tác giả Đỗ Đức Hiểu - một chuyên gia về văn học Pháp - có thể gợi ý được nhiều điều về cách nghiên cứu phong cách sáng tác của một trường phái văn học. Với HS, trong khoảng thời gian và điều kiện tra cứu hạn chế, đây là cách có thể lựa chọn để học hỏi, vận dụng vào thực tế học tập. Cách nghiên cứu này có mấy điểm đáng chú ý:
Rút ra từ các tài liệu nghiên cứu đã công bố - tài liệu học thuật có uy tín - những thông tin cơ bản về phong cách sáng tác của một trường phái văn học mà mình muốn tìm hiểu sâu.
Dùng các thông tin cơ bản nói trên làm căn cứ để khám phá một tác phẩm cụ thể của trường phái văn học đã xác định.
Kiểm chứng, xác nhận lại những thông tin đã có về phong cách sáng tác của trường phái văn học, qua việc đi sâu phân tích một số phương diện quan trọng của tác phẩm.
Mở rộng, triển khai hoặc điều chỉnh những nhận định khái quát đã có về phong cách sáng tác của trường phái văn học, dựa trên việc đọc lại tác phẩm theo tinh thần khảo sát, nghiên cứu.
Khi hướng dẫn HS đọc (ở nhà và trên lớp), GV nhắc các em phải chú ý các thẻ chỉ dẫn đọc ở bên phải có nội dung định hướng cách tiếp cận văn bản phù hợp với yêu cầu của CĐ. Để giúp HS trả lời được ba câu hỏi đặt sau văn bản, GV có thể gợi ý như sau:
Với câu hỏi 1, cần căn cứ vào nhan đề văn bản để xác định hướng viết của tác giả: phân tích một số phương diện, yếu tố nổi bật trong Nhà thờ Đức bà Pa-ri để nhận diện, khám phá, suy nghĩ về các đặc điểm của tiểu thuyết thuộc trường phái lãng mạn nói chung.
Với câu hỏi 2, cần lưu ý cách tác giả nêu những nhận định khái quát sau từng đoạn phân tích cụ thể, những nhận định khái quát đó không chỉ dành riêng cho tiểu t
Với câu hỏi 2, cần lưu ý cách tác giả nêu những nhận định khái quát sau từng đoạn phân tích cụ thể, những nhận định khái quát đó không chỉ dành riêng cho tiểu thuyết Nhà thờ Đức bà Pa-ri mà còn cho tiểu thuyết lãng mạn nói chung. Đặc biệt, hai đoạn cuối của bài viết đã thực sự mở rộng vấn đề sang tiểu thuyết của trường phái hay chủ nghĩa lãng mạn.
Với câu hỏi 3, cần chú ý những câu cuối của mỗi đoạn văn để tìm được các nhận định thích hợp - loại nhận định có thể giúp người đọc hình dung được rõ nét đặc điểm phong cách sáng tác của trường phái lãng mạn trong tiểu thuyết.
2. Xác định hệ thống thao tác cần thực hiện khi nghiên cứu phong cách sáng tác của một trường phái văn học Trong SGK, nội dung của phần này đã được trình bày mộ
2. Xác định hệ thống thao tác cần thực hiện khi nghiên cứu phong cách sáng tác
của một trường phái văn học
Trong SGK, nội dung của phần này đã được trình bày một cách tường minh với nhiều ý nhỏ thuộc các tầng bậc khác nhau. GV cho HS làm việc theo nhóm với nhiệm vụ chính là phân tích lần lượt từng ý mà SGK đã nêu. Để giúp các em hiểu rõ từng thao tác nghiên cứu, GV nhất thiết phải đưa ra được các ví dụ minh hoạ.
Trang 63
Hoạt động 1 Đọc bài viết tham khảo GV cho HS đọc trước bài viết tham khảo ở nhà và trả lời các câu hỏi đặt sau văn bản. Giữa bài viết này và bài viết tham khảo
Hoạt động 1 Đọc bài viết tham khảo
GV cho HS đọc trước bài viết tham khảo ở nhà và trả lời các câu hỏi đặt sau văn bản. Giữa bài viết này và bài viết tham khảo ở Phần 1 của CĐ có những điểm tương đồng về định hướng viết và cách triển khai, cùng đề cập các sáng tác mang phong cách của trường phái lãng mạn, chỉ khác về thể loại (một tác phẩm là tiểu thuyết, một tác phẩm là thơ trữ tình). Nếu có điều kiện, GV có thể thay thế bài viết về Nhớ rừng bằng bài viết khác về một tác phẩm được sáng tác theo phong cách của trường phái cổ điển hay hiện thực. Nếu chọn văn bản khác để thay thế, cần bám sát tiêu chí: Bài viết không đơn thuần phân tích một tác phẩm cụ thể mà phải có những luận điểm kết nối tác phẩm đó với trường phái văn học mà nó thuộc về hoặc chịu ảnh hưởng (có thể tham khảo bài viết Phong cách hiện thực của tiểu thuyết Ban-dắc qua đoạn trích "Đám tang lão Gô-ri-ô" ở tr. 69 - 71 của sách này).
GV cho HS trao đổi về các vấn đề được nêu lên trong ba câu hỏi trong SGK (tr. 76) và xác định câu trả lời phù hợp:
Câu hỏi 1
Bài viết tìm hiểu đặc điểm phong cách sáng tác của trường phái lãng mạn ở bài thơ Nhớ rừng. Cần lưu ý, phần lớn thơ trữ tình thuộc phong trào Thơ mới 1932 - 1945 ở Việt Nam được sáng tác theo phong cách của trường phái lãng mạn (nói ngắn gọn là theo phong cách lãng mạn). Cũng có một số bài thơ được sáng tác theo phong cách của các trường phái khác như Thi sơn, tượng trưng, siêu thực hoặc theo phong cách ít nhiều có sự pha trộn, mà ở đó, người ta thấy dấu ấn của nhiều trường phái với những mức độ đậm, nhạt khác nhau.
Câu hỏi 2 Tác giả bài viết đã nhận thấy một số dấu ấn của phong cách sáng tác lãng mạn trong bài thơ như: tràn đầy cảm hứng khẳng định cái tôi cá nhân, thể hiện
Câu hỏi 2
Tác giả bài viết đã nhận thấy một số dấu ấn của phong cách sáng tác lãng mạn trong bài thơ như: tràn đầy cảm hứng khẳng định cái tôi cá nhân, thể hiện khát vọng được giải phóng của cái tôi cá nhân; tác phẩm được xây dựng dựa trên sự đối lập gay gắt giữa hiện thực với ước mơ, hiện tại với quá khứ, cái tầm thường với cái cao cả, cái nhân tạo với cái tự nhiên,…; cái tôi trữ tình ưa đối tượng hoá lòng mình để tự ngắm, tự ve vuốt; tác giả thường xuyên dùng thủ pháp khoa trương, phóng đại, thích tuyệt đối hoá vấn đề;… Lưu ý: Những điều nêu ở trên cho thấy bài viết đã đặt bài thơ Nhớ rừng trong bối cảnh rộng của các sáng tác lãng mạn chủ nghĩa để phân tích, đánh giá, theo một định hướng phù hợp với yêu cầu thực hành viết ở Phần 2 của CĐ.
Câu hỏi 3
Có nhiều đoạn trong bài viết chú ý phân tích nét độc đáo của tác phẩm Nhớ rừng so
với phong cách sáng tác chung của trường phái lãng mạn (có giọng thống thiết, bi phẫn gần gũi với giọng điệu nhiều sáng tác thuộc dòng văn thơ yêu nước cùng thời; hiện thực hoá tứ thơ phổ quát của trường phái lãng mạn bằng những trải nghiệm riêng biệt;…). Sự nhấn mạnh nét độc đáo này vừa có tác dụng chứng minh sức hút từ phong cách sáng tác đặc thù của trường phái lãng mạn, vừa cho thấy phong cách sáng tác chung của trường phái này không hề triệt tiêu sự sáng tạo ở mỗi cá nhân tác giả (ý sau cùng của mục Phong cách sáng tác của một trường phái văn học thuộc phần Tri thức tổng quát có thể giúp HS hiểu rõ vấn đề này).
2. Thực hành viết
2. Thực hành viết
Hoạt động 1 Chuẩn bị SGK đã đề cập hai loại nội dung thuyết trình, đồng thời trình bày rất chi tiết về cách thực hiện bài thuyết trình theo từng loại nội dung đ
Hoạt động 1 Chuẩn bị
SGK đã đề cập hai loại nội dung thuyết trình, đồng thời trình bày rất chi tiết về cách thực hiện bài thuyết trình theo từng loại nội dung được chọn. GV cho HS đọc kĩ mục Chuẩn bị trong SGK (tr. 79 - 81), cùng các em trao đổi về những điểm được cho là khó hiểu.
Hoạt động 3 Trao đổi, rút kinh nghiệm GV lưu ý HS về các vấn đề chính cần trao đổi, rút kinh nghiệm: - Vấn đề thứ nhất liên quan đến tính chuyên môn, học thuật
Hoạt động 3 Trao đổi, rút kinh nghiệm
GV lưu ý HS về các vấn đề chính cần trao đổi, rút kinh nghiệm: - Vấn đề thứ nhất liên quan đến tính chuyên môn, học thuật của nội dung các bài thuyết trình. Cần dựa vào gợi ý của SGK (tr. 82) để việc trao đổi tập trung vào những điểm cốt yếu. - Vấn đề thứ hai liên quan đến kĩ năng, nghệ thuật thuyết trình của người nói (diễn giả). Việc trao đổi nên tập trung vào các điểm: sự ý thức về nội dung trọng tâm của bài thuyết trình; kĩ năng truyền cảm hứng bằng giọng nói, ngữ điệu nói kết hợp với sử dụng các động tác hình thể; cách tương tác với người nghe; cách sử dụng tranh, ảnh, video clip và các phương tiện kĩ thuật hỗ trợ; việc làm chủ thời gian; việc tiếp nhận và phản hồi các ý kiến đóng góp;… - Vấn đề thứ ba liên quan đến kĩ năng tổ chức sự kiện. Những trao đổi, rút kinh nghiệm về vấn đề này hướng đến tất cả thành viên trong lớp. Cần giúp mọi người thấy được ai cũng phải có trách nhiệm với công việc hay các hoạt động chung.
Bài viết tham khảo Phong cách hiện thực của tiểu thuyết Ban-dắc qua đoạn trích Đám tang lão Gô-ri-ô(1) (Đào Duy Hiệp) Đoạn trích là một cuộc đưa tang lão Gô-ri-
Bài viết tham khảo
Phong cách hiện thực của tiểu thuyết Ban-dắc qua đoạn trích Đám tang lão Gô-ri-ô(1)
(Đào Duy Hiệp)
Đoạn trích là một cuộc đưa tang lão Gô-ri-ô, "cái ông vua Lia (Lear) tăm tối đó" cho đến lúc chết vẫn lầm lẫn về một tình yêu thương mù quáng với hai đứa con gái "quý tộc". Lão tâm sự: "Cuộc đời tôi là hai đứa con gái (…). Nếu chúng ấm thì tôi chẳng thấy rét, nếu chúng cười thì không bao giờ tôi buồn. Tôi chỉ phiền muộn những phiền muộn của chúng thôi". Kể ra đó cũng là tâm sự bình thường của một người cha. Tuy nhiên, như cách làm thường thấy ở Ban-dắc là bao giờ ông cũng cấp cho nhân vật của mình một tầm vóc khổng lồ của tham vọng hay ham muốn. Tất cả phải mãnh liệt, sục sôi,
hướng tới một mục tiêu duy nhất với một ý chí không hề lay chuyển. Cái mà chúng ta vẫn biết là nhân vật lãng mạn chống lại thực tại, bất chấp thực tại trong niềm cô độc để vươn tới lí tưởng bởi giữa thực tại và lí tưởng là một hố sâu mâu thuẫn ngăn cách (con đường đi từ bóng tối ra ánh sáng của Giăng Van-giăng, chẳng hạn); thì ở Ban-dắc, nhân vật chống lại số phận, đương đầu với xã hội để tiến lên làm lành với nó hoặc bị nó nghiền nát. Nhân vật của ông nhất phiến(2) ở chỗ nó tập trung toàn bộ sức lực, năng lượng sống vào một dục vọng duy nhất; tình yêu, sự keo kiệt, tham vọng địa vị, tiền bạc, nghệ thuật, chính trị, tình bạn,… Ở đây, với lão Gô-ri-ô, là tình phụ tử - "lực sĩ của một tình cảm độc nhất"cũng như biết bao lực sĩ khác trên khắp mọi nẻo đường, hang hốc trong khu rừng bạt ngàn nhân vật của Ban-dắc. "Ở nơi mà cuộc đời sản sinh ra hàng ngàn sự khác biệt, ông chỉ biết mỗi một chủ đề. Ông không biết đến những điển hình hỗn hợp. Vũ trụ của ông nghèo hiện thực, nhưng nó mãnh liệt hơn. Bởi vì những nhân vật của ông là những mẫu trích, những đam mê của ông là những nguyên tố thuần khiết, những bi kịch của ông là những sự cô đặc".
Sự cô đặc về tình cha con của lão Gô-ri-ô cuối cùng cũng phải tan ra trước hạn định của Chúa: hai bài Kinh Siêu độ và Kinh Cầu hồn giá bảy mươi quan và hai mươi xu tiền công cho những xẻng đất hất xuống quan tài ông cụ đều do Ra-xti-nhắc (Rastignac) trả đã khép lại một số phận suốt đời chỉ có lòng yêu thương và đã"phá sản", thua trắng trong cuộc kinh doanh mù loà về tình thương yêu với con cái đồng thời với sự phá sản trong cuộc đời. "Đồng tiền ban cho mọi thứ, kể cả những đứa con". Cuộc đấu tranh đã được yên nghỉ.
(1) Tên bài viết do người biên soạn sách giáo viên đặt. Đám tang lão Gô-ri-ô (Goriot) là một đoạn trích trong
tác phẩm Lão Gô-ri-ô của Hô-nô-rê đờ Ban-dắc (Honoré de Balzac). Đoạn trích này từng được đưa vào SGK Ngữ văn 1 1 Nâng cao, tập hai, NXB Giáo dục Việt Nam, Hà Nội, 2015, tr. 132 - 134. (2) Nhất phiến: khối thống nhất; không có những nét mâu thuẫn hay đột biến trong sự phát triển của tính cách,
bất chấp sự thay đổi của ngoại cảnh, hoàn cảnh (khái niệm này thường được dùng để chỉ loại tính cách nhân vật đặc thù trong các tác phẩm văn học thuộc trường phái lãng mạn).
Đoạn văn ngắn, khách quan, rất ít Ban-dắc(1) này biểu lộ một niềm xót xa, hết sức cay đắng, mai mỉa và cả tàn nhẫn, hài hước nữa về một kiếp người được biểu đạt
Đoạn văn ngắn, khách quan, rất ít Ban-dắc(1) này biểu lộ một niềm xót xa, hết sức cay đắng, mai mỉa và cả tàn nhẫn, hài hước nữa về một kiếp người được biểu đạt qua những yếu tố: thời gian, con người, đồng tiền, những suy tư trước cái đã chấm dứt và cái đang bước tới, những giọt nước mắt - cái cô đơn khủng khiếp của con người.
Thời gian trong sáng tác của Ban-dắc là một "hiện thực đang bước đi" theo cái dòng chảy tuần tự của nó. Nhìn trên nét lớn, tiểu thuyết của ông là lịch sử nước Pháp thế kỉ XIX và ông là người kể về nó một cách không mệt mỏi theo năm tháng, niên đại cụ thể, tỉ mỉ. Là người con "lắm lời" của cả hai bà mẹ giai cấp: "dân đen" và "quý tộc", ông tìm cách lí giải một cách tỉnh táo và mạch lạc các chủng loại xã hội trong thời đại văn xuôi của thế kỉ mình. Có lẽ, bên cạnh thi pháp khách quan của thời đại, sự tỉnh táo và mạch lạc đó có được, phải chăng, người thư kí trung thành của lịch sử nước Pháp đã phải nhờ cậy ở yếu tố thời gian lịch biểu?
Trong trích đoạn Đám tang lão Gô-ri-ô của sách giáo khoa, các cảnh đưa tang được phân bố theo thời gian tự nhiên: đoạn đầu, quan tài được đặt ở giáo đường "nhỏ, thấp và tối"; đoạn hai là việc đọc kinh "mất hai mươi phút" cho đến lúc vị linh mục giục: "đã năm giờ rưỡi rồi"; đoạn ba là việc hạ huyệt, "ngày tàn, một buổi hoàng hôn ẩm ướt" cho đến lúc "Cri-xtô-phơ (Christophe) bèn bỏ đi" và đoạn cuối là: "Ra-xti-nhắc còn lại một mình…" cho đến hết. Pa-ri đã lên đèn… Mở đầu tiểu thuyết là mụ Vô-ke (Vauquer) với quán trọ tồi tàn của mụ; cuối tác phẩm là bữa tối sang trọng tại nhà phu nhân Đơ Nuy-xinh-ghen (De Nucingen) của Ra-xti-nhắc: môi trường biến đổi, con người biến đổi - từ xó bếp ra chiến trường!
Đám tang vẫn đủ nghi lễ nhưng tiến hành thật ngắn ngủi, sơ sài, chóng vánh. "Hai mươi phút" cầu kinh xong là "đã năm rưỡi rồi" và "Đến sáu giờ, xác ông cụ Gô-ri-ô được hạ huyệt…". Tính ra chỉ có trên dưới một tiếng cho một đám tang của kẻ khó vào lúc thời khắc của ngày tàn. Tất cả mọi người (trừ chàng trai trẻ) đều làm vì nghĩa vụ, vì tiền, không một chút xót thương,… chỉ mong cho chóng xong việc, như là để trốn chạy khỏi sự bần hàn. Lão Gô-ri-ô đã chết khốn khổ trong nghèo nàn trên một tầng gác trọ; sau đó chừng một thế kỉ, lão Hạc của Nam Cao cũng chết thê thảm trong nghèo đói trên chính mảnh vườn của mình. Cả hai nhà hiện thực đều xây dựng nên những tượng đài lận đận về tình phụ tử, song lại khác nhau biết bao. Lão Gô-ri-ô yêu thương con trong sự cứu rỗi của Chúa, trong một niềm sùng kính khắc khoải với Chúa trộn lẫn với bản năng của người cha vừa tự hào vừa tội nghiệp cùng với niềm tin thiết thực về tương lai giàu sang của chúng. Cái hơi thở "hoan hỉ" cuối cùng của người cha sau tiếng gọi tên các con đã lưu giữ lại trên nét mặt lão cái "ẩn tích đau đớn" của sự vật lộn giữa cái sống và cái chết với hi vọng là có thể còn kịp gặp lại "các thiên thần của tôi". Có lẽ không có lời điếu văn nào, cái quan luận định nào giản dị mà lại sâu sắc, tốt đẹp như lời của Cri-xtô-phơ khi nói với Ra-xti-nhắc về ông cụ trong lúc chờ những vị chức việc của nhà thờ đến: "Đúng thế đấy, cậu Ơ-gien (Eugène) ạ, ông cụ là người tử tế và đứng đắn, chưa bao giờ to tiếng,
(1) Có thể hiểu là ít chất Ban-dắc, không giống với phong cách viết tiểu thuyết quen thuộc của nhà văn.
không hề làm hại ai và chưa từng làm điều gì nên tội". Lão Hạc khác, lão yêu con thiết thực hơn, "ngoan cố" hơn trong ý thức hệ về cội rễ. Phải bán nơi sống hìn
không hề làm hại ai và chưa từng làm điều gì nên tội". Lão Hạc khác, lão yêu con thiết thực hơn, "ngoan cố" hơn trong ý thức hệ về cội rễ. Phải bán nơi sống hình như là một điều lén lút, sỉ nhục với lão Hạc. Lão Gô-ri-ô không "ngoan cố" bởi lão chẳng còn gì để bán nữa. Đám tang vốn đã lạnh lẽo vào"ngày tàn", số người lại ít ỏi dần: Ra-xti-nhắc, Cri-xtô-phơ, hai vị linh mục, người bõ và "bọn gia nhân của hai người con gái ông cụ". Bọn chúng cùng với đám người nhà đạo"biến ngay" sau"bài kinh ngắn ngủi". Còn lại một mình Ra-xti-nhắc: "Chàng nhìn ngôi mộ và vùi xuống đất giọt nước mắt cuối cùng của người trai trẻ, giọt nước mắt trào ra vì những mối xúc động thiêng liêng của một trái tim trong trắng…" bởi những đồng tiền vòi vĩnh, bởi "hai chiếc xe có huy hiệu nhưng không có người ngồi" của hai người con gái ông cụ: "tội giết cha một cách phong nhã",… Hai sự chuyển động trống rỗng, "tráng lệ", đầy mai mỉa cho công cuộc "kinh doanh" để hai con gái len chân
vào thế giới phù hoa của người cha tội nghiệp. Chỉ còn lại Pa-ri, ánh đèn lấp lánh, dòng sông Xen (Seine), những biểu tượng, chói loà của những nơi sinh hoạt xã hội thượng lưu - "cái tổ ong rào rào ấy" - "trong nỗi cô đơn nhìn ngắm phiền muộn, Ra-xti-nhắc đi đến quyết định táo tợn dường như đã được nghiền ngẫm:"Nào, bây giờ chỉ còn tao với mày!". Một hiện thực đang bước đi để lại đằng sau những kẻ thất bại! Y bỏ lại chút thơ ngây còn sót lại, vướng víu,… "Và, để mở màn cho cuộc thách thức của chàng đối với xã hội, Ra-xti-nhắc đi ăn bữa tối ở nhà phu nhân Đơ Nuy-xinh-ghen". Chỉ bằng một câu ngắn, câu cuối cùng của tiểu thuyết, Ban-dắc đã thông báo cả sự đối kháng và chấp nhận đi liền theo nhau hàm nghĩa mỉa mai cay đắng về luật sinh tồn và thích nghi chóng vánh. Món ăn đạo lí khó nuốt của Vô-tơ-ranh (Vautrin), tên tù khổ sai vượt ngục tạm trú cùng quán trọ, đang được Ra-xti-nhắc nhấm nháp theo kiểu của mình để tiêu hoá một cách thuận tiện. Tiểu thuyết Lão Gô-ri-ô là sự khủng hoảng của những lầm lạc mà không người nào "vỡ mộng"… kể cả tác giả. (Đào Duy Hiệp, Cấu trúc bên trong - bi kịch môi trường và nhân vật trong "Lão Gô-ri-ô"của Ban-dắc, in trong Thơ và truyện và cuộc đời, NXB Hội Nhà văn, Hà Nội, 2001, tr. 257 - 261)
Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam xin trân trọng cảm ơn các tác giả có tác phẩm, tư liệu được sử dụng, trích dẫn trong cuốn sách này. Chịu trách nhiệm xuất bản: Ch
Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam xin trân trọng cảm ơn các tác giả có tác phẩm, tư liệu được sử dụng, trích dẫn trong cuốn sách này.
Chịu trách nhiệm xuất bản:
Chủ tịch Hội đồng thành viên kiêm Tổng Giám đốc NGUYỄN TIẾN THANH
Chịu trách nhiệm nội dung:
Tổng biên tập PHẠM VĨNH THÁI
Biên tập lần đầu: NGUYỄN THỊ SÁNG - PHẠM THỊ TRANG Thiết kế sách: NGÔ QUANG THẾ Trình bày bìa: NGUYỄN BÍCH LA Sửa bản in: TRẦN THU HÀ - NGUYỄN DUY LONG Chế bản: CÔNG TY CP DỊCH VỤ XUẤT BẢN GIÁO DỤC HÀ NỘI
Bản quyền thuộc Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam.
Tất cả các phần của nội dung cuốn sách này đều không được sao chép, lưu trữ, chuyển thể dưới bất kì hình thức nào khi chưa có sự cho phép bằng văn bản của Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam.
Tranh bìa: Trần Văn Cẩn, Đan len, tranh sơn mài, 1959, 74,8 x 100,2 cm.
CHUYÊN ĐỀ HỌC TẬP NGỮ VĂN 12 - SÁCH GIÁO VIÊN
Mã số: G1HGZV003H24
In .......... cuốn (QĐ ............... ), khổ 19 x 26,5cm. In tại Công ty cổ phần in ...................................................... Số ĐKXB: 02 - 2024/CXBIPH/80 - 2316/GD In xong và nộp lưu chiểu tháng ........ năm ... Mã số ISBN: 978-604-0-39215-2
cover-last