SGV - Ngữ văn 10 - Tập 1
0/0
minus
100%
plus
Ghi chú
setting
share
Nền
Đọc offline

Lưu sách trên máy

Đang kiểm tra...

list Mục lục
list Mục lục
Bài 1: Sức hấp dẫn của truyện kể
Tri thức ngữ văn
Văn bản: Truyện về các vị thần sáng tạo thế giới
Văn bản: Tản Viên từ Phán sự lục
Văn bản: Chữ người tử tù
Thực hành tiếng Việt: Sử dụng từ Hán Việt
Viết: Viết văn bản nghị luận phân tích, đánh giá một tác phẩm truyện
Củng cố, mở rộng
Bài 2: Vẻ đẹp của thơ ca
Tri thức ngữ văn
Văn bản: Chùm thơ hai-cư (haiku) Nhật Bản
Văn bản: Thu hứng
Văn bản: Mùa xuân chín
Văn bản: Bản hòa âm ngôn từ trong "Tiếng thu" của Lưu Trọng Lư
Thực hành tiếng Việt: Lỗi dùng từ, lỗi về trật tự từ và cách sửa
Viết: Viết văn bản nghị luận phân tích, đánh giá một tác phẩm thơ
Củng cố, mở rộng
Bài 3: Nghệ thuật thuyết phục trong văn nghị luận
Tri thức ngữ văn: Văn bản nghị luận
Văn bản: Hiền tài là nguyên khí của quốc gia
Văn bản: Yêu và đồng cảm
Văn bản: Chữ bầu lên nhà thơ
Viết: Dàn ý cho bài luận thuyết phục người khác từ bỏ thói quen dựa dẫm
Thực hành tiếng Việt: Lỗi về mạch lạc và liên kết trong đoạn văn, văn bản: Dấu hiệu nhận biết và cách chỉnh sửa
Củng cố, mở rộng
Bài 4: Sức sống của sử thi
Tri thức ngữ văn
Văn bản: Héc-to từ biệt Ăng-đrô-mác
Văn bản: Đăm Săn đi bắt Nữ Thần Mặt Trời
Thực hành tiếng Việt: Sử dụng trích dẫn, cước chú và cách đánh dấu phần bị tỉnh lược trong văn bản.
Viết: Viết báo cáo nghiên cứu về một vấn đề
Củng cố, mở rộng
Bài 5: Tích trò sân khấu dân gian
Tri thức ngữ văn
Văn bản: Xúy Vân giả dại
Văn bản: Huyện đường
Văn bản: Múa rối nước hiện đại soi bóng tiền nhân
Viết: Viết báo cáo nghiên cứu (về một vấn đề văn hoá truyền thống Việt Nam)
Củng cố, mở rộng
Ôn tập học kì I
Hệ thống hoá kiến thức
Luyện tập và vận dụng
Học liệu
Đang xem trang 0 Học liệu dưới đây tương ứng với nội dung bạn đang đọc
empty Không có học liệu bổ trợ
cover-first
page-1
Trang 1
Trang 2
Trang 3
Trang 4
Trang 5
Trang 6
Trang 7
Trang 8
Trang 9
Trang 10
Trang 11
Trang 12
Trang 13
Trang 14
Trang 15
Trang 16
Trang 17
Trang 18
Trang 19
Trang 20
Trang 21
Trang 22
Trang 23
Trang 24
Trang 25
Trang 26
Trang 27
Trang 28
Trang 29
Trang 30
Trang 31
Trang 32
Trang 33
Trang 34
Trang 35
Trang 36
Trang 37
Trang 38
Trang 39
ĐỌC Văn bản 1, 2, 3 Văn bản 1, 2, 3 Truyện về các Thần thoại thần Việt sáng Nam tạo thế giới 1. Phân tích yêu cầu cần đạt HS nhận biết được đặc điểm cơ bản của
ĐỌC
Văn bản 1, 2, 3
Văn bản 1, 2, 3
Truyện về các Thần thoại thần Việt sáng Nam tạo thế giới
1. Phân tích yêu cầu cần đạt
HS nhận biết được đặc điểm cơ bản của truyện thần thoại nói chung và của từng nhóm truyện: thần thoại suy nguyên, thần thoại sáng tạo.
HS nhận biết và phân tích được các yếu tố cơ bản của chùm truyện về các vị thần sáng tạo thế giới: cốt truyện, thời gian, không gian, nhân vật.
HS hiểu được cách nhận thức, lí giải thế giới tự nhiên của người xưa; thấy được vẻ đẹp "một đi không trở lại" làm nên sức hấp dẫn riêng của thể loại thần thoại.
2. Gợi ý tổ chức hoạt động dạy học Hoạt động 1 Khởi động – HS kể tên một truyện hoặc bộ phim có nhân vật chính là các vị thần; nêu một vài yếu tố làm nên sức hấ
2. Gợi ý tổ chức hoạt động dạy học
Hoạt động 1 Khởi động
– HS kể tên một truyện hoặc bộ phim có nhân vật chính là các vị thần; nêu một vài yếu tố làm nên sức hấp dẫn của tác phẩm (nội dung câu chuyện, tính cách nhân vật, trí tưởng tượng của tác giả,...).
– GV nêu nhận xét, kết nối trải nghiệm của HS với văn bản đọc.
Hoạt động 2 Đọc văn bản
– HS cần đọc văn bản ở nhà; văn bản tương đối gọn nên GV có thể phân công HS đọc thành tiếng trước lớp.
– GV cần hướng dẫn HS sử dụng các box chỉ dẫn bên phải văn bản trong khi đọc. GV lưu ý HS theo dõi, nắm bắt các chi tiết mở đầu câu chuyện, cách miêu tả hình dáng, cử chỉ, hành động của thần Trụ Trời, thần Sét và thần Gió.
Hoạt động 3 Khám phá văn bản
– GV dành thời gian cho HS tự đọc phần giới thiệu về thần thoại Việt Nam; lưu ý đặc điểm của nhóm thần thoại suy nguyên; cũng có thể yêu cầu nhắc lại các yếu tố cơ bản của thần thoại (cốt truyện, nhân vật, thời gian, không gian,...) đã tìm hiểu ở phần Tri thức ngữ văn.
– Các câu hỏi sau khi đọc được thiết kế theo yêu cầu cần đạt của bài học và đặc trưng của thể loại thần thoại. GV dựa vào hệ thống câu hỏi trong SGV để tổ chức các hoạt động dạy học phù hợp với đối tượng. Có thể kết hợp các câu hỏi hoặc thay đổi vị trí nhưng phải luôn bám sát mục tiêu của bài học và lưu ý tới thứ tự của ba văn bản đọc.
– Khi hướng dẫn HS thực hiện hoạt động ở phần sau khi đọc, GV cần tham khảo các gợi ý sau:
Câu hỏi 1: Xác định thời gian, không gian, nhân vật và sự kiện chính trong từng truyện kể.
– Câu hỏi này yêu cầu nhận biết các yếu tố cơ bản trong từng truyện kể. GV có thể hướng dẫn HS lập bảng và điền thông tin phù hợp theo gợi ý sau:
STT, Truyện kể, Thời gian, Không gian, Nhân vật, Sự kiện chính
1, Thần Trụ Trời
2, Thần Sét
3, Thần Gió
– Trả lời câu hỏi này, HS sẽ có cái nhìn khái quát về các yếu tố cơ bản của truyện thần thoại làm cơ sở để thực hiện các yêu cầu tiếp theo.
Câu hỏi 2: Hãy chỉ ra một số dấu hiệu giúp người đọc nhận biết ba truyện kể trên thuộc nhóm thần thoại suy nguyên.
Đây là câu hỏi giúp HS nhận biết được đặc điểm của nhóm thần thoại suy nguyên được thể hiện trong văn bản 1, 2, 3. Để thực hiện yêu cầu này, HS cần dựa vào những dấu hiệu
thể hiện mục đích giao tiếp của thần thoại suy nguyên: nhận thức, lí giải về sự hình thành thế giới và các hiện tượng tự nhiên. Lời kể giải thích về sự hình thà
thể hiện mục đích giao tiếp của thần thoại suy nguyên: nhận thức, lí giải về sự hình thành thế giới và các hiện tượng tự nhiên.
Lời kể giải thích về sự hình thành thế giới và thói quen, hành vi: thần Trụ Trời xây dựng vũ trụ; thần Sét lí giải cho hiện tượng sấm sét; thần Gió lí giải cho hiện tượng gió, lốc, tên gọi cây ngải "tướng quân" và "hành vi" dùng loại cây này chữa bệnh cho trâu, bò.
Chức năng sáng tạo thế giới và hiện thân cho sức mạnh tự nhiên của ba vị thần.
Câu hỏi 3: Trong cái nhìn của con người thời cổ đại, thần Trụ Trời, thần Gió, thần Sét có
hình dạng và tính khí ra sao? Sự tưởng tượng về các vị thần ấy được hình thành trên cơ sở nào? - Câu hỏi này kết hợp yêu cầu nhận biết và phân tích, suy luận; giúp HS nắm được đặc điểm ngoại hình của ba vị thần sáng tạo thế giới. Thần Trụ Trời có vóc dáng kì vĩ, thần Sét mặt mũi nanh ác, thần Gió lại có hình dạng rất kì quặc. GV có thể liên hệ đặc điểm này với một số truyện thần thoại suy nguyên có cùng đề tài của các dân tộc khác. Ví dụ, tất cả các vị thần sáng tạo ra trời đất đều có vóc dáng kì vĩ: thần Bàn Cổ (dân tộc Dao) có đầu là trời, chân
là đất, đôi mắt là mặt trời và mặt trăng; thần Ai Điê (dân tộc Ê-đê) có đầu là bầu trời, trán là mây, đôi tay là hai trụ phân chia trời đất; ông Thu Tha, bà Thu Thiên (dân tộc Mường) sinh ra từ cành cây cao chọc trời; ông bà Ải Lậc Cậc (dân tộc Thái) thân nằm trải từ thượng nguồn đến hạ nguồn của sông Rôm;... - Như vậy, những tưởng tượng về hình dạng của thần Trụ Trời, thần Sét, thần Gió và các nhân vật thần trong thần thoại suy nguyên nói chung bắt nguồn từ thế giới quan "vạn vật hữu linh" và từ cuộc sống lao động, sinh hoạt của con người nguyên thuỷ. Họ đã quan sát, nắm bắt những đặc điểm nổi bật của các hiện tượng tự nhiên; hình dung về chúng như những con người, trao cho chúng các hình dạng tương ứng. Ví dụ, vũ trụ bao la, kì vĩ nên thần Trụ Trời phải có thân hình khổng lồ, sức vóc phi thường; mỗi khi có sét thì sẽ có mây đen, âm thanh dữ dội, tia lửa loé lên nên thần Sét cũng được các tộc người hình dung khá giống nhau: thân hình to lớn, mặt mũi dữ tợn, có thanh gươm chặt ra lửa hoặc cao lớn, tay lông lá, tính khí nóng nảy,...
Câu hỏi 4: Công việc của thần Trụ Trời, thần Sét và thần Gió là gì? Công việc đó được miêu
tả như thế nào, nhằm mục đích gì? - GV có thể hướng dẫn HS bằng các câu hỏi gợi ý: Tìm các chi tiết miêu tả công việc của thần Trụ Trời, thần Sét, thần Gió. Chi tiết nào đậm chất hiện thực, gợi liên tưởng đến công việc của những con người bình thường; chi tiết nào mang màu sắc hoang đường, kì ảo? Mục đích của tác giả dân gian khi miêu tả công việc của các vị thần đó là gì? - Trả lời câu hỏi này, HS sẽ nhận biết thêm một đặc điểm quan trọng của nhân vật chính trong thần thoại suy nguyên. Mỗi vị thần được miêu tả có một chức năng riêng, "đảm trách" một công việc cụ thể và đều hướng tới mục đích nhận thức, lí giải các hiện tượng tự nhiên. Vì vậy, công việc của họ lớn lao, kì vĩ, thần bí, đáng sợ (tạo lập vũ trụ, trừng trị kẻ ác, dùng chiếc quạt màu nhiệm làm ra gió, bão) nhưng họ cũng được miêu tả như những người lao động bình thường: vất vả, cần mẫn, cũng phải lao động (thần Trụ Trời) và cũng có lúc chểnh mảng, sai sót (thần Sét, thần Gió).
Câu hỏi 5: Hình tượng thần Trụ Trời, thần Sét và thần Gió phản ánh những quan niệm, nhận thức gì của người xưa về thế giới tự nhiên? Những khát vọng nào đã được
Câu hỏi 5: Hình tượng thần Trụ Trời, thần Sét và thần Gió phản ánh những quan niệm,
nhận thức gì của người xưa về thế giới tự nhiên? Những khát vọng nào đã được họ gửi vào các hình tượng đó?
Đây là câu hỏi kết hợp yêu cầu nhận biết và phân tích, suy luận; giúp HS hiểu được cơ sở hình thành và giá trị văn hoá của thần thoại. Thần thoại ra đời từ nhu cầu nhận thức, lí giải và khát vọng chinh phục tự nhiên; phản chiếu cuộc sống lao động và sinh hoạt; thể hiện thế giới quan, kiểu tư duy,... của con người cổ đại. Quan niệm vạn vật đều có linh hồn nên họ đã nhân hoá tự nhiên thành các vị thần (thần Sét, thần Gió, thần Nước, thần Đất, thần Núi,...) và "trao cho" các thần công việc kiến tạo thế giới. Nhờ có thần Trụ Trời, thế giới hỗn mang, mờ mịt, hỗn độn đã được tạo lập lại, phân thành trời và đất, có núi đồi, biển cả. Họ gửi vào các hình tượng thần khát vọng nhận thức, lí giải và chinh phục, sáng tạo thế giới.
HS cần dựa vào đặc điểm cơ bản (hình dáng, hành động, tính cách) của ba hình tượng thần để khái quát quan niệm, nhận thức về thế giới tự nhiên và khát vọng của người xưa. GV có thể thiết kế phiếu học tập, tổ chức hoạt động nhóm, gọi một nhóm trình bày kết quả,
các nhóm khác nhận xét, bổ sung.
Câu hỏi 6: Chỉ ra những đặc điểm nổi bật trong cách xây dựng nhân vật của chùm truyện.
Từ đó, nhận xét về thái độ, tình cảm của người xưa đối với thế giới tự nhiên.
Câu hỏi này kết hợp các yêu cầu phân tích, suy luận và nhận xét, đánh giá. GV hướng dẫn HS tận dụng kết quả của các hoạt động trước để trả lời câu hỏi. Có thể thiết kế phiếu học tập và tổ chức hoạt động nhóm; gợi ý bằng các câu hỏi: Các nhân vật chính của ba truyện kể được miêu tả với hình dạng và công việc như thế nào? Hành động và tính khí của họ ra sao? Chức năng của mỗi nhân vật là gì?
HS cần nêu được những đặc điểm cơ bản sau: Nhân vật được miêu tả với vóc dáng kì vĩ hoặc hình dạng dị thường; có sức mạnh phi thường; tính cách đơn giản, luôn gắn với một hành động, một công việc cụ thể; được xây dựng bằng thủ pháp cường điệu, phóng đại, ẩn dụ; kết hợp các chi tiết tả thực và tưởng tượng, hư cấu;...
HS căn cứ vào nguồn gốc, chức năng, đặc điểm của các nhân vật thần Trụ Trời, thần Sét, thần Gió để nêu nhận xét về thái độ, tình cảm của con người Việt Nam thời cổ đại với thiên nhiên. Đối với họ, thiên nhiên vừa xa lạ, đáng sợ vừa gần gũi, thân thuộc. Họ mang nhiều nỗi sợ trước"thế giới quanh ta", sùng bái thiên nhiên kì vĩ, bí ẩn nhưng cũng ý thức được sức mạnh của con người và khát khao khám phá, chinh phục tự nhiên.
Câu hỏi 7: Trong những điều làm nên vẻ đẹp "một đi không trở lại" của thần thoại, có
niềm tin thiêng liêng về một thế giới mà ở đó vạn vật đều có linh hồn. Theo bạn, niềm tin ấy có còn sức hấp dẫn với con người hiện đại không? Vì sao?
GV hướng dẫn HS đọc lại phần Tri thức ngữ văn để hiểu đặc điểm của thể loại truyện thần thoại. Trong đó, có niềm tin hồn nhiên, thiêng liêng về một thế giới "vạn vật hữu linh". Ở đó, con người có thể "giao tiếp" với cỏ cây, muông thú; kết bạn hoặc đấu tranh với các vị thần;...
Với yêu cầu kết nối của câu hỏi này, GV nên tổ chức hoạt động nhóm, khuyến khích HS trình bày ý kiến riêng. Có thể sử dụng một số câu hỏi gợi ý để hướng dẫn HS thảo luận: Con người hiện đại có còn khao khát khám phá thế giới tự nhiên? Niềm tin vạn vật đều
có sự sống, có linh hồn và mối liên hệ bền chặt, thiêng liêng có còn tồn tại trong đời sống, trong văn chương, nghệ thuật? Niềm tin ấy có ý nghĩa gì đối với việ
có sự sống, có linh hồn và mối liên hệ bền chặt, thiêng liêng có còn tồn tại trong đời sống, trong văn chương, nghệ thuật? Niềm tin ấy có ý nghĩa gì đối với việc lựa chọn cách ứng xử của con người với tự nhiên?
Hoạt động 4 Kết nối đọc – viết
Viết đoạn văn (khoảng 150 chữ) phân tích một chi tiết kì ảo trong một truyện thần thoại đã học hoặc tự đọc thêm.
– GV hướng dẫn HS chọn đề tài, gợi ý triển khai nội dung theo các bước: Giới thiệu chi tiết và lí do lựa chọn; phân tích giá trị của chi tiết trong việc khắc hoạ nhân vật hoặc thể hiện chủ đề của truyện kể.
– GV có thể dành thời gian cho HS viết trên lớp hoặc giao bài tập về nhà.
Trang 45
Trang 46
Văn bản 5 Chữ người tử tù Nguyễn Tuân 1. Phân tích yêu cầu cần đạt HS nhận biết được lời người kể chuyện ngôi thứ ba và lời nhân vật; phân tích được bối cảnh, t
Văn bản 5
Chữ người tử tù
Nguyễn Tuân
1. Phân tích yêu cầu cần đạt
HS nhận biết được lời người kể chuyện ngôi thứ ba và lời nhân vật; phân tích được bối cảnh, tình huống truyện.
HS cần khái quát được đặc điểm tính cách của hai nhân vật Huấn Cao và quản ngục; hiểu được chủ đề của tác phẩm.
Góp phần hình thành, bồi đắp cho HS tình yêu, sự trân trọng cái đẹp và sự tài hoa.
2. Gợi ý tổ chức hoạt động dạy học
Hoạt động 1 Khởi động
Dựa vào nhan đề Chữ người tử tù, bạn thử suy đoán xem tác phẩm viết về câu chuyện gì. - Hoạt động khởi động giúp HS nhận biết mối liên hệ giữa nhan đề với đề tài, chủ đề của truyện ngắn Chữ người tử tù. GV có thể gợi ý giúp các em suy đoán bằng câu hỏi:"Chữ" trong nhan đề là văn tự nào, có liên quan đến bộ môn nghệ thuật gì? Tử tù thường là những con người như thế nào? Các yếu tố tương phản trong nhan đề gợi suy đoán về một câu chuyện bình thường hay khác thường?
GV gọi một vài HS trình bày ý kiến, nêu nhận xét và kết nối vào bài học.
Hoạt động 2 Đọc văn bản
HS cần đọc văn bản ở nhà, tóm tắt cốt truyện, nắm được yêu cầu cơ bản của các hoạt động đọc. Trên lớp, HS đọc thầm văn bản và chọn đọc thành tiếng một số đoạn quan trọng (giới thiệu các nhân vật; đối thoại giữa Huấn Cao và quản ngục, thầy thơ lại; cảnh cho chữ).
GV lưu ý HS sử dụng các thẻ chỉ dẫn bên phải văn bản trong quá trình đọc. Những thẻ chỉ dẫn này gợi ý chiến lược đọc (hình dung, dự đoán, phân tích, suy luận,..
GV lưu ý HS sử dụng các thẻ chỉ dẫn bên phải văn bản trong quá trình đọc. Những thẻ chỉ dẫn này gợi ý chiến lược đọc (hình dung, dự đoán, phân tích, suy luận,...) giúp HS nắm được cốt truyện và chú ý những chi tiết, sự kiện quan trọng (giới thiệu các nhân vật, những lần gặp mặt giữa Huấn Cao và quản ngục, bối cảnh và diễn biến của sự kiện cho chữ,...) để hiểu tính cách nhân vật và chủ đề của tác phẩm.
Hoạt động 3 Khám phá văn bản
HS tự đọc phần giới thiệu về Nguyễn Tuân và tập truyện Vang bóng một thời. - GV dựa vào hệ thống câu hỏi trong SGK để tổ chức các hoạt động dạy học. Khi hướng dẫn HS thực hiện hoạt động ở phần sau khi đọc, GV cần tham khảo các gợi ý sau:
Câu hỏi 1: Hãy xác định tình huống truyện trong Chữ người tử tù.
GV hướng dẫn HS dựa vào phần tóm tắt cốt truyện, liệt kê một số sự kiện; gợi ý bằng câu hỏi: Sự kiện nào xuyên suốt toàn bộ câu chuyện?
HS cần chỉ ra sự kiện chính được tác giả lựa chọn để tạo dựng tình huống truyện. Đó là cuộc gặp gỡ khác thường giữa người tử tù Huấn Cao và viên quản ngục: một người là thư pháp gia nổi danh thiên hạ, nổi loạn chống lại triều đình; một người có sở thích cao quý, coi chữ là "vật báu ở trên đời", lại là quản ngục. - Cuộc gặp gỡ giữa Huấn Cao và viên quản ngục đã tạo nên "cái tình thế đặc biệt" để nhà văn "kể" câu chuyện Chữ người tử tù.
Câu hỏi 2: Lời kể về nhân vật quản ngục (trong phần 1) là của ai? Lời kể ấy tác động đến
cách nhìn của bạn về nhân vật này như thế nào? - Mục tiêu của câu hỏi này là giúp HS nhận biết vai trò của người kể chuyện; phân biệt lời kể và lời nhân vật; hiểu được chức năng của lời kể trong tác phẩm tự sự. Lời kể không chỉ góp phần tái hiện bức tranh đời sống mà còn ẩn chứa cách nhìn nhận, đánh giá của người kể chuyện. - Box chỉ dẫn trong khi đọc (SGK Ngữ văn 10, tập một, tr. 22) đã lưu ý HS các chi tiết miêu tả ngoại hình, suy nghĩ, lời nói, sở thích, môi trường sống và câu văn có khả năng khái quát tính cách nhân vật quản ngục. Sử dụng chỉ dẫn này, HS dễ dàng xác định chủ thể của lời kể và tác động của những lời kể đó đối với người đọc. Đó là ấn tượng tốt đẹp và thiện cảm dành cho một con người sống trong môi trường đề lao đầy lừa lọc và tàn nhẫn mà phong thái vẫn toát lên vẻ hiền hoà, lương thiện "một thanh âm trong trẻo chen vào giữa một bản đàn mà nhạc luật đều hỗn loạn xô bồ".
Câu hỏi 3: Sự kiện nào đã tạo nên bước chuyển trong thái độ của Huấn Cao với quản ngục?
Sau sự kiện ấy, mối quan hệ của họ đã thay đổi như thế nào? - Đây là câu hỏi giúp HS nhận biết và phân tích được ý nghĩa của sự kiện đối với việc xây dựng, tổ chức cốt truyện và khắc hoạ tính cách nhân vật. GV có thể gợi ý HS đọc lại đoạn văn từ"Một buổi chiều lạnh, viên quản ngục" đến "phụ mất một tấm lòng trong thiên hạ"; tóm tắt sự kiện thầy thơ lại đấm cửa buồng giam kể với Huấn Cao nỗi lòng quản ngục; hướng dẫn HS so sánh mối quan hệ giữa Huấn Cao với quản ngục trước và sau sự kiện này.
HS cần nêu rõ sự thay đổi trong mối quan hệ của hai nhân vật: + Trước sự kiện này, quan hệ giữa Huấn Cao và quản ngục rất xa cách, thậm chí đối nghịch: tử tù và
HS cần nêu rõ sự thay đổi trong mối quan hệ của hai nhân vật: + Trước sự kiện này, quan hệ giữa Huấn Cao và quản ngục rất xa cách, thậm chí đối nghịch: tử tù và quản ngục. Dù được quản ngục biệt đãi và bày tỏ thái độ ân cần, kính cẩn nhưng Huấn Cao vẫn lạnh lùng"khinh bạc đến điều", coi đó chỉ là trò "tiểu nhân thị oai"hoặc là mưu mô nhằm dò la những điều bí mật. Quản ngục không giận dữ, oán thù nhưng cũng không có can đảm một lần nữa giáp mặt "một người cách xa y nhiều quá"; chỉ âm thầm lo lắng sẽ phải "ân hận suốt đời" nếu không kịp xin được chữ của ông Huấn.
Sau sự kiện này, mối quan hệ giữa Huấn Cao và quản ngục đã hoàn toàn thay đổi: người sáng tạo cái đẹp và người say mê cái đẹp, quý trọng tài hoa. Huấn Cao xúc động, trân trọng con người có "sở thích cao quý"; ân hận vì "Thiếu chút nữa, ta đã phụ mất một tấm lòng trong thiên hạ . Từ khoảnh khắc ấy, Huấn Cao và quản ngục đã trở thành tri kỉ, tri âm,...
Câu hỏi 4: Nhân vật Huấn Cao được tác giả khắc hoạ qua những chi tiết tiêu biểu nào?
Hãy dựa vào các chi tiết đó để khái quát đặc điểm tính cách Huấn Cao.
Câu hỏi này giúp HS luyện tập khả năng nhận biết, phân tích các chi tiết tiêu biểu để khái quát đặc điểm tính cách nhân vật. GV sử dụng câu hỏi gợi nhắc, giúp HS huy động tri thức ngữ văn có liên quan: Nhà văn thường sử dụng những kiểu chi tiết nào để khắc hoạ nhân vật? Nhân vật Huấn Cao được miêu tả chủ yếu qua ngoại hình, cử chỉ, hành động, lời nói hay diễn biến nội tâm? Những chi tiết đó cho thấy Huấn Cao là một con người như thế nào?
HS cũng có thể trình bày cảm nhận chung về nhân vật Huấn Cao, nêu đặc điểm tính cách, chọn phân tích một số chi tiết tiêu biểu để minh hoạ. GV cần định hướng cho HS tập trung vào các ý cơ bản:
Tài hoa tuyệt đích: được miêu tả gián tiếp qua các cuộc trò chuyện giữa viên quản ngục và thầy thơ lại; qua suy nghĩ, cảm xúc của quản ngục về "chữ ông Huấn".
Nhân cách cao thượng: được thể hiện qua thái độ, cách ứng xử của Huấn Cao với nghệ thuật, với con người. Huấn Cao "nhất sinh không vì vàng ngọc hay quyền thế mà phải ép mình viết câu đối bao giờ", chỉ trao tặng cái đẹp cho người tri âm, tri kỉ. Ông xem thường danh lợi, coi khinh cái chết nhưng lại rất sợ "phụ mất một tấm lòng trong thiên hạ". Đối với quản ngục, Huấn Cao sẵn sàng "khinh bạc đến điều" nhưng lại rất đỗi ân cần, chí tình với người có thiên lương và "sở thích cao quý"...
Khí phách anh hùng: Đây là nét tính cách nổi bật, được tác giả tập trung khắc hoạ bằng nhiều chi tiết đặc sắc. GV gợi ý HS đọc lại các đoạn văn miêu tả hình ảnh Huấn Cao khi nhập lao, khi sống trong xà lim tử tù và trong cảnh cho chữ; hướng dẫn HS tìm và phân tích các chi tiết tiêu biểu. Ví dụ, chi tiết ông Huấn"lạnh lùng" dỗ gông, thản nhiên bước vào nhà ngục cho thấy cốt cách ung dung, tâm hồn tự do ngay giữa chốn lao tù. Cách ứng xử "khinh bạc đến điều"khi được quản ngục biệt đãi thể hiện khí phách của một con người "uy vũ bất năng khuất", xem cái chết nhẹ tựa lông hồng. Đặc biệt, ở cảnh cho chữ, hình tượng Huấn Cao hiện lên trong vầng hào quang của tài hoa, thiên lương và khí phách; trở thành biểu tượng cho vẻ đẹp lí tưởng của người nghệ sĩ chân chính. GV có thể kết hợp phần này với hoạt động ở câu hỏi 5, hướng dẫn HS phân tích sâu các chi tiết miêu tả lời nói, cử chỉ, hành động của Huấn Cao,...
Câu hỏi 5: Chỉ ra các yếu tố khiến cảnh cho chữ trở thành một cảnh tượng "xưa nay chưa từng có". Hãy phân tích ý nghĩa của cảnh tượng kì lạ đó. - Mục tiêu của c
Câu hỏi 5: Chỉ ra các yếu tố khiến cảnh cho chữ trở thành một cảnh tượng "xưa nay chưa
từng có". Hãy phân tích ý nghĩa của cảnh tượng kì lạ đó. - Mục tiêu của câu hỏi này là giúp HS nhận biết, phân tích được vai trò của bối cảnh trong truyện kể. GV cho HS đọc thành tiếng đoạn văn miêu tả cảnh cho chữ. Có thể thiết kế phiếu học tập và tổ chức hoạt động nhóm.
HS cần thực hiện được các yêu cầu sau: + Chỉ ra một số yếu tố khiến cảnh cho chữ trở thành "cảnh tượng xưa nay chưa từng có": GV có thể gợi ý cho HS bằng hình thức câu hỏi: Trong sinh hoạt văn hoá thời trung đại, nghệ thuật thư pháp thường gắn liền với những không gian, thời gian nào? Huấn Cao cho chữ quản ngục khi nào và ở đâu? Mối quan hệ giữa người cho chữ và người xin chữ có gì đặc biệt? Cách ứng xử của họ bình thường hay kì lạ? + Phân tích được ý nghĩa của cảnh cho chữ: Cảnh cho chữ diễn ra trong căn buồng giam của tử tù (tường đầy mạng nhện, tổ rệp, nền đất bừa bãi phân chuột, phân gián); vào đêm
trước ngày Huấn Cao phải lên đường vào kinh chịu án chém. Ngay trong khoảnh khắc cho chữ, Huấn Cao vẫn phải mang thân phận tử tù: "cổ đeo gông, chân vướng xiềng". Mối quan hệ, cách ứng xử của người xin chữ và cho chữ cũng thật lạ lùng. Nhưng điều kì lạ, hiếm hoi nhất chính là sự lên ngôi của cái đẹp, cái thiện ngay giữa "vương quốc"của cái xấu, cái ác,... - GV dành thời gian cho HS trình bày cảm nhận về một số chi tiết tiêu biểu: chi tiết miêu tả Huấn Cao ("cổ đeo gông, chân vướng xiềng" mà vẫn vung bút, dậm tô những nét chữ vuông vắn, tươi tắn "nói lên những cái hoài bão tung hoành của một đời con người"; ân cần đỡ viên quản ngục đứng dậy, tặng cho người yêu chữ những lời khuyên nhủ chí tình, sâu sắc); và các chi tiết miêu tả quản ngục (khúm núm, nghẹn ngào vái lạy tử tù ngay trong nhà ngục);...
Câu hỏi 6: Theo bạn, tác giả đã gửi gắm những thông điệp gì qua câu chuyện xin chữ và
cho chữ?
Đây là câu hỏi giúp HS phân tích, đánh giá được tư tưởng, chủ đề của tác phẩm. Để trả lời câu hỏi này, HS cần vận dụng tri thức nền và sử dụng kết quả hoạt động ở các câu hỏi trước (3, 4, 5). GV có thể yêu cầu HS nhắc lại nội dung cơ bản của thuật ngữ chủ đề (vấn đề quan trọng, thiết yếu của đời sống được nhà văn nêu lên, đặt ra trong tác phẩm,...); chỉ ra các yếu tố có khả năng thể hiện chủ đề (tình huống, câu chuyện, nhân vật,...). - Khi khái quát những thông điệp của Chữ người tử tù, HS cần nêu được các ý cơ bản sau: Khẳng định sức mạnh kì diệu của nghệ thuật, của thiên lương; thể hiện quan niệm của Nguyễn Tuân về cái đẹp, về phẩm cách của người nghệ sĩ,... Ví dụ: + Người sáng tạo và cả người thưởng thức cái đẹp không chỉ cần tài hoa mà cần có thiên lương và khí phách. + Cái đẹp không bao giờ song hành với thói vụ lợi, sự hèn nhát, không chấp nhận môi trường xấu xa, hỗn độn,... + Cái đẹp chân chính có sức mạnh gìn giữ thiên lương, thanh lọc tâm hồn, cải hoá con người, chiến thắng cái xấu, cái ác,... và có sức sống bất diệt.
Thực hành tiếng Việt
Thực hành tiếng Việt
Trang 52
Trang 53
VIẾT Viết văn bản nghị luận phân tích, đánh những một nét đặc sắc tác về phẩm hình thức nghệ truyện thuật) 1. Phân tích yêu cầu cần đạt HS nhận biết được đặc đi
VIẾT
Viết văn bản nghị luận phân tích,
đánh những một nét đặc sắc tác về phẩm hình thức nghệ truyện thuật)
1. Phân tích yêu cầu cần đạt
HS nhận biết được đặc điểm của văn bản nghị luận phân tích, đánh giá một tác phẩm truyện và viết được bài văn thuộc kiểu văn bản này.
HS nhận biết và thực hiện được các yêu cầu đối với kiểu bài như đã nêu trong SGK.
2. Những lưu ý về yêu cầu đối với kiểu bài
Văn bản nghị luận mà HS viết ở đây có yêu cầu là phân tích, đánh giá một tác phẩm
truyện. Ngoài việc tuân theo các quy chuẩn của loại văn bản nghị luận, HS phải chú ý đến các yêu cầu đối với kiểu bài được trình bày ở SGK Ngữ văn 10, tập một (tr. 29), đồng thời liên hệ với các kiến thức về thể loại truyện trong phần Tri thức ngữ văn của bài học và với các văn bản truyện đã học ở phần Đọc của bài học. Trong bài viết, HS cần xác định được chủ đề của tác phẩm truyện, phân tích và đánh giá được các đặc điểm nội dung và nghệ thuật mà mình lựa chọn trình bày, đồng thời thể hiện được sự tôn trọng quyền sở hữu trí tuệ. - GV nên gợi ý để HS chọn lựa tác phẩm phù hợp: đúng thể loại, hợp với lứa tuổi, vừa sức với HS, không nên chọn tác phẩm đã từng được học.
3. Gợi ý tổ chức hoạt động dạy học
Hoạt động 1 Tìm hiểu yêu cầu của kiểu bài
GV có thể đặt câu hỏi để HS trả lời, từ đó nhớ lại các kiến thức về kiểu bài nghị luận đã từng học ở SGK Ngữ văn cấp THCS. - GV gợi dẫn bằng các câu hỏi để HS thảo luận như: Đã bao giờ sau khi đọc xong một truyện, bạn muốn chia sẻ những suy nghĩ, cảm nhận của mình về truyện đó với những người khác? Nếu đặt mình ở vị trí người đọc, bạn mong chờ những ý tưởng, thông tin gì ở một bài viết phân tích, đánh giá một tác phẩm truyện?
Hoạt động 2 Đọc và phân tích bài viết tham khảo
Cho HS đọc bài viết tham khảo: Giá trị hay là sự vô giá của quà tặng trong truyện ngắn "Quà Giáng sinh" của O. Hen-ry. - GV yêu cầu HS vừa đọc vừa lưu ý đến các box chỉ dẫn bên phải văn bản. Cụ thể: GV có thể yêu cầu HS vừa đọc văn bản, vừa đối chiếu với nội dung trong các thẻ chỉ dẫn, ghi chép vắn tắt những thông tin cần thiết. Như vậy, sau khi đọc xong bài viết tham khảo, HS đã có thể nhận biết được các nội dung cơ bản và trình tự sắp xếp trong bài nghị luận phân tích, đánh giá một tác phẩm truyện. Nói cách khác, các em có thể hình dung được văn bản nghị luận phân tích, đánh giá một tác phẩm truyện cần có những nội dung gì và các nội dung đó có thể được triển khai theo trình tự nào.
NÓI VÀ NGHE Giới thiệu, đánh giá về nội dung và nghệ thuật của một tác phẩm truyện 1. Phân tích yêu cầu cần đạt HS biết giới thiệu, đánh giá (dưới hình thức thu
NÓI VÀ NGHE
Giới thiệu, đánh giá về nội dung và nghệ thuật của một tác phẩm truyện
1. Phân tích yêu cầu cần đạt
HS biết giới thiệu, đánh giá (dưới hình thức thuyết trình) về nội dung và nghệ thuật của một tác phẩm truyện (theo lựa chọn cá nhân). HS biết lắng nghe và trao đổi trên tinh thần cởi mở, xây dựng. - HS nhận biết và thực hiện được các yêu cầu đã nêu trong SGK. Trong đó, yêu cầu thứ nhất đề cập đến nội dung của bài nói, yêu cầu thứ hai đề cập đến hình thức của bài nói.
Củng cố, mở rộng GV cần dành thời gian hướng dẫn HS thực hiện các yêu cầu ở phần này để củng cố kiến thức, kĩ năng được hình thành, phát triển trong bài học. Vi
Củng cố, mở rộng
GV cần dành thời gian hướng dẫn HS thực hiện các yêu cầu ở phần này để củng cố kiến thức, kĩ năng được hình thành, phát triển trong bài học. Việc kiểm tra kết quả cũng sẽ có tác dụng thúc đẩy, khuyến khích HS tự học.
1. Ba truyện kể Thần Trụ Trời, Thần Sét, Thần Gió giúp bạn hiểu được gì về đặc điểm nội dung và nghệ thuật của truyện thần thoại Việt Nam? – Câu hỏi này giúp HS
1. Ba truyện kể Thần Trụ Trời, Thần Sét, Thần Gió giúp bạn hiểu được gì về đặc điểm nội dung và nghệ thuật của truyện thần thoại Việt Nam?
– Câu hỏi này giúp HS củng cố kiến thức cơ bản về thể loại truyện thần thoại được thể hiện trong các văn bản đọc.
– GV yêu cầu HS đọc lại mục Thần thoại trong phần Tri thức ngữ văn và sử dụng kết quả của các hoạt động đọc văn bản 1, 2, 3 để trả lời.
2. Vẽ sơ đồ hoặc lập bảng tổng hợp về các văn bản đã học theo gợi ý sau:
Tác phẩm, Ngôi kể, Nhân vật chính, Sự kiện chính
Thần Trụ Trời
Chuyện chức Phán sự đền Tản Viên
Chữ người tử tù
Lưu ý: Có thể trình bày các nội dung được yêu cầu ở trên theo hình thức sơ đồ nếu bạn thấy hiệu quả hơn.
– Mục tiêu của câu hỏi này là tổng hợp các yếu tố cơ bản của chùm truyện về các vị thần sáng tạo thế giới.
– HS xem lại kiến thức của phần Đọc văn bản 1, 4, 5 để điền thông tin vào bảng.
3. Tìm đọc một số truyện thần thoại Việt Nam và thế giới. Chọn một tác phẩm mà bạn yêu thích và chỉ ra các yếu tố đặc trưng của truyện thần thoại: cốt truyện, thời gian, không gian, nhân vật, lời kể,...
– GV có thể giới thiệu cho HS một số truyện thần thoại của các dân tộc khác ở Việt Nam (Thái, Mường, Tày, Nùng, Chăm, Ê-đê, Mnông,...); hoặc trên thế giới (Hy Lạp, Ấn Độ, Trung Quốc,...).
– HS tự chọn một truyện thần thoại để chỉ ra những nét đặc trưng. Ví dụ: thời gian phiếm chỉ, không gian vũ trụ, nhân vật với hình vóc dị thường, sức mạnh siêu nhiên, tính cách đơn nhất. HS có thể chia sẻ kết quả trong phần Thực hành đọc.
4. Viết đoạn văn (khoảng 150 chữ) phân tích một chi tiết tiêu biểu trong tác phẩm Chuyện chức Phán sự đền Tản Viên (Nguyễn Dữ) hoặc Chữ người tử tù (Nguyễn Tuân).
Đây là câu hỏi giúp HS nhận biết vai trò của chi tiết trong truyện kể. HS dựa vào kết quả của hoạt động đọc văn bản để lựa chọn chi tiết. Khi phân tích, cần chú ý giá trị của chi tiết (với cốt truyện, tính cách nhân vật, chủ đề của tác phẩm,...).
Phần Thực hành đọc, HS tự thực hiện ở nhà theo hướng dẫn trong SGK.
Trang 58
Trang 59
Trang 60
Trang 61
Trang 62
ĐỌC Văn bản 1, 2, 3 Văn bản 1, 2, 3 Chùm thơ hai-cư (haiku) Nhật Bản 1. Phân tích yêu cầu cần đạt HS nhận diện được hình thức thơ hai-cư. - HS nhận diện và đánh
ĐỌC
Văn bản 1, 2, 3
Văn bản 1, 2, 3
Chùm thơ hai-cư (haiku) Nhật Bản
1. Phân tích yêu cầu cần đạt
HS nhận diện được hình thức thơ hai-cư. - HS nhận diện và đánh giá được sức hấp dẫn của thơ hai-cư nói riêng, của thơ ca nói chung trên hai phương diện: sức gợi của hình ảnh và của hình thức ngôn từ cô đọng, hàm súc. - HS hình thành được thái độ trân trọng, nâng niu, rung động trước vẻ đẹp của thiên nhiên, sự sống.
2. Gợi ý tổ chức hoạt động dạy học
Hoạt động 1 Khởi động
Mục tiêu của chùm văn bản thơ hai-cư bao gồm: HS nhận diện và cảm thụ được giá trị thẩm mĩ của thơ hai-cư Nhật Bản - một hình thức thơ ca cô đọng bậc nhất trên thế giới, từ đó, cảm nhận được yếu tố quan trọng làm nên vẻ đẹp của thơ ca là sự hàm súc, đa nghĩa và giàu sức gợi của hình ảnh và ngôn ngữ thơ. - Câu hỏi khởi động trong SGK là một gợi ý để GV và HS, một mặt, nhớ lại những bài thơ đã học, đã biết (đây là bài mở đầu về thơ ca trong SGK Ngữ văn cấp THPT bộ sách Kết nối tri thức với cuộc sống), mặt khác, hướng tới mục tiêu cần đạt của chùm văn bản này. HS có thể
nhắc đến những bài thơ tứ tuyệt, những câu ca dao hoặc những bài thơ ngắn khác mà các em đã học, đã biết. GV cân đối thời gian cần thiết cho hoạt động khởi động
nhắc đến những bài thơ tứ tuyệt, những câu ca dao hoặc những bài thơ ngắn khác mà các em đã học, đã biết. GV cân đối thời gian cần thiết cho hoạt động khởi động này.
Hoạt động 2 Đọc văn bản
Vì các bài thơ trong chùm thơ hai-cư tương đối ngắn về dung lượng nên GV có thể mời HS đọc bài thơ và kiểm tra các câu hỏi trong khi đọc (vốn có thể là nội dung bài chuẩn bị ở nhà của các em).
Hoạt động 3 Khám phá văn bản
GV cho HS đọc phần giới thiệu cô đọng về thơ hai-cư và về ba tác giả của chùm bài hai-cư được học; nhắc các em chú ý những thông tin cốt lõi, làm chỗ dựa để cảm nhận tốt hơn về cả chùm thơ và về từng bài thơ. Có thể ghi lên góc bảng một số từ khoá như: phát hiện mang tính chất "bừng ngộ"; sự tương thông đầy bí ẩn; gợi hơn là miêu tả;... (những từ khoá này có tác dụng định hướng phân tích, sẽ được HS chú ý khi đi vào khám phá từng bài thơ
cụ thể).
Tiến trình khám phá văn bản: tìm hiểu chung về cả chùm thơ, sau đó lần lượt phân tích từng bài thơ, cuối cùng là nêu những nhận định khái quát về đặc điểm và cái hay của thơ hai-cư nói chung (khẳng định lại những điều đã khái quát trong SGK trên cơ sở các tác phẩm cụ thể).
GV cần hướng HS tới những hiểu biết cốt lõi về từng bài thơ theo nội dung gợi ý dưới đây:
Bài 1
Hình ảnh trung tâm trong bài thơ của Ba-sô là con quạ. Bài thơ thâu tóm một khoảng lặng của thế giới: một cánh quạ lặng lẽ trên một cành cây trụi lá trong khi chiều thu dần dần buông. Chỉ bằng vài ba nét chấm phá, bài thơ gợi ra một khung cảnh đơn sơ, tĩnh lặng, mọi thứ như đang trầm lắng lại. Ba-sô không diễn giải gì, dường như ông còn không áp đặt lên cảnh vật cảm xúc hay suy nghĩ của ông: ông chỉ làm hiện lên sự tương phản giữa "thân hình đen muội nhỏ bé của con quạ" với "bóng tối bao la vô định của buổi chiều hôm" (Hen-đơ-xần - Henderson, Hài cú nhập môn). Trạng thái của con quạ cũng là trạng thái tự tại, không đuổi bắt cái gì cả, không vọng động bởi bất cứ cái gì bên ngoài. Bằng sự im lặng ấy, con quạ như đang chiêm ngắm sự u huyền (yugen) của vũ trụ. Bài thơ hai-cư của Ba-sô gợi sự tỉnh thức về ý nghĩa của những khoảng lặng trong đời sống. Những khoảng lặng là cần thiết để ta nhận ra chiều sâu, sự bí ẩn của thế giới ta đang sống.
Bài 2
Hình ảnh trung tâm trong bài thơ của Chi-y-ô (Chiyo) là dây hoa triêu nhan vương vào sợi dây gàu. Nếu hoa triêu nhan trong tư duy thẩm mĩ của người Nhật Bản là biểu tượng cho cái đẹp của thiên nhiên ban sơ, thuần khiết, mong manh thì sợi dây gàu lại chỉ là một sự vật đời thường xù xì, thô ráp, vốn chỉ mang chức năng thực dụng: (để người ta) múc nước. Nhưng trong khoảnh khắc của buổi ban mai, con người nhận ra hoa với sợi dây gàu quấn quýt với nhau trong tương quan bạn bè. Sự quấn quýt này khiến dây gàu trở thành điểm tựa cho hoa và sự góp mặt của hoa đã làm mờ đi sự xù xì, thô ráp của sợi dây. Mọi sự vật, hiện tượng trong thế giới không chia cắt với nhau như cách chúng ta vẫn hằng nghĩ.
Con người khi phát hiện tương quan đẹp đẽ đó giữa các sự vật thì cũng có cách ứng xử rất nhân văn: để hoa tiếp tục vướng vít bên sợi dây gàu, mình sang xin nước
Con người khi phát hiện tương quan đẹp đẽ đó giữa các sự vật thì cũng có cách ứng xử rất nhân văn: để hoa tiếp tục vướng vít bên sợi dây gàu, mình sang xin nước nhà bên. Đó cũng là cách để người với người kết nối, làm bạn với nhau. Bài thơ gợi ra một cách ứng xử đầy nâng niu, trân trọng đối với tạo vật trong đời sống.
Bài 3
Bài thơ của Ít-sa (Issa) xoay quanh hình tượng của một con ốc nhỏ bé. Có thể nhìn thấy nhiều sự tương phản trong bài thơ rất đỗi đơn sơ này: con ốc thì nhỏ, ngọn núi thì lớn; con ốc thì chậm rì, hành trình nó theo đuổi thì dài; con ốc thì chỉ là một sinh vật nhỏ bé, bình thường, ngọn núi lại là một biểu tượng kì vĩ. Nhưng cái chậm rì của con ốc trong bài thơ của Ít-sa chính là sự phản ảnh cảm thức thanh thoát (karumi): con ốc ung dung, tự tại trong hành trình của mình. Hành trình nó theo đuổi có thể không đạt đến được nhưng bản thân việc theo đuổi hành trình ấy làm nó có sự tự do trong tinh thần. Cái tự do tinh thần ấy cũng là thứ quý giá nhất mà đời người cần phải hướng tới.
Lưu ý về việc sử dụng các câu hỏi trong SGK khi tổ chức giờ học:
SGK chỉ nêu một số câu hỏi chính, GV cần cụ thể hoá các câu hỏi này thành những câu hỏi nhỏ, giúp HS dễ trả lời, qua đó, tiếp nhận được nét đặc sắc của thơ hai-cư nói chung và từng bài thơ hai-cư nói riêng một cách thuận lợi. - Có thể nêu câu hỏi lần lượt theo đúng trình tự đã có nhằm làm nổi bật tính chất chỉnh thể của chùm thơ dựa trên logic: đi từ việc quan sát hình ảnh tới việc nêu cảm nhận về "tinh thần" toát ra từ hình ảnh. - Có thể xáo trộn trật tự của câu hỏi, ghép liền câu 2 với câu 5, câu 3 với câu 6, câu 4 với câu 7 để phân tích trọn vẹn từng đơn vị bài thơ 1 .
Câu hỏi 1: Hãy nhận diện hình ảnh trung tâm ở từng bài thơ hai-cư và cho biết đặc điểm
chung của các hình ảnh ấy. - Theo yêu cầu, HS phải hình thành được ý niệm khái quát về hình ảnh trong thơ hai-cư và nắm được thao tác cần vận dụng khi phân tích một bài thơ hai-cư cụ thể trong lần tiếp xúc đầu tiên - thao tác so sánh. Chính so sánh sẽ giúp cho hoạt động phân tích thoát khỏi tình trạng bình tán, suy diễn lan man, vì những hiểu biết khái quát về cấu trúc hình ảnh trong thơ hai-cư nói chung sẽ chi phối cách triển khai các ý phân tích với từng bài một. - Theo những gợi ý ở phần trên, GV hướng HS chú ý tới các hình ảnh: con quạ, dây hoa triêu nhan quấn quanh sợi dây gàu, con ốc nhỏ. Đó là các hình ảnh làm đầu mối của mọi liên hệ trong từng bài thơ. Đặc điểm chung của chúng: luôn hiện diện với vẻ thuần khiết, như tự mình xuất hiện, không cần bất cứ một sự vẽ vời, thêm thắt nào khác của nhà thơ. Theo đó, người đọc bước vào bài thơ như bước vào một cảnh trí do thiên nhiên tự sắp đặt, tự bày ra để mời gọi sự chiêm ngắm.
Câu hỏi 2: Xác định mối quan hệ giữa hình ảnh trung tâm trong bài thơ của Ba-sô với các
yếu tố thời gian và không gian. - Việc trả lời câu hỏi này sẽ giúp HS thấy được cấu trúc tinh vi của bài thơ nhằm đảm bảo yêu cầu: gợi lên được không khí tĩnh lặng sâu thẳm mang tính chiêm nghiệm bằng một lượng ngôn từ hết sức hạn chế (theo quy định của thể thơ). Một số câu hỏi phụ có thể nêu:
Giữa "cánh quạ" và "cành khô"có mối quan hệ như thế nào? Sự phối hợp hai hình ảnh này có thể gợi lên ấn tượng gì về không gian, thời gian? Nếu đảo câu cuối của
Giữa "cánh quạ" và "cành khô"có mối quan hệ như thế nào? Sự phối hợp hai hình ảnh này có thể gợi lên ấn tượng gì về không gian, thời gian? Nếu đảo câu cuối của bài thơ lên đầu, tương quan giữa các đối tượng được nói đến có thay đổi không? Vì sao?
GV gợi mở: + Cánh quạ đáp xuống cành khô làm nổi bật sự mênh mông và tĩnh lặng của không gian, nối không gian thực (sự hiện diện đơn độc, sắc nét của hai đối tượng nhỏ bé) với không gian u huyền của vũ trụ mà nhà thơ muốn đắm mình vào. + Cành khô vốn đã gợi lên ấn tượng về một mùa tiêu sơ, tàn úa, khi có thêm cánh quạ, vẻ tiêu sơ, tàn úa càng được tô đậm, khiến người quan sát lập tức nhận ra đó là hình ảnh điển hình của mùa thu, chiều thu. Có thể nói, chính cánh quạ đã đem mùa thu, chiều thu đến cho bức tranh thơ. Nếu đảo ngược câu thơ cuối lên trên, bài thơ dường như chỉ mang tính chất minh hoạ cho một ý niệm đã biết trước, không thể phản ánh được sự"chợt thức" của tâm trí trước sự vật, như điều mà chính nhà thơ muốn gợi ra.
Câu hỏi 3: Bài thơ của Chi-y-ô được triển khai xoay quanh phát hiện nào? Theo bạn, vì
sao phát hiện này lại dẫn dắt nhân vật trữ tình sang "xin nước nhà bên"? - Câu hỏi này xoáy sâu vào tính chất "phát hiện" của hình ảnh trong thơ hai-cư - điều đã được người đọc nhận ra khi đọc bài thơ 1. - Với ý đầu tiên của câu hỏi, GV cần gợi cho HS tự trả lời. Với ý sau, GV cần bổ sung, phân tích thêm (theo những gì đã trình bày ở phần trên), bởi có khả năng HS chỉ dừng lại với nhận xét: Nhân vật trữ tình sang "xin nước nhà bên" vì yêu và trân trọng cái đẹp (dây hoa), không nỡ huỷ hoại hình ảnh đẹp bằng một động tác "phàm tục", sỗ sàng như gỡ hoặc bứt dây hoa khỏi dây gàu.
Câu hỏi 4: Từ những đặc điểm thường được liên hệ khi hình dung về "con ốc" và "núi
Phu-gi", hãy nhận xét về tương quan giữa hai hình ảnh này. - Với câu hỏi này, HS sẽ có dịp nhận ra sự liên kết giàu tính gợi mở của các hình ảnh trong một bài thơ hai-cư. Tuy nhiên, việc gọi tên được các tương quan sẽ là một thử thách không nhỏ. - GV khơi gợi, giúp HS phát hiện ra các tương quan: nhỏ và lớn, bình thường và cao cả, chậm và xa. Ngoài việc gợi lên sự tương phản, nhà thơ còn muốn nhấn mạnh sự đồng nhất giữa con ốc và núi Phu-gi: ai có việc nấy, tất cả đều theo đuổi"hành trình" riêng của mình, ốc bò cứ bò, núi Phu-gi lớn cứ lớn, mãi mãi.
Câu hỏi 5: Khoảnh khắc được thể hiện trong bài thơ của Ba-sô có thể khơi gợi những
cảm xúc gì ở người đọc? - Câu hỏi yêu cầu HS nêu được ý nghĩa của bài thơ đối với bản thân, từ đó nhận ra tác dụng của việc đọc - đọc là tự mở ra cơ hội để suy ngẫm và trưởng thành, trên cơ sở những điều được gợi ý từ tác phẩm. - GV không nên áp đặt câu trả lời mà cho HS được tự nói ra tác động của bài thơ đến tình cảm, nhận thức của các em. Tuy nhiên, GV cũng cần nhắc nhở HS không nên nói theo công thức.
Văn bản 4 Thu hứng (Cảm thu) Đỗ Phủ 1. Phân tích yêu cầu cần đạt HS nhận diện, phân tích, đánh giá được giá trị thẩm mĩ của một số yếu tố trong thơ Đường luật v
Văn bản 4
Thu hứng
(Cảm thu)
Đỗ Phủ
1. Phân tích yêu cầu cần đạt
HS nhận diện, phân tích, đánh giá được giá trị thẩm mĩ của một số yếu tố trong thơ Đường luật viết bằng chữ Hán như từ ngữ, hình ảnh, vần, đối, nhân vật trữ tình,... trong thơ cổ.
HS thấy được một số điểm gần gũi về nội dung giữa những tác phẩm thơ thuộc các nền văn hoá khác nhau, trong cùng thời kì trung đại, qua tìm hiểu tác phẩm Thu hứ
HS thấy được một số điểm gần gũi về nội dung giữa những tác phẩm thơ thuộc các nền văn hoá khác nhau, trong cùng thời kì trung đại, qua tìm hiểu tác phẩm Thu hứng (đại diện cho thơ Đường, Trung Quốc), chùm thơ hai-cư (Nhật Bản) và một số bài thơ trung đại Việt Nam (đã học). - HS viết được một văn bản nghị luận phân tích, đánh giá về một số phương diện chính của một bài thơ cổ phương Đông như chủ đề, những nét đặc sắc về hình thức nghệ thuật và tác dụng của chúng. - HS thấy được sức sống, sự tác động và khả năng khơi gợi sự rung động thẩm mĩ, giúp nuôi dưỡng đời sống tâm hồn của thơ Đường luật (luật thi).
2. Gợi ý tổ chức hoạt động dạy học
Hoạt động 1 Khởi động
GV có thể dựa vào những câu hỏi trước khi đọc văn bản trong SGK để khởi động giờ học.
Tìm một số hình thức phù hợp để thông qua đó giúp HS phát biểu ấn tượng, hiểu biết,... về thơ Đường luật, tạo tâm thế tiếp nhận văn bản tác phẩm Thu hứng. - GV có thể cho HS giới thiệu những sản phẩm tự sưu tầm (tranh ảnh, tác phẩm,...) về Đỗ Phủ, về đề tài mùa thu trong thơ ca và hội hoạ, đặc biệt là thơ ca và hội hoạ phương Đông. - Thơ văn cổ nói chung và thơ Đường luật viết bằng chữ Hán nói riêng có nhiều giá trị đặc sắc; có đặc điểm cô đọng, súc tích, "ý tại ngôn ngoại". Nhưng cũng chính vì thế mà nhiều người cho rằng thơ Đường luật công thức, khô khan, khó hiểu, khó tiếp nhận với con người thời hiện đại. Thông qua giờ học về Thu hứng, điều quan trọng là GV cần làm sống dậy các giá trị, cảm xúc nhân văn mà tác phẩm gợi ra, để kết nối với những cảnh huống, tâm sự, suy tư của HS về con người, về cuộc đời,... Sự cách biệt về thời đại không ngăn cách sự đồng điệu về tâm hồn.
Hoạt động 2 Đọc văn bản
GV chỉ định HS đọc văn bản (bản dịch thơ, đọc thành tiếng trước lớp), nhắc các em chú ý bản dịch thơ cũng theo hình thức thơ luật, chú ý những cước chú và nội dung box chỉ dẫn bên phải văn bản đọc. Có nhiều khả năng một số từ ngữ sẽ bị đọc sai, vì vậy, GV cần giải thích cho HS hiểu rõ nghĩa các từ ngữ ấy.
Hoạt động 3 Khám phá văn bản
GV tự đọc hoặc cho một HS đọc phần giới thiệu về thơ Đường luật trong SGK, ghi nhớ những điểm chính về các thể thơ. Sau đó, GV có thể sơ đồ hoá những kiến thức về các thể thơ Đường luật (sơ đồ có thể được chuẩn bị trước). - Cho HS đọc phần giới thiệu chung về tác giả và bài Thu hứng trong SGK. GV cần nhấn mạnh và diễn giải sâu hơn về những điểm đặc biệt trong cuộc đời - sự nghiệp Đỗ Phủ và hoàn cảnh sáng tác chùm thơ thu gồm tám bài có nhan đề chung là Thu hứng.
Hướng dẫn HS tìm hiểu bố cục của văn bản: + Việc xác định mô hình kết cấu của bài thơ Đường luật bát cú tuỳ thuộc vào nhiều tiêu chí. Các tiêu chí về nội dung -
Hướng dẫn HS tìm hiểu bố cục của văn bản: + Việc xác định mô hình kết cấu của bài thơ Đường luật bát cú tuỳ thuộc vào nhiều tiêu chí. Các tiêu chí về nội dung - chủ đề, cảm hứng - thi tứ thường là căn cứ quan trọng. Bên cạnh đó, trình tự mối quan hệ và logic nghĩa giữa các cặp câu thơ (liên thơ) cũng là tiêu chí cần xét.
Xét về nội dung và cảm hứng, dễ nhận thấy bài Thu hứng có mô hình kết cấu 4/4. Trong đó, bốn câu đầu thiên về tả cảnh, bức tranh mùa thu thiên nhiên; bốn câu sau thiên về thể hiện tâm trạng, cảm xúc của tác giả.
Theo một cách khác, có thể chấp nhận mô hình cấu trúc đề - thực - luận - kết. Hai câu đề: giới thiệu chung về khung cảnh mùa thu với tầm nhìn bao quát, từ xa, trên cao, theo chiều rộng; hai câu thực: cảnh tượng mùa thu dữ dội thông qua việc đặc tả sóng nước, gió mây theo trục trên - dưới; hai câu luận: tâm trạng tha hương, nhớ nhà trong mùa thu buồn; hai câu kết: bức tranh về đời sống và chiều sâu tâm hồn nhà thơ. Sự "vận động" của ý thơ đi từ vũ trụ đến nhân gian, từ khái quát đến cụ thể, từ ngoại cảnh đến nội tâm,...
Hoạt động phân tích văn bản trong giờ học có thể đi theo từng phần của bố cục. Nhưng cũng có thể phân chia theo mạch nội dung: bốn câu đầu: khung cảnh mùa thu thiên nhiên; bốn câu sau: xúc cảm mùa thu cuộc đời.
Thu hứng là một văn bản không dễ đọc, nhưng có thể tổ chức dạy học kĩ trong hai tiết. Tuy nhiên, muốn đi sâu khám phá tác phẩm một cách trọn vẹn, GV cần hướng dẫn HS tự đọc, tự chuẩn bị bài trước với những yêu cầu thích hợp.
GV cần dựa vào nội dung bài thơ và đề xuất của HS để quyết định lựa chọn cách phân chia kết cấu tác phẩm theo mô hình 2/2/2/2 hay 4/4, đồng thời theo đó để nêu các câu hỏi và yêu cầu phù hợp (đã được gợi ý trong SGK). Dựa vào hệ thống câu hỏi gợi ý, GV có thể căn cứ vào trình độ HS để bổ sung, điều chỉnh câu hỏi sao cho phù hợp, nhất là cần chú ý các loại câu hỏi đáp ứng yêu cầu nhận thức và năng lực khác nhau. Dưới đây là phần gợi ý trả lời câu hỏi và thực hiện yêu cầu theo SGK:
Câu hỏi 1: Mô tả một số đặc điểm cơ bản của thơ Đường luật (bố cục, cách gieo vần,
luật bằng - trắc, phép đối) được thể hiện trong bài thơ Thu hứng.
Câu hỏi này tuy chỉ yêu cầu HS căn cứ vào đặc điểm cách luật của thơ Đường luật, thể thất ngôn bát cú để tìm/ mô tả những biểu hiện cụ thể đó trong bài thơ Thu hứng, nhưng trên thực tế đã ngầm nhắc HS về một nguyên tắc khám phá văn bản rất quan trọng, đó là phải luôn bám sát đặc điểm thể loại. Điều này không chỉ dành riêng với thơ Đường luật, mà với bất kì thể loại văn học nào cũng vậy. Trong trường hợp này, thơ Đường luật đã có công thức, nên chỉ cần dùng công thức đó để soi chiếu vào thực tế văn bản.
Ở đây, cần lưu ý thêm: nhiều trường hợp vi phạm công thức như phạm luật/ thất luật, thất niêm, thất đối, thất vận,... không hề mang tính tiêu cực, một khi nó đã được nhà thơ thể hiện một cách đầy ý thức nhằm bộc lộ một cảm xúc, một tư tưởng nào đó mang tính phá cách. Rõ ràng, nội dung cảm xúc, tư tưởng khác thường đã làm xô lệch cấu trúc cố định của thể thơ. Trên thực tế, nhiều câu thơ/ bài thơ thất luật, thất niêm,... vẫn được đánh giá là thơ hay, với những lời khen như: "lệ cú"(câu hay), "mĩ cú"- "giai cú"(câu đẹp), "thần cú"(câu thơ có thần),... Thơ hay là ở xúc cảm chân thực, ý nghĩa sâu xa, tứ thơ độc đáo mới lạ,... chứ chưa hẳn ở chỗ
gò câu ép chữ, cố viết cho đúng công thức. Dẫu thế nào, xét về nguyên tắc, chúng ta vẫn cần phải nắm vững công thức để chỉ ra được biểu hiện của nó trong từng v
gò câu ép chữ, cố viết cho đúng công thức. Dẫu thế nào, xét về nguyên tắc, chúng ta vẫn cần phải nắm vững công thức để chỉ ra được biểu hiện của nó trong từng văn bản, thì mới có thể chủ động khám phá văn bản tác phẩm. - Về thơ Đường luật, SGK đã giới thiệu khái quát. Ở đây, xin trình bày kĩ hơn một số điểm để thuận tiện trong việc tra cứu và áp dụng vào việc tìm hiểu bài Thu hứng nói riêng và các bài thơ Đường luật thể thất ngôn bát cú nói chung. Thơ Đường luật ra đời và phát triển đến cực thịnh vào triều đại nhà Đường (Trung Quốc), còn gọi là thơ cận thể, kim thể. Vì thể thơ này có quy định chặt chẽ về niêm, luật, vần, đối và kết cấu nên cũng được gọi là thơ luật (luật thi). Thơ luật có hai dạng thức là thơ bảy chữ (thất ngôn luật) và năm chữ (ngũ ngôn luật). Căn cứ số câu trong bài thì mỗi loại trên có ba dạng cơ bản: bát cú (tám câu), tứ tuyệt (bốn câu), trường luật (từ mười câu trở lên, trước đây thường gọi là bài luật). Thất ngôn luật là thể thức quan trọng nhất của thơ Đường luật, các dạng thức khác đều suy ra từ thể thơ này, ví dụ: thơ ngũ ngôn luật chính là "công thức" của thất ngôn luật nhưng bớt đi quy định của hai chữ đầu. Với thơ thất ngôn, dạng thất ngôn bát cú là cốt lõi, có đặc trưng cách
luật chặt chẽ. Công thức của thơ thất ngôn luật (về niêm, luật, vần, đối và kết cấu) cơ bản như sau: (1) Về luật (thanh điệu), căn cứ vào chữ thứ 2 của câu 1 để xác định bài thơ được viết theo luật bằng hay luật trắc, thanh điệu tiếng (âm tiết) thứ 2 phải giống thanh điệu tiếng thứ 6 và khác thanh điệu tiếng thứ 4 (nhị - tứ- lục phân minh) [với thơ ngũ ngôn là nhị - tứ phân minh]; các vị trí khác cũng có công thức nhưng có thể linh hoạt (nhất - tam - ngũ bất luận) [với thơ ngũ ngôn là nhất - tam bất luận]; quan trọng nhất là thanh điệu tiếng thứ 5 và 7 phải khác nhau [với thơ ngũ ngôn là tiếng thứ 3 và 5]; không tuân thủ công thức"nhị - tứ - lục" [với thơ ngũ ngôn là nhị - tứ] gọi là thất luật. (2) Về đối: đối thanh điệu, các chữ 2, 4, 6 phải tuân theo luật bằng trắc [với thơ ngũ ngôn là các chữ 2 - 4]; đối từ: trong hai cặp câu 3 - 4 và 5 - 6 bắt buộc có đối thì từ loại nào phải đối với từ loại ấy; đối ý: ý nghĩa của hai câu đối nhau phải theo thể thức "tương phản" (đối chọi về ý) hoặc "tương thành" (ý giống nhau để bổ sung cho nhau), không tuân thủ gọi là thất đối.
(3) Về niêm: các câu 1 và 8, 2 và 3, 4 và 5, 6 và 7 phải niêm với nhau (công thức bằng - trắc ở các vị trí 2 - 4 - 6 của các cặp câu phải giống nhau), không tuân thủ gọi là thất niêm. (4) Về vần (vận): bài thơ bát cú có năm vần, vần gieo ở chữ cuối của các câu 1 - 2 - 4 - 6 - 8, có hai loại chính vận (chữ có âm giống nhau chỉ khác phụ âm đầu và dấu thanh) và thông vận (chữ có âm tương tự nhau), gieo vần sai hẳn, không hiệp nhau gọi là lạc vận, áp vận. (5) Về kết cấu: có hai mô hình cơ bản là 2/2/2/2 (đề - thực - luận - kết) hoặc 4/4 (tiền giải, hậu giải). Tất cả phương diện trên có thể có ngoại lệ. - Về nội dung của câu hỏi 1, GV dẫn dắt để HS có thể chỉ ra biểu hiện/ mô tả đúng về một số phương diện: + Bố cục: xin xem dẫn giải ở Hoạt động 3 (Hướng dẫn HS tìm hiểu bố cục của văn bản, tr. 69). GV nên kết hợp yêu cầu này với hoạt động trên, bằng cách nêu các tiêu chí để HS suy nghĩ và lựa chọn. Với bài này, thuận nhất là định hướng theo mô hình kết cấu 4/4 (tiền giải/ hậu giải). + Cách gieo vần: năm vần, theo mô hình chính vận, đó là các vần ở cuối câu 1 (lâm), câu 2 (sâm), câu 4 (âm), câu 6 (tâm), câu 8 (châm).
Gợi ý: GV có thể yêu cầu HS nhận diện về cách gieo vần của bản dịch thơ. + Luật bằng - trắc: bài thơ viết theo luật trắc (tiếng thứ hai của câu 1 là thanh trắc,
Gợi ý: GV có thể yêu cầu HS nhận diện về cách gieo vần của bản dịch thơ. + Luật bằng - trắc: bài thơ viết theo luật trắc (tiếng thứ hai của câu 1 là thanh trắc, không phá cách), tuân thủ theo công thức ở cả chiều ngang (từng dòng thơ) và chiều dọc (với các cặp câu thơ đi liền nhau, tức là niêm).
Phép đối (từ loại, cú pháp, ý): chỉ cần xét ở hai liên thơ 3 và 4 - theo công thức là những liên bắt buộc phải đối. Từ loại và cú pháp: đối chỉnh; ý: có biểu hiện đối "tương thành", tức nội dung của cả hai câu bổ sung cho nhau.
Câu hỏi 2: Đối chiếu hai bản dịch thơ với nguyên văn (thông qua bản dịch nghĩa), từ đó,
chỉ ra những chỗ hai bản dịch thơ có thể chưa diễn đạt hết sắc thái và ý nghĩa của nguyên văn.
Câu hỏi này rèn cho HS kĩ năng so sánh đối chiếu hai loại bản dịch thường thấy đối với tác phẩm thơ (bản dịch nghĩa, còn gọi là bản dịch văn bản học, đặt trọng tâm vào việc truyền tải đầy đủ ý tứ của nguyên văn; bản dịch thơ, là bản dịch văn học, đặt yêu cầu cao về sự trau chuốt, trọn vẹn về mặt nghệ thuật (ở khả năng có thể). Vì bám chặt vào nghĩa của nguyên văn, nên
tính văn chương của bản dịch nghĩa không cao; do thực hiện yêu cầu trọn vẹn về hình thức bài thơ, vốn bị ràng buộc về các yêu cầu thể loại (ví dụ: số chữ, vần, nhịp,...) nên bản dịch thơ thường có sự sai khác về ý so với nguyên văn. Bản dịch thơ dẫu được đánh giá là hay đến mấy, cũng có sự khác biệt so với nguyên văn. Qua việc so sánh này, khi tích luỹ thêm được các tri thức về nguyên văn, HS có thể có năng lực so sánh trực tiếp nguyên văn với bản dịch.
Câu hỏi hướng HS chú ý tới những chỗ bản dịch thơ có thể chưa diễn đạt hết sắc thái và ý nghĩa của nguyên văn. GV cần định hướng HS so sánh ý của từng câu thơ và cặp câu thơ, để có thể chỉ ra được sự khác biệt.
Lưu ý: Bản dịch nghĩa có thể thêm các từ ngữ không có trong nguyên văn, thường là các từ chỉ quan hệ, nhằm giải thích rõ ý của nguyên văn, điều này không tạo ra sự khác biệt về nội dung. Trên cơ sở chỉ ra sự khác nhau, HS có những nhận định, bình luận, đánh giá về các khía cạnh có liên quan. Sự đánh giá, bình luận này rất cần thiết cho sự tiếp nhận văn bản. Tuy vậy, cần hướng đến sự khách quan. Thơ văn cổ vốn đa nghĩa, cảm nhận thơ ca lại phụ thuộc rất nhiều vào cảm quan của mỗi người, nên thái độ thận trọng trong nhận định là cần thiết.
SGK giới thiệu hai bản dịch thơ, trong đó, bản dịch của Nguyễn Công Trứ (bản dịch 1) có nhiều câu dịch hay, nhã, xuất thần. Xin chỉ gợi ý một vài điểm khác biệt ở bản dịch này so với bản dịch nghĩa (người biên soạn đã cố gắng theo sát nghĩa của nguyên văn). Một số khía cạnh khác về văn bản và bản dịch, có thể tham khảo thêm tài liệu đã giới thiệu.
Câu 1: Bản dịch thơ thêm tính từ"lác đác" không có trong nguyên văn. "Lác đác" là từ chỉ sự thưa thớt, trong khi nguyên văn nhấn mạnh sự tàn phá dữ dội của sương móc trắng đối với rừng cây phong. Rừng cây phong trong nguyên văn là "đối tượng" chịu tác động, trong câu dịch dễ hiểu thành trạng ngữ của câu: hạt móc sa lác đác ở rừng cây phong.
Câu 2: Bản dịch thơ dịch thoát ý, lược mất địa danh cụ thể (núi Vu, kẽm Vu), vốn gắn với hoàn cảnh luân lạc cụ thể của nhà thơ. Cụm từ"khí thu loà"có sắc thái nhẹ (khí thu nhạt nhoà), còn từ "tiêu sâm" trong nguyên văn diễn đạt sự tiêu điều, hiu hắt, thảm đạm của khí thu, cảnh thu.
Câu 3 - 4: Bản dịch thơ đảo cấu trúc của mỗi câu, không chỉ rõ sự vận động theo hai chiều đối lập (câu 3 - từ thấp lên cao và câu 4 - từ cao xuống thấp), từ giữ
Câu 3 - 4: Bản dịch thơ đảo cấu trúc của mỗi câu, không chỉ rõ sự vận động theo hai chiều đối lập (câu 3 - từ thấp lên cao và câu 4 - từ cao xuống thấp), từ giữa dòng sông sóng tung lên trùm cả bầu trời, từ trên núi cao mây sà xuống làm mặt đất âm u. Ý nguyên văn diễn đạt một vũ trụ chao đảo, dữ dội. Các từ"sóng rợn" và"mây đùn"trong bản dịch thơ chưa diễn tả hết ý này.
Câu 7: Bản dịch thơ dùng từ"lạnh lùng" không diễn đạt rõ ý của từ"hàn y" (áo rét) trong nguyên văn. Nguyên văn lại có từ "xứ xứ", diễn đạt hoạt động gấp gáp cắt may áo rét chuẩn bị cho mùa lạnh diễn ra ở mọi nơi, biểu thị sự đối lập với thân phận cô quạnh của nhà thơ giữa mùa thu nơi đất khách.
Câu hỏi 3: Những hình ảnh và từ ngữ nào được dùng để gợi không khí cảnh thu trong
bốn câu đầu của bài thơ? Khung cảnh mùa thu này có thể gợi cho bạn những ấn tượng gì?
Câu hỏi này trên thực tế là một định hướng của người biên soạn, với đề xuất nên phân chia kết cấu của bài thơ này thành hai phần theo mô hình cấu trúc 4/4, hợp với nội dung -
cảm xúc của tác giả như đã giới thiệu ở các mục trên. Câu hỏi gồm hai nhánh, có sự nối tiếp về tư duy và cảm nhận đối với tác phẩm thơ ca. Việc chú ý vào từ ngữ và hình ảnh quan trọng như những "mã khoá" giúp người đọc có thể nắm bắt được ý nghĩa khái quát của tác phẩm, đồng thời có thể đồng cảm với cảm xúc, suy tư của nhà thơ.
Vì đây là một văn bản thơ cổ viết bằng chữ Hán, HS thường chỉ dừng lại ở việc tìm hiểu tác phẩm thông qua các bản dịch, nên GV cần chú ý "xác nhận" có sự thống nhất - tương ứng giữa từ ngữ, hình ảnh của bản dịch với nguyên văn. Việc này sẽ tránh được thói quen khai thác ý nghĩa của một từ ngữ, hình ảnh nào đó xuất hiện trong bản dịch nhưng vốn không có trong nguyên văn. Mặt khác, nếu không hiểu kĩ nội dung của câu hỏi, HS rất dễ chỉ đi tìm các từ ngữ, hình ảnh có liên quan đến việc miêu tả mùa thu trong thực tế. Câu hỏi xác định rõ những từ ngữ gợi không khí cảnh thu trong cảm nhận của tác giả, vì thế GV cần nhắc HS chú ý đến cả những từ ngữ, hình ảnh biểu lộ cảm xúc riêng của tác giả.
Kết hợp với việc hướng dẫn phân tích nội dung văn bản, dễ thấy bốn câu đầu được tác giả dùng để đặc tả về một cảnh thu điêu tàn, dữ dội. Theo đó, những từ ngữ, hình ảnh quan trọng gợi không khí cảnh thu ấy có thể được xác định như sau:
Từ ngữ: "điêu thương" (tiêu điều, đau thương), "tiêu sâm" (hiu hắt, điêu tàn), "dũng" (sóng tung vọt), "âm" (tối tăm, âm u),...
Hình ảnh:"ngọc lộ" (sương trắng),"phong thụ lâm" (rừng phong - hình ảnh ước lệ tượng trưng cho mùa thu phương Bắc), "ba lãng" (sóng nước), "phong vân" (gió mây, mưa gió),...
GV phân tích, kết hợp với việc gợi mở và định hướng: Những từ ngữ, hình ảnh trên nối tiếp và kết hợp với nhau gợi lên một "khung cảnh mùa thu" đặc biệt, không dừng lại ở việc tả cảnh thu như vẫn thường thấy trong cổ thi (cao rộng, trong sáng; núi biếc, non xanh; mây trắng, nước trong; cúc vàng, phong đỏ; trăng sáng, gió êm;...). Bức tranh mùa thu rộng lớn, được nhìn từ xa, với tầm bao quát từ trên cao; không có từ ngữ biểu thị một màu sắc cụ thể, chỉ có từ ngữ và hình ảnh miêu tả sự lạnh lẽo, dữ dội, tàn tạ, ảm đạm,...
HS trình bày cảm nhận, ấn tượng của mình. GV cần để cho HS tự do phát biểu ấn tượng riêng của mình. Những ấn tượng của mỗi HS có thể rất khác nhau. Nhưng để có thể cảm nhận
sâu sắc và đúng hướng, cần bám sát vào câu chữ của văn bản, tránh sự suy diễn hoặc rời rạc, phiến diện. - Sự kết hợp phân tích, giảng bình, dẫn dắt của GV có th
sâu sắc và đúng hướng, cần bám sát vào câu chữ của văn bản, tránh sự suy diễn hoặc rời rạc, phiến diện. - Sự kết hợp phân tích, giảng bình, dẫn dắt của GV có thể khiến cho HS vượt qua được cách bức về thời đại để đồng cảm với "ấn tượng", cảm xúc riêng của Đỗ Phủ về cảnh thu và suy tư của ông trong một mùa thu đặc biệt của thân phận và thời đại: + Hai câu đầu: Cái nhìn bao quát về khung cảnh mùa thu rộng lớn, rừng phong tàn tạ bởi sương trắng khí lạnh, bao trùm không gian núi non là khí thu tiêu điều. + Hai câu tiếp: Đặc tả khung cảnh mùa thu dữ dội, không gian núi non biên tái, xa vắng và lạnh lẽo. Giữa dòng sông, sóng tung lên lưng trời; Trên núi cao, gió mây quét xuống khiến mặt đất âm u. Cả bốn câu đầu là một bức tranh mùa thu "khác lạ" trong thơ xưa: Không phải là thi tứ "đăng cao vọng viễn" thể hiện hùng tâm tráng chí, không phải là tâm hồn rộng lớn khoáng đạt trước đất trời; không phải là vẻ thanh cao tiêu sái, u nhàn. Mà trái lại, là một cảnh tượng
mùa thu gợi cảm giác thê lương; không gian chao đảo, thời gian ngưng lắng. "Vạn lí bi thu thường tác khách" (Muôn dặm thu buồn, ta thường phải làm khách tha hương - Đăng cao) là cảm xúc thường thấy trong thơ viết về mùa thu của Đỗ Phủ.
Câu hỏi 4: Qua các từ ngữ và hình ảnh ở hai câu thơ 5 - 6, người đọc có thể nhận biết
được điều gì về nhân vật trữ tình? - Đây là câu hỏi yêu cầu HS vận dụng được hai kĩ năng: phân tích từ ngữ, hình ảnh cụ thể để từ đó xác định một cách khái quát về "nhân vật trữ tình" nhà thơ trong ý thơ. Tuy chưa đòi hỏi cao, nhưng có một chút kiến thức lí luận văn học về "nhân vật trữ tình" cần được GV nhắc lại. Việc "nhận diện"nhân vật trữ tình ở đây chỉ đòi hỏi xác định một cách sơ bộ, nhân vật trữ tình là ai, thuộc kiểu nhân vật trữ tình nào (tự thân hay nhập vai? tính cách hay tâm trạng?). Hoặc đơn giản hơn, chỉ cần xác định được nhân vật trữ tình đang ở trạng thái nào của tâm thế và tồn tại. - Trước hết, cần tập trung giải nghĩa từ ngữ và hình ảnh xuất hiện trong hai câu thơ. Cũng cần nói thêm, đây là hai câu thơ thường được khen là "thần cú" (câu thơ có thần), "thiên cổ lệ cú"(câu đẹp nghìn đời), đồng thời cũng là hai câu có nhiều cách lí giải khác nhau.
Tùng cúc (khóm cúc): hoa cúc là hình ảnh ước lệ, tượng trưng cho mùa thu. + Lưỡng khai (hai lần nở/ nở lần thứ hai): thể hiện ý niệm về thời gian. + Tha nhật là cụm từ gây nhiều tranh cãi, có ba cách hiểu chính là: (1) ngày khác - tức không phải hiện tại, có thể là quá khứ, có thể là tương lai, có thể là cả hai; (2) ngày trước - tức quá khứ, năm ngoái; (3) ngày sau - tức tương lai, sang năm; (4) ngày tha hương, ngày xa quê - tức nói về tâm sự quá khứ, gần với cách hiểu (2). + Cô chu (con thuyền lẻ loi): hình ảnh đặc tả, không phải là một con thuyền, mà là con thuyền lẻ loi, đơn độc.
Nhất hệ (thắt chặt mãi): nhất ở đây là "toàn bộ", "tất thảy", không phải chỉ số lượng. + Cố viên tâm (tấm lòng hướng về quê cũ): thể hiện tâm sự nhớ quê hương da diết.
Nhận diện nhân vật trữ tình qua từ ngữ và hình ảnh: Tác giả tự khắc hoạ chân dung của mình một cách cụ thể, tự nhiên, chân thực. Đối diện với mùa thu li biệt (c
Nhận diện nhân vật trữ tình qua từ ngữ và hình ảnh: Tác giả tự khắc hoạ chân dung của mình một cách cụ thể, tự nhiên, chân thực. Đối diện với mùa thu li biệt (cúc nở hoa), với thời gian thực tại đan xen quá khứ (thêm một lần cúc nở). Con người hướng nội (không ngắm hoa thưởng cảnh, mà hướng vào nội tâm: nước mắt, lòng nhớ quê thắt lại). Con người cô độc, lữ thứ tha hương (các từ ngữ biểu thị li biệt, đơn lẻ: "tha", "cô", "nhất"). Tâm trạng nhớ quê day dứt (hoa cúc như lệ tuôn, con thuyền bị cột mãi như lòng nhớ quê thắt lại). Cuộc sống ngưng trệ, bất lực (con thuyền bị cột chặt, hình ảnh động nhưng tình cảnh không đổi thay),...
Câu hỏi 5: Việc mô tả khung cảnh sinh hoạt của con người ở hai câu thơ kết có ý nghĩa
như thế nào trong việc thể hiện cảm xúc của nhân vật trữ tình?
Để trả lời câu hỏi này, cần chú ý mạch cảm xúc và "sự vận động" của hình ảnh thơ trong cấu trúc chung của cả tác phẩm. GV lưu ý HS theo dõi lại nội dung gợi ý trong câu hỏi 3 khi nói về bức tranh khung cảnh mùa thu ở bốn câu thơ đầu, để chuyển tiếp sang bốn câu thơ sau.
Nếu như bốn câu thơ đầu bài thơ là bức tranh thiên nhiên mùa thu u buồn, thì đến
bốn câu thơ sau, ý thơ hướng vào cuộc sống con người, cụ thể là thân phận của chính nhân vật trữ tình Đỗ Phủ. Mạch thơ chuyển vận từ ngoại cảnh vào tâm cảnh; hình ảnh thơ và điểm nhìn thay đổi từ sự khái quát khung cảnh vũ trụ rộng lớn (rừng phong, khí thu, núi non, sông nước, bầu trời - bốn câu đầu) đến cái nhìn cận cảnh cụ thể (khóm cúc, con thuyền - hai câu 5, 6) và dịch chuyển hẳn vào nội tâm ở hai câu kết với khung cảnh sinh hoạt của con người.
GV dẫn dắt tiếp để HS phân tích, lí giải hai câu kết và nêu cảm nhận của mình. Có thể sử dụng các câu hỏi phụ để hướng HS đi sâu vào từ ngữ, hình ảnh, hoạt động, âm thanh của đời sống:
Hoạt động cắt may áo rét ("hàn y"), với âm thanh (tiếng dao thước, dụng cụ dùng để cắt may) rộn rã thúc giục ("thôi") khắp mọi nơi ("xứ xứ") báo hiệu mùa thu lạnh đang vào độ sâu. Tiếng chày nện vải ("châm" [châm thanh]: tiếng chày giã sợi, dệt vải) dồn dập gấp gáp ("cấp") càng cho thấy sự vội vã, khẩn trương trong hoạt động của con người. Đó là những hình ảnh, âm thanh, hoạt động vốn dĩ rất cụ thể, bình thường như nó vẫn thường diễn ra trong đời sống, không có gì đặc biệt. Nhưng ở đây, những hình ảnh, âm thanh, hoạt động ấy được các giác quan của nhà thơ tiếp nhận một cách đặc biệt.
Giữa mùa thu lạnh, trước khung cảnh núi non sông nước; nhà thơ vốn đã thấm thía cảnh đời loạn lạc, nay lại đối diện với thân phận tha hương; nên khung cảnh sinh hoạt cụ thể với hình ảnh, âm thanh này càng khiến tâm trạng nhớ nhà, mong muốn về quê của nhà thơ trở nên day dứt, giục giã. Thành thử, tuy là nói về khung cảnh sinh hoạt nhưng thực lại là để biểu đạt nội tâm. Một nội tâm bị giằng xé dữ dội.
Đứng trên thành Bạch Đế, không phải để phóng khoát thung dung, mà để nhìn vào tâm trạng. Thời gian chuyển dịch về chiều tối ("mộ"), ấn tượng về thị giác được thay thế bằng âm thanh. Tiếng chày nện vải vang động núi cao là âm thanh đặc biệt của mùa thu thân phận Đỗ Phủ. Không gian, khung cảnh bên ngoài chuyển hoá thành không gian tâm trạng u uẩn. Hình ảnh nhân vật trữ tình hiện lên hết sức chân thực, cảm động.
Sau khi để HS cảm nhận và trả lời trực tiếp nội dung câu hỏi, GV có thể đưa thêm các dẫn chứng để khái quát cao hơn: Hai câu cuối rõ ràng thể hiện sự phá cách, vẫn nối dài sự
miêu tả lẽ ra có thể khép lại với hai liên giữa. Ngoài việc biểu đạt tâm trạng, tâm sự riêng, nó còn cho thấy rõ phẩm chất của "nhà thơ của dân đen": luôn quan
miêu tả lẽ ra có thể khép lại với hai liên giữa. Ngoài việc biểu đạt tâm trạng, tâm sự riêng, nó còn cho thấy rõ phẩm chất của "nhà thơ của dân đen": luôn quan tâm lắng nghe mọi vang động của thế gian, của cõi người, của kiếp nhân sinh,... Dùng cái cụ thể để biểu đạt cái trừu tượng, dùng âm thanh cảnh vật bên ngoài để thể hiện nội tâm một cách tự nhiên, chân thực là nét đặc sắc trong bút pháp thơ ca Đỗ Phủ.
Câu hỏi 6: Thu hứng được viết trong một hoàn cảnh đặc biệt của cuộc đời Đỗ Phủ. Phải
chăng tác phẩm chỉ thể hiện nỗi niềm thân phận cá nhân của nhà thơ?
Câu hỏi này nối tiếp ý và có yêu cầu cao hơn so với các câu hỏi 4, 5, nhưng cần xác định đây là một câu hỏi mở, "đáp án" cho câu hỏi có thể chấp nhận ở các mức độ khác nhau, từ đơn giản đến sâu sắc. Thông thường, HS sẽ dễ "bắt" theo hướng câu hỏi để trả lời ngắn gọn: "Không phải!", "Không chỉ dừng ở mức độ ấy!", "Không chỉ thể hiện nỗi niềm thân phận cá nhân của nhà thơ mà còn thể hiện",... GV cần lường trước rất nhiều khả năng xảy ra, chủ động phân tích nội dung các câu trả lời đa dạng của HS.
Ở mức độ cao hơn, câu hỏi này có đòi hỏi cao về năng lực tư duy văn học. Trong câu hỏi đã có một phần định hướng, nhưng để trả lời một cách thuyết phục, HS phải vận dụng được các năng lực liên hệ, liên tưởng, suy luận và cảm nhận. Cần chú ý mấy khía cạnh cơ bản sau:
Tác giả và nhân vật trữ tình trong một tác phẩm thơ cụ thể. + Nội dung hiện thực được phản ánh trong tác phẩm và mối quan hệ với thực tại. + Vai trò, ý nghĩa của các yếu tố tự sự trong thơ trữ tình. + Đặc trưng, đặc điểm phương thức biểu đạt và kiểu tư duy nghệ thuật của các phái thơ, dòng thơ, trào lưu thơ ca...; tính hàm súc - đa nghĩa của thơ ca cổ, đặc biệt là thơ Đường.
Hoàn cảnh sáng tác cụ thể và phong cách, tư tưởng của nhà văn. - Trong trường hợp này, có thể xuất phát từ một số căn cứ sau để trả lời: (1) Tác phẩm thể hiện tâm sự/ cảm nhận/ suy tư,... của nhân vật trữ tình, nhân vật trữ tình chính là tác giả; (2) Hoàn cảnh ra đời đặc biệt của bài thơ đồng thời cũng là hoàn cảnh đặc biệt trong cuộc đời và sáng tác của tác giả, do đó hoàn cảnh hiện thực cũng chính là bối cảnh xúc cảm; (3) Những nét chính về đặc trưng phong cách và tư tưởng Đỗ Phủ;...
Từ sự dẫn dắt trên, có thể thống nhất một định hướng mở. Gợi ý: Bài thơ Thu hứng được viết trong một hoàn cảnh đặc biệt của cuộc đời Đỗ Phủ, được đánh giá là tác phẩm tiêu biểu cho bút pháp, phong cách thơ ca của ông. Tác phẩm trước hết thể hiện rõ nét và chân thực nỗi niềm thân phận cá nhân của nhà thơ, nhưng đồng thời cũng biểu đạt/ thể hiện/ phản ánh được cảm nhận/ dự cảm/ suy tư/ trăn trở/ ý niệm/ triết lí,... của tác giả về một hiện thực rộng lớn của cuộc sống con người (chiến tranh, loạn lạc, li tán, bần hàn,...), về một thời đại dữ dội với những đảo điên bất thường, về một vũ trụ bất định, vô cùng trong sự đối lập với cái nhỏ bé, mỏng manh của con người.
Câu hỏi 7: Có ý kiến cho rằng câu thơ nào trong bài thơ cũng thể hiện cảm xúc về mùa thu,
nỗi niềm tâm sự của tác giả trong mùa thu. Bạn suy nghĩ gì về ý kiến này?
Đây là câu hỏi gợi mở, hướng đến việc bồi đắp thêm cho HS năng lực cảm thụ, bình luận văn chương. Do thế, GV không nhất thiết yêu cầu hoặc đặt ra một đáp án có tính định mức
"chuẩn" cứng nhắc cho tất cả HS. Cần phải xác định rõ, ý kiến nêu trên không phải là một chân lí xác thực khách quan, mà là một ý kiến xuất phát từ cảm nhận - r
"chuẩn" cứng nhắc cho tất cả HS. Cần phải xác định rõ, ý kiến nêu trên không phải là một chân lí xác thực khách quan, mà là một ý kiến xuất phát từ cảm nhận - rung động - đồng điệu với nỗi niềm, tâm sự, cảm xúc của tác giả. Các "từ khoá"quan trọng trong câu hỏi là"cảm xúc", "nỗi niềm tâm sự", tức là cái ý thức chủ quan của nhân vật trữ tình được nhà thơ thể hiện trong bài thơ này. - Tuy nhiên, với câu hỏi này, cũng không nên chấp nhận một cách trả lời đơn giản là "đồng , "không đồng ý" , "sai", "đúng", "chủ quan", "phiến diện", "sâu sắc",... mà cần phải có/ xuất phát từ "thế giới nghệ thuật khách quan" của tác phẩm để đánh giá. Phần lớn HS rất "quen" với sự đại khái, chung chung, định tính,... trong đánh giá, nhận định về các vấn đề văn học. "Sự thực khách quan" trong tác phẩm có khi còn nổi trội hơn hiện thực đời sống mà nó phản ánh. Vì vậy, với dạng câu hỏi này, GV cần dựa vào sự phân tích các "nội chứng" (chứng cứ bên trong, thuyết phục) trong văn bản để định hướng. - GV hướng dẫn HS tự tìm phương án trả lời. Có thể nêu ngắn gọn các câu hỏi định hướng như:
Nhan đề bài thơ này có thể hiện được cảm hứng chung của cả tác phẩm hay không? Gợi ý: Thu hứng ("thu": mùa thu; "hứng": cảm xúc trỗi dậy trong lòng, cảm hứng) có cấu trúc đa nghĩa, không chỉ là "cảm xúc về mùa thu" mà còn là "xúc cảm của con người trong mùa thu". Mùa thu ở đây không chỉ là đề tài mà còn là bối cảnh tâm trạng. Từ "hứng" trong nhan đề, tự đã có nét nghĩa là cảm xúc, tâm sự.
+ Cảnh thu và tình thu trong bài thơ có mối liên hệ với nhau như thế nào? Gợi ý: Có hai bức tranh mùa thu trong Thu hứng: (1) Khung cảnh mùa thu (của vũ trụ); (2) Xúc cảm mùa thu (trong nội tâm). Cảnh thu và tình thu vừa nối tiếp vừa đan quyện trong bài thơ, tạo nên một mùa thu riêng của Đỗ Phủ. Theo đó, các ý thơ (thể hiện qua câu thơ hoặc cặp câu thơ) đều là sự nối tiếp logic với mạch cảm xúc của tác phẩm. + Những từ ngữ, hình ảnh nào thể hiện đề tài/chủ đề mùa thu và giúp biểu đạt cảm xúc, tâm sự riêng của tác giả trong mùa thu? Gợi ý: Các từ ngữ và hình ảnh đều có sự liên kết với nhau, mỗi ý mỗi câu đều có vai trò riêng trong việc thể hiện cảm hứng chung của bài thơ. Cần chú ý so sánh bản dịch với nguyên văn và chỉ xác nhận các từ ngữ - hình ảnh trùng khớp. Những nội dung phân tích, giảng giải qua các câu hỏi trên đã đủ dữ liệu cần thiết giúp GV diễn giải về vấn đề có liên quan. - Mở rộng: Đỗ Phủ được người đời sau tôn là bậc "Thánh thi" (thơ Thánh), cùng với "Tiên thi" Lý Bạch, "Phật thi" Vương Duy, "Quỷ thi" Lý Hạ,... là đại diện cho các phong cách thơ ca tiêu biểu của Đường thi. Đề tài thiên nhiên và chủ đề mùa thu xuất hiện phổ biến trong thơ Đường với hàng trăm bài thơ, nhưng thơ của Đỗ Phủ về đề tài và chủ đề này luôn có phong cách riêng độc đáo.
Hoạt động 4 Kết nối đọc - viết
Những yếu tố làm nên đặc trưng và sức hấp dẫn của thơ Đường luật và thơ hai-cư có nhiều điểm gần gũi nhau. Hãy viết đoạn văn (khoảng 150 chữ) về những điểm tương đồng ấy.
Văn bản 5 Mùa Hàn xuân Mặc Tử chín 1. Phân tích yêu cầu cần đạt HS cần nhận diện và phân tích được giá trị thẩm mĩ của tổ chức ngôn từ trong thơ bao gồm: nhịp đ
Văn bản 5
Mùa Hàn xuân Mặc Tử chín
1. Phân tích yêu cầu cần đạt
HS cần nhận diện và phân tích được giá trị thẩm mĩ của tổ chức ngôn từ trong thơ bao gồm: nhịp điệu, nhạc điệu, các cách kết hợp từ ngữ độc đáo. - HS hình thành được ý niệm về thơ hiện đại trong sự phân biệt với các hình thái thơ ca cổ điển đã giới thiệu trước đó. - HS biết liên hệ, so sánh các tác phẩm văn học thuộc các truyền thống, các thời kì văn hoá khác nhau.
HS hình thành được khả năng đồng cảm với thế giới cảm xúc của con người.
2. Gợi ý tổ chức hoạt động dạy học
Hoạt động 1 Khởi động
GV có thể sử dụng hai câu hỏi khởi động được gợi ý trong SGK để kết nối cảm xúc của HS với bài thơ đồng thời cũng giúp cho HS tái hiện những tri thức về thơ đã học ở trong các văn bản đọc trước và liên hệ với những tri thức sẽ tìm hiểu sâu hơn trong văn bản này là đặc trưng tổ chức ngôn từ của thơ. GV có thể khai thác nhiều hình thức khởi động khác nhau và có cách dẫn dắt vấn đề tự nhiên, tránh áp đặt.
Hoạt động 2 Đọc văn bản
Về việc đọc văn bản, ngoài cách cho HS đọc diễn cảm, trong điều kiện cho phép, GV có thể tìm kiếm các video clip đọc thơ, ngâm thơ theo giọng miền Trung để HS có thể cảm nhận rõ hơn về giọng điệu và ngữ điệu của bài thơ.
Hoạt động 3 Khám phá văn bản
Đối với việc chiếm lĩnh các tri thức về tác giả, tác phẩm, loại hình thơ ca, ngoài hình thức cho HS đọc phần giới thiệu (SGK Ngữ văn 10, tập một, tr. 51) và phát vấn; GV có thể làm phiếu học tập, thiết kế trò chơi ô chữ,... Tuy nhiên, cũng cần phân bổ thời lượng hợp lí để đảm bảo tiến trình của tiết học.
Câu hỏi 1: Nhan đề bài thơ Mùa xuân chín được cấu tạo bởi những từ thuộc từ loại nào và có thể gợi ra cho bạn những liên tưởng gì? Nhan đề Mùa xuân chín được cấ
Câu hỏi 1: Nhan đề bài thơ Mùa xuân chín được cấu tạo bởi những từ thuộc từ loại nào
và có thể gợi ra cho bạn những liên tưởng gì? Nhan đề Mùa xuân chín được cấu tạo bởi từ"mùa xuân" (danh từ) và"chín" (động từ trạng thái). Từ "chín" ở đây làm ta liên tưởng đến trạng thái lí tưởng của mọi sự vật, hiện tượng trong khung cảnh mùa xuân: sắc xuân rực rỡ, sức xuân dồi dào, con người và cảnh vật đều tràn đầy sức sống, đều giao hoà mãnh liệt với nhau. Mặt khác, nó cũng có thể gợi ra suy nghĩ: trạng thái lí tưởng này không phải là vĩnh cửu, khi mọi sự vật đạt đến độ đẹp nhất cũng có nghĩa là nó giáp ranh với sự phôi pha, phai nhạt.
Câu hỏi 2: Trạng thái "chín" của mùa xuân trong bài thơ được thể hiện bằng những
từ ngữ nào? Trạng thái "chín" của mùa xuân trong bài thơ được cụ thể hoá bằng hàng loạt từ ngữ chỉ màu sắc, chỉ trạng thái vận động của các sự vật, hiện tượng rất giàu tính hình tượng và đậm cảm giác, rất khác so với bảng màu trung tính và cách tạo hình thiên về xu hướng tĩnh tại hoá, vĩnh cửu hoá trong thơ trung đại. Chẳng hạn, màu sắc trong bức tranh mùa xuân ở đây
luôn được sắc thái hoá một cách rất cụ thể: "nắng ửng", "lấm tấm vàng", "áo biếc"; các trạng thái vận động bên ngoài và bên trong thế giới tinh thần của con người cũng được khắc hoạ sống động thông qua các động từ: "vắt vẻo", "hổn hển", "thầm thĩ",... Tất cả gợi lên không khí mùa xuân rạo rực, say đắm.
Câu hỏi 3: Hãy nhận xét về ngôn từ của bài thơ trên hai khía cạnh sau:
Bài thơ có những sự lựa chọn và kết hợp ngôn từ nào khiến bạn đặc biệt chú ý? Hãy nói cụ thể hơn cảm nhận của bạn về điều này.
Ngôn từ của bài thơ đã gợi lên một khung cảnh mùa xuân như thế nào? Trong bài thơ, ta bắt gặp nhiều tổ hợp từ ngữ sáng tạo, chưa có tiền lệ. Bản thân nhan đề bài thơ đã là một kết hợp ít bắt gặp trong tiếng Việt khi "mùa xuân" lại gắn liền với động từ trạng thái "chín", vừa gợi ra một sự vận động ở bên trong, vừa kích thích những tưởng tượng thị giác. Các cấu trúc đảo ngữ, các phép nhân hoá, so sánh đều nhấn mạnh được vẻ phơi phới của sắc xuân và sức xuân: "Sột soạt gió trêu tà áo biếc"; "Sóng cỏ xanh tươi gợn tới trời"; "Tiếng ca vắt vẻo lưng chừng núi/ Hổn hển như lời của nước mây";...
Câu hỏi 4: Mô tả cách ngắt nhịp và gieo vần trong bài thơ. Chỉ ra những điểm mà cách
ngắt nhịp, gieo vần này có thể gây được ấn tượng đặc biệt với người đọc (chú ý đến vai trò của các dấu câu, sự biến hoá của cách ngắt nhịp, vị trí gieo vần). Từ đó, hãy so sánh mức độ chặt chẽ trong cách ngắt nhịp và gieo vần trong bài thơ này với một bài thơ trung đại làm theo thể Đường luật. Bài thơ Mùa xuân chín chủ yếu ngắt nhịp 4/3 hoặc 2/2/3. Có chỗ tác giả chú ý tạo điểm nhấn cho nhịp điệu bằng dấu ngữ pháp:"Trên giàn thiên lí. Bóng xuân sang"; "- Chị ấy, năm nay còn gánh thóc/ Dọc bờ sông trắng nắng chang chang?". Bên cạnh gieo vần chân, bài thơ còn chỗ gieo vần lưng. Cách ngắt nhịp và gieo vần ở đây linh động hơn nhiều so với các quy định về vần và nhịp trong bài thơ Đường luật. Có thể nói, trong bài thơ này nói riêng, trong Thơ mới nói chung, cảm xúc dẫn dắt nhịp và vần, cảm xúc đi trước thi luật, khác với thơ trung đại chủ trương luật có trước và quy định nhịp và vần. Điều này đánh dấu việc giải phóng cảm xúc cá nhân dẫn đến sự uyển chuyển, linh hoạt của mạch thơ.
Câu hỏi 5: Con người trong bài thơ hiện diện qua những hình ảnh nào? Hình ảnh nào gắn với nhân vật trữ tình? Hình ảnh nào là đối tượng quan sát hay nằm trong tâ
Câu hỏi 5: Con người trong bài thơ hiện diện qua những hình ảnh nào? Hình ảnh nào
gắn với nhân vật trữ tình? Hình ảnh nào là đối tượng quan sát hay nằm trong tâm tưởng của nhân vật trữ tình? - Con người trong bài thơ có khi hiện lên qua một nét chấm phá hoán dụ ("tà áo biếc"), có khi được miêu tả trực tiếp ("Bao cô thôn nữ hát trên đồi"), có khi hiện lên gián tiếp ("tiếng ca"), có khi hiện lên trong kí ức của nhân vật trữ tình (người chị "gánh thóc"),... - Nhân vật trữ tình trong bài thơ là con người xúc động trước thiên nhiên và con người trong khung cảnh mùa xuân. Nhân vật trữ tình hiện diện qua cái nhìn, qua tình cảm trước tạo vật, trong con người. Đến khổ cuối, nhân vật trữ tình được khách thể hoá thành hình ảnh "khách xa", giữa khung cảnh mùa xuân, nhớ về người chị của mình, hình dung về sự nhọc nhằn của người chị cũng từng có một thời xuân xanh, với những nỗi niềm trắc ẩn, thương cảm.
Câu hỏi 6: Hình ảnh, nhịp và vần trong bài thơ có mối liên hệ như thế nào với mạch
cảm xúc của nhân vật trữ tình?
Hình ảnh, nhịp và vần tương ứng với sự vận động trong mạch cảm xúc của nhân vật trữ tình, vừa hoà mình vào thiên nhiên, nâng niu, trân trọng vẻ đẹp bình dị mà tràn đầy sức sống của tạo vật, của con người, lại vừa có những khoảnh khắc tách khỏi đối tượng quan sát của mình để ưu tư, trắc ẩn. Giọng điệu của bài thơ, vì thế, khi tha thiết, say sưa, nhưng cũng có khi lắng lại, trầm lại, vừa điềm tĩnh, vừa trắc ẩn.
Câu hỏi 7: Hãy nêu cảm nhận của bạn về nhân vật trữ tình trong bài thơ.
Nhân vật trữ tình của bài thơ không chỉ là một người nhạy cảm với sự sống, giao cảm với cuộc đời mà còn là một chủ thể biết suy tư, biết lo âu. Ngay khi mọi thứ đang ở độ viên mãn, lí tưởng như vậy, nhân vật trữ tình đã gợn lên nỗi u hoài về một viễn cảnh phai tàn của đời sống sau khi đạt đến trạng thái "chín". Ngay khi đang lắng nghe tiếng hát thanh xuân của những cô thôn nữ, nhân vật trữ tình đã lại sực nhớ đến người chị nhọc nhằn, lầm lụi, hẳn năm nào cũng đã từng có một thời con gái tươi trẻ. Cảm nhận được cái phù du, thoáng chốc của mọi vẻ đẹp ở cuộc đời nhưng không vì thế mà phủ nhận chúng; cảm nhận được cái hân hoan của đời người chỉ là khoảnh khắc, cái nhọc nhằn của kiếp người mới là trạng thái mòn mỏi, dài lâu, nhưng không vì thế không xúc động trước cái vui của nhân gian và đặc biệt, càng không quên cái khốn khó của đời sống.
Hoạt động 4 Kết nối đọc - viết
Viết đoạn văn (khoảng 150 chữ) trình bày cảm nhận về một câu thơ hoặc một hình ảnh trong bài thơ Mùa xuân chín của Hàn Mặc Tử đã gợi cho bạn nhiều ấn tượng và cảm xúc. Hoạt động này có thể được tiến hành trên lớp hoặc ở nhà sau buổi học. GV khuyến khích HS viết tự do những gì mình cảm thấy ấn tượng nhất về ngôn từ hay hình ảnh trong bài thơ.
Văn bản 6 Bản hoà âm ngôn từ trong Tiếng thu của Lưu Trọng Lư Chu Văn Sơn 1. Phân tích yêu cầu cần đạt – Thông qua văn bản này, HS có thể hệ thống hoá lại các đ
Văn bản 6
Bản hoà âm ngôn từ trong Tiếng thu của Lưu Trọng Lư
Chu Văn Sơn
1. Phân tích yêu cầu cần đạt
– Thông qua văn bản này, HS có thể hệ thống hoá lại các đơn vị kiến thức về đặc trưng của thơ và phương pháp để đánh giá giá trị thẩm mĩ của một tác phẩm thơ.
– Mặc dù đây không phải là bài tham khảo dùng cho hoạt động Viết, nhưng qua việc học bài phê bình này, HS cũng có thể nắm bắt được các bước đi, các thao tác cần thiết để viết một bài nghị luận về thơ ca.
– Qua văn bản này, HS củng cố và mở rộng những hiểu biết của mình về phong trào Thơ mới.
2. Gợi ý tổ chức hoạt động dạy học
Hoạt động 1 Khởi động
Câu hỏi trước khi đọc trong SGK nhằm mục đích giúp GV đánh giá được mức độ nắm bắt tri thức về thơ mà HS đã được học qua các văn bản trước. GV có thể thiết kế các hình thức khởi động khác nhưng nên theo tinh thần của câu hỏi được nêu trong sách, miễn là làm sao để HS chia sẻ một cách thoải mái nhất những gì các em thấy thích thú và cả những khó khăn khi đọc một bài thơ. Từ đó, kết nối với văn bản sẽ học, nơi HS có thể “trực quan” được việc “đi” vào một bài thơ, nhìn được giá trị thẩm mĩ của nó cần đến những phương pháp và thao tác nào.
Hoạt động 2 Đọc văn bản
Chắc chắn khuôn khổ của một tiết học không cho phép việc đọc văn bản của tác giả Chu Văn Sơn ngay trên lớp, GV chỉ nên yêu cầu HS đọc bài thơ Tiếng thu của Lưu Trọng Lư. Việc đọc toàn bộ văn bản 6, GV cần yêu cầu HS đọc trước ở nhà. Câu hỏi đầu tiên trong box chỉ dẫn bên phải văn bản đọc có thể được sử dụng làm câu hỏi chuẩn bị bài ở nhà và tìm hiểu ở trên lớp. GV có thể đề nghị HS chia sẻ những yếu tố hình thức của bài thơ Tiếng thu đã gây những ấn tượng và liên tưởng mạnh đối với các em.
Hoạt động 3 Khám phá văn bản
Mục đích chính của dạy học văn bản này không phải nằm ở việc đánh giá phong cách phê bình của tác giả Chu Văn Sơn, cũng không phải chỉ là dạy HS đọc hiểu bài Tiếng thu mà nằm ở việc giúp cho HS có một ý niệm rõ ràng hơn: Nên đọc một bài thơ như thế nào?
Câu hỏi 1: Theo phân tích của tác giả, “tiếng thu” và “tiếng thơ” tương ứng với những bình diện nào trong bài thơ của Lưu Trọng Lư?
– Trong văn bản, hai cụm từ “tiếng thu” và “tiếng thơ” được tác giả in hoa với dụng ý nhấn mạnh. Câu hỏi muốn HS lưu ý điều này để nhận ra cảm hứng chính của người viết và ý tưởng trung tâm được triển khai trong văn bản.
GV nhận xét về các câu trả lời và nêu những ý cần thống nhất: Theo phân tích của tác giả Chu Văn Sơn, "tiếng thu" là những âm thanh mơ hồ, tinh tế của đất trời
GV nhận xét về các câu trả lời và nêu những ý cần thống nhất: Theo phân tích của tác giả Chu Văn Sơn, "tiếng thu" là những âm thanh mơ hồ, tinh tế của đất trời và của tâm hồn con người; "tiếng thơ" chính là hình thức của bài thơ, là tổ chức ngôn từ để làm sống dậy "tiếng thu", gây ấn tượng cho người đọc.
Câu hỏi 2: Trình tự của bài viết đi từ "tiếng thu" hay "tiếng thơ"? Theo tác giả, "tiếng
thu" trong bài thơ của Lưu Trọng Lư là gì? - Câu hỏi này hướng HS chú ý tới cách đọc và triển khai một bài viết về thơ. Đối với thơ, ấn tượng về hình thức là điều cần được chú ý đặc biệt khi khởi đầu sự khám phá.
GV cho HS trao đổi nhóm về câu hỏi và định hướng trả lời: + Trình tự của bài viết đi từ "tiếng thơ", tức đi từ phương diện dễ thu hút sự chú ý của người đọc ngay khi đọc bài thơ - nhạc tính của bài thơ. Tác giả phân tích các thủ pháp kiến tạo nhạc tính của bài thơ để từ đó, cho thấy nhạc tính ở đây chính là một phương diện hình thức mang tính nội dung khi nó là cách hiệu quả nhất để khơi dậy những liên tưởng về
"tiếng thu". Cách tiếp cận bài thơ từ phương diện hình thức, vì thế, có sức thuyết phục bởi giá trị thẩm mĩ của một tác phẩm thơ ca toát lên từ chính hình thức cảm tính của nó. + Nhà thơ Lưu Trọng Lư gọi tên tác phẩm của mình là Tiếng thu, nhưng trong đó, "tiếng thu" không còn mang tính khách quan nữa mà đã trở thành tiếng lòng của người sáng tạo, phát ra nhờ sự cộng hưởng giữa con người và trời đất cùng các phương tiện ngôn từ được sử dụng.
Câu hỏi 3: Đánh giá về tính hợp lí của cách tổ chức và triển khai ý tưởng trong bài viết.
Yêu cầu chính của câu hỏi này không hẳn hướng tới đánh giá bài viết trên phương diện dàn dựng bố cục, mà là việc có thể rút ra kinh nghiệm gì khi phải thực hiện bài phân tích một tác phẩm thơ nào đó. Có thể nêu thêm câu hỏi: Qua đối chiếu với những cách triển khai các bài phân tích về thơ mình từng viết, bạn có thể phát biểu điều gì? - GV gợi mở, giúp HS nhận thức được: Cách tổ chức và triển khai ý tưởng trong bài viết là rất hợp lí. Người phê bình cần phải bám sát văn bản được phê bình, thể hiện sự đồng cảm, thấu hiểu với nhà thơ, tích cực làm cầu nối giữa văn bản và độc giả, giúp độc giả cảm nhận được nét độc đáo của văn bản.
Câu hỏi 4: Theo tác giả, sự khác biệt lớn nhất trong cách miêu tả thiên nhiên của Thơ mới
so với thơ cổ điển là gì? Nguyên nhân nào dẫn đến sự khác biệt ấy? - Câu hỏi vừa hướng tới việc nắm bắt một luận điểm quan trọng được triển khai trong bài viết, vừa củng cố tri thức đã được học - giới thiệu về Thơ mới sau văn bản Mùa xuân chín (SGK Ngữ văn 10, tập một, tr. 51).
Những điều cần chốt lại qua trao đổi: + Trong khi thơ cổ điển thiên về nắm bắt thế giới trong trạng thái tĩnh, làm nổi bật vẻ đẹp yên tĩnh, thanh vắng của thiên nhiên; qua đó, thể hiện một tâm thế an nhiên, tĩnh tại của thi nhân thời xưa thì Thơ mới làm nổi bật trạng thái "xôn xao" của thế giới. Cái "xôn xao" này, theo Chu Văn Sơn, là kết quả cộng hưởng của cái "xôn xao" của tạo vật, của ngoại cảnh với trạng thái tâm hồn của con người đang rung cảm trước thế giới.
Nguyên nhân dẫn đến sự khác biệt này là thời hiện đại cho phép con người cá nhân được giải phóng, thế giới cảm giác, cảm xúc của con người cũng được cởi trói. N
Nguyên nhân dẫn đến sự khác biệt này là thời hiện đại cho phép con người cá nhân được giải phóng, thế giới cảm giác, cảm xúc của con người cũng được cởi trói. Nhà thơ không chỉ miêu tả thế giới mà còn phóng chiếu cảm giác, cảm xúc của mình vào trong bức tranh thế giới ấy. Họ muốn tái hiện thế giới trong trạng thái đang vận động, đang sinh sôi chứ không phải một thế giới được ngưng kết lại thành vĩnh cửu.
Câu hỏi 5: Khi phân tích ngôn từ trong bài thơ Tiếng thu, những thao tác nào được nhà
nghiên cứu Chu Văn Sơn thường xuyên sử dụng? Theo bạn, tại sao những thao tác ấy lại rất cần thiết trong việc cảm thụ giá trị thẩm mĩ của ngôn từ thơ?
Câu hỏi này yêu cầu HS nhận diện được các thao tác mà người viết đã sử dụng, từ đó rút ra những kinh nghiệm cần thiết khi thực hành một bài viết về thơ (phân tích tác phẩm thơ).
GV cho HS đọc kĩ các đoạn 7, 9, 10, 12 để tìm câu trả lời: Các thao tác được sử dụng thường xuyên là thống kê, so sánh và đối lập (thống kê: số các tiết tấu và các âm bằng, trắc; số các cụm từ làm thành điệp khúc,...; so sánh và đối lập: số dòng trong các khổ, tính chất của các "tiếng"
được thể hiện bằng các từ tượng thanh như "thổn thức", "rạo rực", "xào xạc",...). Bằng việc phát huy thao tác so sánh và đối lập này, tác giả chứng minh được hiệu quả thẩm mĩ trong cách Lưu Trọng Lư tổ chức ngôn từ trong bài thơ. Chẳng hạn, khi chứng minh hiệu quả thẩm mĩ của từ láy "xào xạc", nhà phê bình đã so sánh nó với từ"xao xác" để thấy hai từ láy này như một nốt nhạc nhưng chơi ở hai cung khác nhau: một bên trầm và đục, gợi ra sự âm u, huyền bí của rừng già còn một bên đanh và cao, gợi được tiếng lá quét mình trên đường phố,...
Với ý hỏi thứ hai, đòi hỏi HS đánh giá được ý nghĩa của các thao tác phân tích mà người viết đã sử dụng (người viết ở đây là tác giả Chu Văn Sơn và nhiều nhà phê bình, nghiên cứu thơ khác).
GV phân tích thêm trên cơ sở nhận xét về câu trả lời của HS: Việc cảm thụ giá trị của bài thơ cần phải bắt đầu từ việc nhận ra và đánh giá được giá trị thẩm mĩ của ngôn từ thơ, nhưng để nhận ra giá trị thẩm mĩ đó, không thể chỉ dựa vào những nhận xét đại khái, mang tính chất định tính. Luôn cần một sự khảo sát, thống kê kĩ lưỡng bởi mọi nhận xét đều phải được nêu ra trên nền một dữ kiện xác thực, chắc chắn. Bên cạnh đó, việc so sánh, đối chiếu giá trị biểu đạt của từng từ ngữ khác nhau có ý nghĩa rất quan trọng, vì trong sáng tác thơ, việc lựa chọn từ ngữ luôn có một ý nghĩa đặc biệt.
Câu hỏi 6: Từ gợi ý trong bài viết của Chu Văn Sơn, theo bạn, sức hấp dẫn của một bài
thơ nằm ở những yếu tố nào?
GV có thể để HS tự do phát biểu nhưng nên lưu ý với các em về sức hấp dẫn của một bài thơ luôn là sự thống nhất, hài hoà giữa bình diện biểu đạt và bình diện được biểu đạt, giữa tổ chức ngôn từ và cái nhìn thế giới độc đáo.
Hoạt động 4 Kết nối đọc - viết
Qua các tác phẩm được giới thiệu trong Bài 2 - Vẻ đẹp của thơ ca, hãy viết đoạn văn (khoảng 150 chữ) chia sẻ về điều làm bạn thấy thú vị, hấp dẫn khi đọc thơ.
GV nên tạo điều kiện để HS mạnh dạn ghi lại những ý kiến chủ quan của mình, kể cả việc HS không thấy thích thơ. Nếu có thời gian, có thể tạo ra những trao đổi, tranh luận
Thực hành tiếng Việt
Thực hành tiếng Việt
Trang 84
Trang 85
VIẾT Viết văn bản nghị luận phân tích, đánh giá một tác phẩm thơ 1. Phân tích yêu cầu cần đạt Giới thiệu ngắn gọn về bài thơ được chọn. Nêu khái quát về điểm đặ
VIẾT
Viết văn bản nghị luận phân tích, đánh giá một tác phẩm thơ
1. Phân tích yêu cầu cần đạt
Giới thiệu ngắn gọn về bài thơ được chọn.
Nêu khái quát về điểm đặc sắc, thú vị trong bài thơ - vấn đề sẽ được tập trung phân tích, đánh giá.
Làm sáng tỏ các khía cạnh cụ thể của điểm được xem là đặc sắc, thú vị trong bài thơ. - Nêu ý nghĩa của vấn đề nghị luận và khẳng định giá trị chung của bài thơ.
2. Những lưu ý về yêu cầu đối với kiểu bài
Viết bài văn phân tích, đánh giá một tác phẩm thơ là công việc để thực hành và kiểm tra việc chiếm lĩnh các tri thức văn học và tiếng Việt trong Bài 2 - Vẻ đẹp của thơ ca. Đây là kiểu bài văn nghị luận đòi hỏi người viết biết nhận diện, cảm thụ, đánh giá phương diện hình thức thẩm mĩ cũng như cảm xúc, suy tưởng được biểu đạt trong một tác phẩm thơ cụ thể. - Để viết kiểu bài này, HS chọn một bài thơ thực sự khiến các em thấy ấn tượng về sự đặc sắc, thú vị của nó. GV đề nghị HS xem lại các tri thức ngữ văn liên quan đến thơ được giới thiệu trong bài và nhớ lại từng bước trong quá trình đọc hiểu văn bản mà HS đã trải qua trong các buổi học trước để tự thực hành việc đọc bài thơ. Viết một bài phân tích, đánh giá một tác phẩm thơ, trước hết, đòi hỏi ta phải biết đọc tác phẩm ấy.
3. Gợi ý tổ chức hoạt động dạy học
Hoạt động 1 Tìm hiểu yêu cầu của kiểu bài
GV có thể sử dụng nhiều cách để giới thiệu về kiểu bài nghị luận về tác phẩm thơ, trong đó, GV có thể liên hệ với bài bình thơ Tiếng thu của nhà phê bình Chu Văn Sơn mà các em đã học ở văn bản 6. Hoặc có thể sử dụng câu hỏi trong mục Kết nối đọc - viết để đưa HS vào bài học mới.
GV hướng dẫn HS đọc box Yêu cầu, chỉ ra những từ khoá quan trọng cần ghi nhớ.
Hoạt động 2 Đọc và phân tích bài viết tham khảo
HS có thể được yêu cầu đọc bài viết tham khảo, phân tích bài thơ Mùa xuân xanh ở nhà.
GV biến các nội dung ở box bên phải thành các câu hỏi để kiểm tra quá trình HS đọc bài văn tham khảo. GV cùng HS thảo luận các câu hỏi sau khi đọc bài văn tham
GV biến các nội dung ở box bên phải thành các câu hỏi để kiểm tra quá trình HS đọc bài văn tham khảo.
GV cùng HS thảo luận các câu hỏi sau khi đọc bài văn tham khảo. Dưới đây là một số điểm mà GV nên lưu ý thêm:
Để đánh giá một bài thơ về phương diện tình cảm, tư tưởng và thẩm mĩ, trước hết, phải đọc bài thơ, chú ý đến những yếu tố nổi bật về hình thức của bài thơ (ngôn từ, hình ảnh), cảm nhận âm hưởng của bài thơ bởi trong nghệ thuật, hình thức bao giờ cũng mang tính quan niệm. Mặt khác, đặt bài thơ trong mối liên hệ với tác giả, với hoàn cảnh ra đời, với truyền thống văn hoá để có những so sánh, đối chiếu, kết nối, từ đó có thêm cơ sở để đánh giá bài thơ một cách thấu đáo chứ không chỉ là bình tán thiếu căn cứ.
Bài viết tham khảo kết hợp việc đọc bài thơ theo trục ngang và trục dọc, tức là theo trình tự các khổ thơ và theo mạch liên kết các hình ảnh. Cách đọc này có thể giúp nhận ra
tứ thơ - một trong những thách thức lớn nhất của việc thưởng thức thơ ca. Trước đây, khi phân tích một tác phẩm thơ ca, khá nhiều GV thường hướng dẫn HS chiếm lĩnh tác phẩm bằng cách đọc theo trục ngang, chia bài thơ ra thành các phần, đi từ khổ đầu đến khổ kế tiếp. Không phải cách đọc này không ổn song trong nhiều trường hợp, nó chưa giúp người đọc khám phá được kết cấu bề sâu của tác phẩm thơ.
Đối với HS, không nhất thiết bài nào cũng đòi hỏi HS kết hợp cả hai cách đọc này. Trong CT môn Ngữ văn cấp THPT, HS sẽ còn tiếp tục làm việc với nhiều văn bản thơ khác. Do đó, ở bài này, có thể GV chỉ yêu cầu HS trình bày một điều mình tâm đắc nhất từ một tác phẩm thơ ca. Để HS trình bày một cách thuyết phục điều mình tâm đắc, GV có thể giúp các em định hướng cách đọc, nên nhấn mạnh vào trục ngang hay chú ý đến mạch liên kết theo trục dọc.
Hoạt động liên tưởng, tưởng tượng và các thao tác so sánh, đối chiếu là rất cần thiết để làm nổi bật sự độc đáo, sáng tạo trong cách nhà thơ tạo hình và lựa chọn từ ngữ.
GV cũng nên yêu cầu HS đánh giá còn có khía cạnh nào ở trong bài thơ Mùa xuân xanh mà tác giả bài viết còn chưa chú ý. (Chẳng hạn, các đại từ nhân xưng ở trong bài được sử dụng khá duyên dáng nhưng bài viết tham khảo lại hoàn toàn không chú ý đến điều này.)
Hoạt động 3 Thực hành viết theo các bước
Vì phần này trong SGK đã trình bày khá cặn kẽ nên ở đây sẽ không nhắc lại những chỉ dẫn. Nếu GV cụ thể hoá đề bài hơn, chẳng hạn, như yêu cầu HS đánh giá về cách tổ chức ngôn từ trong một bài thơ thì những bước được trình bày trong phần này ở SGK vẫn phù hợp, tất nhiên, cũng cần có những điều chỉnh nhất định. GV cũng có thể lấy ví dụ từ bài văn tham khảo để minh hoạ các bước trong việc tìm ý tưởng, lập dàn ý và viết bài.
TRẢ BÀI Hoạt động 1 Nhắc lại, khắc sâu yêu cầu của kiểu bài GV có thể lưu ý thêm một số điểm mà giờ hướng dẫn viết chưa thể nhấn mạnh như các vấn đề về kĩ năng
TRẢ BÀI
Hoạt động 1 Nhắc lại, khắc sâu yêu cầu của kiểu bài
GV có thể lưu ý thêm một số điểm mà giờ hướng dẫn viết chưa thể nhấn mạnh như các vấn đề về kĩ năng lập ý và diễn đạt của HS. - GV cũng có thể đánh dấu những điểm cần trao đổi với HS, những điểm cần sửa chữa, những điểm đáng ghi nhận của các bài viết. Đề nghị HS có những sửa chữa cần thiết theo yêu cầu.
Hoạt động 2 Nhận xét về kết quả viết và yêu cầu HS chỉnh sửa bài viết
GV nhận xét về mức độ đáp ứng yêu cầu ở các bài viết của HS, chọn đọc và phân tích một số bài viết thuộc các mức độ khác nhau theo thang đánh giá để giúp HS nhận ra những
điều cần phát huy hoặc bổ cứu. Đặc biệt, cần chỉ cho HS thấy rõ những lỗi về mạch lạc và liên kết trong bài viết - một loại lỗi đã được đề cập ở nội dung Thực hành tiếng Việt. - Trả bài cho HS, yêu cầu các em sửa chữa theo hướng dẫn trong SGK và theo những điều vừa phân tích, bổ sung ở trên (việc sửa chữa có thể tiến hành theo hình thức kiểm tra chéo).
Củng cố, mở rộng GV có thể sử dụng các câu hỏi trong phần Củng cố, mở rộng, để HS làm câu hỏi chuẩn bị ở nhà (cá nhân hoặc theo nhóm). - GV đề nghị HS viết đoạn
Củng cố, mở rộng
GV có thể sử dụng các câu hỏi trong phần Củng cố, mở rộng, để HS làm câu hỏi chuẩn bị ở nhà (cá nhân hoặc theo nhóm). - GV đề nghị HS viết đoạn văn (khoảng 150 chữ) về bài thơ Cánh đồng của tác giả Ngân Hoa trong phần Thực hành đọc (SGK Ngữ văn 10, tập một, tr. 71).
Trang 90
Trang 91
Trang 92
Trang 93
ĐỌC Văn bản 1 Văn bản 1 Hiền tài là nguyên khí của quốc gia (Trích) Thân Nhân Trung 1. Phân tích yêu cầu cần đạt – HS nhận biết được đặc điểm và các yếu tố cấu
ĐỌC
Văn bản 1
Văn bản 1
Hiền tài là nguyên khí của quốc gia
(Trích)
Thân Nhân Trung
1. Phân tích yêu cầu cần đạt
– HS nhận biết được đặc điểm và các yếu tố cấu tạo cơ bản của văn bản nghị luận thông qua một tác phẩm nghị luận điển hình thời trung đại Việt Nam.
– HS phân tích được mối quan hệ giữa luận đề, luận điểm, lí lẽ và bằng chứng trong văn bản Hiền tài là nguyên khí của quốc gia, từ đó nhận ra và đánh giá được mục đích, quan điểm của tác giả, ý nghĩa, giá trị của văn bản.
– HS có thái độ ứng xử đúng đắn với những bậc hiền tài, biết bày tỏ quan điểm riêng về các chính sách trọng dụng nhân tài mà mình được biết.
2. Gợi ý tổ chức hoạt động dạy học
Hoạt động 1 Khởi động
– Những câu hỏi đặt trước văn bản trong SGK đã được HS đọc và suy nghĩ ở bước chuẩn bị bài. Tuỳ tình hình thực tế, để khởi động giờ học, GV có thể sử dụng lại những câu hỏi ấy hoặc tạo ra những tình huống học tập mới, miễn sao khơi dậy được sự chú ý của HS về những vấn đề có liên quan đến văn bản sắp học. Có thể tổ chức trò chơi nhỏ kiểu Ai? Ở đâu? Làm gì? để HS nhận biết về những nhân vật nổi tiếng và đóng góp của họ cho cộng đồng.
– Dù khởi động bằng hình thức nào, GV cần cho HS bước đầu cảm nhận được tầm quan trọng của việc nâng niu tài sản trí tuệ của dân tộc trong chiến lược xây dựng và phát triển đất nước.
Hoạt động 2 Đọc văn bản
– GV cho 2 HS đọc trọn vẹn văn bản trước lớp (vì văn bản tương đối ngắn). Nhắc các em lưu ý các box hướng dẫn đọc và xem kĩ phần chú thích dưới mỗi trang văn bản. GV nên đọc thêm một lượt sau cùng, vừa đọc vừa giải thích nghĩa của các từ khó (kết hợp nêu các câu hỏi ngắn, giúp HS rèn luyện kĩ năng chú ý đồng bộ mọi thông tin gắn liền với câu chữ của văn bản).
– Lưu ý: Đọc với giọng điệu khoan thai, trang trọng, có thể nhấn giọng ở những câu hoặc cụm từ cuối mỗi đoạn vì ở đó, sắc thái biểu cảm của văn bản thường được bộc lộ rõ nét.
Hoạt động 3 Khám phá văn bản
– Cho 2 HS đọc phần giới thiệu về tác giả – tác phẩm và thể loại văn bia đặt ở sau văn bản (mỗi HS đọc một phần). Nhắc HS đặc biệt chú ý về mốc thời gian ra đời của văn bản, vị trí riêng
của văn bản trong hệ thống văn bia đề danh tiến sĩ ở Văn Miếu và vai trò được uỷ nhiệm của tác giả khi soạn Bài kí đề danh tiến sĩ khoa Nhâm Tuất niên hiệu Đại
của văn bản trong hệ thống văn bia đề danh tiến sĩ ở Văn Miếu và vai trò được uỷ nhiệm của tác giả khi soạn Bài kí đề danh tiến sĩ khoa Nhâm Tuất niên hiệu Đại Bảo thứ ba (Đại Bảo tam niên Nhâm Tuất khoa tiến sĩ đề danh kí).
Các thông tin GV cần nắm được: Từ thời nhà Lý, nhà nước phong kiến Việt Nam đã rất chú ý tổ chức định kì các khoa thi tuyển chọn nhân tài. Tuy nhiên, việc dựng bia lưu danh tên tuổi những người đỗ đạt cao nhất chỉ bắt đầu được thực hiện dưới triều vua Lê Thánh Tông. Năm Giáp Thìn 1484, 7 bia đề danh tiến sĩ đã được dựng lên ở Văn Miếu, ghi lại tên tuổi của những bậc đỗ đại khoa kể từ năm Nhâm Tuất 1442 cho đến thời điểm đó. Thân Nhân Trung là người đã "lĩnh thánh ý" soạn bài kí để khắc trên tấm bia đầu tiên. Do uy danh văn học và vị trí trong triều của tác giả cũng như do tính chất mở màn của công việc mà tác giả đảm trách, bài kí của Thân Nhân Trung thường dành được sự quan tâm lớn của các nhà nghiên cứu. Luận đề "Hiền tài là nguyên khí của quốc gia" nêu trong bài kí này cũng xuất hiện ở một số văn bia khác do những bậc danh nho khác chấp bút và được khắc trên những tấm bia dựng cùng năm, tuy hình thức diễn đạt không trùng khít hoàn toàn. Điều đó cho phép một số nhà nghiên cứu đưa ra giả thuyết rằng chính vua Lê Thánh Tông mới là người đề xướng luận
đề nói trên chứ không phải Thân Nhân Trung.
Khi hướng dẫn HS tìm hiểu khái niệm văn bia, GV có thể đặt ra các câu hỏi: Tên gọi văn bia được dùng để chỉ loại sáng tác ngôn từ nào? Vì sao văn bia thường ngắn và có ngôn ngữ cực kì hàm súc? Một sáng tác được nhận xét là "như văn bia" thường phải có đặc điểm gì?
Hướng dẫn HS tìm hiểu bố cục của đoạn trích: Văn bản khá ngắn và đã được người biên soạn SGK chia thành nhiều đoạn có đánh số, vì vậy GV không cần phải hỏi HS những câu thông thường về cách chia đoạn. Nên thống nhất cách phân tích cắt ngang để dễ dàng theo dõi mạch lập luận của tác giả.
GV cần dựa vào nội dung mỗi đoạn phân tích để nêu các câu hỏi và yêu cầu phù hợp (đã được gợi ý trong SGK). Khi hướng dẫn HS thực hiện hoạt động sau khi đọc, GV cần tham khảo các gợi ý sau:
Câu hỏi 1: Tìm trong đoạn 2 của văn bản những từ ngữ thể hiện thái độ trọng dụng
hiền tài của "các đấng thánh đế minh vương".
Câu hỏi này hướng HS phát triển kĩ năng tìm bằng chứng (trước hết là bằng chứng được trưng dẫn trong văn bản).
GV yêu cầu HS tìm, phát hiện những từ ngữ then chốt, trao đổi thống nhất và ghi lên bảng: "quý chuộng", "yêu mến", "đề cao", "ban ân rất lớn", "nêu tên ở tháp Nhạn", "ban danh hiệu Long hổ", "bày tiệc Văn hỉ".
Câu hỏi 2: Trong văn bản có một câu trực tiếp nói về mục đích của việc dựng bia ghi
danh những người đỗ tiến sĩ. Bạn hãy cho biết đó là câu nào.
Đây là câu hỏi nhằm phát triển kĩ năng "đánh dấu" những câu quan trọng có thể giúp ta thấy rõ mục đích của hoạt động được nhắc tới hay mục đích viết của tác giả.
GV gợi ý trả lời: Câu trực tiếp nói về mục đích của việc dựng bia ghi danh những người đỗ tiến sĩ nằm ở đoạn 3: "Nay thánh minh lại cho rằng, chuyện hay việc tốt tuy có một thời lừng lẫy, nhưng lời khen tiếng thơm chưa đủ lưu vẻ sáng lâu dài, cho nên lại dựng đá đề danh đặt ở cửa Hiền Quan, khiến cho kẻ sĩ trông vào mà phấn chấn hâm mộ, rèn luyện danh tiết, gắng sức giúp vua".
Câu hỏi 3: Xác định luận đề của văn bản và cho biết vì sao bạn xác định như vậy. Câu hỏi này yêu cầu thực hiện một nhiệm vụ then chốt của đọc hiểu văn bản nghị
Câu hỏi 3: Xác định luận đề của văn bản và cho biết vì sao bạn xác định như vậy.
Câu hỏi này yêu cầu thực hiện một nhiệm vụ then chốt của đọc hiểu văn bản nghị luận: xác định đúng luận đề của văn bản. Thường thì luận đề có thể hiển thị qua một câu, một mệnh đề có trong văn bản. Nhưng cũng có khi, muốn gọi tên nó, người đọc phải có óc tổng hợp khái quát và có khả năng thâu tóm tinh thần của văn bản trong một hình thức diễn đạt cô đọng. Ở văn bản này, luận đề nằm chính trong câu hay chính là câu mở đầu đoạn 2, cũng là câu được SGK dùng làm nhan đề cho văn bản. - GV định hướng trả lời: Luận đề của văn bản là Hiền tài là nguyên khí của quốc gia. Lí do xác định như vậy: Tất cả luận điểm trong văn bản đều được triển khai và bố trí xoay quanh tư tưởng này, nhằm trả lời cho các câu hỏi: Vì sao hiền tài được xem là nguyên khí của quốc gia? Khi xem hiền tài là nguyên khí của quốc gia, các đấng "thánh đế minh vương"đã làm gì? Người hiền tài phải tỏ thái độ trách nhiệm thế nào đối với thế nước, vận nước?
Câu hỏi 4: Xét về nội dung, đoạn 3 có mối quan hệ như thế nào với đoạn 2?
Đây là câu hỏi hướng HS chú ý tới vấn đề liên kết trong văn bản nghị luận - một vấn đề cốt tử đảm bảo cho văn bản nghị luận đạt tới sự hoàn chỉnh, chặt chẽ, có tính thuyết phục cao. - GV gợi ý trả lời: Đoạn 2 có hai ý lớn, trong đó có một ý sẽ được triển khai thêm ở đoạn 3 nói về sự trọng đãi của triều đình đối với bậc hiền tài. Bằng chứng được nêu thêm: vua cho dựng đá đề danh đặt ở cửa Hiền Quan. Trong văn bản, sự triển khai và bổ sung này rất cần thiết, vì nó chuyển mạch lập luận từ chỗ bàn về nguyên lí chung tới bàn về những chuyện cụ thể như chuyện dựng bia - sự việc trực tiếp dẫn tới sự ra đời của bài kí này.
Câu hỏi 5: Bạn hãy khái quát về nội dung của đoạn 4 và cho biết đoạn này đảm nhận
chức năng gì trong mạch lập luận. - Câu hỏi này đặt ra yêu cầu gọi tên luận điểm của văn bản nghị luận và nhận biết chức năng riêng của từng phần viết trong tổng thể văn bản. Gọi tên luận điểm là yêu cầu tương đối khó nhưng bắt buộc phải thực hiện khi tiếp nhận, lĩnh hội văn bản nghị luận. Chính nó sẽ giúp cho việc tóm tắt văn bản sau đó được thực hiện dễ dàng. - GV gợi ý: Đoạn 4 là lời tự vấn thể hiện thái độ tự trọng của kẻ sĩ trước sự tôn vinh, kì vọng của triều đình, rộng ra là của cả đất nước. Ở góc độ khác, nó cũng có thể được xem là lời "khích tướng", nhằm cổ vũ, động viên các bậc hiền tài. Chính đoạn 4 đã tạo ra bước chuyển của mạch lập luận, để đoạn tiếp theo đi thẳng vào nội dung khuyến cáo một cách tự nhiên.
Câu hỏi 6: Khi viết bài văn bia, tác giả đã thể hiện ít nhất hai tư cách: một là của người
truyền đạt "thánh ý"; hai là của kẻ sĩ được trọng dụng, thường suy nghĩ về việc báo đáp. Việc thống nhất hai tư cách đó đã chi phối như thế nào đến cách triển khai luận điểm của tác giả? - Đây là câu hỏi đòi hỏi HS chú ý tư cách phát ngôn của tác giả khi đọc bài văn nghị luận. Khi phân tích tư cách phát ngôn của tác giả, ta vừa có điều kiện đánh giá thoả đáng quan niệm, tư tưởng của ông, vừa có cơ hội hiểu rõ sự chi phối rất tinh tế của yếu tố này trong cấu trúc văn bản nghị luận. - GV gợi ý trả lời: Việc thống nhất hai tư cách của người viết trong bài văn (tư cách người truyền đạt "thánh ý" và tư cách kẻ sĩ tự trọng) đã khiến cho cách triển khai luận điểm trong bài trở nên uyển chuyển, linh hoạt, vừa xác quyết rắn rỏi, dứt khoát, vừa thiết tha, giàu cảm xúc, hết sức thuyết phục.
Văn bản 2 Yêu và đồng cảm Phong Tử Khải 1. Phân tích yêu cầu cần đạt HS hiểu được luận đề của văn bản nghị luận và cách tác giả xây dựng luận điểm, huy động lí
Văn bản 2
Yêu và đồng cảm
Phong Tử Khải
1. Phân tích yêu cầu cần đạt
HS hiểu được luận đề của văn bản nghị luận và cách tác giả xây dựng luận điểm, huy động lí lẽ và bằng chứng để làm sáng tỏ luận đề.
HS cảm nhận được chiều sâu quan niệm của tác giả về một vấn đề đời sống và nghệ thuật, đánh giá được hiệu quả của việc sử dụng yếu tố tự sự trong văn bản. - HS
HS cảm nhận được chiều sâu quan niệm của tác giả về một vấn đề đời sống và nghệ thuật, đánh giá được hiệu quả của việc sử dụng yếu tố tự sự trong văn bản. - HS thấy được ý nghĩa của sự thấu hiểu, đồng cảm trong giao tiếp đời thường và giao tiếp nghệ thuật.
2. Gợi ý tổ chức hoạt động dạy học
Hoạt động 1 Khởi động
Các yêu cầu đặt trước văn bản gợi cho HS suy ngẫm về ý nghĩa của sự đồng cảm trong giao tiếp và vai trò của nghệ thuật trong việc phát triển những tình cảm tốt đẹp đó của con người. GV có thể dựa vào các câu hỏi này để khởi động giờ học, nhằm tạo nên không khí thoải mái, nhẹ nhàng, phù hợp với những gì được nói tới trong văn bản Yêu và đồng cảm. - GV có thể gợi HS nhớ lại những thần thoại đã học, trong đó người xưa đã dựng lên một thế giới có sự tương thông giữa muôn vật. GV hỏi: Tại sao những thần thoại xưa vẫn hấp dẫn ta,
dù ở đó tồn tại những cách giải thích thế giới đầy ấu trĩ? Tại sao những sáng tác có từ "thời ấu thơ của nhân loại" đến bây giờ vẫn khiến ta xúc động? Hiện tượng này gợi cho bạn những suy nghĩ gì về sức sống của nghệ thuật?
Hoạt động 2 Đọc văn bản
GV có thể đọc mẫu phần 1 của văn bản và cho 2 - 3 HS đọc tiếp những phần còn lại. Lưu ý các em không bỏ qua những box chỉ dẫn cách đọc (mỗi khi gặp box, nên đọc chậm lại để có thể nhìn lướt một lần những dòng vừa đọc qua). - Lưu ý: Cần thuận theo nội dung được triển khai mà điều chỉnh giọng điệu thích hợp (vui tươi ở phần đầu; rành rẽ, nghiêm nghị ở những đoạn đúc kết quan niệm; ấm áp, tình cảm ở những câu nói về trẻ em và tuổi thơ). - GV có thể dành thời gian (khoảng 1 - 2 phút) để giải thích cho HS rõ thêm về các từ ngữ có cước chú (HS từng đọc văn bản ở nhà để chuẩn bị bài nên việc này không cần dành nhiều thời gian).
Hoạt động 3 Khám phá văn bản
Cho HS đọc phần giới thiệu về tác giả, tác phẩm. Có thể trình chiếu cho HS xem một số bức vẽ của Phong Tử Khải để các em có được cảm nhận tốt đẹp về tâm hồn nhân hậu, trong sáng của nhà văn - hoạ sĩ này (có thể dễ dàng tìm thấy các phiên bản tranh của Phong Tử Khải - Feng Zikai - nhờ công cụ tìm kiếm của Google). - Hướng dẫn HS tìm hiểu bố cục của đoạn trích: Người biên soạn SGK đã chia đoạn trích thành sáu phần có đánh số, GV cần cho HS trao đổi theo nhóm để nói về nội dung cốt yếu của từng phần bằng hình thức diễn đạt cô đọng nhất.
Gợi ý:
Phần 1: Câu chuyện khởi đầu và dư âm để lại. + Phần 2: Chiêm nghiệm về cách nhìn đời của hoạ sĩ.
Phần 3, 4: Luận về vai trò của sự đồng cảm trong sáng tạo nghệ thuật. + Phần 5, 6: Bài học sáng tác từ cách nhìn thế giới của trẻ em. Lưu ý: GV có thể chọn các
Phần 3, 4: Luận về vai trò của sự đồng cảm trong sáng tạo nghệ thuật. + Phần 5, 6: Bài học sáng tác từ cách nhìn thế giới của trẻ em. Lưu ý: GV có thể chọn các cụm từ khái quát nêu trên làm tiêu đề cho từng phần phân tích. - Khi hướng dẫn HS tìm hiểu chi tiết về văn bản, GV cần sử dụng một cách linh hoạt các câu hỏi trong mục sau khi đọc, bổ sung những câu hỏi mới để HS dễ trả lời và nhận thấy được các tầng bậc khác nhau của vấn đề. Với đối tượng HS có học lực khá, có thể tổ chức hoạt động Khám phá văn bản của giờ học xoay xung quanh việc trả lời tuần tự các câu hỏi sau khi đọc trong SGK. Với đối tượng HS có học lực tương đối yếu, nên triển khai việc phân tích theo từng phần văn bản và nêu nhiều hơn những câu hỏi nhận biết nội dung. Sau đây là một số gợi ý về việc hướng dẫn HS tìm hiểu các câu hỏi trong SGK:
Câu hỏi 1: Tìm trong văn bản những đoạn, những câu nói về trẻ em và tuổi thơ. Vì sao
tác giả lại nhắc nhiều đến trẻ em và tuổi thơ như vậy? - Vế đầu câu hỏi yêu cầu bám sát văn bản để phát hiện loại chi tiết (hay ý) được tác giả
dùng lặp lại nhiều lần. Vế sau câu hỏi yêu cầu HS phải nêu được nhận xét về tính mục đích của việc sử dụng các chi tiết (các ý) đó. Nhìn chung, câu hỏi muốn HS không quên áp dụng những thao tác đọc mang tính chất cơ bản. - GV cho HS trao đổi cặp đôi để giải quyết yêu cầu của câu hỏi. Những điều có thể chốt lại sau khi trao đổi ở phạm vi cả lớp: (1) Những đoạn, những câu nói về trẻ em và tuổi thơ: Toàn phần 1 của văn bản; câu đầu của phần 3; đoạn văn giữa của phần 5, đoạn văn cuối cùng của phần 6. (2) Lí do tác giả nhắc nhiều đến trẻ em và tuổi thơ: Theo tác giả, chính trẻ em là người đã dạy cho nghệ sĩ và tất cả chúng ta về cách nhìn đời, cách nhận ra mối tương thông giữa vạn vật và về sự cần thiết phải duy trì sự hồn nhiên, vô tư trong suốt khi ứng xử với thế giới, với nghệ thuật.
Câu hỏi 2: Mặc dù không ít lần nói tới danh xưng"hoạ , nhưng trên thực tế, điều tác giả muốn bàn luận không chỉ bó hẹp trong phạm vi hội hoạ. Những từ ngữ nào trong văn bản giúp bạn nhận ra điều đó? - Đây là câu hỏi có kèm gợi ý nên tương đối dễ trả lời. Cũng như câu hỏi trên, câu hỏi này ngầm nhắc HS không suy diễn khi đánh giá văn bản, nghĩa là việc đưa ra mọi nhận định, đánh giá phải bám chắc vào những cứ liệu do chính văn bản cung cấp. - GV gợi ý, giúp HS nhận ra phạm vi vấn đề được tác giả đề cập: Ngoài tư cách học giả, nhà văn, Phong Tử Khải còn được biết đến với tư cách là một hoạ sĩ nổi tiếng. Vì vậy, không hề ngẫu nhiên khi ông triển khai những suy tư mang tính triết học của mình bắt đầu từ những trải nghiệm với hội hoạ. Tuy nhiên, "hội hoạ", "hoạ sĩ" được nhắc đến ở đây chỉ là những đối tượng mang tính đại diện cho một hoạt động rộng lớn hơn. Đó là nghệ thuật, trong đó có văn học. Hai câu sau đây khẳng định điều vừa nói: "Thực ra nếu chúng ta bước được vào thế giới của Mĩ, mở rộng lòng ra để biết đồng cảm nhiều hơn với vạn vật thì sẽ cảm nhận được rõ rệt những tình cảnh ấy. Hoạ sĩ và nhà thơ chẳng khác gì nhau, hoạ chăng là hoạ sĩ chú trọng đến hình dạng và tư thái mà thôi .
Câu hỏi 3: Xác định nội dung trọng tâm của từng phần đã được đánh số trong văn bản và đánh giá sự liên kết giữa các phần. - Câu hỏi này cần được nêu lên trong b
Câu hỏi 3: Xác định nội dung trọng tâm của từng phần đã được đánh số trong văn bản
và đánh giá sự liên kết giữa các phần. - Câu hỏi này cần được nêu lên trong bước phân tích bố cục văn bản. Việc xác định được nội dung trọng tâm của từng phần sẽ giúp cho HS nhìn rõ hơn mạch lập luận của văn bản hay cách triển khai luận đề của tác giả.
GV hỗ trợ HS tìm câu trả lời: + Phần 1: Kể lại một số hành động của chú bé đã khiến tác giả "ngộ" ra ý nghĩa lớn lao, đích thực của sự đồng cảm. + Phần 2: Nêu lên và giải thích cái nhìn riêng của người hoạ sĩ đối với mọi sự vật trong thế giới (dựa trên khả năng đồng cảm không giới hạn). + Phần 3: Khẳng định vai trò của sự đồng cảm (với con người) trong hoạt động sáng tạo nghệ thuật.
Phần 4: Mở rộng cách hiểu về lòng đồng cảm: đồng cảm là sự chia sẻ, tương thông, chan hoà không chỉ với con người mà còn với muôn vật khác trong vũ trụ. + Phần 5: Chỉ ra sự tương đồng giữa nghệ sĩ và trẻ em trong việc bảo toàn khả năng giao cảm tự nhiên vốn có của con người. + Phần 6: Khẳng định sự cần thiết của việc học theo trẻ em để nuôi dưỡng bền lâu lòng đồng cảm, khiến cho cuộc sống trở nên đẹp đẽ và giàu ý nghĩa.
Câu hỏi 4: Tác giả đã nêu lên những lí lẽ, bằng chứng nào để khẳng định tầm quan trọng
của sự đồng cảm trong hoạt động sáng tạo nghệ thuật? - Như một số câu hỏi trên, câu hỏi này tiếp tục hướng HS quan tâm tìm hiểu những đặc điểm nổi bật của văn bản nghị luận được thể hiện qua Yêu và đồng cảm, cụ thể ở đây là chú ý tới cách sử dụng lí lẽ và bằng chứng của tác giả. - GV nhắc HS đọc lại phần 3 và phần 4 của văn bản để tìm câu trả lời qua trao đổi cặp đôi. GV phân tích các ý kiến được nêu lên và chốt lại: (1) Lí lẽ đã được nêu lên: "Tấm lòng của hoạ sĩ thường đồng điệu đồng cảm, cùng buồn cùng vui, cùng khóc cùng cười với đối tượng miêu tả; nếu không có tấm lòng đồng cảm bao la như thế mà chăm chăm vào kĩ thuật vẽ thì chắc chắn không thể trở thành hoạ sĩ thực sự được. Dù có vẽ được thì tối đa cũng chỉ là thợ vẽ mà thôi." (phần 3); "Thực ra nếu chúng ta bước được vào thế giới của Mĩ, mở rộng lòng ra để biết đồng cảm nhiều hơn với vạn vật thì sẽ cảm nhận được rõ rệt những tình cảnh ấy." (phần 4). (2) Bằng chứng đã dẫn ra: "Nếu nó không đủ khoáng đạt để đồng điệu với anh hùng thì không mô tả được anh hùng, nếu nó không đủ dịu dàng để hoà nhịp cùng thiếu nữ thì không khắc hoạ được thiếu nữ," (phần 3); "Chưa đích thân trải nghiệm sức sống của rồng ngựa thì chẳng vẽ được rồng ngựa, không chứng kiến vẻ đẹp rắn rỏi của tùng bách thì đâu hoạ nổi tùng bách. [...] Hoạ sĩ chúng tôi vẽ một cái bình hoa là phải để tâm vào bình hoa, để mình biến thành bình hoa cảm nhận cái lực của bình hoa mới thể hiện được cái thần của bình hoa." (phần 4).
Câu hỏi 5: Tác giả đã phát hiện ra những điểm tương đồng gì giữa trẻ em và người nghệ sĩ? Sự khâm phục, trân trọng trẻ em của tác giả được hình thành trên cơ sở
Câu hỏi 5: Tác giả đã phát hiện ra những điểm tương đồng gì giữa trẻ em và người nghệ sĩ?
Sự khâm phục, trân trọng trẻ em của tác giả được hình thành trên cơ sở nào? - Câu hỏi này liên quan đến câu hỏi 1, cả hai đều hướng HS chú ý đến góc nhìn độc đáo của tác giả về luận đề. Vì vậy, khi nêu câu hỏi này, GV cần nhắc HS nhớ lại những điều đã đạt được khi giải quyết yêu cầu ở câu hỏi 1. - GV cho HS làm việc theo nhóm, tìm đúng những câu trong văn bản có thể gợi ý được câu trả lời. Sau khi cho HS thảo luận, GV phân tích: Điểm tương đồng giữa trẻ em và người nghệ sĩ mà tác giả đã phát hiện ra: Có cái nhìn không vụ lợi về mọi đối tượng (không quan tâm đến "giá trị thực tiễn" của chúng), luôn duy trì được trạng thái "hồn nhiên" khi nhìn đời bằng "tấm lòng đồng cảm bao la", luôn phát hiện ra được những điều thú vị của thế giới ngay ở chỗ bao người đã nhìn mà không thấy. Nói chung, sự khâm phục, trân trọng trẻ em của tác giả không chỉ là tình cảm tự nhiên thuần tuý của một người lớn giàu lòng nhân ái, mà còn là loại tình cảm được soi sáng, dẫn dắt bởi trí tuệ, bởi sự am hiểu sâu sắc bản chất
của đời sống, của nghệ thuật. Rõ ràng, càng mong muốn một "thế giới hạnh phúc, nhân ái và hoà bình", càng ngộ ra điều khiến nghệ thuật tồn tại được và trở nên hữu ích, tác giả lại càng tìm thấy ở trẻ em những lời dạy hiền minh, đáng suy ngẫm suốt đời.
Câu hỏi 6: Theo bạn, nếu không có đoạn kể về chú bé giúp tác giả sắp xếp đồ đạc ở phần 1,
sức hấp dẫn, thuyết phục của văn bản Yêu và đồng cảm sẽ bị ảnh hưởng như thế nào? - Đây là câu hỏi muốn HS lưu ý tới một hình thức nghị luận thường được nhiều người vận dụng, đó là cho xen vào bài một số yếu tố tự sự.
GV cho HS đọc lại hoặc xem lướt qua phần 1 của văn bản, ngẫm nghĩ và trao đổi theo hình thức cặp đôi về giá trị của câu chuyện được kể đối với việc thuyết phục người đọc. GV thống nhất các ý kiến và phân tích thêm: Nếu không có đoạn kể về chuyện chú bé giúp tác giả sắp xếp đồ đạc thì ý tưởng và quan điểm của người viết vẫn được nhận biết đầy đủ. Tuy nhiên, sức hấp dẫn, thuyết phục của văn bản sẽ bị giảm sút. Không thể chỉ quan tâm đến nội dung nói mà bỏ qua vấn đề cách nói, cách trình bày. Ở văn bản này, Phong Tử Khải không đứng ra thuyết lí như một nhà lí luận. Ông muốn nêu vấn đề, bàn về luận đề từ những trải nghiệm cá nhân. Ông muốn người đọc cùng ông sống lại các tình huống mà ông đã trải qua, từ đó có thể chia sẻ dễ dàng những điều đã khiến ông bận lòng, suy nghĩ. Đây là cách "thuyết phục" theo kiểu nghệ sĩ - một cách "thuyết phục" giàu tính nghệ thuật, tác động cùng lúc vào cảm xúc và lí trí của người đọc.
Câu hỏi 7: Nhà thơ Xuân Diệu từng viết: "Hãy nhìn đời bằng đôi mắt xanh non" (Đôi mắt
xanh non, trong tập Riêng chung, NXB Văn học, Hà Nội, 1960). Dựa vào nội dung văn bản Yêu và đồng cảm, hãy nêu lí do khiến nhà thơ Xuân Diệu đề nghị như vậy. - Câu hỏi này giúp HS mở rộng liên hệ để hiểu sâu hơn vấn đề được đặt ra trong văn bản. - GV nêu thêm câu hỏi: Nên hiểu thế nào về hình ảnh "đôi mắt xanh non" được Xuân Diệu sử dụng trong câu thơ? Thử suy đoán về đối tượng mà lời kêu gọi của Xuân Diệu hướng tới. Bạn thấy có điểm gì chung trên phương diện nội dung quan niệm giữa câu thơ "Hãy nhìn đời bằng đôi mắt xanh non" và văn bản "Yêu và đồng cảm"?
Văn bản 3 Chữ bầu lên nhà thơ (Trích) Lê Đạt 1. Phân tích yêu cầu cần đạt – HS nhận biết được nội dung của luận đề, luận điểm, lí lẽ và bằng chứng tiêu biểu tro
Văn bản 3
Chữ bầu lên nhà thơ
(Trích)
Lê Đạt
1. Phân tích yêu cầu cần đạt
– HS nhận biết được nội dung của luận đề, luận điểm, lí lẽ và bằng chứng tiêu biểu trong văn bản nghị luận bàn về một vấn đề văn học.
– HS phân tích được quan niệm độc đáo của nhà thơ Lê Đạt về yếu tố then chốt trong sáng tạo thơ, cũng là yếu tố làm nên "khuôn mặt" riêng biệt của thơ so với các loại hình sáng tác ngôn từ khác.
– HS có được nhận thức đầy đủ hơn về lao động thơ và về nhà thơ.
2. Gợi ý tổ chức hoạt động dạy học
Hoạt động 1 Khởi động
– GV có thể dựa vào hai câu hỏi đặt trước văn bản để khơi gợi cho HS bày tỏ những hiểu biết của các em về nhà thơ và hoạt động sáng tác thơ ca. GV cũng có thể cùng HS dựng lên tình huống đối thoại tưởng tượng giữa các nhà thơ có tác phẩm mà các em từng được học, kiểu như: Nếu bạn A là nhà thơ T, bạn B là nhà thơ H, bạn C là nhà thơ Y, khi tình cờ gặp nhau và trao đổi với nhau về thơ, các bạn sẽ nêu những câu hỏi gì với người đối thoại?
– Dù chọn hình thức khởi động nào, cuối cùng, điều GV cần nắm được là nhận thức hiện có của HS về thơ, về nhà thơ. Căn cứ vào đó, GV sẽ quyết định hình thức dạy học văn bản thích hợp, đạt hiệu quả cao, phù hợp với đối tượng HS của mình.
Hoạt động 2 Đọc văn bản – GV yêu cầu 2 – 3 HS đọc lần lượt các phần của văn bản (đọc thành tiếng trước lớp). Tuỳ tình hình thực tế, GV sẽ quyết định việc mình c
Hoạt động 2 Đọc văn bản
– GV yêu cầu 2 – 3 HS đọc lần lượt các phần của văn bản (đọc thành tiếng trước lớp). Tuỳ tình hình thực tế, GV sẽ quyết định việc mình có cần đọc mẫu không và nên đọc phần nào, đoạn nào.
– GV nhắc HS chú ý phần cước chú và theo dõi các box hướng dẫn đọc để điều chỉnh cách đọc phù hợp. GV sửa các lỗi đọc, nhân đó đưa ra những lời giải thích cần thiết, xem như một bước dọn đường cho hoạt động khám phá văn bản ở sau.
Hoạt động 3 Khám phá văn bản
– Cho HS đọc phần giới thiệu về tác giả, tác phẩm trong SGK, lấy ra các thông tin cơ bản cần nhớ, đặc biệt chú ý chi tiết: Nhà thơ từng tự nhận mình là “phu chữ” (nói đến Lê Đạt, các nhà phê bình thường không quên nhắc đến danh xưng này).
– Văn bản được chính tác giả chia thành ba phần. GV hướng dẫn HS tìm hiểu nội dung chính của từng phần. Có thể thống nhất:
Phần 1: Tóm tắt những ý kiến từng được nhà thơ phát biểu ở các diễn đàn khác nhau, xoay quanh đặc thù của lao động thơ, của ngôn từ (chữ) trong thơ.
Phần 2: Đối thoại với những quan niệm mà tác giả không đồng tình trên vấn đề lao động thơ và nhận diện tầm vóc nhà thơ qua cách nhà thơ tìm phiếu ủng hộ từ “cử tri chữ”.
Phần 3: Luận về sự thống nhất mà khác biệt giữa các con đường thơ và thước đo một nhà thơ chân chính.
– GV xác định hướng phân tích văn bản: có thể phân tích lần lượt từng phần theo bố cục, cũng có thể phân tích theo các vấn đề được nêu trong từng cột của bảng sau:
Quan niệm thông thường về thơ, nhà thơ cần được đối thoại (theo Lê Đạt), Quan niệm về thơ, nhà thơ của Lê Đạt, Phân tích, đánh giá quan niệm về thơ, nhà thơ của Lê Đạt
Lưu ý: GV cần căn cứ vào tình hình học tập cụ thể của HS lớp mình phụ trách để lựa chọn hướng phân tích phù hợp, có hiệu quả.
– Khi hướng dẫn HS thực hiện các yêu cầu và trả lời những câu hỏi sau khi đọc (mỗi câu gắn với một phần phân tích cụ thể nào đó, hoặc theo bố cục, hoặc theo vấn đề), có thể tham khảo các gợi ý sau:
Câu hỏi 1: Vấn đề chính được bàn luận trong văn bản này là gì?
– Câu hỏi này nhắc nhớ HS về một thao tác cơ bản cần chú ý vận dụng khi đọc văn bản nghị luận: Việc đầu tiên là phải xác định đúng vấn đề chính được tác giả bàn luận, triển khai.
– Đây là câu hỏi không dễ trả lời, vì vậy, có thể cho HS trao đổi nhóm sau đó cùng thảo luận trong phạm vi cả lớp học. GV cần nhận thức được độ khó của vấn đề nêu lên, vì văn bản chứa đựng khá nhiều ý tưởng độc đáo, được trình bày dưới dạng những châm ngôn, có thể
gây rối trí cho nhiều người. Tuy nhiên, có thể nhắc HS chú ý đặc biệt tới nhan đề vì chìa khoá để trả lời câu hỏi nằm ở đây. GV phân tích từng ý kiến hoặc nhóm
gây rối trí cho nhiều người. Tuy nhiên, có thể nhắc HS chú ý đặc biệt tới nhan đề vì chìa khoá để trả lời câu hỏi nằm ở đây. GV phân tích từng ý kiến hoặc nhóm ý kiến của HS và chốt lại: Căn cứ vào danh ngôn của Ét-mông Gia-bét (Edmond Jabès) được dùng làm nhan đề và căn cứ vào con đường thơ mà Lê Đạt miệt mài theo đuổi, có thể xác định vấn đề chính được bàn luận trong văn bản là lao động chữ nghĩa trong hoạt động sáng tạo thơ ca và tính chất, ý nghĩa khác thường của "chữ" trong thơ.
Câu hỏi 2: Hãy tìm trong văn bản một câu có thể nêu bật được ý cốt lõi trong quan niệm
về thơ của tác giả. - GV lưu ý HS: Khi trả lời câu hỏi này, cần phân biệt quan niệm về thơ với quan niệm về nhà thơ, quan niệm về chữ trong thơ. Giữa các quan niệm này có sự thống nhất nhưng không thể đánh đồng. - GV cho HS nêu những câu mà các em cho rằng đã đáp ứng được yêu cầu của câu hỏi. Cần phân tích sơ bộ về các câu đó để chọn ra câu nêu bật được ý cốt lõi trong quan niệm
về thơ của tác giả. Có thể chọn câu sau: "Người ta làm thơ không phải bằng ý mà bằng chữ". Có thể nói đây là câu đã gây ngỡ ngàng cho nhiều người (từ nhà thơ đến người đọc, người phê bình). Lưu ý: Nếu khám phá văn bản theo từng vấn đề như gợi ý ở phần trên, câu này cần được phân tích, đánh giá và nội dung phân tích, đánh giá đó cần được ghi vào cột thứ ba.
Câu hỏi 3: Ở phần 2 của văn bản, tác giả đã tranh luận với hai quan niệm khá phổ biến:
Thơ gắn liền với những cảm xúc bột phát, "bốc đồng", làm thơ không cần cố gắng. - Thơ là vấn đề của những năng khiếu đặc biệt, xa lạ với lao động lầm lũi và nỗ lực trau dồi học vấn.
Những lí lẽ, bằng chứng mà tác giả nêu lên đã thực sự thuyết phục chưa? Hãy nói rõ ý kiến của bạn.
Câu hỏi này nêu hai yêu cầu nối tiếp nhau, vừa kiểm tra mức độ bám sát văn bản, vừa kiểm tra mức độ chủ động của HS khi tiếp nhận văn bản. - GV cho HS trao đổi và gợi ý bằng một số câu hỏi phụ: Những câu nào thể hiện sự không đồng tình của tác giả với quan niệm cho rằng làm thơ không cần cố gắng? Những câu nào thể hiện sự phản bác của tác giả với quan niệm cho rằng thơ xa lạ với lao động lầm lũi và nỗ lực trau dồi học vấn? Nếu muốn đối thoại với tác giả, bạn sẽ nói điều gì? - GV không gò HS vào một câu trả lời duy nhất. Có thể lưu ý các em mấy điểm sau: Cách phát biểu của Lê Đạt dễ gây ấn tượng rằng tác giả có quan niệm cực đoan. Sự thực, vấn đề ở đây chỉ là cách nói. Điều quan trọng là tác giả muốn người đọc đừng dễ dãi tin theo những nhận định phổ biến và cần tìm hiểu sâu vấn đề với ý thức phản biện thường trực.
Câu hỏi 4: Tác giả không trực tiếp định nghĩa khái niệm "chữ". Dựa vào "ý tại ngôn ngoại"
của văn bản, bạn hãy thử thực hiện công việc này. - Đây là câu hỏi then chốt, đòi hỏi HS phải phát huy khả năng phân tích, tổng hợp ở mức cao mới có thể trả lời thoả đáng.
GV cho HS trao đổi theo nhóm và nêu một số câu hỏi gợi ý: Khái niệm "chữ" trong tiếng Việt gồm có những nghĩa nào? Nghĩa nào là nghĩa được dùng trong văn bản "C
GV cho HS trao đổi theo nhóm và nêu một số câu hỏi gợi ý: Khái niệm "chữ" trong tiếng Việt gồm có những nghĩa nào? Nghĩa nào là nghĩa được dùng trong văn bản "Chữ bầu lên nhà thơ"? Có thể thay khái niệm "chữ" bằng khái niệm "từ" trong bài viết của Lê Đạt được không?
GV phân tích và định hướng: Theo Đại từ điển tiếng Việt (Nguyễn Như Ý (Chủ biên), NXB Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, 2011), "chữ" có các nghĩa: 1. Kí hiệu bằng đường nét để ghi tiếng nói; 2. Tên gọi thông thường của tiếng hoặc từ; 3. Tên gọi thông thường của từ ngữ gốc Hán; 4. Kiến thức văn hoá đã học được nói chung; 5. Từ đặt trước một từ trừu tượng; 6. Lời xưa truyền lại. Ngoài các nghĩa đã nói, "chữ" còn được dùng để chỉ đồng tiền đúc ngày xưa có in chữ. Căn cứ vào mạch lập luận của văn bản (gồm cả những lí lẽ và bằng chứng được đưa ra), có thể thấy khái niệm "chữ"được Lê Đạt dùng ở đây không bị buộc cố định vào nghĩa nào trong số các nghĩa đã nêu. Dựa vào "ý tại ngôn ngoại" của văn bản, có thể xác định "chữ" ở đây chính là ngôn ngữ nghệ thuật in đậm dấu ấn sáng tạo cá nhân của nhà văn, nhà thơ và "chữ" trong thơ là loại ngôn ngữ đặc thù khác với ngôn ngữ đời thường và ngôn ngữ văn xuôi, không còn là phương tiện biểu đạt thông thường mà đã trở thành một
đối tượng tự dựng mình thành cõi riêng, thách thức khám phá.
Lưu ý: Với khả năng tiếp nhận chung của HS, GV không cần phải triển khai vấn đề sâu, rộng hơn.
Câu hỏi 5: Bạn có ý kiến gì về luận điểm: "Nhà thơ làm chữ chủ yếu không phải ở "nghĩa
tiêu dùng", nghĩa tự vị của nó, mà ở diện mạo, âm lượng, độ vang vọng, sức gợi cảm của chữ trong tương quan hữu cơ với câu, bài thơ"? Nếu tán đồng với tác giả Lê Đạt, hãy đưa ra một ví dụ để minh hoạ.
Luận điểm được nêu trong câu hỏi này chính là luận điểm triển khai đều được nêu trong câu đã tìm ra ở trên (theo yêu cầu của câu hỏi 2). GV cho HS thảo luận theo nhóm hoặc theo quy mô toàn lớp học để tìm câu trả lời. Những ví dụ đưa ra đều cần được phân tích để các em hiểu đúng ý của tác giả.
GV tổng hợp các ý kiến và nêu lời bàn của mình: Luận điểm đã nêu mang đậm dấu ấn của Lê Đạt, thể hiện quan niệm và tìm tòi riêng của Lê Đạt. Không phải ai cũng tán đồng với ông, nhưng phải thấy rằng vấn đề đã được nêu lên một cách nghiêm túc, có căn cứ. Lê Đạt cho rằng khi làm thơ, nhà thơ luôn phải tìm cách làm mới "chữ", khiến cho "chữ" lập tức gây chú ý vì nội hàm ý nghĩa khác thường của nó so với nghĩa đã được xác định trong từ điển, hơn thế, nó còn tạo được sự vang vọng riêng mà chỉ đặt vào"câu này", "bài thơ này" người đọc mới cảm nhận được một cách rõ rệt. Đi theo những "chữ" như thế, người ta dần nhận thức được rằng ngôn từ trong thơ không còn là phương tiện thuần tuý được dùng để chuyển tải ý mà nó có một quyền lực riêng chi phối người đọc, buộc người đọc phải nhìn đời theo cách được nó gợi ý. GV có thể nêu ví dụ: Trong bài Mùa xuân chín, từ "chín" đã được Hàn Mặc Tử dùng một cách khác thường. Sự khác thường không phải ở chỗ "chín" được dùng gắn với một đối tượng trừu tượng, vì nghĩa này vẫn có thể tìm thấy trong từ điển (như"tài năng của anh đã bước vào độ chín"), mà ở chỗ từ này lập tức gợi lên ở người đọc một trạng thái tâm lí lưỡng phân không dễ giải thích: nửa hân hoan, nửa bồn chồn (hân hoan vì vẻ đẹp phồn thịnh của mùa xuân, bồn chồn vì dự cảm được "độ phai tàn sắp sửa"). GV cũng có thể lấy một ví dụ khác từ chính thơ của Lê Đạt: "Anh đến mùa thu nhà em/ Nắng cúc lăm răm vũng nhỏ" (Thu nhà em),...
Thực hành tiếng Việt
Thực hành tiếng Việt
Trang 107
Trang 108
Trang 109
Trang 110
Trang 111
Củng cố, mở rộng GV cần dành một khoảng thời gian hợp lí để hướng dẫn HS thực hiện ở nhà những yêu cầu của phần Củng cố, mở rộng và Thực hành đọc. Nhắc HS làm b
Củng cố, mở rộng
GV cần dành một khoảng thời gian hợp lí để hướng dẫn HS thực hiện ở nhà những yêu cầu của phần Củng cố, mở rộng và Thực hành đọc. Nhắc HS làm ba câu hỏi 1, 2, 3 vào vở bài tập; thực hiện trao đổi nhóm về nội dung được gợi ý ở câu hỏi 4 vào thời gian thích hợp; chia nhóm và đóng thành tập những văn bản nghị luận sưu tầm được theo yêu cầu ở câu hỏi 5.
Trang 113
Trang 114
Trang 115
ĐỌC | Văn | bản 1 | Héc-to từ biệt Ăng-đrô-mác (Trích I-li-át) Hô-me-rơ (Hómèros) |---|---| | văn | bản. | Hiểu được ảnh hưởng của sử thi I-li-át trong văn hoá
ĐỌC
| Văn | bản 1 |
Héc-to từ biệt Ăng-đrô-mác (Trích I-li-át) Hô-me-rơ (Hómèros)
|---|---|
| văn | bản. |
Hiểu được ảnh hưởng của sử thi I-li-át trong văn hoá của nhân loại và ý nghĩa, giá trị của sử thi đối với đời sống đương đại.
2. Gợi ý tổ chức hoạt động dạy học
Hoạt động 1 Khởi động
GV yêu cầu HS đọc trước ở nhà các thông tin về cuộc chiến tranh thành Tơ-roa huyền thoại, có thể chia thành các nhóm, mỗi nhóm thực hiện một nhiệm vụ cụ thể, ví dụ: (1) Tìm hiểu về câu chuyện, nguyên nhân dẫn đến cuộc chiến vây hãm thành Tơ-roa trong thần thoại Hy Lạp; (2) Tìm kiếm những giả thuyết khác nhau về cuộc chiến tranh thành Tơ-roa; (3) Vẽ sơ đồ tóm tắt những sự kiện chính về chiến tranh thành Tơ-roa được tái hiện lại trong sử thi I-li-át của Hô-me-rơ; (4) Tìm hiểu về dấu ấn của cuộc chiến thành Tơ-roa trong một số tác phẩm nghệ thuật: hội hoạ, điêu khắc, điện ảnh. - GV cho HS quan sát hình ảnh/ video clip về chiến tranh thành Tơ-roa và yêu cầu HS chia sẻ lại những gì mình quan sát, cũng như đã tìm hiểu được về cuộc chiến này. GV nhấn mạnh đây là một sự kiện rất quan trọng, làm nên bối cảnh của sử thi I-li-át. Cho đến nay, có rất nhiều giả thuyết khác nhau về sự kiện này. Nhiều người cho rằng đây chỉ là một sự kiện hư cấu. Nhưng nhiều học giả khác tin rằng thành Tơ-roa đã thực sự tồn tại và cố gắng tìm kiếm những bằng chứng khảo cổ học về sự hiện diện của thành Tơ-roa trong quá khứ. Tuy vấn đề này còn gây nhiều tranh cãi, song với những bằng chứng hiện có, UNESCO đã công nhận vùng đất Hi-ra-líc (Hirarlik) ngày nay là di tích thành Tơ-roa cổ (tham khảo thêm tài liệu: Thành Tơ-roa có thực sự tồn tại (Ây-náp Gia-mia Đem-bin - Einav Zamir Dembin). - GV đặt câu hỏi: Hãy chia sẻ thêm thông tin về những cuộc chiến tranh khác mà bạn biết. Theo bạn, những cuộc chiến tranh đó đã tác động thế nào đến số phận con người? Nếu sống trong bối cảnh cuộc chiến đó, bạn sẽ cảm thấy thế nào, sẽ hành xử ra sao? GV lắng nghe và ghi nhận những ý kiến khác nhau của HS.
GV nhấn mạnh tầm quan trọng của việc tìm hiểu tri thức nền trước khi đọc một văn bản sử thi, hướng dẫn cho HS ghi nhớ những đặc điểm thể loại sử thi và những th
GV nhấn mạnh tầm quan trọng của việc tìm hiểu tri thức nền trước khi đọc một văn bản sử thi, hướng dẫn cho HS ghi nhớ những đặc điểm thể loại sử thi và những thông tin cần lưu ý để hiểu rõ hơn về đoạn trích Héc-to từ biệt Ăng-đrô-mác.
Với nội dung thứ hai của hoạt động khởi động, GV có thể yêu cầu HS chia sẻ về một tình huống phải lựa chọn giữa việc thực hiện bổn phận với cộng đồng và với gia đình (ví dụ như bạn muốn tham gia các hoạt động thiện nguyện để đem lại giá trị cho cộng đồng, nhưng gia đình lại muốn bạn chỉ tập trung vào việc học tập). Nội dung này nên được chuẩn bị ở nhà, HS có thể gửi lại cho GV vào đầu buổi học. GV tổng hợp ý kiến của HS và dẫn dắt vào chủ đề của văn bản đọc.
GV giới thiệu chủ đề của văn bản Héc-to từ biệt Ăng-đrô-mác và hướng dẫn HS các chiến lược đọc hiệu quả trước khi đọc một tác phẩm văn học như huy động tri thức nền, kết nối với trải nghiệm.
Hoạt động 2 Đọc văn bản
a. GV phân vai, yêu cầu HS đọc thành tiếng trước lớp. Trong quá trình đọc, HS chú ý phân biệt lời của người kể chuyện và lời của các nhân vật trong văn bản.
b. GV nhắc HS chú ý đến các box chỉ dẫn bên phải văn bản. GV hướng dẫn HS trao đổi về những câu hỏi hoặc những nội dung cần lưu ý trong phần chỉ dẫn. Thực chất, những chỉ dẫn này là những gợi ý về chiến lược hiệu quả mà HS cần sử dụng trong khi đọc. Chẳng hạn: - Chỉ dẫn 1: GV lưu ý HS về những chi tiết miêu tả hành động và tâm trạng của Ăng-đrô-mác: nghe tin thành Tơ-roa phải thoái lui, nàng "vội vã tới toà tháp lớn thành I-li-ông (Ilion)", "vừa đi vừa chạy lên thành, đầu không ngoảnh lại",... Hành động này cho thấy nỗi lo lắng, sự quan tâm của nàng dành cho người chồng nơi chiến trận và cả thần dân thành Tơ-roa của mình. - Chỉ dẫn 2: GV lưu ý HS những dự cảm không lành của Ăng-đrô-mác về tương lai, bắt nguồn từ chính những nỗi đau thương, mất mát mà nàng đã từng gánh chịu trong quá khứ. Những dự cảm này cho thấy sự khủng khiếp của chiến tranh, nó không chỉ gây nên những đau khổ trong quá khứ mà còn trở thành một nỗi ám ảnh trong tương lai. GV có thể cho HS đọc kĩ các chi tiết để cảm nhận được nỗi đau khổ thống thiết của nhân vật và nghệ thuật miêu tả tài tình của Hô-me-rơ. - Chỉ dẫn 3: GV yêu cầu HS đọc kĩ lời đối thoại của Héc-to với Ăng-đrô-mác để tìm ra lí lẽ khiến Héc-to vẫn quyết định ra trận. Ở đây, cần chú ý đến sự đối lập giữa một bên là dự cảm không lành của Héc-to về tương lai, nỗi đau khổ, thương xót của chàng với số phận đáng thương của gia đình và thành bang, còn một bên là quyết tâm ra trận của Héc-to, xuất phát từ những lí lẽ chính: (1) Bầu nhiệt huyết và ý thức về danh dự buộc chàng phải can trường chiến đấu, giành vinh quang cho bản thân; (2) Bổn phận và trách nhiệm của một người đàn ông là phải bảo vệ thành khi có chiến tranh; (3) Định mệnh là tất yếu, không ai có thể trốn chạy khỏi số phận. - Ngoài ra, GV lưu ý HS chú ý đến chỉ dẫn 4, 5 và những chi tiết đặc sắc trong đoạn văn như: Đứa con nhỏ khóc ré lên khi nhìn thấy ánh đồng sáng loá trên mũ trụ của cha, chi tiết Héc-to tháo mũ trụ sáng loáng của mình đặt xuống đất rồi mới bồng cậu con trai thân yêu lên tay. Héc-to như không muốn để hình ảnh chiến tranh đáng sợ làm khuất lấp ánh nhìn
và vòng tay yêu thương của người cha. Những chi tiết này tạo dựng hình dung về một cảnh chia li cảm động, thể hiện tình yêu thương trìu mến của Héc-to dành cho
và vòng tay yêu thương của người cha. Những chi tiết này tạo dựng hình dung về một cảnh chia li cảm động, thể hiện tình yêu thương trìu mến của Héc-to dành cho gia đình, thể hiện nghệ thuật miêu tả tài tình của tác giả, đồng thời gợi nên nhiều ý nghĩa: nỗi sợ hãi chiến tranh, niềm khao khát hoà bình, niềm hi vọng vào tương lai,...
c. GV có thể nhắc HS về các chiến lược nên được sử dụng trong khi đọc như giải thích, lưu ý, hình dung để chiếm lĩnh văn bản một cách hiệu quả.
Hoạt động 3 Khám phá văn bản
GV hướng dẫn HS đọc và thảo luận về các thông tin liên quan đến tác giả và tác phẩm. Nếu có thể, GV nên khuyến khích HS đọc toàn văn sử thi I-li-át và thực hiện các nhiệm vụ ở nhà như: vẽ sơ đồ cốt truyện, vẽ sơ đồ hệ thống nhân vật, vẽ bản đồ những địa danh được nhắc tới trong sử thi I-li-át, tìm hiểu thêm về thân thế và sự nghiệp của Hô-me-rơ,...
GV nên khuyến khích HS đọc truyền thuyết về cuộc chiến tranh thành Tơ-roa cũng như câu chuyện về các vị thần và những người anh hùng trong Thần thoại Hy Lạp để nắm bắt
được toàn bộ câu chuyện và hiểu được đặc điểm, cũng như vai trò của các vị thần được nhắc tới trong sử thi I-li-át, đọc hiểu được quan niệm về vũ trụ và nhân sinh của người Hy Lạp cổ đại.
Câu hỏi 1: Biến cố nào dẫn đến việc Héc-to phải từ biệt Ăng-đrô-mác? Vì sao có thể xem
đó là biến cố đặc trưng cho thể loại sử thi?
GV yêu cầu HS kể tóm tắt hoặc vẽ sơ đồ cốt truyện sử thi I-li-át dựa trên phần tóm tắt sau khi đọc văn bản (SGK tr. 103 - 104) và xác định biến cố trước đó đã dẫn đến việc Héc-to phải từ biệt Ăng-đrô-mác.
Gợi ý: HS có thể liên kết hai đoạn tóm tắt chuỗi sự kiện trước và sau trích đoạn Héc-to từ biệt Ăng-đrô-mác trong SGK có thêm chú giải về 24 khúc ca của sử thi (tr. 103 - 104) tương ứng với chuỗi sự kiện như sau: Cuộc chiến vây hãm thành Tơ-roa của quân A-kê-en, tức quân Hy Lạp, bước sang năm thứ mười vẫn không phân thắng bại. A-khin, dũng tướng tài giỏi nhất của quân Hy Lạp, tức giận vì bị chủ soái A-ga-mem-nông tước mất chiến lợi phẩm là nàng Bri-dê-ít, quyết không tham chiến, đồng thời qua mẹ của mình là nữ thần Thê-ti-xơ, cầu xin thần Dớt làm cho quân Hy Lạp thất bại. Thần Dớt hứa hẹn, nhưng chưa thực hiện lời hứa (khúc ca I). Thoả thuận về một cuộc chiến tay đôi chấm dứt chiến tranh không thành, quân Hy Lạp và quân Tơ-roa lại tiếp tục giao chiến (khúc ca II - IV). Cuộc chiến nơi hạ giới luôn có sự can thiệp của các vị thần chia làm hai phe ủng hộ hai bên. Quân Hy Lạp nhất thời giành thế áp đảo (khúc ca V). Hoàng tử Héc-to, chủ soái quân đội thành Tơ-roa, quay vào thành thúc giục binh sĩ, khẩn cầu nữ thần A-then-na giúp đỡ. Chàng ghé về nhà thăm vợ con (Héc-to từ biệt Ăng-đrô-mác - khúc ca VI). Sau khi từ biệt Ăng-đrô-mác, Héc-to ra trận, dũng cảm chiến đấu với dũng tướng A-giắc của quân Hy Lạp (khúc ca VII). Thần Dớt bắt đầu thực hiện lời hứa của mình: làm cho quân Hy Lạp thất thế trong khi A-khin kiên quyết không tham chiến (khúc ca VIII - X). Quân Tơ-roa đánh lui quân Hy Lạp tới các chiến thuyền ngoài bờ biển (khúc ca XI - XV). Pa-tơ-rô-clơ, chiến hữu thân cận của A-khin, mượn giáp trụ và vũ khí của A-khin xung trận. Pa-tơ-rô-clơ bị Héc-to giết chết (khúc ca XVI), dũng tướng Mê-nê-lát kiên cường chiến đấu giành lại thi thể của Pa-tơ-rô-clơ (khúc ca XVII). A-khin nhận được tin báo Pa-tơ-rô-clơ tử trận (khúc ca XVIII). Nỗi đau thương và khát vọng trả thù cho bạn thôi thúc A-khin quay lại chiến trường, giành thế áp đảo cho quân
Hy Lạp (khúc ca XIX - XXI). A-khin giết chết Héc-to, kéo xác chàng quanh thành (khúc ca XXII - XXIII). A-khin trả lại thi hài Héc-to cho vua Pri-am khi xúc động
Hy Lạp (khúc ca XIX - XXI). A-khin giết chết Héc-to, kéo xác chàng quanh thành (khúc ca XXII - XXIII). A-khin trả lại thi hài Héc-to cho vua Pri-am khi xúc động trước nỗi đau của người cha tới chuộc xác con. Sử thi I-li-át khép lại với lễ an táng Héc-to cùng những binh sĩ tử trận của cả hai bên (khúc ca XXIV). - GV thống nhất: Biến cố quan trọng dẫn đến việc Héc-to phải từ biệt Ăng-đrô-mác là việc thành Tơ-roa bị quân Hy Lạp vây hãm, tình thế hết sức nguy nan. Đây là một biến cố đặc trưng của sử thi vì nó là sự kiện lớn, liên quan đến vận mệnh của cộng đồng. Biến cố này đặt nhân vật Héc-to vào tình thế buộc phải chọn lựa: ở lại thành Tơ-roa để giữ an toàn cho bản thân hay mở cổng thành, ra trận nghênh chiến với kẻ thù để thực hiện bổn phận và bảo toàn danh dự. Thông qua quyết định lựa chọn đó, nhân vật bộc lộ rõ phẩm chất của mình.
Câu hỏi 2: Xác định những từ ngữ lặp lại khắc hoạ đặc điểm cố định của nhân vật trong
đoạn trích. Theo bạn, vì sao sử thi lại có cách khắc hoạ nhân vật như vậy? - GV yêu cầu HS tìm những từ ngữ lặp lại khắc hoạ đặc điểm cố định của nhân vật trong đoạn trích ("Ăng-đrô-mác cánh tay trắng ngần", "cô hầu gái xống áo thướt tha", "những cô
dâu trang phục diễm lệ", "các phu nhân thành Tơ-roa vấn tóc chỉnh tề", "A-khin có đôi chân nhanh", "ánh đồng sáng loá", "mũ trụ sáng loáng",...). - GV có thể đặt câu hỏi: Những từ ngữ lặp lại này thường có cấu trúc như thế nào và có tác dụng gì? Gợi ý: Các từ ngữ này thường là các tính từ, các phép so sánh nhằm miêu tả đặc điểm bề ngoài hoặc phẩm chất bên trong của nhân vật, các danh từ hoặc cụm danh từ giúp giải thích về nguồn gốc, dòng dõi xuất thân của các nhân vật. Việc lặp lại các từ ngữ như vậy giúp cụ thể hoá và khắc ghi đặc điểm của nhân vật vào tâm trí của người đọc, đồng thời tạo nên nhịp điệu kể chuyện chậm rãi của sử thi. - GV đặt câu hỏi: Vì sao sử thi lại có cách khắc hoạ nhân vật như vậy? GV lắng nghe và ghi nhận câu trả lời của HS. Gợi ý: Do sử thi tồn tại dưới hình thức truyền miệng, song lại có dung lượng lớn, câu chuyện vì thế không được kể liên tục mà bị ngắt quãng thành nhiều đoạn, do đó, để giúp người nghe có thể ghi nhớ, có ấn tượng sâu sắc về các nhân vật, người kể chuyện sử thi phải lặp đi lặp lại các từ ngữ miêu tả nhân vật. Những từ ngữ này thường được gọi là tính ngữ cố định, là một trong những đặc trưng rất quan trọng của thể loại sử thi.
GV tổng kết và thống nhất câu trả lời đúng. - GV cũng có thể đặt thêm các câu hỏi cho đối tượng HS giỏi: Tìm các tính ngữ cố định miêu tả đặc điểm của các nhân vật khác trong sử thi "I-li-át" như A-khin, Pri-am,... Những tính ngữ cố định này có tác dụng gì trong việc khắc hoạ nhân vật?
Câu hỏi 3: Phân tích những đặc trưng của không gian sử thi trong đoạn trích.
GV yêu cầu HS đọc và tìm các chi tiết miêu tả không gian trong đoạn trích. Gợi ý: "Héc-to về tới ngôi nhà êm ấm của mình, nhưng không thấy Ăng-đrô-mác cánh tay trắng ngần trong buồng như thường lệ", nàng "đứng trên tháp canh nức nở", "bà vừa đi vừa chạy lên thành", "Héc-to tức thì rời nhà, chạy ngược theo những dãy phố thành Tơ-roa xây dựng khang trang. Xuyên qua phố xá thành Tơ-roa rộng lớn, chàng tới cổng Xkê (Skey)",...
GV hướng dẫn HS thảo luận về đặc điểm của không gian nghệ thuật trong đoạn trích. Gợi ý: Đoạn trích miêu tả cảnh gặp gỡ giữa Héc-to và Ăng-đrô-mác trước khi lên
GV hướng dẫn HS thảo luận về đặc điểm của không gian nghệ thuật trong đoạn trích. Gợi ý: Đoạn trích miêu tả cảnh gặp gỡ giữa Héc-to và Ăng-đrô-mác trước khi lên đường ra trận. Vốn dĩ, đây là một cảnh riêng tư, thể hiện mối quan hệ và tình cảm cá nhân. Thế nhưng, tác giả lại không đặt nhân vật trong những không gian riêng tư như ngôi nhà êm ấm, trong buồng, mà để nhân vật hoạt động trong những không gian công cộng rộng lớn - Ăng-đrô-mác đứng trên tháp canh, Héc-to chạy ngược qua các dãy phố, tới cổng Xkê. Tình cảm riêng tư của nhân vật được bộc lộ trong cuộc trò chuyện ngay tại cổng thành - biểu tượng của không gian cộng đồng trong chiến tranh. Trong lời đối thoại của Ăng-đrô-mác và Héc-to, hình ảnh của thành Tơ-roa cũng liên tục được nhắc tới. Không gian cộng đồng là không gian đặc trưng của sử thi. Chiến trường, thành luỹ, tháp canh, phố xá,... không chỉ là nơi nhân vật sử thi bộc lộ sức mạnh phi thường và phẩm chất can trường của mình, mà còn làm nền cho những tình cảm riêng tư nhất của con người. Người anh hùng sử thi cũng là người gắn bó mật thiết với mảnh đất quê hương của họ, sự sống và cái chết, niềm vinh quang và nỗi đau khổ của họ đều gắn liền với sự tồn vong, thịnh suy của thành luỹ, pháo đài,
những không gian thiêng liêng mà họ sẵn sàng bảo vệ dù phải hi sinh tính mạng.
Câu hỏi 4: Những lời nói, hành động của Ăng-đrô-mác thể hiện phẩm chất gì của nhân vật?
GV yêu cầu HS đọc kĩ văn bản và tìm ra những chi tiết miêu tả lời nói, hành động của Ăng-đrô-mác trong đoạn trích. (GV đặc biệt nhắc HS chú ý đến các chi tiết: "Nghe tin quân A-kê-en khí thế áp đảo, những chiến binh Tơ-roa của chúng ta buộc phải thoái lui, phu nhân vội vã tới toà tháp lớn thành I-li-ông , lời khuyên của Ăng-đrô-mác dành cho Héc-to:"Hãy bố trí một toán quân chốt chặn chỗ cây vả, nơi dễ leo lên tường thành" để bảo vệ thành A-ten). - GV đặt câu hỏi: Những lời nói, hành động của Ăng-đrô-mác thể hiện phẩm chất gì của nhân vật? GV lắng nghe và ghi nhận các ý kiến khác nhau của HS. - GV tổng kết: Những hành động, lời nói của Ăng-đrô-mác một mặt cho thấy tình yêu thương của nàng đối với Héc-to, một mặt cho thấy ý thức về bổn phận của Ăng-đrô-mác. Trong tận cùng nỗi lo lắng và đau khổ, Ăng-đrô-mác vẫn không quên nghĩ đến bổn phận và trách nhiệm của mình đối với thành Tơ-roa. - GV có thể đặt thêm câu hỏi: Bạn nhận xét gì về cách miêu tả nhân vật Ăng-đrô-mác trong đoạn trích? Qua nhân vật Ăng-đrô-mác, ta có thể nhận ra điều gì về quan niệm nhân sinh của người Hy Lạp thời cổ đại? Gợi ý: Tác giả miêu tả rất tinh tế diễn biến nội tâm của nhân vật Ăng-đrô-mác, đặc biệt là những ám ảnh về quá khứ, dự cảm về tương lai, sự đau khổ, giằng co giữa một bên là tình yêu đối với Héc-to và một bên là ý thức về bổn phận. Qua nhân vật Ăng-đrô-mác, ta cũng có thể thấy được ý thức về cá nhân và cộng đồng của người Hy Lạp cổ đại.
Câu hỏi 5: Vì sao Héc-to vẫn quyết định mở cổng thành nghênh chiến với quân Hy Lạp?
Bạn suy nghĩ gì về hành động đó của nhân vật? - GV lưu ý HS những thông tin đã tìm hiểu trong khi đọc: Những dự cảm của Ăng-đrô-mác và Héc-to về tương lai, tình yêu thương gia đình và lòng quyết tâm ra trận của Héc-to. - GV nhắc HS đặc biệt lưu ý đến các chi tiết: "Nhưng sẽ hổ thẹn xiết bao với những chiến binh và những người phụ nữ thành Tơ-roa xống áo thướt tha, nếu ta ở lại đây, như kẻ hèn nhát,
đứng nhìn từ xa, tránh không xung trận. Hơn nữa, bầu nhiệt huyết trong ta không cho phép ta làm vậy: từ lâu ta đã học cách luôn ở tuyến đầu, can trường chiến đấ
đứng nhìn từ xa, tránh không xung trận. Hơn nữa, bầu nhiệt huyết trong ta không cho phép ta làm vậy: từ lâu ta đã học cách luôn ở tuyến đầu, can trường chiến đấu, giành vinh quang cho thân phụ và bản thân .
GV đặt câu hỏi: Vì sao Héc-to vẫn quyết định mở cổng thành nghênh chiến với quân Hy Lạp? GV khuyến khích HS đưa ra quan điểm riêng của mình và ghi nhận mọi ý kiến của HS.
Gợi ý: Nhân vật sử thi là nhân vật đại diện cho cộng đồng, hành động theo nguyên tắc danh dự. Ý thức về nỗi hổ thẹn nếu không xung trận, bầu nhiệt huyết, khát vọng chiến đấu, giành vinh quang cho thân phụ và bản thân chính là động cơ thôi thúc Héc-to ra trận. Ở đây, ta có thể thấy, những tình cảm cá nhân như tình cảm gia đình, nỗi sợ hãi, lo lắng về tương lai dù rất sống động, vẫn bị gạt sang một bên trước bổn phận và danh dự.
GV đặt câu hỏi: Bạn suy nghĩ gì về hành động đó của nhân vật? Nếu là Héc-to, bạn sẽ làm gì trong tình huống này? Đây là một câu hỏi mở, GV khuyến khích HS đưa ra ý kiến riêng của mình và ghi nhận mọi ý kiến khác nhau của HS.
GV tổng kết các ý kiến thảo luận và thống nhất câu trả lời.
Câu hỏi 6: Đoạn trích Héc-to từ biệt Ăng-đrô-mác đã đặt ra những vấn đề nhân sinh nào?
Những vấn đề đó còn có ý nghĩa với đời sống ngày nay không? Vì sao?
Đây là một câu hỏi mở, tuỳ theo góc nhìn, trải nghiệm riêng của HS mà các em có thể đưa ra những kiến giải khác nhau. GV có thể cho HS thảo luận nhóm để trả lời câu hỏi. GV cần tôn trọng và ghi nhận các quan điểm khác nhau của HS. Dưới đây là một số gợi ý:
Đoạn trích đã đặt ra vấn đề số phận của con người trong chiến tranh. Chiến tranh không những cướp đi sinh mệnh của những người thân yêu của Ăng-đrô-mác, mà còn trở thành một nỗi sợ hãi, ám ảnh, thành dự cảm chẳng lành của nàng khi nghĩ về tương lai. Trong hình dung của Héc-to, chiến tranh không những có thể khiến chàng bị vùi xác nơi sa trường, mà còn để lại những nỗi thống khổ, nhục nhã và đau xót cho người thân của chàng. Vấn đề này là vấn đề muôn thuở của nhân loại, vì ngày nay, chiến tranh vẫn luôn là nỗi ám ảnh của nhiều quốc gia trên thế giới.
Đoạn trích đặt ra vấn đề trách nhiệm và bổn phận của con người với cộng đồng. Héc-to đã quyết tâm mở cổng thành vì trách nhiệm, bổn phận của chàng là bảo vệ thành Tơ-roa. Con người dù sống ở bất cứ thời đại nào đều là một cá thể trong cộng đồng, đều có những nghĩa vụ và trách nhiệm nhất định với cộng đồng của mình. Vì thế, vấn đề được đặt ra trong sử thi cũng là vấn đề có ý nghĩa nhân loại.
Đoạn trích gợi những suy tư về mối quan hệ giữa con người và định mệnh. Héc-to và Ăng-đrô-mác đều có dự cảm và thậm chí biết rõ sẽ tới ngày thành Tơ-roa thất thủ, đều biết rõ cái chết và nỗi đau khổ sẽ xảy đến với mình. Nhưng ý thức về danh dự và bổn phận đã giúp cho Héc-to đủ can đảm đối diện với định mệnh. Tuy quan niệm của con người đương đại về định mệnh có thể khác với quan niệm của người Hy Lạp cổ xưa, nhưng những suy tư về định mệnh vẫn thường trực trong tâm thức nhân loại ở bất cứ thời đại nào. Vũ khí để con người chống chọi với định mệnh chính là khả năng nghĩ đến nhau, kết nối, thương yêu nhau trong một cộng đồng và ý thức về bổn phận, danh dự đối với cộng đồng như minh chứng cho sự tồn tại của một nhân cách.
Đọc đoạn trích Héc-to từ biệt Ăng-đrô-mác, ta không những có thể hiểu thêm về những quan niệm của người Hy Lạp cổ đại về thế giới, mà còn có thể chất vấn những
Đọc đoạn trích Héc-to từ biệt Ăng-đrô-mác, ta không những có thể hiểu thêm về những quan niệm của người Hy Lạp cổ đại về thế giới, mà còn có thể chất vấn những quan niệm đó, để hiểu hơn về chính đời sống của chúng ta ngày nay. Sức sống và giá trị của sử thi còn nằm ở chính khả năng gợi nên những chất vấn này.
Câu hỏi 7: Qua những lời nói, hành động của Héc-to, hãy xác định những phẩm chất tạo
dựng nên hình mẫu người anh hùng của Hy Lạp thời cổ đại.
GV yêu cầu HS đọc lại và xác định những chi tiết miêu tả hành động, lời nói của Héc-to để nhận ra những phẩm chất của người anh hùng này.
Gợi ý: Có thể thấy Héc-to là một người hết lòng thương yêu gia đình, nhưng hơn hết, chàng là người dũng cảm, ngoan cường, coi trọng danh dự, sẵn sàng hi sinh để bảo vệ thành bang, sẵn sàng gạt tình riêng vì nghĩa lớn. Đó là những phẩm chất của người anh hùng đại diện cho cộng đồng.
GV có thể đặt thêm câu hỏi: Ngoài nhân vật Héc-to được giới thiệu trong đoạn trích, bạn
còn biết thêm nhân vật anh hùng nào khác trong sử thi "I-li-át"? Những nhân vật anh hùng này có phẩm chất gì chung? Vì sao họ lại có chung những phẩm chất đó?
Gợi ý: Trong sử thi I-li-át có rất nhiều nhân vật anh hùng: A-khin sức mạnh phi thường, dũng mãnh vô song; Mê-nê-lát dũng cảm, kiêu hùng;... Tất cả các nhân vật này đều có chung các phẩm chất: dũng cảm, coi trọng danh dự, khát khao chiến thắng. Những nhân vật anh hùng của Hô-me-rơ dù có tính cách khác nhau, ở những chiến tuyến đối lập nhau, song vẫn có những phẩm chất giống nhau, là bởi họ là đại diện cho lí tưởng, khát vọng của cộng đồng. Đó chính là đặc trưng của nhân vật sử thi.
GV tổng kết và thống nhất câu trả lời. Gợi ý: Thông qua nhân vật Héc-to, Hô-me-rơ đưa ra hình mẫu về người anh hùng theo quan niệm của người Hy Lạp thời cổ đại: đó là sự kết hợp hài hoà giữa một bên là con người cá nhân với ý chí tự do, tình cảm gia đình, tình bằng hữu và một bên là con người cộng đồng với ý thức về trách nhiệm, bổn phận và danh dự. "Tính hài hoà sử thi" này đã tạo nên vẻ đẹp cao cả của các nhân vật anh hùng trong sử thi Hy Lạp.
Hoạt động 4 Kết nối đọc - viết
Viết một đoạn văn (khoảng 150 chữ) phân tích một chi tiết mà bạn cho là đặc sắc nhất trong đoạn trích.
GV hướng dẫn HS tìm chi tiết đặc sắc trong đoạn trích. Gợi ý: Chi tiết Ăng-đrô-mác tất tả cùng nhũ mẫu bồng đứa bé chạy lên thành nghe ngóng tình hình chiến trận; chi tiết Héc-to vội vã băng qua phố xá thành Tơ-roa tìm vợ con; cuộc đối thoại giữa Ăng-đrô-mác và Héc-to; lời kể của Ăng-đrô-mác về những mất mát từng phải gánh chịu qua chiến tranh và lời khuyên chồng ở lại trong thành; chi tiết Héc-to bỏ mũ trụ bồng con lên, nói lời nguyện cầu; chi tiết kết thúc trích đoạn - lời dặn dò của Héc-to với Ăng-đrô-mác và cảnh chia tay;...
Văn bản 2 Đăm Săn đi Nữ Thần Mặt Trời Săn) Sử thi Ê-đê Đăm 1. Phân tích yêu cầu cần đạt Nhận biết và phân tích được một số yếu tố của sử thi: không gian, thời g
Văn bản 2
Đăm Săn đi Nữ Thần Mặt Trời
Săn) Sử thi Ê-đê
Đăm
1. Phân tích yêu cầu cần đạt
Nhận biết và phân tích được một số yếu tố của sử thi: không gian, thời gian, cốt truyện, nhân vật, lời người kể chuyện và lời nhân vật.
Biết nhận xét nội dung bao quát của văn bản, biết phân tích các chi tiết tiêu biểu trong văn bản.
Nêu được ý nghĩa hay tác động của tác phẩm văn học đối với quan niệm, cách nhìn, cách nghĩ và tình cảm của người đọc.
Biết trân trọng những giá trị tinh thần to lớn được thể hiện trong sử thi.
2. Gợi ý tổ chức hoạt động dạy học
Hoạt động 1 Khởi động
Tìm hiểu và chia sẻ với các bạn thông tin về một đặc điểm văn hoá của người Ê-đê (ví dụ: trang phục, ẩm thực, nhà ở, lễ hội,...): - GV giao nhiệm vụ chuẩn bị bài: Tìm hiểu các thông tin về văn hoá của người Ê-đê từ buổi học trước.
GV chia nhóm HS và hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ. Ví dụ: Nhóm 1. Làm một poster giới thiệu trang phục của người Ê-đê: Sưu tầm ảnh chụp, video clip,... về một bộ trang phục của người Ê-đê; tìm hiểu về chất liệu, cách làm, các hoạ tiết, sự biến đổi trong trang phục của người Ê-đê từ truyền thống đến hiện đại; ý nghĩa văn hoá, triết lí, quan niệm,... ẩn sau các trang phục đó. Nhóm 2. Thuyết trình về ẩm thực của người Ê-đê: Giới thiệu một món ăn truyền thống của người Ê-đê, các nguyên liệu, cách chế biến, hương vị, ý nghĩa văn hoá của món ăn.
Nhóm 3. Làm mô hình nhà ở của người Ê-đê: Tìm hiểu về vật liệu, cách xây dựng, cách bài trí không gian, ý nghĩa văn hoá của ngôi nhà, sau đó sử dụng các vật liệ
Nhóm 3. Làm mô hình nhà ở của người Ê-đê: Tìm hiểu về vật liệu, cách xây dựng, cách bài trí không gian, ý nghĩa văn hoá của ngôi nhà, sau đó sử dụng các vật liệu quen thuộc như bìa các tông, gỗ để sáng tạo mô hình một ngôi nhà của người Ê-đê. Để giúp HS có thể dễ dàng tổng hợp thông tin, GV có thể thiết kế phiếu hướng dẫn. Lưu ý: Mục đích chính của hoạt động này là nhằm giúp HS có động lực và hứng thú để tự chuẩn bị bài học, HS không nhất thiết phải thuyết trình trong buổi học mà có thể trưng bày sản phẩm trước buổi học và sau buổi học, có thể treo trên tường lớp học hoặc đăng tải trên các kênh thông tin khác như facebook, youTube,... GV và các HS khác có thể viết nhận xét của mình dưới mỗi sản phẩm của các nhóm. - GV đặt câu hỏi cho HS: Vì sao cần tìm hiểu các thông tin về văn hoá của người Ê-đê trước khi đọc sử thi "Đăm Săn"? - GV lưu ý HS về cách đọc sử thi: Vì sử thi là một bảo tàng sống động của thời đại đã qua, chứa đựng rất nhiều những thông tin về đời sống, phong tục, địa lí, lịch sử của một cộng đồng, nên muốn hiểu được sử thi, cần có tri thức nền về văn hoá, lịch sử,... Đọc sử thi cũng cho ta
hiểu biết hơn về chính nền văn hoá hiện tại, vì sử thi là cội nguồn văn hoá của một cộng đồng. - GV lưu ý HS về ý nghĩa của biểu tượng Mặt Trời: Biểu tượng Mặt Trời là một biểu tượng phổ biến trong nhiều nền văn hoá khác nhau. Trong thần thoại Hy Lạp, Mặt Trời được nhân cách hoá thành thần Hê-li-ớt (Helios), điều khiển cỗ xe Mặt Trời để phân phát ánh sáng cho thế gian. Người Trung Quốc có thần thoại Hậu Nghệ bắn Mặt Trời,... Ở mỗi nền văn hoá khác nhau, biểu tượng Mặt Trời lại có hàm nghĩa rất khác nhau. Theo Từ điển biểu tượng văn hoá thế giới(1), ở châu Úc, Mặt Trời được coi là con trai của Đấng Sáng tạo và là gương mặt thần thánh khoan ái loài người... Pla-tông (Platon), một nhà triết học Hy Lạp cổ đại coi Mặt Trời là hình ảnh của điều thiện. Trong kinh Vệ đà, Mặt Trời là con mắt của thế giới. Biểu tượng Mặt Trời còn xuất hiện trở đi trở lại trong các tác phẩm văn chương và in dấu trong nhiều hoạt động văn hoá của con người. - GV lưu ý HS chú ý đến ý nghĩa của biểu tượng Mặt Trời khi đọc trích đoạn Đăm Săn đi bắt Nữ Thần Mặt Trời.
Hoạt động 2 Đọc văn bản
GV phân vai, yêu cầu HS đọc thành tiếng trước lớp. Trong quá trình đọc, HS chú ý phân biệt giọng của người trần thuật và giọng của các nhân vật trong văn bản. - GV nhắc HS chú ý đến các chỉ dẫn bên phải văn bản và nhận định chung về ý nghĩa của chúng.
Hoạt động 3 Khám phá văn bản
GV yêu cầu HS chuẩn bị trước bài học bằng cách trả lời các câu hỏi trong SGK. Trong tiết học, GV có thể chia nhóm HS, mỗi nhóm thảo luận để trả lời một câu hỏi. Trong giờ học, trước khi thảo luận cả lớp về các câu hỏi, đại diện từng nhóm sẽ lên trình bày kết quả thảo luận của mình. GV đặt thêm các câu hỏi phụ, câu hỏi dẫn dắt, câu hỏi nâng cao để giúp HS hiểu sâu hơn văn bản và qua các câu hỏi của GV, HS biết cách đọc hiểu một văn bản sử thi.
(1) Giăng Sơ-va-li-ê (Jean Chevalier), A-lanh Ghê-brăng (Alain Gheerbrant), Từ điển biểu tượng văn hoá thế giới, NXB Đà Nẵng, 2002, tr. 576.
Trước khi đọc, GV có thể hướng dẫn HS thảo luận để phân chia bố cục của văn bản. Gợi ý: Có thể phân chia đoạn trích Đăm Săn đi bắt Nữ Thần Mặt Trời thành các đo
Trước khi đọc, GV có thể hướng dẫn HS thảo luận để phân chia bố cục của văn bản. Gợi ý: Có thể phân chia đoạn trích Đăm Săn đi bắt Nữ Thần Mặt Trời thành các đoạn: (1) Đăm Săn đến nhà Đăm Par Kvây: từ"Hai người ra đi" đến "Rừng bà Sun Y Rít sẽ bắt đầu động đấy.".
(2) Đăm Săn đến nhà Nữ Thần Mặt Trời: từ "Thế là Đăm Săn ra đi" đến "Tôi về đây.". (3) Đăm Săn trở về: từ "Thế là Đăm Săn ra về" đến "đều chìm xuống". Để hướng dẫn HS tự đọc hiểu văn bản và trả lời các câu hỏi trong SGK, GV cũng có thể xây dựng các phiếu học tập với những hướng dẫn và câu hỏi cụ thể hơn.
Câu hỏi 1: Tóm tắt những sự kiện chính trong đoạn trích. Những sự kiện đó thể hiện
phẩm chất gì của người anh hùng Đăm Săn?
GV yêu cầu HS tóm tắt lại các sự kiện chính trong đoạn trích.
Gợi ý:
(1) Đăm Săn rủ Đăm Par Kvây đi bắt Nữ Thần Mặt Trời. (2) Đăm Par Kvây khuyên Đăm Săn không nên đi vì đường đi nguy hiểm, Đăm Săn có thể chết trong Rừng Đen.
(3) Đăm Săn vẫn quyết tâm đến nhà của Nữ Thần Mặt Trời. (4) Đăm Săn gặp Nữ Thần Mặt Trời, ngỏ ý muốn lấy nàng làm vợ. (5) Nữ Thần Mặt Trời từ chối và khuyên Đăm Săn trở về. (6) Đăm Săn trở về và chết trong Rừng Đen. - GV đặt câu hỏi: Những sự kiện đó thể hiện phẩm chất gì của người anh hùng Đăm Săn? Những sự kiện trong đoạn trích thể hiện khát vọng mãnh liệt, lòng quyết tâm chinh phục Nữ Thần Mặt Trời, sự mạnh mẽ, dũng cảm của Đăm Săn.
Câu hỏi 2: Lời kể, lời miêu tả, lời đối thoại có vai trò gì trong việc khắc hoạ nhân vật? Hãy
làm rõ những đặc trưng của lời văn sử thi trong đoạn trích này.
GV yêu cầu HS đọc lại phần Tri thức ngữ văn, phần về lời kể trong sử thi, lưu ý những từ khoá quan trọng.
GV yêu cầu HS đọc kĩ những lời kể, lời miêu tả, lời đối thoại trong đoạn trích, phân tích tác dụng của chúng trong việc khắc hoạ nhân vật. GV có thể phân tích mẫu một chi tiết, ví dụ như đoạn miêu tả Đăm Săn khi đến nhà Đăm Par Kvây: "Chàng giậm chân trên sàn sân, hai lần sàn sân làm như vỗ cánh, bảy hàng cột nhà chao qua chao lại từ đông sang tây. Chàng giắt chà gạc lên, rồi ngồi xuống, trông nghênh nghênh như con rắn trong hang, ngang ngang như con cọp trong đầm, như con tê giác trong thung. Chàng nói nói cười cười, tiếng oang oang như sấm gầm sét dậy". Ở đây, người kể chuyện đã dừng lại để miêu tả hành động của Đăm Săn bằng thủ pháp khoa trương, trùng điệp, so sánh, nhằm giúp người đọc có thể hình dung ra một cách sống động về nhân vật và nhấn mạnh sức mạnh phi thường của Đăm Săn.
HS tự phân tích các đoạn kể, tả và đối thoại khác trong đoạn trích. - HS tự khái quát và đưa ra nhận định về đặc điểm của lời kể, lời miêu tả, lời đối thoại trong đoạn trích.
GV tổng kết, ghi nhận các đóng góp của HS. Gợi ý: Lời kể trong sử thi Đăm Săn có sự phối hợp khéo léo và hài hoà giữa kể, tả, bình luận, lôi cuốn người đọc bằng
GV tổng kết, ghi nhận các đóng góp của HS. Gợi ý: Lời kể trong sử thi Đăm Săn có sự phối hợp khéo léo và hài hoà giữa kể, tả, bình luận, lôi cuốn người đọc bằng lối miêu tả tỉ mỉ, giúp người đọc hình dung được một cách cụ thể về nhân vật, bối cảnh. Các thủ pháp khoa trương, cường điệu, so sánh được sử dụng một cách thường xuyên, nhằm giúp người đọc hình dung một cách sống động về nhân vật, đồng thời thể hiện sự ngưỡng mộ đối với nhân vật và câu chuyện được kể. Cách kể chuyện chậm rãi, thường dừng lại ở những tiết đoạn cao trào, tạo điểm nhấn và sự hồi hộp chờ đợi cho người đọc. Lời đối thoại thể hiện rõ giọng điệu, cá tính của từng nhân vật. Lời kể này vừa rất tiêu biểu cho lời kể của sử thi, vừa thể hiện sắc thái riêng của lối kể khan của người Tây Nguyên.
Câu hỏi 3: Người kể chuyện trong đoạn trích này là ai? Hãy tìm hiểu một số thông tin về
hình thức kể chuyện sử thi của người Ê đê. - GV nhắc HS nhớ lại khái niệm người kể chuyện, vai trò của người kể chuyện đã được
học trong Bài 1 - Sức hấp dẫn của truyện kể. - GV hướng dẫn HS nhận diện người kể chuyện qua ngôi kể, điểm nhìn trần thuật, cách miêu tả, kể chuyện, bình luận trong văn bản. - HS đọc kĩ những đoạn miêu tả, kể chuyện để tìm ra những chi tiết cho thấy ngôi kể, điểm nhìn, giọng điệu của người kể chuyện, đặc biệt chú ý đến nhịp điệu trần thuật, nghệ thuật trùng điệp, phóng đại, so sánh, những lời bình luận của người kể chuyện, ví dụ: "Ai ai cũng đã từng nghe đồn Đăm Săn là một tù trưởng giàu mạnh, đầu đội khăn nhiễu, vai mang nải hoa", "Tiếng xì xào ca ngợi chàng đã vọng tới tai Nữ Thần Mặt Trời ở nhà trong", "Khắp các tù trưởng không một ai như chàng Đăm Săn cả!". - GV đặt câu hỏi: Những chi tiết đó cho thấy người kể chuyện là ai, kể từ điểm nhìn nào, bằng giọng điệu như thế nào? - GV hướng dẫn HS chọn phân tích một số chi tiết tiêu biểu, ví dụ đoạn miêu tả hình dáng của Đăm Săn, đoạn miêu tả hành động của Đăm Săn khi đến nhà Nữ Thần Mặt Trời, đoạn miêu tả Đăm Săn trở về,... - HS làm việc nhóm, tìm và phân tích những chi tiết khác trong tác phẩm để chỉ ra người trần thuật và giọng điệu trần thuật trong văn bản.
HS các nhóm chia sẻ lại kết quả làm việc. - GV tổng kết các ý kiến, ghi nhận đóng góp của các nhóm. Gợi ý: Người kể chuyện trong tác phẩm là người kể chuyện ngôi thứ ba, kể từ điểm nhìn bên ngoài, là người kể chuyện hoà mình vào đám đông, vào cộng đồng để kể câu chuyện về chàng Đăm Săn. Giọng điệu ngợi ca là giọng điệu xuyên suốt văn bản, được thể hiện qua thủ pháp khoa trương, trùng điệp, lối so sánh ví von, cách sử dụng các tính ngữ cố định (cụm tính từ được lặp đi lặp lại chỉ đặc điểm của nhân vật) nhằm tô đậm vẻ đẹp và phẩm chất phi thường của chàng Đăm Săn. Giọng điệu ngợi ca cũng được thể hiện qua những lời bình luận trực tiếp của người kể chuyện và nhịp điệu chậm rãi, khoan thai của lời kể.
GV yêu cầu HS tìm hiểu thêm những thông tin về hình thức kể chuyện và không gian diễn xướng của sử thi dựa vào những gợi ý trong phần giới thiệu về sử thi Đăm S
GV yêu cầu HS tìm hiểu thêm những thông tin về hình thức kể chuyện và không gian diễn xướng của sử thi dựa vào những gợi ý trong phần giới thiệu về sử thi Đăm Săn (SGK, tr. 110) và đặt câu hỏi: Giả sử bạn là người được trực tiếp nghe kể khan(1) "Đăm Săn" trong không gian văn hoá Tây Nguyên, bạn sẽ có suy nghĩ, cảm xúc gì? Câu hỏi này giúp HS cảm nhận được tính cộng đồng, giá trị và vẻ đẹp sống động của sử thi Đăm Săn trong không gian văn hoá Ê-đê.
Câu hỏi 4: Theo bạn, hình tượng Nữ Thần Mặt Trời trong sử thi Đăm Săn mang những ý
nghĩa gì? - HS đọc kĩ đoạn Đăm Săn gặp Nữ Thần Mặt Trời, chú ý đến những chi tiết miêu tả ngôi nhà, vẻ đẹp và quyền lực của Nữ Thần Mặt Trời. - GV yêu cầu HS đọc lại mục Sử thi trong phần Tri thức ngữ văn: hoàn cảnh ra đời của sử thi, đặc điểm nhân vật và cốt truyện của sử thi, ý nghĩa văn hoá của sử thi. HS cũng cần đọc thêm phần chú thích về sử thi Đăm Săn trong SGK. GV có thể cung cấp thêm các thông tin khác để giúp HS hiểu hơn về bối cảnh ra đời của tác phẩm, đặc biệt là chế độ mẫu hệ của
người Ê-đê.
GV gọi 2 - 3 HS trả lời câu hỏi. Các HS khác bổ sung, nhận xét, phản biện. - GV tổng kết và ghi nhận các ý kiến đóng góp của HS. Gợi ý: Có thể có nhiều cách giải thích, tuỳ thuộc vào mỗi góc nhìn: (1) Nữ Thần Mặt Trời là biểu trưng cho sức mạnh của tự nhiên ("nếu ta đi thì lợn dưới gà trên, cọp tê giác ngựa trâu sẽ chết hết"...). Hành động quyết tâm đi bắt Nữ Thần Mặt Trời của Đăm Săn thể hiện khát vọng lớn lao và phẩm chất dũng cảm phi thường của Đăm Săn, đồng thời cũng thể hiện khát vọng chinh phục tự nhiên của cộng đồng người Ê-đê. (2) Nữ Thần Mặt Trời còn là biểu trưng của chế độ mẫu hệ (chú ý những chi tiết miêu tả vẻ đẹp và quyền lực của nữ tính: "nàng mặc một váy ánh như sét, loáng như chớp", "tiếng nàng lanh lảnh, người chưa tới mà tiếng đã vẳng lại", "nàng rõ ràng là con của Thần Đất và Thần Trời rồi!") và hành động quyết tâm chinh phục Nữ Thần Mặt Trời của Đăm Săn còn là biểu tượng cho xung đột quyền lực giữa người đàn ông và người phụ nữ trong xã hội mẫu hệ Ê-đê. (3) Nữ Thần Mặt Trời là biểu tượng của những vùng đất mới (chú ý các chi tiết miêu tả vùng đất và nhà của Nữ Thần Mặt Trời và hành trình xa xôi, gian nguy của Đăm Săn: "Chàng đi hết rừng rậm đến núi xanh, cỏ tranh xé tay, gai mây đâm chân",...). Hành động quyết tâm đi bắt Nữ Thần Mặt Trời của Đăm Săn biểu trưng cho khát vọng chinh phục những vùng đất mới của cộng đồng. (4) Đăm Săn quyết tâm đi bắt Nữ Thần Mặt Trời, bất chấp can ngăn của mọi người. Hành động đó thể hiện ý chí tự do của người anh hùng mang lí tưởng cộng đồng. Lưu ý: GV nên khuyến khích và ghi nhận những cách lí giải khác nhau của HS. HS có thể đồng ý hay phản biện những gợi ý của GV. - GV có thể đặt câu hỏi giúp HS liên hệ với các văn bản khác: Hình tượng người anh hùng quyết tâm chinh phục tự nhiên còn xuất hiện trong những văn bản nào khác? Ý nghĩa của hình tượng đó là gì?
(1) Khan: hình thức diễn xướng sử thi của người Ê-đê, kết hợp giữa điệu hát và lời kể.
Gợi ý: Ta có thể thấy những hình tượng tương tự như vậy trong rất nhiều tác phẩm văn học trên khắp thế giới, thuộc nhiều thời đại khác nhau: Thần Trụ Trời (thần
Gợi ý: Ta có thể thấy những hình tượng tương tự như vậy trong rất nhiều tác phẩm văn học trên khắp thế giới, thuộc nhiều thời đại khác nhau: Thần Trụ Trời (thần thoại Việt Nam), Sơn Tinh, Thuỷ Tinh (truyền thuyết Việt Nam), Hậu Nghệ bắn Mặt Trời (thần thoại Trung Quốc), Người lái đò sông Đà (Nguyễn Tuân), Ông già và biển cả (Hê-minh-uê - Hemingway),... Các hình tượng này đều thể hiện khát vọng chế ngự được tự nhiên của con người mọi thời đại. - GV cũng có thể đặt thêm câu hỏi để giúp HS suy nghĩ sâu hơn về vấn đề: Vì sao những câu chuyện như vậy lại có mặt ở khắp thế giới? Gợi ý: Con người luôn cảm thấy mình bé nhỏ trước tự nhiên, vì tự nhiên vô cùng bí ẩn và đầy sức mạnh, vừa cung cấp điều kiện sống cho con người, nhưng cũng đồng thời là một mối đe doạ với con người, nên con người mọi thời đại luôn mong ước mình có thể làm chủ được tự nhiên. - GV cũng có thể đặt thêm câu hỏi để giúp HS chia sẻ quan điểm của mình về cách ứng xử giữa con người và tự nhiên.
GV nhấn mạnh về ý nghĩa của sử thi đối với đời sống đương đại: Sử thi ra đời từ thời đại xa xưa của nhân loại, nhưng vẫn gợi nên rất nhiều vấn đề mà ta phải tiếp tục suy nghĩ trong thời hiện đại. Đọc hiểu sử thi là tìm hiểu về quan niệm, ứng xử của con người thời xa xưa, nhưng cũng có thể giúp ta suy ngẫm về cách ứng xử của chính mình trong thời đại ngày nay.
Câu hỏi 5: Bạn có suy nghĩ gì về cái chết của Đăm Săn trong Rừng Đen? Phải chăng đó là
kết quả tất yếu của việc theo đuổi một mục tiêu vượt quá giới hạn con người? - GV yêu cầu HS đọc kĩ phần đối thoại của Đăm Săn và Đăm Par Kvây và đoạn cuối của đoạn trích, chú ý đến những chi tiết cảnh báo về cái chết của Đăm Săn trong lời đối thoại của Đăm Par Kvây, của Nữ Thần Mặt Trời, những chi tiết miêu tả hành trình trở về của Đăm Săn, những chi tiết miêu tả thái độ cương quyết của Đăm Săn khi đi bắt Nữ Thần Mặt Trời và hành trình trở về của Đăm Săn. - GV đặt câu hỏi: Tại sao dù biết mình sẽ chết trong Rừng Đen khi mặt trời lên, Đăm Săn vẫn quyết định trở về? GV lưu ý HS về quyết tâm của Đăm Săn khi đi bắt Nữ Thần Mặt Trời, mặc dù biết trước mình có thể đi vào cõi chết, bất chấp sự ngăn cản của mọi người.
Gợi ý: Có thể có nhiều cách cắt nghĩa: (1) Nhân vật sử thi là nhân vật hành xử theo nguyên tắc danh dự. Đây là đặc điểm thống nhất của nhiều mẫu hình anh hùng sử thi ở nhiều dân tộc trên thế giới. Héc-to biết trước mình sẽ chết khi ra trận và biết trước số phận hẩm hiu sẽ đến với những người thân của mình nếu mình chết, nhưng vẫn quyết tâm ra trận vì danh dự. Ra-ma buộc tội Xi-ta mặc dù hết lòng yêu thương người vợ của mình cũng vì danh dự. Thế nên, hành động quyết tâm đi bắt Nữ Thần Mặt Trời hay quyết tâm trở về sau khi ý nguyện không thành của Đăm Săn cũng thể hiện nguyên tắc danh dự của người anh hùng Ê-đê. (2) Nhân vật sử thi là nhân vật của cộng đồng. Họ là một phần của xóm làng. Dù có chinh phục miền đất mới, phiêu lưu tới những xứ sở xa xôi, thì nơi chốn thực sự của họ bao giờ cũng là quê hương, cộng đồng của mình. Thế nên, ông già Pri-am bất chấp hiểm nguy và thể diện để đòi mang bằng được thi thể của Héc-to về thành Tơ-roa, Uy-lít-xơ cuối cùng cũng trở về nhà của mình sau nhiều năm phiêu bạt. Sứ mệnh của Đăm Săn là phục vụ cho
cộng đồng của mình. Hành động của Đăm Săn là đại diện cho ý nguyện của cộng đồng. Vì thế, khi chí nguyện không thành, Đăm Săn phải quay trở lại với cộng đồng củ
cộng đồng của mình. Hành động của Đăm Săn là đại diện cho ý nguyện của cộng đồng. Vì thế, khi chí nguyện không thành, Đăm Săn phải quay trở lại với cộng đồng của mình, dù hành trình đó đầy những thử thách và nguy hiểm: Người anh hùng sử thi cũng đại diện cho ý chí tự do của con người, thậm chí vì ý chí tự do này mà nhân vật có thể chống lại định mệnh. Hành động Đăm Săn bất chấp cảnh báo của Nữ Thần Mặt Trời cũng có thể biểu hiện những nỗ lực chống lại định mệnh để khẳng định ý chí tự do của con người. Lưu ý: Với mỗi văn bản, thường có nhiều cách kiến giải khác nhau. Do đó, những kiến giải của GV chỉ là gợi ý. HS có thể đưa ra cách kiến giải riêng của mình. - GV đặt câu hỏi: Bạn có suy nghĩ gì về cái chết của Đăm Săn trong Rừng Đen? Phải chăng đó là kết quả tất yếu của việc theo đuổi một mục tiêu vượt quá giới hạn con người? Đây là một câu hỏi mở, GV cần khuyến khích HS đưa ra cách kiến giải riêng của mình và ghi nhận mọi ý kiến khác nhau của HS. Dưới đây là một số gợi ý: (1) Cái chết của Đăm Săn càng tô đậm phẩm chất dũng cảm, ý chí tự do, quyết tâm mãnh liệt
và ý thức về danh dự của người anh hùng, dù có chết cũng không từ bỏ lí tưởng của mình. (2) Cái chết là một thách thức mới và cũng là thách thức cao nhất cho ý chí tự do và lòng can đảm của Đăm Săn. Mô tả cái chết của Đăm Săn là nhằm nhấn mạnh sự tái sinh của Đăm Săn trong hình tượng Đăm Săn cháu, người sẽ tiếp nối hành trình của chàng trong phần tiếp theo của sử thi. (3) Cái chết của Đăm Săn thể hiện bi kịch của người anh hùng cộng đồng trong hành trình chinh phục của họ.
HS có thể đưa ra kiến giải riêng của mình, khác với gợi ý của GV.
Câu hỏi 6: Qua đoạn trích Đăm Săn đi bắt Nữ Thần Mặt Trời, bạn nhận ra những đặc trưng
nào trong phong tục, tập quán, tín ngưỡng của người Ê-đê xưa? - GV giới thiệu về vai trò của sử thi trong việc lưu giữ kí ức của cộng đồng, có thể kết nối với bài học trước về trích đoạn Héc-to từ biệt Ăng-đrô-mác để thấy sử thi là một bảo tàng sống động về một thời đại đã qua.
GV hướng dẫn cách khai thác các yếu tố phôn-cờ-lo (folklore) trong sử thi. - GV yêu cầu HS đọc kĩ các đoạn miêu tả nhân vật, miêu tả bối cảnh, những đối thoại của các nhân vật (Ví dụ: đoạn miêu tả Đăm Săn đến làng của Đăm Par Kvây, đoạn miêu tả cảnh Đăm Par Kvây tiếp đón Đăm Săn, đoạn miêu tả hành trình của Đăm Săn khi đến nhà của Nữ Thần Mặt Trời, đoạn miêu tả ngôi nhà của Nữ Thần Mặt Trời,...). - GV hướng dẫn HS đọc kĩ phần cước chú của văn bản để hiểu được nghĩa của các từ, hàm nghĩa văn hoá ẩn sau các từ ngữ, chi tiết trong văn bản. - GV hướng dẫn HS cách dùng tưởng tượng để tái hiện bức tranh thế giới được miêu tả trong văn bản thông qua một chi tiết cụ thể. - HS chia sẻ lại những hiểu biết của mình về văn hoá của người Ê-đê được thể hiện trong văn bản (nhà cửa, trang phục, ẩm thực, giao tế, tổ chức xã hội,...).
GV tổng kết, nhận xét, ghi nhận những ý kiến của HS và thống nhất câu trả lời.
Gợi ý: Đoạn trích đã cho ta thấy một bức tranh vô cùng sống động về phong tục, tập quán, tín ngưỡng của người Ê-đê, ví dụ: Ta biết người Ê-đê ở trong nhà sàn, v
Gợi ý: Đoạn trích đã cho ta thấy một bức tranh vô cùng sống động về phong tục, tập quán, tín ngưỡng của người Ê-đê, ví dụ: Ta biết người Ê-đê ở trong nhà sàn, với nhiều hàng cột, xà ngang xà dọc, có cầu thang. Trong nhà có các vật dụng: ché tuk, ché êbah, chiếu, chiêng, mâm đồng, chậu thau,... biểu thị của sự giàu có, sung túc; khi có khách đến, người ta đánh chiêng, trải chiếu, rót rượu trong ché tuk, ché êbah mời khách; người đàn ông khi đi rừng thường giắt theo chà gạc; ta biết ông Đu, ông Điê là những vị thần cao nhất trong hệ thống thần của người Ê-đê;...
GV có thể nhắc HS nhớ lại những thông tin đã cùng tìm hiểu và chia sẻ ở đầu buổi học về đặc điểm văn hoá của người Ê-đê, so sánh những đặc điểm đó với những tri thức mà HS biết thêm khi đọc văn bản; từ đó phân tích được sức sống của sử thi, của truyền thống văn hoá trong đời sống của người Ê-đê ngày nay.
Câu hỏi 7: Qua hai đoạn trích Héc-to từ biệt Ăng-đrô-mác và Đăm Săn đi bắt Nữ Thần
Mặt Trời, hãy nêu những điểm tương đồng và khác biệt trong quan niệm của người Hy Lạp cổ đại và người Ê-đê về người anh hùng.
GV có thể phát phiếu học tập để hướng dẫn HS so sánh hai nhân vật, dựa trên các tiêu chí: ngoại hình, lí tưởng, phẩm chất, khát vọng, hoàn cảnh, số phận, nghệ thuật miêu tả.
Trên cơ sở phiếu học tập, GV hướng dẫn HS phân tích để tìm ra những điểm giống nhau và khác nhau giữa hai nhân vật.
Gợi ý: Hai nhân vật đều được miêu tả như những người anh hùng có sức mạnh phi thường, ý chí mạnh mẽ, phẩm chất can trường, ở sự dũng cảm dám đối mặt và vượt qua thách thức của định mệnh và cái chết. Tuy nhiên, ở nhân vật Héc-to, bình diện con người cá nhân được đặc biệt nhấn mạnh, trong khi đó, ở nhân vật Đăm Săn, bình diện cá nhân của con người không được chú trọng miêu tả. Ý chí, khát vọng của hai nhân vật cũng khác nhau: Héc-to bất chấp cái chết đã được báo trước để bảo vệ thành bang trong khi Đăm Săn bất chấp cái chết đã được báo trước để chinh phục Nữ Thần Mặt Trời.
GV đặt câu hỏi: Qua các nhân vật trong hai đoạn trích, hãy chỉ ra điểm tương đồng và khác biệt trong quan niệm về người anh hùng của người Hy Lạp cổ đại và người Ê-đê xưa. Để trả lời được câu hỏi này, GV có thể yêu cầu HS liên hệ với những nhân vật anh hùng khác trong hai bộ sử thi, cũng như tìm hiểu thêm về văn hoá, nhân sinh quan, thế giới quan của người Ê-đê và người Hy Lạp cổ đại. GV có thể cung cấp sẵn một số tài liệu để HS có thể tự đọc trước ở nhà. Đây là câu hỏi mở, HS có thể đưa ra nhiều kiến giải khác nhau.
Gợi ý: Trong sử thi nói chung và trong hai đoạn trích nói riêng, người anh hùng đều được coi là đại diện cho phẩm chất, sức mạnh, khát vọng của cộng đồng, đều hành động theo nguyên tắc danh dự. Sự thất bại và cái chết được báo trước của những người anh hùng khi chống lại định mệnh cũng thể hiện thế giới quan thần thoại của người cổ đại nói chung. Tuy nhiên, với người Hy Lạp thời cổ đại, phẩm chất cao nhất của người anh hùng là ý thức công dân và việc làm tròn bổn phận với thành bang. Trong khi đó, với người Ê-đê, phẩm chất quan trọng nhất của người anh hùng là khát vọng mở mang bờ cõi, chinh phục tự nhiên.
GV có thể đặt thêm câu hỏi: Qua việc phân tích nhân vật Đăm Săn và Héc-to, bạn có thể rút ra kinh nghiệm gì để có thể phân tích các nhân vật sử thi? GV lắng nghe và ghi nhận các ý kiến của HS.
Thực hành tiếng Việt
Thực hành tiếng Việt
Trang 132
VIẾT Viết báo cáo nghiên cứu về một vấn đề 1. Phân tích yêu cầu cần đạt - HS nắm được cấu trúc của một báo cáo nghiên cứu. - HS hiểu được quy trình, cách thức v
VIẾT
Viết báo cáo nghiên cứu về một vấn đề
1. Phân tích yêu cầu cần đạt
- HS nắm được cấu trúc của một báo cáo nghiên cứu. - HS hiểu được quy trình, cách thức viết một báo cáo nghiên cứu. - HS biết cách sử dụng trích dẫn, cước chú trong bài viết.
- HS hiểu được những quy định về sở hữu trí tuệ để tránh đạo văn. - HS biết vận dụng các phương tiện phù hợp để hỗ trợ cho việc biểu đạt thông tin trong báo cáo nghiên cứu.
2. Những lưu ý về yêu cầu đối với kiểu bài
Báo cáo nghiên cứu thường được sử dụng để ghi lại những tổng hợp hoặc phát hiện của người viết về một vấn đề nào đó sau một quá trình dài nghiên cứu, tìm hiểu, vì thế còn được gọi là báo cáo kết quả nghiên cứu. Trong cuộc sống, báo cáo nghiên cứu thường được ứng dụng khi HS tham gia các cuộc thi như cuộc thi Khoa học và Kĩ thuật Quốc tế In-theo Ai-sép (Intel ISEF(1)), khi thực hiện các dự án môn học, khi muốn xin tài trợ cho các hoạt động học tập và nghiên cứu, khi tham gia vào một hội thảo chuyên môn, hội thảo khoa học,... Báo cáo nghiên cứu là kết quả của một quá trình học sâu, cho thấy tư duy sáng tạo, quá trình tìm tòi, niềm say mê hứng thú của người viết với đề tài mà mình theo đuổi.
3. Gợi ý tổ chức hoạt động dạy học
Hoạt động 1 Giới thiệu kiểu bài
GV yêu cầu HS sưu tập một số báo cáo nghiên cứu và chia sẻ thông tin mà mình thu thập được trước cả lớp. - GV cũng có thể chiếu hình ảnh hoặc video về một số tình huống, bối cảnh mà trong đó người tham gia phải trình bày một báo cáo nghiên cứu (ví dụ: trong một hội thảo khoa học, trong cuộc thi In-theo Ai-sép để nhấn mạnh tầm quan trọng của loại văn bản này trong đời sống.
GV giới thiệu về chức năng, bối cảnh sử dụng của báo cáo nghiên cứu.
(1) Intel ISEF: cuộc thi Khoa học và Kĩ thuật Quốc tế cho HS phổ thông do Hiệp hội Khoa học và Xã hội (Mỹ) tổ chức.
Hoạt động 2 Tìm hiểu yêu cầu của kiểu bài HS đọc kĩ phần Yêu cầu ở mục Viết, đánh dấu vào các từ khoá quan trọng và xác định những tiêu chí chính của một báo cá
Hoạt động 2 Tìm hiểu yêu cầu của kiểu bài
HS đọc kĩ phần Yêu cầu ở mục Viết, đánh dấu vào các từ khoá quan trọng và xác định những tiêu chí chính của một báo cáo nghiên cứu. - HS có thể so sánh yêu cầu cần đạt của kiểu bài báo cáo nghiên cứu với kiểu bài nghị luận đã học ở các bài trước.
Hoạt động 3 Đọc và phân tích bài viết tham khảo
GV cho HS đọc bài viết tham khảo, chú ý đến những box chỉ dẫn bên phải của văn bản. - GV đặt các câu hỏi để giúp HS nhận diện cấu trúc và cách trình bày các thông tin trong bài viết, ví dụ: Phần giới thiệu vấn đề bao gồm những thông tin gì? Quan điểm nghiên cứu được trình bày dưới hình thức nào? Các kết quả nghiên cứu chính được trình bày ở đâu, dưới hình thức nào? Làm thế nào để người viết thuyết phục độc giả tin vào những phát hiện, tổng hợp của mình? Người viết đã sắp xếp các thông tin theo trật tự ra sao, đã liên kết các thông tin bằng cách
nào? Các trích dẫn được sử dụng như thế nào? Tác dụng của các trích dẫn đó là gì? Phần chú thích và tài liệu tham khảo được đặt ở đâu, bao gồm những thông tin nào, được sắp xếp theo trật tự như thế nào? Phần kết luận có những thông tin gì? - GV yêu cầu HS đối chiếu nội dung với yêu cầu cần đạt để tìm ra cấu trúc đặc trưng của báo cáo nghiên cứu so với các kiểu loại văn bản đã học trước đó.
Hoạt động 4 Thực hành viết theo các bước
GV hướng dẫn HS đọc kĩ phần hướng dẫn Thực hành viết theo các bước trong SGK, tìm hiểu các giai đoạn và chiến lược cụ thể để viết một báo cáo nghiên cứu. Đặc biệt, GV cần nhấn mạnh: Báo cáo nghiên cứu là sản phẩm của một quá trình dài tìm tòi, tập hợp thông tin để đưa ra một cách kiến giải, tổng hợp riêng của mình về vấn đề, nên giai đoạn trước khi viết vô cùng quan trọng. Khác với viết một bài nghị luận xã hội, nghị luận văn học, giai đoạn trước khi viết báo cáo nghiên cứu thường diễn ra trong một quá trình dài, với rất nhiều khâu, nhiều thao tác phức tạp, đòi hỏi thái độ làm việc nghiêm cẩn, tỉ mỉ, trách nhiệm, cũng như phương pháp làm việc khoa học. Báo cáo nghiên cứu cũng đòi hỏi phải mới, sáng tạo, thể hiện quan điểm, cách nhìn, cách tổng hợp thông tin riêng của người viết; nên khâu tìm ý tưởng nghiên cứu vô cùng quan trọng, có thể coi là yếu tố quyết định thành công của một bài viết. - GV có thể gợi ý một số đề tài liên quan đến chủ đề của bài học, ví dụ: Tìm hiểu về dấu ấn sử thi trong một tác phẩm văn học, nghệ thuật hiện đại như bộ phim Cuộc chiến thành Tơ-roa của đạo diễn Huơ-gang Pi-tơ-sen, Sự sụp đổ của thành Tơ-roa của hoạ sĩ người Mỹ Rô-me Bia-đen, so sánh hình tượng khỉ thần Ha-nu-man (Hanuman) trong sử thi Ra-ma-ya-na (Ramayana) với nhân vật Tôn Ngộ Không trong Tây du kí của Ngô Thừa Ân,... HS cũng có thể phân tích không khí sử thi trong các bộ phim nổi tiếng của điện ảnh đương đại như Chúa tể của những chiếc nhẫn (The Lord of the Rings), Chiến tranh giữa các vì sao (Star Wars), Avatar,... - GV chia nhóm HS, mỗi nhóm thực hiện một nhiệm vụ tự chọn. GV hướng dẫn các nhóm cách thức tiến hành nghiên cứu: Tìm ý tưởng, lập kế hoạch nghiên cứu, phân công thực hiện nhiệm vụ, ghi chép và tổng hợp thông tin, viết báo cáo,... Có thể thiết kế phiếu hướng dẫn để giúp định hướng cho quá trình làm việc nhóm của HS.
HS làm việc nhóm, thảo luận tại lớp về ý tưởng và kế hoạch nghiên cứu và thực hiện các nhiệm vụ nghiên cứu khác ở nhà. Sau quá trình HS thực hiện nhiệm vụ, HS t
HS làm việc nhóm, thảo luận tại lớp về ý tưởng và kế hoạch nghiên cứu và thực hiện các nhiệm vụ nghiên cứu khác ở nhà.
Sau quá trình HS thực hiện nhiệm vụ, HS trình bày lại kết quả nghiên cứu của mình dưới dạng một báo cáo kết quả nghiên cứu và nộp lại cho GV. GV khuyến khích HS sử dụng các phương tiện hỗ trợ cho việc trình bày báo cáo như tranh ảnh, video clip,...
TRẢ BÀI
Hoạt động 1 Nhắc lại, khắc sâu yêu cầu của kiểu bài
GV cho HS nhắc lại yêu cầu chung của kiểu bài và những đòi hỏi cụ thể của kiểu bài.
Hoạt động 2 Nhận xét về kết quả viết và yêu cầu HS chỉnh sửa bài viết
GV nhận xét chung về bài viết của HS.
Trả bài và yêu cầu HS chỉnh sửa, hoàn thiện bài viết theo hướng dẫn trong SGK.
Củng cố, mở rộng Với bài tập 1, 2, 4, HS có thể nộp lại bài tập cho GV dưới dạng bài viết trong vở. Với bài tập 3, HS có thể làm việc theo nhóm và báo cáo lại k
Củng cố, mở rộng
Với bài tập 1, 2, 4, HS có thể nộp lại bài tập cho GV dưới dạng bài viết trong vở. Với bài tập 3, HS có thể làm việc theo nhóm và báo cáo lại kết quả cho GV dưới nhiều hình thức khác như video clip, một bài thuyết trình bằng PowerPoint.
Trang 137
Trang 138
Tìm hiểu tri thức ngữ văn HS đọc phần Tri thức ngữ văn, nêu cách hiểu của mình về nội dung từng phần và hỏi thêm về những điểm chưa rõ. Nếu kế hoạch dạy học của
Tìm hiểu tri thức ngữ văn
HS đọc phần Tri thức ngữ văn, nêu cách hiểu của mình về nội dung từng phần và hỏi thêm về những điểm chưa rõ. Nếu kế hoạch dạy học của nhà trường chỉ yêu cầu dạy, học một trong hai văn bản thuộc thể loại chèo, tuồng thì GV chỉ hướng dẫn HS tìm hiểu khái niệm nào gắn với văn bản được dạy, học. Nếu kế hoạch quy định dạy, học cả hai văn bản thuộc hai thể loại thì GV cần cho HS tìm hiểu đồng thời cả hai khái niệm chèo và tuồng đã được nêu trong phần Tri thức ngữ văn.
Để giúp HS nắm vững các khái niệm, GV có thể khơi sâu vấn đề bằng một số câu hỏi như: - Nghệ thuật chèo đã trải qua những bước phát triển nào? - Tại sao có thể nói chèo là một nghệ thuật mang tính tổng hợp? - Những yếu tố nào góp phần làm nên một vở diễn chèo trọn vẹn? Trong đó, yếu tố nào đóng vai trò điểm tựa? - Theo bạn, sự sáng tạo của diễn viên chèo thường được thể hiện trên những phương diện nào? - Bạn có những hiểu biết gì về tính dị bản của kịch bản chèo dân gian? Tính dị bản có mối quan hệ như thế nào với tính vô danh, tính tập thể? - Theo tìm hiểu riêng của bạn, có thể nói thêm điều gì về chèo ngoài những điều được trình bày ở phần Tri thức ngữ văn? - Nghệ thuật tuồng gồm những bộ phận sáng tác chủ yếu nào? - Những điểm gì có thể làm căn cứ để nhận diện tuồng dân gian? - Tích tuồng dân gian có những đặc điểm gì đáng chú ý về nội dung và hình thức? Tất cả những câu hỏi trên đều có thể được trả lời khá dễ dàng nếu HS đọc kĩ nội dung phần Tri thức ngữ văn. GV có thể gói lại phần này bằng một bảng so sánh đơn giản giữa chèo dân gian và tuồng dân gian trên các phương diện: thời điểm định hình và phát triển; vùng không gian gây ảnh hưởng sâu đậm; tính chất nổi bật; đề tài, tích trò phổ biến,...
GV nhắc HS tự ghi những ý phân tích mở rộng đối với các nội dung đã có trong SGK. Lưu ý: Khi tìm hiểu Tri thức ngữ văn chỉ nên thực hiện trong khoảng nửa tiết học, bởi có nhiều vấn đề sẽ còn được tiếp tục làm rõ qua hoạt động đọc các văn bản cụ thể ở sau. Lúc này, GV chỉ cần giúp HS có được một số ý niệm bao quát về chèo và tuồng là đủ.
ĐỌC Văn bản 1 Văn bản 1 Xuý Vân giả dại (Trích chèo Nham) Kim 1. Phân tích yêu cầu cần đạt HS nắm được một số nét đặc trưng của nghệ thuật chèo truyền thống thể
ĐỌC
Văn bản 1
Văn bản 1
Xuý Vân giả dại
(Trích chèo Nham)
Kim
1. Phân tích yêu cầu cần đạt
HS nắm được một số nét đặc trưng của nghệ thuật chèo truyền thống thể hiện qua đoạn trích trên các phương diện: đề tài, tích truyện, nhân vật, lời thoại (tính vô danh và phương thức lưu truyền đã được nhắc đến trong phần Tri thức ngữ văn). - HS hiểu được văn bản ngôn từ thể hiện tích truyện là yếu tố quan trọng nhất làm nền cho toàn bộ hoạt động biểu diễn của một vở chèo.
HS đồng cảm với khát vọng hạnh phúc, khát vọng sống thật với mình được gửi gắm qua hình tượng nhân vật Xuý Vân.
2. Gợi ý tổ chức hoạt động dạy học
Hoạt động 1 Khởi động
GV có thể dựa vào những câu hỏi gợi ý trong SGK để khởi động giờ học. Cũng có thể tổ chức trò chơi mang tên "Loại hình nghệ thuật nào? Vở diễn gì?". Trong trò chơi này, GV chiếu một số video clip ngắn hay đưa ra một số bức ảnh chụp cảnh diễn chèo hoặc tuồng để HS đoán, xác định, nhận diện về các đối tượng. - Dù khởi động bằng hình thức nào, đối với GV, thông tin cốt yếu cần phải nắm là HS đã có được ý niệm gì hoặc có ấn tượng như thế nào về nghệ thuật chèo. Căn cứ vào phản ứng của HS trước văn bản chèo, vở diễn chèo hay đơn giản chỉ là tài liệu nói về chèo, GV cần hình dung được hướng điều chỉnh các hoạt động dạy học, làm sao để HS có thể hiểu chèo hoặc yêu chèo hơn, ít nhất là xoá bỏ được các định kiến (nếu có) với nghệ thuật này.
Hoạt động 2 Đọc văn bản
GV tự đọc hoặc cho một HS đọc phần tóm tắt tích trò Xuý Vân giả dại, gợi ý cho HS thể hiện những diễn biến chính của tích trò bằng một sơ đồ đơn giản (vẽ, ghi trên bảng). - GV chỉ định HS đọc văn bản (đọc thành tiếng trước lớp), nhắc các em chú ý đến những cước chú và nội dung thẻ chỉ dẫn bên phải văn bản. Có nhiều khả năng một số từ ngữ sẽ bị đọc sai, vì vậy, nhân việc góp ý, chỉnh sửa, GV cần giải thích cho HS hiểu rõ nghĩa các từ ngữ cổ hoặc mang tính chất địa phương có trong văn bản.
Hoạt động 3 Khám phá văn bản
Cho HS đọc phần giới thiệu chung về vở chèo Kim Nham và lớp chèo Xuý Vân giả dại. GV cần nhấn mạnh và diễn giải sâu hơn về nhận định: "Kim Nham hội tụ được những tinh hoa của nghệ thuật chèo"(những câu hỏi gợi mở có thể nêu: Vì sao có thể nói như vậy? Những giá trị nổi bật nào của chèo truyền thống được thể hiện qua vở chèo này?...).
Hướng dẫn HS tìm hiểu bố cục của đoạn trích (lớp chèo). Có thể chia đoạn trích thành 3 phần: Phần 1: Xuý Vân xuất hiện (từ đầu đến "ai biết là ai?"). + Phần 2:
Hướng dẫn HS tìm hiểu bố cục của đoạn trích (lớp chèo). Có thể chia đoạn trích thành 3 phần:
Phần 1: Xuý Vân xuất hiện (từ đầu đến "ai biết là ai?"). + Phần 2: Xuý Vân xưng danh (từ "Bước chân vào" đến "Ờ"). + Phần 3: Xuý Vân giãi bày (đoạn còn lại). Hoạt động phân tích văn bản trong giờ học có thể đi theo từng phần của bố cục. Cần nhớ rằng tên gọi như trên cho từng phần phân tích chỉ có ý nghĩa tương đối. Xuý Vân không phải là đối tượng miêu tả khách quan mà là đối tượng tự biểu hiện. GV có thể đặt những tên khác, miễn sao tên gọi thể hiện được nội dung trữ tình của từng phần bố cục. Ngoài ra, GV cũng có thể hướng dẫn HS khám phá văn bản theo lối kết hợp cắt ngang và bổ dọc, với việc chia nội dung phân tích thành hai phần: a. Nhân vật Xuý Vân; b. Đặc trưng của sân khấu chèo được thể hiện qua đoạn trích (khi phân tích về nhân vật Xuý Vân, có thể bám sát diễn biến của tích chèo: Xuý Vân xuất hiện, Xuý Vân xưng danh, Xuý Vân giãi bày).
GV cần dựa vào nội dung phân tích ở từng phần để nêu các câu hỏi và yêu cầu phù hợp (đã được gợi ý trong SGK). Khi hướng dẫn HS thực hiện hoạt động sau khi đọc, GV cần tham khảo phần gợi ý dưới đây:
Câu hỏi 1: Nêu nguyên nhân dẫn đến hành động giả dại của Xuý Vân.
Câu hỏi này cần được nêu lên sau bước phân tích bố cục văn bản. Việc nắm bắt đúng nguyên nhân hành động giả dại của Xuý Vân sẽ giúp cho người đọc nắm bắt được ý nghĩa từng chi tiết, lời thoại được dễ dàng hơn. GV hướng dẫn HS tìm lời giải đáp qua những thông tin được đưa đến ở phần tóm tắt tác phẩm hoặc được "tiết lộ" trong một số lời thoại của Xuý Vân. - GV có thể phân tích cho HS thấy nguyên nhân trực tiếp và nguyên nhân sâu xa. Nguyên nhân trực tiếp: lời xúi giục và hứa hẹn ngon ngọt của Trần Phương - gã người tình trăng hoa và đểu cáng (nguyên nhân này có thể được nhận biết một phần qua những chi tiết ngoài văn bản, ở đoạn tóm tắt tác phẩm và một phần qua chính đoạn xưng danh của Xuý Vân trong văn bản). Nguyên nhân sâu xa: nỗi buồn chán, cô đơn khi phải sống xa chồng và niềm khát khao cảnh sống êm đềm, hạnh phúc của Xuý Vân (cũng như trên, nguyên nhân này có thể được nhận biết qua những thông tin cả trong lẫn ngoài văn bản).
Câu hỏi 2: Trong lớp chèo Xuý Vân giả dại, đoạn lời thoại nào thể hiện rõ nhất "ngôn ngữ
điên" của nhân vật? Vì sao bạn xác định như vậy? - Có thể nêu câu hỏi này ngay sau bước phân tích nguyên nhân hành động giả dại của Xuý Vân, cũng có thể nêu khi phân tích khái quát về đặc điểm lời thoại của nhân vật. Những câu hỏi gợi ý cho HS trả lời: Theo quan sát của bạn, ngôn ngữ của một người điên thường có đặc điểm gì? Với một người giả điên, ngôn ngữ phải như thế nào để người ta tin rằng mình điên thật? Ở trường hợp Xuý Vân, giữa điên thật và điên giả có khi khó tách bạch. Điều này đã được thể hiện như thế nào trong các lời thoại? - GV cần để HS được tự do chọn đoạn lời thoại mà các em cho rằng nó đã thể hiện rõ nhất "ngôn ngữ điên" của nhân vật. Điều quan trọng là những lí giải tiếp theo. Sau đó, GV cùng HS phân tích những đoạn lời thoại đã được nêu lên (có thể rất khác nhau).
Có thể chọn phân tích đoạn lời thoại gắn liền với điệu "hát ngược" ở cuối văn bản (đoạn trích). Điều dễ thấy trước hết ở đây là rất nhiều đối tượng, sự vật được
Có thể chọn phân tích đoạn lời thoại gắn liền với điệu "hát ngược" ở cuối văn bản (đoạn trích). Điều dễ thấy trước hết ở đây là rất nhiều đối tượng, sự vật được nhắc đến nhưng giữa chúng không có mối liên hệ gì với nhau. Có cảm tưởng Xuý Vân đã tiện đâu nói đó, nhớ gì nói nấy, mỗi câu nói như một mảnh rời, được gá ghép với nhau một cách lộn xộn. Điều thứ hai là mọi sự đã được nhân vật nhìn theo một logic ngược, phải đảo lại hoàn toàn thì mới đúng với ghi nhận của tri giác thông thường: "Chuột đậu cành rào, muỗi ấp cánh dơi,/ Ông Bụt kia bẻ cổ con nai,/ Cái trứng gà mà tha con quạ lên ngồi trên cây",... Tất cả những điều này dễ dàng đưa đến cho người nghe, người đọc cảm giác rằng người nói quả thực là một kẻ điên hoặc không bình thường. Ở đây, khi xây dựng lời thoại của Xuý Vân, tác giả dân gian đã khéo vận dụng những bài ca dao nói ngược đầy tính hài hước vốn khá phổ biến trong kho tàng ca dao, chẳng hạn: "Bước sang tháng Sáu giá chân/ Tháng Chạp nằm trần bức đổ mồ hôi/ Con chuột kéo cày lồi lồi/ Con trâu bốc gạo vào ngồi trong cong"... Hoặc: "Trời mưa cho mối bắt gà/ Thòng đong cân cấn đuổi cò lao xao/ Lươn nằm cho trúm bò vào/ Một đàn cào cào đuổi bắt cá rô",...
Câu hỏi 3: Hãy chọn phân tích một đoạn lời thoại để làm rõ những mâu thuẫn giằng xé
trong nội tâm của nhân vật Xuý Vân.
Câu hỏi này có thể được nêu lên trong bất cứ phần phân tích nào, nhưng phù hợp nhất khi GV muốn HS có được cảm nhận đúng về bản chất của hình tượng nhân vật, sau khi các em đã hiểu sơ bộ về diễn biến câu chuyện và trạng thái tâm lí của Xuý Vân.
Để chứng minh cho nhận xét có trong câu hỏi, có thể dẫn ra nhiều đoạn lời thoại khác nhau, như đoạn lời thoại được thể hiện bằng điệu "quá giang". Ở đây, ta vừa thấy một Xuý Vân buông xuôi, thuận theo sự chi phối của hoàn cảnh "Cách con sông nên tôi phải luỵ đò", vừa thấy một Xuý Vân muốn phản kháng "Chả nên gia thất thì về,/ Ở làm chi mãi cho chúng chê, bạn cười . Đặc biệt, bên cạnh một Xuý Vân buông thả theo chuyện "gió trăng" là một Xuý Vân luôn có nỗi hổ thẹn ngấm ngầm, muốn thanh minh, phân bua và cũng biết tự dặn lòng cần giữ tiết "Tôi chắp tay lạy bạn đừng cười,/ Tôi không trăng gió lại gặp người gió trăng./Gió trăng thời mặc gió trăng,/ Ai ơi giữ lấy đạo hằng chớ quên .
Câu hỏi 4: Đoạn lời thoại được thể hiện theo điệu "con gà rừng" cho biết những điều gì
về cảnh ngộ đời sống cũng như niềm mong ước của Xuý Vân?
Đây là câu hỏi quan trọng giúp cho việc đánh giá nhân vật được thấu đáo và toàn diện. Với việc trả lời câu hỏi này, HS sẽ có được cái nhìn sâu hơn về Xuý Vân để đồng cảm với cô.
GV có thể cho HS trao đổi nhóm để đưa ra câu trả lời chung thoả đáng. GV gợi ý và định hướng: Đoạn lời thoại được thể hiện theo điệu "con gà rừng" cho thấy nỗi đắng cay, tấm tức của Xuý Vân khi bị đặt vào một hoàn cảnh không được như ý, có cái gì như là sự cọc cạch, bất tương xứng, chẳng khác tình trạng "Con gà rừng ăn lẫn với công". Nỗi niềm này không thể được tỏ bày"láng giềng ai hay?", bởi làm sao có thể nói về một điều do "xuân huyên" (cha mẹ) sắp đặt. Sâu trong lòng, nàng chỉ ao ước được sống trong cảnh vợ chồng sum họp, hoà thuận:"Chờ cho bông lúa chín vàng,/ Để anh đi gặt, để nàng mang cơm". Nếu việc lặp lại hai dòng "Bông bông dắt, bông bông díu,/ Xa xa lắc, xa xa líu" nhằm diễn tả cảm giác vui vầy, ríu rít của đôi vợ chồng được cùng làm lụng bên nhau, giúp đỡ nhau (theo tưởng tượng, ước mong hơn là theo thực tế), thì việc lặp lại dòng "Láng giềng ai hay, ức bởi xuân huyên"
(cách quãng, dòng đặt giữa đoạn, dòng đặt cuối đoạn) lại nhằm biểu đạt nỗi ấm ức, bất bình trước thực tại, cố nén xuống bao nhiêu lại dội lên bấy nhiêu. Từ "ức"
(cách quãng, dòng đặt giữa đoạn, dòng đặt cuối đoạn) lại nhằm biểu đạt nỗi ấm ức, bất bình trước thực tại, cố nén xuống bao nhiêu lại dội lên bấy nhiêu. Từ "ức" là tiếng đệm trong câu hát, vừa mô phỏng tiếng kêu của con gà nghẹn thóc, vừa mang nghĩa bất bình, uất ức. Nói chung, sự xen kẽ giữa niềm vui và nỗi buồn trong tâm trạng Xuý Vân đã thể hiện rất rõ khát khao hạnh phúc của nhân vật. Đó là điều cần được cảm thông.
Câu hỏi 5: Qua đoạn xưng danh của Xuý Vân, có thể nhận ra được những đặc điểm gì của
sân khấu chèo (cách xưng danh, sự tương tác giữa người xem và người diễn,...)?
Câu hỏi chạm tới cùng lúc nhiều điểm đặc thù của sân khấu chèo: nghệ thuật thể hiện nhân vật, ngôn ngữ xưng danh, dấu ấn của điều kiện biểu diễn mang tính hội hè ở sân đình,... Câu hỏi có thể giúp HS ý thức được sự khác biệt giữa ngôn ngữ đối thoại thông thường trong đời sống và lời thoại mang tính ước lệ của ngôn ngữ chèo.
GV có thể cho HS trao đổi nhóm về câu hỏi này. Một số câu hỏi phụ mang tính chất gợi ý có thể nêu lên: Vì sao nhân vật phải xưng danh? Trước khi xưng danh, nhân vật đã nói câu gì?
Câu nói ấy cho biết điều gì về mối giao tiếp giữa nhân vật và khán giả? Vì sao nhân vật không ngại nói thẳng ra đặc điểm tính cách, nhân cách của chính mình, ngay cả khi tính cách, nhân cách ấy có nhiều điểm tiêu cực?
GV định hướng trả lời: Xưng danh là hình thức giới thiệu, thể hiện nhân vật rất riêng biệt của sân khấu dân gian Việt Nam, không chỉ có trong chèo mà còn có cả trong tuồng nữa. Hình thức xưng danh này đáp ứng yêu cầu của khán giả bình dân muốn nắm bắt nhanh chóng về loại, đặc điểm và vai trò của nhân vật, ngay từ lúc nhân vật vừa xuất hiện trên sân khấu (nhân vật thuộc vai chín (tích cực) hay vai lệch (tiêu cực), tính cách ra sao, có vị trí thế nào trong tích trò). Khi đã được nghe những lời xưng danh, khán giả không còn phải bỏ nhiều công để suy đoán về tính cách của nhân vật nữa, để có thể tập trung theo dõi nghệ thuật trình diễn (múa, hát) của diễn viên (sự thực, sau màn xưng danh, diễn viên chỉ cố sức thể hiện như thế nào cho nổi bật điều đã được báo trước qua những câu chào hỏi). Nội dung xưng danh thường cho biết một cách rất khái quát về danh tính, quê quán, thân phận, gia cảnh, tính cách,... của nhân vật, trong đó, ngay cả nét xấu của nhân vật cũng được nói ra rất tự nhiên (ví dụ, Xuý Vân đã nói về mình: "Phụ Kim Nham, say đắm Trần Phương,/ Nên đến nỗi điên cuồng, rồ dại."). Từ góc nhìn của một khán giả, độc giả hiện đại, cách tự giới thiệu này có vẻ không logic, nhưng đối với người xưa, nó đã được chấp nhận như một quy ước nghệ thuật. Qua lời chào hỏi kiểu như: "Chị em ơi!/ Ra đây có phải xưng danh không nhỉ?" và tiếng đế: "Không xưng danh, ai biết là ai?", có thể nhận ra giữa khán giả và sân khấu không có khoảng cách nào đáng kể. Nói cách khác, sân khấu là một không gian được hình thành tự nhiên giữa vòng vây của khán giả, gây cảm tưởng diễn viên là người vừa bước tách ra khỏi đám đông để lên sàn diễn. Trong khi đó, những khán giả còn lại không hề giữ vai trò thụ động vì họ vẫn có thể tham gia vở diễn ở một số hoạt động nhất định (chẳng hạn tạo tiếng đế sau lời hỏi của nhân vật - diễn viên).
Câu hỏi 6: Nêu một số đặc điểm của ngôn ngữ chèo mà bạn nhận biết được qua đoạn
trích (thể thơ quen dùng; chất liệu ca dao, dân ca;...).
Khái niệm "ngôn ngữ chèo" ở đây chỉ đặc điểm ngôn ngữ của các lời thoại. GV có thể nêu câu hỏi này ở bước phân tích chung về những đặc điểm mang tính loại hình của chèo.
GV có thể hỏi thêm những câu hỏi sau để gợi ý cho HS trả lời: Vì sao những lời thoại trong chèo lại dễ nhớ và dễ lưu truyền? Nêu nhận xét khái quát của bạn về t
GV có thể hỏi thêm những câu hỏi sau để gợi ý cho HS trả lời: Vì sao những lời thoại trong chèo lại dễ nhớ và dễ lưu truyền? Nêu nhận xét khái quát của bạn về tỉ lệ giữa lời nói thường và lời nói có hình thức thơ trong đoạn trích. Bạn nhận ra những thể thơ quen thuộc nào trong các lời thoại của Xuý Vân? Có những thành ngữ, tục ngữ nào đã đưa vào các lời thoại?
GV định hướng trả lời: Trong chèo, lời thoại của nhân vật có thể được thể hiện bằng hình thức của lời nói thường hoặc hình thức của thơ. Ở phần lớn trường hợp, giữa hai hình thức này có sự kết hợp linh hoạt. Những lời thoại có hình thức thơ mà người đọc nhận thấy trên văn bản sẽ được hát lên theo các làn điệu khác nhau khi diễn viên thể hiện trên sân khấu. Bóng dáng của thơ bốn chữ hay thơ lục bát thường hiện diện trong lời thoại của nhân vật với nhiều biến đổi ở cách ngắt nhịp và số tiếng, một phần có thể do sự chi phối của điệu hát hay ngữ điệu của lời nói thường. Có khi, ta gặp ở đây những cặp lục bát theo đúng mô hình chuẩn như: "Gió trăng thời mặc gió trăng,/ Ai ơi giữ lấy đạo hằng chớ quên" hay: "Chờ cho bông lúa chín vàng,/ Để anh đi gặt, để nàng mang cơm". Nhưng cũng nhiều khi ta gặp những cặp hoặc đoạn lục bát biến thể: "Chiếc trống cơm, ai khéo vỗ nên bông,/
Một đàn các cô con gái lội sông té bèo"...
Câu hỏi 7: Qua lớp chèo này, bạn hiểu thêm được những điều gì về đời sống văn hoá
làng xã Việt Nam thuở xưa?
Câu hỏi gợi ý cho HS cách "hoàn trả" văn bản về với bối cảnh ra đời của nó để nhận thấy rõ hơn những dấu ấn của nền văn hoá cổ truyền được thể hiện trong đó. Cũng như các câu hỏi 5 và 6, câu hỏi này có thể được nêu lên khi GV hướng dẫn HS tìm hiểu những đặc trưng của sân khấu chèo bộc lộ qua đoạn trích.
GV định hướng: Qua lớp chèo, có thể thấy được phần nào không gian quen thuộc của nông thôn Việt Nam xưa với các hình ảnh như con sông, bến đò,... những cảnh sinh hoạt như gặt lúa, mang cơm,... Ta cũng có thể nhận ra sự tồn tại của những thiết chế tinh thần ràng buộc đời sống con người như quan niệm "cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy" và dư luận xã hội (rõ ràng ở Xuý Vân luôn có một nỗi ám ảnh về tình trạng "chúng chê, bạn cười")... Đặc biệt, ta còn cảm nhận được sự đồng vọng thắm thiết giữa những tấm lòng trong cộng đồng làng xã mỗi khi các từ xưng hô như "chị em", "bạn" vang lên.
Câu hỏi 8: Xuý Vân giả dại để che giấu điều gì? Bạn đánh giá như thế nào về hành động
này của nhân vật?
Đây là câu hỏi mang tính chất đánh giá, đòi hỏi HS phải bộc lộ được quan điểm của mình trước một vấn đề, hiện tượng đời sống.
GV gợi ý trả lời: Trong xã hội Việt Nam xưa, con người cá nhân chưa được tôn trọng. Điều đó dẫn tới việc những đòi hỏi về quyền tự quyết lối sống hay quyền lựa chọn người mình yêu thường bị phán xét một cách nghiêm khắc. Với người phụ nữ, những khát vọng mang tính chất "vượt rào" lại càng bị ngăn trở, cấm đoán ngặt nghèo. Đây là nguyên nhân chính khiến Xuý Vân phải che giấu động cơ và mong muốn thật của mình dưới một hình thức tiêu cực là giả dại. Quả là trong tình cảnh ấy, Xuý Vân khó có sự lựa chọn nào khác, trừ khi phải tự dập tắt khát vọng hạnh phúc của chính mình. Rõ ràng, hành động của Xuý Vân đáng được nhìn bằng ánh mắt bao dung và thái độ chia sẻ, cảm thông, bất chấp việc lựa chọn của cô có thật sự tỉnh táo hay không, vì đây là hai vấn đề khác nhau. Việc khán giả bình dân xưa
Văn bản 2 Huyện đường (Trích tuồng Hến) Nghêu, Sò, Ốc, 1. Phân tích yêu cầu cần đạt HS nắm được một số đặc điểm của tuồng dân gian thể hiện qua đoạn trích trên
Văn bản 2
Huyện đường
(Trích tuồng Hến)
Nghêu, Sò, Ốc,
1. Phân tích yêu cầu cần đạt
HS nắm được một số đặc điểm của tuồng dân gian thể hiện qua đoạn trích trên các phương diện: đề tài, tích truyện, nhân vật, lời thoại (tính vô danh và phương thức lưu truyền đã được nhắc đến trong phần Tri thức ngữ văn).
HS cảm nhận được ý vị hài hước, châm biếm của cảnh tuồng Huyện đường.
2. Gợi ý tổ chức hoạt động dạy học Hoạt động 1 Khởi động GV có thể sử dụng các câu hỏi và gợi ý trước khi đọc hoặc tạo ra những tình huống khởi động hấp dẫn khá
2. Gợi ý tổ chức hoạt động dạy học
Hoạt động 1 Khởi động
GV có thể sử dụng các câu hỏi và gợi ý trước khi đọc hoặc tạo ra những tình huống khởi động hấp dẫn khác để đưa HS đi vào nội dung chính của bài học một cách tự nhiên. - GV cần nắm được những phản ứng theo các chiều hướng khác nhau của HS về nghệ thuật tuồng để xác định được điểm nào nên điều chỉnh trong kế hoạch bài dạy, hướng tới mục đích giúp HS có thái độ phù hợp đối với di sản tuồng của ông cha.
Hoạt động 2 Đọc văn bản
Dành thời gian (khoảng 1 phút) cho tất cả HS tự đọc phần tóm tắt vở tuồng trong sách, sau đó yêu cầu một em kể lại nội dung tác phẩm bằng lời của mình. - Cho một số HS đọc văn bản theo hình thức phân vai (tất cả có thể đứng tại chỗ hoặc từng người tiến lên phía bục giảng khi đến lượt mình đọc phần lời thoại được phân công,
riêng thành viên đọc lời dẫn có thể đứng nguyên vị trí ở dưới lớp). - Lưu ý về ngữ điệu, giọng điệu đọc: tuỳ theo nội dung lời thoại mà sử dụng ngữ điệu, giọng điệu phù hợp.
Hoạt động 3 Khám phá văn bản
Cho HS kết hợp đọc phần giới thiệu chung về tác phẩm (đặt ngay sau đoạn trích) và phần thuyết minh về tuồng đặt ở phần Tri thức ngữ văn; nhắc các em lưu ý các khái niệm tuồng dân gian, tuồng hài. - Hướng dẫn HS tìm hiểu bố cục của đoạn trích (màn tuồng). Có thể chia đoạn trích thành các phần như sau:
Phần 1: Tri huyện xưng danh (từ "Quyền trọng" đến "chuyên cần"). + Phần 2: Tri huyện và đề lại tính kế bóp nặn người thưa kiện (từ "Bẩm quan ạ!" đến "Lệ đâu?").
Phần 3: Lính lệ bắt đầu thực thi kế hoạch của "quan" (đoạn còn lại). Định hướng phân tích văn bản: có thể theo bố cục nêu trên, cũng có thể theo từng "vấn đề": (1) Hình ảnh những kẻ đại diện cho bộ máy công quyền; (2) Giá trị nổi bật của màn tuồng. Với mục (1), cần điểm qua ba nhân vật: tri huyện, đề lại và lính lệ. Với mục (2), cần làm nổi bật các khía cạnh: giá trị hiện thực; nghệ thuật châm biếm và khắc hoạ nhân vật. - Khi hướng dẫn HS tìm hiểu chi tiết về văn bản, ngoài việc sử dụng các câu hỏi được gợi ý sau khi đọc một cách linh hoạt, GV cần bổ sung những câu hỏi mới tuỳ theo định hướng phân tích cắt ngang hay bổ dọc. Có thể phát triển các câu hỏi đã có thành nhiều câu hỏi nhỏ để giúp HS trả lời được câu hỏi chính một cách dễ dàng hơn.
Câu hỏi 1: Tóm tắt các sự việc trong đoạn trích.
Câu hỏi này có thể nêu trước hoặc ngay sau phần phân tích bố cục của đoạn trích, giúp HS có được cái nhìn bao quát về toàn bộ sự việc được miêu tả, thể hiện. Cần góp ý cho các em về cách diễn đạt nhằm đáp ứng các yêu cầu: ngắn gọn, tường minh, sử dụng từ chính xác và câu đúng ngữ pháp.
GV gợi ý: Đoạn trích kể về các âm mưu, toan tính của những kẻ đại diện cho công quyền (gồm tri huyện, đề lại và các lính lệ) nhằm "tróc tiền" của những người th
GV gợi ý: Đoạn trích kể về các âm mưu, toan tính của những kẻ đại diện cho công quyền (gồm tri huyện, đề lại và các lính lệ) nhằm "tróc tiền" của những người thưa kiện (gồm lí trưởng và trùm Sò).
Câu hỏi 2: Liệt kê những lời thoại cho thấy sự tương đồng về bản chất, thủ đoạn giữa các
nhân vật ở huyện đường, từ tri huyện đến đề lại và lính lệ.
Câu hỏi này yêu cầu HS nêu được những chi tiết có thể dùng làm căn cứ để đưa ra nhận định khái quát về bản chất, thủ đoạn của các nhân vật đại diện cho bộ máy hành chính ở cấp huyện.
GV cho HS trao đổi nhóm để tìm câu trả lời. Những lời thoại chính của tri huyện cần được kể đến: "Sự lí thường phân ẩu/ Được thua tự đồng tiền"; "Tôi thì tôi nghĩ cứ để đu đưa như vậy đã. Thằng Sò này giàu lắm, chúng mình có thể "ấy" được"; "Phải, nắm đứa có tóc ai nắm kẻ trọc đầu"; "...lưỡi không xương nhiều đường lắt léo, nói thế nào lại chả được". Những lời thoại của đề lại: "Vâng, ta cứ bảo là để tra cứu đã. Thưa còn thằng Ốc, thằng Nghêu, lí trưởng, Thị Hến thì liệu xử cho xong, bọn này toàn đầu trọc cả"; "Bẩm quan xử thật sâu sắc";
"Vâng ạ, quan xử hay lắm". Lời thoại của lính lệ: "Nhắc lại ông trùm, anh xã và chị Hến biết rằng hôm nay quan bận lắm, tôi bẩm mãi quan mới chịu xử vụ này đấy". Tất cả những lời thoại nêu trên cho thấy mọi mối bận tâm của tri huyện, đề lại và lính lệ đều chỉ xoay quanh một chữ "tiền". Phải nói rằng tác giả dân gian đã xây dựng được hệ thống lời thoại hết sức tinh tế, hàm súc. Trong mỗi lời nhân vật thốt ra dường như có sẵn một mũi dao chĩa ngược về chính người nói.
Câu hỏi 3: Đoạn trích cho thấy tri huyện và đề lại không cần phải giữ ý với nhau. Vì sao vậy?
Phân tích sự hô ứng nhịp nhàng trong lời thoại giữa hai nhân vật.
Câu hỏi này nối tiếp câu hỏi trên, gợi ý cho HS nhìn sâu vào bản chất của các nhân vật chủ chốt ở huyện đường, đồng thời bước đầu thấy được chức năng của lời thoại trên sân khấu nói chung, đó là gợi ra hành động và kết nối các hành động thành chuỗi liên tục.
GV gợi ý, định hướng: Việc tri huyện và đề lại không cần phải giữ ý với nhau là việc hoàn toàn tự nhiên, dễ hiểu vì hai nhân vật này có sự tương đồng về bản chất (như trên đã nói), lại có quá trình cấu kết với nhau lâu dài trong việc tróc nã, chiếm đoạt tiền bạc từ người thưa kiện. Tri huyện vừa phàn nàn về nỗi "Nha lại vắng bẩm thân,/ Dân xã không đấu cáo" thì đề lại xác nhận ngay: "Vâng, hôm nay chả thấy ai kiện cáo gì cả". Rõ ràng các quan chỉ mong có chuyện kiện cáo để kiếm chác. Nói chung, mỗi lời tri huyện nói ra đều được đáp lại bằng tiếng "Vâng" và ngược lại, lời thưa của đề lại có thể nhanh chóng được xác nhận bằng tiếng"Phải".
Câu hỏi 4: Qua theo dõi cảnh tuồng Huyện đường, bạn hiểu như thế nào về thái độ và
cách nhìn nhận của người dân xưa đối với chốn "cửa quan"?
Câu hỏi yêu cầu HS mở rộng phạm vi phân tích, đánh giá văn bản để làm sáng tỏ thái độ, cách nhìn nhận của tác giả dân gian về một không gian quyền lực đáng sợ trong xã hội cũ. Để trả lời được, HS phải huy động nhiều hiểu biết về lịch sử - văn hoá và cả những trải nghiệm gián tiếp nữa. GV nên chú ý định hướng để các câu trả lời của HS không tạo tiền đề cho những suy diễn đi xa vấn đề trọng tâm của bài học.
GV gợi ý, định hướng: Tục ngữ Việt Nam có câu: "Quan thấy kiện như kiến thấy mỡ". Chính câu tục ngữ này đã cho thấy sự đánh giá tổng quát của tầng lớp bị trị xưa về chốn
công quyền hoặc chốn "cửa quan". Rõ ràng, đây là một đánh giá tiêu cực, hàm chứa sự mỉa mai, khinh bỉ, đả kích. Những điều thể hiện trong màn tuồng Huyện đường
công quyền hoặc chốn "cửa quan". Rõ ràng, đây là một đánh giá tiêu cực, hàm chứa sự mỉa mai, khinh bỉ, đả kích. Những điều thể hiện trong màn tuồng Huyện đường hoàn toàn thống nhất với cách đánh giá đó. Nói chung, người dân xưa chỉ thấy"cửa quan" là chốn ô trọc, lúc nhúc những kẻ đục khoét đầy mưu mô, luôn tìm cơ hội vơ vét "cho đầy túi tham"và làm hại những người"thấp cổ bé họng", kể cả thành phần bất hảo nhưng ở thế yếu hơn (như lí trưởng, trùm Sò). Cần phải thấy đây là một cách nhìn nhận có tính lịch sử mà việc khắc phục nó phải gắn liền với những đổi thay cơ bản của thể chế. Hiện nay, định kiến dai dẳng này đã dần được xoá bỏ khi xã hội đã phát triển theo chiều hướng văn minh, tiến bộ.
Câu hỏi 5: Lời tự giới thiệu (qua hình thức nói lối) của nhân vật tri huyện đã giúp người
xem, người đọc hiểu được điều gì về con người ông ta? Hãy so sánh lời tự giới thiệu đó của một nhân vật cụ thể trong tuồng với những lời tự giới thiệu thường gặp trong đời sống để rút ra nhận xét cần thiết.
Đây là câu hỏi hướng tới việc nhận biết và phân tích được cái hay của hình thức xưng danh trong sân khấu truyền thống (bao gồm cả tuồng và chèo). Khi gợi ý HS trả lời,
GV cần liên hệ với cách xưng danh của Xuý Vân trong lớp chèo Xuý Vân giả dại (cho dù theo lựa chọn của GV từng trường, từng địa phương, lớp chèo này có thể không được đưa vào kế hoạch dạy học).
GV gợi ý và định hướng phân tích: Lời tự giới thiệu (qua hình thức nói lối) của nhân vật tri huyện cho thấy ông ta là một kẻ thuộc loại "ăn trên ngồi trốc", hưởng đủ mùi phú quý và quen sống phóng đãng "Đỉnh chung đà đủ miếng/ Hoa nguyệt cũng quen mùi". Nhưng điều đáng nói là ông ta đã cậy quyền cậy thế để tự tung tự tác, bất chấp công lí, đạo lí, miễn sao vơ vét được nhiều: "Lấy của cậy ngọn roi/ Làm quan nhờ lỗ khẩu/ Sự lí thường phân ẩu/ Được thua tự đồng tiền/ Dân xã nếu không kiêng/ Bỏ xuống lao giam kĩ". Theo cách nhìn của tác giả dân gian, trong xã hội xưa, đây là đặc điểm chung của tầng lớp thống trị chứ không phải đặc điểm của một nhân vật cá biệt nào. Cần đặc biệt chú ý đoạn độc thoại sau đây: "Quan chức nghĩ nên thú vị/ Vào ra cũng phải chuyên cần". Hai từ "thú vị" và "chuyên cần" cho thấy tri huyện đã hài lòng biết bao với cuộc sống của mình. Ông ta càng "chuyên cần" thì dân đen càng khốn đốn. Để cho ông ta thốt ra những từ ấy, tác giả dân gian đã thể hiện một thái độ châm biếm sâu cay.
GV phân tích thêm về tính ước lệ của đoạn lời thoại mang tính chất xưng danh: Thông thường, trong đời sống, khi tự giới thiệu, không ai muốn nói ra những cái xấu của bản thân. Nhưng ở đây, nhân vật tri huyện đã làm điều ấy. Rõ ràng, lời thoại không phải là ngôn ngữ tự nhiên của nhân vật mà ngôn ngữ của nghệ thuật, đảm nhiệm các chức năng vừa thể hiện hành động theo tích trò đã xác định, vừa định hướng suy nghĩ, cảm nhận của khán giả, độc giả về chính sự việc đang diễn ra.
Câu hỏi 6: Nếu được tham gia dựng lại cảnh Huyện đường trên sân khấu, bạn sẽ lưu ý
điều gì về diễn xuất của diễn viên? Vì sao?
Câu hỏi nêu tình huống giả định, hướng HS chú ý tới mối quan hệ giữa kịch bản và hoạt động trình diễn trên sân khấu của một vở tuồng, đồng thời tạo cơ hội cho HS thể hiện được sự chủ động, sáng tạo của mình trong quá trình đọc kịch bản sân khấu.
GV cần tạo được không khí cởi mở cho HS thể hiện sáng kiến. Gợi ý các em cùng nhau xây dựng một kịch bản biểu diễn từ những gì được thảo luận trong giờ học, để khi có dịp, có thể tái dựng màn tuồng Huyện đường trên sân khấu của nhà trường.
Văn bản 3 Múa rối nước – hiện đại soi bóng tiền nhân Phạm Thuỳ Dung 1. Phân tích yêu cầu cần đặt – HS củng cố được kiến thức về đặc điểm của văn bản thông tin c
Văn bản 3
Múa rối nước – hiện đại soi bóng tiền nhân
Phạm Thuỳ Dung
1. Phân tích yêu cầu cần đặt
– HS củng cố được kiến thức về đặc điểm của văn bản thông tin có nội dung thuyết minh về một sự vật, hiện tượng.
– HS hiểu được đặc sắc của rối nước – một loại hình nghệ thuật biểu diễn đã cùng với chèo, tuồng làm nên những giá trị độc đáo của nền sân khấu cổ truyền Việt Nam.
2. Gợi ý tổ chức hoạt động dạy học
Hoạt động 1 Khởi động
– GV có thể dựa vào những câu hỏi gợi ý trong SGK để tổ chức hoạt động khởi động, cũng có thể tìm một hình thức khởi động khác phù hợp với đặc điểm của HS hay lớp học do mình phụ trách. Dù chọn hình thức khởi động nào, cũng nên sử dụng các hình ảnh trực quan (tranh, ảnh, video clip,...) để gây hứng thú cho HS đồng thời giúp các em có được ý niệm đúng về loại hình nghệ thuật biểu diễn.
– GV cần tạo được sự kết nối giữa văn bản thông tin Múa rối nước – hiện đại soi bóng tiền nhân với các văn bản chèo hoặc tuồng đã học, qua đó, củng cố cho HS kĩ năng mở rộng liên hệ tới bối cảnh văn hoá chung khi muốn đánh giá về một hiện tượng văn học, nghệ thuật, văn hoá cụ thể.
Hoạt động 2 Đọc văn bản
– GV yêu cầu một số HS đọc văn bản (đọc thành tiếng trước lớp), nhắc các em chú ý những chỉ dẫn về định hướng đọc trong các thẻ bên phải văn bản.
– GV có thể đặt câu hỏi gợi mở sau khi HS đọc xong văn bản: Thay vì được xem một bộ phim tài liệu, bạn lại được đọc một văn bản thông tin về rối nước. Theo bạn, trong giới hạn của một văn bản in, tác giả phải làm gì khi muốn đưa đến cho người đọc những thông tin sống động, ấn tượng nhất? (Lưu ý: Câu hỏi này tạo cơ hội cho GV nhắc lại cách đọc một văn bản thông tin, từ đó giúp HS xác định được tiêu chí đánh giá phù hợp đối với văn bản theo đặc trưng thể loại).
Hoạt động 3 Khám phá văn bản Hướng dẫn HS tìm hiểu bố cục của văn bản. Những câu hỏi có thể đặt ra: Nên chia văn bản thành các phần như thế nào? Ý chính của từn
Hoạt động 3 Khám phá văn bản
Hướng dẫn HS tìm hiểu bố cục của văn bản. Những câu hỏi có thể đặt ra: Nên chia văn bản thành các phần như thế nào? Ý chính của từng phần là gì? Căn cứ vào mối quan hệ giữa các phần, bạn có thể rút ra nhận xét gì về cách triển khai văn bản của tác giả? GV gợi ý cách chia văn bản thành bốn phần (kể cả sa-pô):
Phần 1 (sa-pô): Rối nước - ấn tượng nổi bật đầu tiên. + Phần 2 (từ "Rối nước khác rối cạn" đến "tròn vai"): Nguồn gốc, thời gian, không gian biểu diễn rối nước. + Phần 3 (từ "Hiếm người biết chính xác" đến "rối nước Việt Nam"): Con rối trong trò rối nước. + Phần 4 (từ "Giữa nhịp sống" đến "tinh thần Việt"): Vấn đề bảo tồn và phát triển nghệ thuật rối nước.
GV xác định hướng phân tích văn bản, hoặc theo bố cục (đã nêu trên) hoặc theo các mạch thông tin (vấn đề) như: (1) Đặc điểm của nghệ thuật rối nước; (2) Đời sống của sân khấu rối nước - hôm qua và hôm nay. - Khi hướng dẫn HS thực hiện các yêu cầu và trả lời những câu hỏi sau khi đọc (mỗi câu gắn với một phần phân tích cụ thể nào đó, hoặc theo bố cục, hoặc theo vấn đề), có thể tham khảo các gợi ý sau:
Câu hỏi 1: Tóm tắt những thông tin chính của văn bản.
Yêu cầu này nên được đặt ra ở bước phân tích bố cục văn bản. Cần nhắc HS xem lại những thẻ chỉ dẫn đặt bên phải văn bản để được gợi ý về câu trả lời. - Những thông tin chính của văn bản cần được liệt kê: nguồn gốc của rối nước; thời gian, không gian biểu diễn rối nước; đặc điểm của con rối (cách chế tác và điều khiển); nghệ thuật rối nước trước bài toán bảo tồn và phát triển.
Câu hỏi 2: Tìm trong văn bản những thông tin cho phép khẳng định múa rối nước là
"môn nghệ thuật truyền thống thấm đẫm tinh thần Việt". - GV có thể cho HS trao đổi nhóm về yêu cầu này nhằm tìm hiểu ý tưởng và mạch thông tin xuyên suốt văn bản. - Những thông tin hướng tới việc khẳng định rối nước là "môn nghệ thuật truyền thống thấm đẫm tinh thần Việt" nằm trong các phần: phần 2 - nguồn gốc bản địa của nghệ thuật rối nước (đoạn 1) và sự hài hoà giữa nghệ thuật rối nước với đời sống sinh hoạt của người Việt Nam (đoạn 2, 3); phần 3 - vật liệu dùng để chế tác con rối có thể tìm được rất dễ dàng trong môi trường sống của người Việt, đặc biệt, không gian mặt nước dùng làm sân khấu là không gian hoàn toàn quen thuộc ở nông thôn Việt Nam.
Câu hỏi 3: Nêu đặc điểm của cách triển khai thông tin trong văn bản. Hãy phân tích mức
độ thuyết phục của cách triển khai ấy. - GV nhắc HS nhớ lại những cách triển khai thông tin trong các văn bản thông tin từng học trước đó để xác định nét riêng của cách triển khai thông tin ở văn bản này.
Cách triển khai thông tin trong văn bản: Nêu những đặc điểm "độc", "lạ" của nghệ thuật rối nước để gây tò mò --> Giải đáp những câu hỏi có thể nảy sinh ở độc gi
Cách triển khai thông tin trong văn bản: Nêu những đặc điểm "độc", "lạ" của nghệ thuật rối nước để gây tò mò --> Giải đáp những câu hỏi có thể nảy sinh ở độc giả khi đọc phần sa-pô (Rối nước có nguồn gốc và quá trình hình thành, phát triển như thế nào? Thời gian và không gian biểu diễn của rối nước có gì đặc biệt? Những yếu tố nào cấu thành nghệ thuật rối nước?...) --> Nêu "bài toán khó" giữa bảo tồn và phát triển nghệ thuật rối nước. Cách triển khai thông tin này có thể quy về mô hình: lần lượt trình bày về từng vấn đề hoặc nhóm vấn đề. Rõ ràng, đây là cách triển khai phù hợp, giúp người đọc có được sự hình dung tương đối toàn diện về nghệ thuật rối nước. Điều đáng chú ý nữa là khi nói về từng vấn đề, tác giả luôn làm rõ mối tương quan giữa truyền thống và hiện đại (điều đã được thể hiện ở nhan đề văn bản).
Câu hỏi 4: Nêu nhận xét về phần sa-pô của văn bản, từ đó rút ra cách viết sa-pô cho một
văn bản thông tin nói chung.
Câu hỏi này lưu ý HS về một đặc điểm cấu tạo của văn bản thông tin cũng như cách viết
một sa-pô sao cho hấp dẫn, gây ấn tượng.
GV có thể bổ sung cho câu hỏi chính bằng một số câu hỏi phụ nhằm giúp HS huy động kiến thức đã học: Bạn đã từng được đọc, được học những văn bản thông tin nào có sa-pô? Bạn còn nhớ được gì về đặc điểm của bộ phận cấu tạo này trong văn bản? Thế nào là một sa-pô hấp dẫn?
GV định hướng: Sa-pô của văn bản Múa rối nước - hiện đại soi bóng tiền nhân khá gây ấn tượng, gần như đưa rối nước vào góc nhìn của một người thuộc về nền văn hoá khác để "lẩy" ra những điểm lạ đáng chú ý của nghệ thuật này. Người đọc hẳn sẽ khó bỏ qua một văn bản có sa-pô hấp dẫn như thế. Nói chung, khi viết văn bản thông tin, việc đầu tư cho sa-pô luôn có ý nghĩa quan trọng, nhất là trong môi trường thông tin cực kì phong phú, đa dạng hiện nay. Một sa-pô phải thể hiện được tinh thần cơ bản và thông tin quan trọng nhất của văn bản, với cách dẫn dắt khéo léo, gây cho độc giả sự chú ý ngay từ "cái nhìn đầu tiên".
Câu hỏi 5: Nếu được phép bổ sung vào văn bản những thông tin về các câu chuyện được
kể trên sân khấu rối nước, bạn có thể nói điều gì?
Câu hỏi muốn HS bộc lộ tinh thần chủ động khi tiếp nhận, đánh giá văn bản. Bên cạnh việc chú ý nắm bắt thông tin do văn bản đưa lại, nhiều khi các em còn phải biết đề xuất những vấn đề cần bàn luận sâu thêm hay nêu những đòi hỏi đối với người viết ở một phương diện nào đó.
GV gợi ý: Một vở diễn cần phải có tích trò, dù đơn giản. Vậy tích trò của các buổi biểu diễn rối nước là gì? Điều này đã được tác giả chú ý thích đáng chưa?
GV giúp HS huy động trải nghiệm hay kiến thức có được (do tự tìm hiểu thêm) để bàn về vấn đề này. Cần thấy rằng: một buổi biểu diễn rối nước có thể có nhiều tiết mục, mỗi tiết mục diễn cảnh một hoạt động quen thuộc như cấy lúa, bừa ruộng, câu ếch, múa rồng, đấu vật, múa võ, cáo bắt vịt, chọi trâu,... hoặc làm sống dậy một số tình tiết nào đó trong các truyện cổ như Tấm Cám, Thạch Sanh, Sự tích Hồ Gươm,... Có thể hình dung mỗi tiết mục là một hoạt cảnh, nếu có cốt truyện thì đó là loại cốt truyện đơn sơ, tối giản.
VIẾT Viết báo đề văn cáo hoá truyền nghiên thống Việt cứu Nam) 1. Phân tích yêu cầu cần đạt HS củng cố được những hiểu biết về một báo cáo nghiên cứu với những
VIẾT
Viết báo đề văn cáo hoá truyền nghiên thống Việt cứu Nam)
1. Phân tích yêu cầu cần đạt
HS củng cố được những hiểu biết về một báo cáo nghiên cứu với những yêu cầu đặc thù về nội dung và hình thức (đã học ở Bài 4 - Sức sống của sử thi). - HS biết cách viết báo cáo nghiên cứu đơn giản về một vấn đề văn hoá truyền thống Việt Nam tự chọn.
2. Những lưu ý về yêu cầu đối với kiểu bài
Bài 5 - Tích trò sân khấu dân gian đưa ra yêu cầu về viết tương đối giống Bài 4 - Sức sống của sử thi, chỉ khác ở định hướng nội dung viết, với đề tài được xác định là một vấn đề văn hoá truyền thống Việt Nam. GV có thể nhận thấy đôi chút khác biệt trong cách diễn đạt về yêu cầu giữa hai bài, dù nội dung hoàn toàn thống nhất. Cụm từ "thể hiện quan điểm đánh giá riêng" cho thấy những yêu cầu mang tính đặc thù của một báo cáo nghiên cứu, gắn liền với việc đưa đến cho độc giả những thông tin mới về vấn đề (hoặc trên phương diện tư liệu hoặc trên phương diện cách nhìn, góc độ tiếp cận). Khái niệm đề tài trong mục
Lựa chọn đề tài cũng cần được phân biệt với khái niệm vấn đề. Đề tài chỉ thực sự có ý nghĩa thúc đẩy hoạt động viết, nghiên cứu một khi nó chứa đựng những câu h
Lựa chọn đề tài cũng cần được phân biệt với khái niệm vấn đề. Đề tài chỉ thực sự có ý nghĩa thúc đẩy hoạt động viết, nghiên cứu một khi nó chứa đựng những câu hỏi cần được trả lời. Câu hỏi đó chính là vấn đề mà người viết báo cáo nghiên cứu phải giải đáp, thông qua toàn bộ hệ thống luận điểm được triển khai trong bài. GV cũng cần chú ý sự điều chỉnh tên các tiểu mục: Tìm ý, lập dàn ý thành Xây dựng đề cương bao gồm Đặt vấn đề, Giải quyết vấn đề, Kết luận (thay cho Mở bài, Thân bài và Kết bài). Ngoài ra, trong phần Chuẩn bị viết, bên cạnh tiểu mục Lựa chọn đề tài còn có tiểu mục Thu thập thông tin. Những điều chỉnh nói trên tất cả đều do tính chất của kiểu bài báo cáo nghiên cứu quy định.
3. Gợi ý tổ chức hoạt động dạy học
Hoạt động 1 Tìm hiểu yêu cầu của kiểu bài
GV cho HS đọc box Yêu cầu (SGK Ngữ văn 10, tập một, tr. 140), nêu câu hỏi gợi mở giúp các em nắm bắt được những đòi hỏi riêng của một bài báo cáo nghiên cứu: Đâu là điểm chung giữa một bài văn nghị luận thông thường và một bài báo cáo nghiên cứu? Điểm riêng cần được
nhấn mạnh ở bài báo cáo nghiên cứu là gì? "Ngôn ngữ khách quan, khoa học" có những đặc điểm nào cần đặc biệt chú ý? Cái gọi là "ý nghĩa của vấn đề văn hoá truyền thống Việt Nam được chọn nghiên cứu" nên được hiểu như thế nào? - GV nhắc HS ghi vào vở những điểm phân tích mở rộng về các yêu cầu của một bài báo cáo nghiên cứu.
Hoạt động 2 Đọc và phân tích bài viết tham khảo
Cho HS đọc bài nghiên cứu tham khảo và các box định hướng đọc (SGK Ngữ văn 10, tập một, tr. 140 - 145).
GV hướng dẫn HS trả lời các câu hỏi đặt dưới văn bản tham khảo. Cần lưu ý: + Câu 1 nhắc các em ý thức được tầm quan trọng của việc đặt nhan đề cho báo cáo nghiên cứu (đây là việc không nhất thiết phải thực hiện với các kiểu bài viết khác). Ở đây, nhan đề vừa xác định rõ đề tài nghiên cứu, vừa báo hiệu được vấn đề phải giải quyết trong bài. + Câu 2 giúp HS thấy được tầm quan trọng của việc xây dựng hệ thống luận điểm chính. Luận điểm phải được trình bày tường minh, dễ nhận diện, tóm tắt. Nếu khó tóm tắt, cần phải xem lại cách diễn đạt cũng như mức độ rõ ràng của quan điểm đánh giá mà người viết đã thể hiện. + Câu 3 lưu ý HS rằng mọi luận điểm nêu lên đều cần phải được chứng minh bằng những cứ liệu cụ thể. + Câu 4 muốn HS hiểu rõ tầm quan trọng của việc sử dụng tài liệu tham khảo trong hoạt động nghiên cứu cũng như sự cần thiết của việc lập danh mục Tài liệu tham khảo đặt cuối báo cáo nghiên cứu. Tuy báo cáo nghiên cứu của tác giả Hà Văn Cầu không thể hiện rõ những điều trên do các điều kiện nghiên cứu có tính đặc thù (chưa kể "báo cáo nghiên cứu" này chỉ là một phần của chuyên khảo Mấy vấn đề trong kịch bản chèo), nhưng HS cần ý thức được việc sử dụng tài liệu tham khảo theo những yêu cầu khoa học nghiêm túc là vấn đề phải được quan tâm hàng đầu.
Hoạt động 3 Thực hành viết theo các bước Đầu tiên, GV cho HS tự nghiên cứu phần Thực hành viết gồm ba bước lớn trong SGK theo nhóm. Sau đó, mỗi nhóm nêu các vấn
Hoạt động 3 Thực hành viết theo các bước
Đầu tiên, GV cho HS tự nghiên cứu phần Thực hành viết gồm ba bước lớn trong SGK theo nhóm. Sau đó, mỗi nhóm nêu các vấn đề còn thắc mắc để trao đổi chung, mục đích là để tất cả đều có nhận thức thông suốt về quy trình viết.
GV cần giúp HS tìm, lựa chọn được đề tài viết thích hợp với mình. SGK đã gợi ý một số đề tài cụ thể nhưng rất có thể tất cả vẫn còn gây cảm giác xa lạ, do trong suốt quá trình học trước đó, các em gần như chưa được thực hành với kiểu bài viết này (Bài 4 - Sức sống của sử thi đã đưa ra những hướng dẫn chung, nhưng do phạm vi lựa chọn đề tài rất rộng, không giới hạn trong lĩnh vực văn hoá truyền thống Việt Nam nên các em vẫn có thể tìm được đề tài viết không quá khó khăn). Tuỳ điều kiện học tập của từng nơi, GV có thể chọn các phương án sau: (1) Giao nhiệm vụ cho mỗi HS tự chọn một đề tài riêng để viết; (2) Ấn định đề tài viết cho từng nhóm và yêu cầu mỗi nhóm HS xây dựng một báo cáo nghiên cứu mang tính tập thể. Lúc này, đề tài viết nên khai thác từ chính các văn bản vừa học (Gợi ý: Đặc điểm lời thoại của nhân vật trong lớp chèo "Xuý Vân giả dại", Nghệ thuật thể hiện
tính cách nhân vật trong cảnh tuồng "Huyện đường",...). Song song với điều này, GV nên giới thiệu cho HS đọc một số tài liệu cụ thể mà các em có thể khai thác được ở đó nhiều điều bổ ích. Với những HS có tham gia học Chuyên đề 1 - Tập nghiên cứu và viết báo cáo về một vấn đề văn học dân gian trong Chuyên đề học tập Ngữ văn 10 - SGK, GV gợi ý cho các em cách huy động kiến thức do chuyên đề cung cấp để hoàn thành bài viết.
Khi giúp HS hình thành ý niệm về báo cáo nghiên cứu cũng như quy trình viết báo cáo nghiên cứu, GV cần đặc biệt chú ý việc phân tích mẫu. Có thể phân tích sâu hơn về bài viết tham khảo, cũng có thể phân tích thêm những "mẫu" khác do mình tìm được, trên tinh thần tránh hướng dẫn chung chung. Ví dụ, với đề tài Đặc điểm lời thoại của nhân vật trong lớp chèo "Xuý Vân giả dại", GV cần gợi ý các câu hỏi để hình thành ý tưởng và xác định luận điểm như: Việc nghiên cứu lời thoại của Xuý Vân trong lớp chèo có thể giúp ta hiểu được gì về đặc điểm của lời thoại trong chèo nói chung? Bài viết tham khảo trong SGK có thể gợi ý được điều gì cho việc nghiên cứu vấn đề này? Các khía cạnh nào cần được làm rõ khi nghiên cứu đặc điểm lời thoại của nhân vật? Phải chăng có thể nghiên cứu lần lượt từ khía cạnh nội dung đến khía cạnh hình thức? Khi nghiên cứu về khía cạnh nội dung, cần chú ý như thế nào về hoàn cảnh khách quan cũng như tâm tư sâu kín của nhân vật được tiết lộ qua lời thoại? Khi nghiên cứu về khía cạnh hình thức, cần chú ý những điều gì ở sự luân phiên các điệu hát hay việc vận dụng ca dao ở lời thoại?...
GV nêu giới hạn về dung lượng cho các báo cáo nghiên cứu. HS có thể viết dài hơn so với những bài viết thông thường nhưng cũng không nên quá dài, vì dù sao, "nghiên cứu" ở đây vẫn chỉ là tập nghiên cứu, tập làm quen với một số thao tác nghiên cứu khoa học.
TRẢ BÀI
Hoạt động 1 Nhắc lại, khắc sâu yêu cầu của kiểu bài
GV cho HS nhắc lại yêu cầu chung của kiểu bài và xác định những điểm then chốt giúp phân biệt kiểu bài báo cáo nghiên cứu về một vấn đề và những kiểu bài viết khác đã học, thực hành.
Hoạt động 2 Nhận xét về kết quả viết và yêu cầu HS chỉnh sửa bài viết GV nhận xét chung về mức độ đáp ứng yêu cầu ở các bài viết của HS (bài viết cá nhân hoặc b
Hoạt động 2 Nhận xét về kết quả viết và yêu cầu HS chỉnh sửa bài viết
GV nhận xét chung về mức độ đáp ứng yêu cầu ở các bài viết của HS (bài viết cá nhân hoặc bài viết mang tính tập thể), chọn đọc và phân tích một số bài viết thuộc các mức độ khác nhau theo thang đánh giá để giúp HS nhận ra những điều cần phát huy hoặc bổ cứu.
Trả bài cho HS, yêu cầu các em sửa chữa theo hướng dẫn trong SGK và theo những điều vừa phân tích, bổ sung ở trên (việc sửa chữa có thể tiến hành theo hình thức trao đổi nhóm).
Củng cố, mở rộng GV cần dành thời gian thích đáng để hướng dẫn HS thực hiện ở nhà những yêu cầu của phần Củng cố, mở rộng. Các câu 1 và 2 đòi hỏi HS trình bày c
Củng cố, mở rộng
GV cần dành thời gian thích đáng để hướng dẫn HS thực hiện ở nhà những yêu cầu của phần Củng cố, mở rộng. Các câu 1 và 2 đòi hỏi HS trình bày chân thực về vấn đề được yêu cầu, không chép lại nội dung kiến thức có sẵn trong sách (ở phần Tri thức ngữ văn chẳng hạn). Câu 3 yêu cầu viết một báo cáo kết quả nghiên cứu. Tuỳ điều kiện học tập cụ thể, HS có thể viết bài hoàn chỉnh hoặc chỉ cần dàn dựng một đề cương cho đề tài chọn viết. Với những HS có theo học Chuyên đề 1 – Tập nghiên cứu và viết báo cáo về một vấn đề văn học dân gian, các em có thể kết hợp thực hiện yêu cầu này khi giải quyết các bài tập do chuyên đề đặt ra. Yêu cầu của câu 4 có thể được thực hiện vào một khoảng thời gian thích hợp, không gò bó, tốt nhất là được thực hiện kết hợp khi tham gia vào các hoạt động trải nghiệm, các sinh hoạt câu lạc bộ. Yêu cầu này cần được thực hiện trong một khoảng thời gian dài. Việc đọc ở đây nằm trong hoạt động đọc mở rộng nói chung – một hoạt động xuyên suốt quá trình học tập. Tuy vậy, GV cần kiểm soát được việc HS đã làm thông qua những hình thức kiểm tra đa dạng (đề nghị HS báo cáo, trực tiếp xem các ghi chép của cá nhân hoặc của nhóm,...).
Trang 157
Trang 158
Trang 159
Trang 160
Trang 161
Trang 162
Trang 163
Trang 164
cover-last