SGV - Ngữ văn 9 - Tập 2
0/0
minus
100%
plus
Ghi chú
setting
share
Nền
Đọc offline

Lưu sách trên máy

Đang kiểm tra...

list Mục lục
list Mục lục
Chủ đề 6: Giải mã những bí mật
Tri thức ngữ văn
Đọc: Ba chàng sinh viên
Thực hành tiếng Việt: Các kiểu câu ghép và phương tiện nối các vế câu ghép
Đọc: Bài hát đồng sáu xu
Đọc: Phạm Xuân Ẩn - tên người như cuộc đời
Thực hành tiếng Việt: Lựa chọn câu đơn hoặc câu ghép
Viết: Viết truyện kể sáng tạo
Củng cố, mở rộng
Chủ đề 7: Hồn thơ muôn điệu
Tri thức ngữ văn
Đọc: Tiếng Việt
Thực hành tiếng Việt: Nghĩa của từ ngữ và biện pháp tu từ
Đọc: Mưa xuân
Đọc: Một kiểu phát biểu luận đề độc đáo của Xuân Diệu ở bài thơ "Vội vàng"
Thực hành tiếng Việt: Sự phát triển của từ vựng
Viết: Tập làm thơ tám chữ và viết đoạn văn ghi lại cảm nghĩ về một bài thơ tám chữ
Củng cố, mở rộng
Chủ đề 8: Tiếng nói của lương tri
Tri thức ngữ văn
Đọc: Đấu tranh cho một thế giới hòa bình
Thực hành tiếng Việt: Nghĩa và cách dùng tên viết tắt các tổ chức quốc tế quan trọng
Đọc: Biến đổi khí hậu - mối đe dọa sự tồn vong của hành tinh chúng ta
Thực hành tiếng Việt: Lựa chọn câu đơn hoặc câu ghép, các kiểu câu ghép
Thực hành đọc: Bài ca chúc Tết thanh niên
Viết: Viết bài văn nghị luận về một vấn đề cần giải quyết (trong đời sống xã hội)
Củng cố, mở rộng
Chủ đề 9: Đi và suy ngẫm
Tri thức ngữ văn
Đọc: Yên Tử, núi thiêng
Thực hành tiếng Việt: Biến đổi cấu trúc câu
Đọc: Văn hóa hoa - cây cảnh
Thực hành tiếng Việt: Mở rộng cấu trúc câu
Đọc: Tình sông núi
Viết: Viết bài thuyết minh về một danh lam thắng cảnh hoặc một di tích lịch sử
Củng cố, mở rộng
Chủ đề 10: Văn học - Lịch sử tâm hồn
Tri thức ngữ văn
Đọc: Văn học Việt Nam từ khu vực ra thế giới, từ truyền thống đến hiện đại
Đọc: Văn hóa đọc với nhà văn và độc giả trong thời đại công nghệ số
Viết: Viết bài quảng cáo về sách dưới hình thức văn bản đa phương thức
ÔN TẬP HỌC KÌ II
Ôn tập kiến thức
Luyện tập tổng hợp
Học liệu
Đang xem trang 0 Học liệu dưới đây tương ứng với nội dung bạn đang đọc
empty Không có học liệu bổ trợ
cover-first
page-1
Trang 1
Trang 2
Trang 3
Trang 4
Trang 5
Trang 6
Trang 7
Trang 8
Trang 9
VĂN BẢN 1. BA CHÀNG SINH VIÊN (A-thơ Cô-nan Đoi-lơ) 1. Phân tích yêu cầu cần đạt Nhận biết và phân tích được một số yếu tố của truyện trinh thám như: không gian
VĂN BẢN 1. BA CHÀNG SINH VIÊN
(A-thơ Cô-nan Đoi-lơ)
1. Phân tích yêu cầu cần đạt
Nhận biết và phân tích được một số yếu tố của truyện trinh thám như: không gian, thời gian, chi tiết, cốt truyện, nhân vật chính, lời người kể chuyện được thể hiện trong truyện Ba chàng sinh viên. - Nêu được những thay đổi trong suy nghĩ, tình cảm, lối sống của bản thân và cách thưởng thức, đánh giá một truyện trinh thám sau khi đọc truyện Ba chàng sinh viên.
2. Gợi ý tổ chức hoạt động dạy học
Hoạt động 1 Khởi động
SGK đã gợi ý nhiệm vụ trước khi đọc. Ở lớp, GV cho một vài HS nêu hiểu biết về công việc của thám tử; giới thiệu một nhân vật thám tử trong tác phẩm văn học hoặc bộ phim mà các em yêu thích và chia sẻ ngắn gọn cảm nhận về nhân vật đó. Từ đó, GV dẫn dắt vào bài học.
Hoạt động 2 Đọc văn bản – GV yêu cầu HS đọc VB trước khi đến lớp, tự tóm tắt nội dung VB (có thể giao nhiệm vụ cho HS bằng phiếu học tập). Trên lớp, GV hướng dẫ
Hoạt động 2 Đọc văn bản
– GV yêu cầu HS đọc VB trước khi đến lớp, tự tóm tắt nội dung VB (có thể giao nhiệm vụ cho HS bằng phiếu học tập). Trên lớp, GV hướng dẫn HS trình bày cốt truyện, đọc diễn cảm một số phần/ đoạn trong VB (có thể do GV chỉ định hoặc cho HS tự lựa chọn phần/ đoạn mà các em thích nhất).
– GV nhắc HS sử dụng chiến lược đọc trong các thẻ chỉ dẫn: theo dõi, dự đoán, suy luận, đối chiếu. GV có thể làm mẫu một chiến lược đọc bằng kĩ thuật “nói to suy nghĩ” (think-aloud). Sau đó, GV mời một số HS chia sẻ việc sử dụng các chiến lược này khi đọc VB.
– GV tổ chức cho HS trao đổi với bạn và thầy cô về những từ ngữ được chú thích hoặc những từ ngữ trong VB mà các em chưa hiểu rõ.
Hoạt động 3 Khám phá văn bản
Trong 7 câu hỏi Sau khi đọc của VB Ba chàng sinh viên, câu 1, 2 ở mức độ nhận biết; câu 3, 4, 5, 6 ở mức độ phân tích, suy luận; câu 7 là câu hỏi đánh giá, vận dụng.
Câu hỏi 1
Câu hỏi yêu cầu HS trình bày cốt truyện của tác phẩm. GV nên gợi ý cho HS xác định bố cục của VB, chỉ ra các sự kiện chính, từ đó tóm tắt tác phẩm. GV có thể sử dụng bảng sau để giao nhiệm vụ cho HS chuẩn bị bài ở nhà:
Đọc thầm VB Ba chàng sinh viên (SGK, trang 7 – 13) và ghi vắn tắt các sự kiện chính vào sơ đồ sau:
1. Từ đầu đến “nhưng vẫn còn cuộn lại”: Vụ việc gây lo lắng, hoảng hốt: .................................................... ...................................................., 2. Tiếp theo đến “hai mẫu đầu tiên”: Hành trình phá án của người điều tra: .................................................... ...................................................., 3. Phần còn lại: Công bố sự thật: .................................................... ....................................................
Từ sơ đồ trên, em hãy tóm tắt nội dung VB (trình bày miệng).
Gợi ý:
– Vụ việc gây lo lắng, hoảng hốt được kể lại qua lời thầy Hin-tơn Xôm: Có kẻ đã vào văn phòng của thầy để chép trộm đề thi trước ngày diễn ra cuộc thi giành học bổng có giá trị cao. Đề thi bị lộ khiến thầy Xôm vô cùng lo lắng. Ông không biết là nên hoãn thi và công bố sự việc hay để mặc cho kẻ gian tranh học bổng đáng giá.
Hành trình phá án: Sơ-lốc Hôm tới văn phòng của thầy Xôm để xem xét, nghiên cứu hiện trường nhằm tìm ra thủ phạm. Cuộc điều tra tuy nhanh nhưng đã xác định rõ đ
Hành trình phá án: Sơ-lốc Hôm tới văn phòng của thầy Xôm để xem xét, nghiên cứu hiện trường nhằm tìm ra thủ phạm. Cuộc điều tra tuy nhanh nhưng đã xác định rõ được nghi phạm là ba sinh viên ở cùng toà nhà với thầy Xôm. Sơ-lốc Hôm đã tìm cách gặp cả ba sinh viên.
Công bố sự thật: Sự việc được công bố chỉ vài giờ trước khi cuộc thi bắt đầu. Sơ-lốc Hôm đã tới gặp thầy Xôm và khuyên ông vẫn tổ chức cuộc thi. Sau đó, thám tử đã lập ra một "toà án nho nhỏ" để chỉ ra thủ phạm là Ghi-crít và người đã che giấu tội lỗi cho anh ta là người hầu Ben-ni-xtơ.
Câu hỏi 2
Câu hỏi yêu cầu HS tìm hiểu yếu tố không gian của truyện trinh thám. GV gợi ý HS đọc kĩ phần đầu VB để tìm chi tiết miêu tả không gian hiện trường của vụ án và những dấu vết quan trọng của vụ lộ đề thi.
Gợi ý:
Không gian hiện trường là văn phòng của thầy Xôm. Phòng làm việc có một cửa sổ gắn lưới sắt và nhìn ra khoảng sân rêu phong của ngôi trường cổ kính. Thầy Xôm ở tầng một. Ở các tầng trên là ba sinh viên, mỗi người một tầng.
Những dấu vết ở hiện trường là: vỏ bút chì, đầu chì gãy, vết rách trên mặt bàn, một mẩu bột đen nhỏ, lấm tấm như mùn cưa, trong phòng ngủ cũng có mẩu nhỏ màu đen giống hệt mẩu trên bàn ngoài phòng làm việc.
Câu hỏi 3
Câu hỏi bám sát yêu cầu cần đạt của bài học, định hướng HS nhận biết, phân tích yếu tố thời gian của truyện trinh thám. Với câu hỏi này, GV có thể tổ chức cho HS thảo luận cặp đôi để tìm các chi tiết cho thấy áp lực về thời gian của cuộc điều tra và nhận xét mục đích của việc tạo ra áp lực về thời gian điều tra như vậy.
Gợi ý:
Một số chi tiết cho thấy giới hạn thời gian của cuộc điều tra: + Ngày mai, cuộc thi lấy kết quả để cấp học bổng sẽ được tổ chức. + Ông giám học nói: "Mai là thi rồi. Tối nay tôi buộc phải đưa ra quyết định dứt khoát. Tôi không thể để kì thi diễn ra khi đề thi bị lộ.".
Sơ-lốc Hôm nói: "Ông cứ để nguyên vậy đi. Sớm mai tôi sẽ ghé rồi bàn về việc này, có thể lúc đó tôi đã nắm được những tình tiết mới giúp ông thoát khỏi tình cảnh này. Còn từ giờ tới đó, ông đừng thay đổi gì cả.".
"Ông thầy khốn khổ đang đứng ngồi không yên. Chỉ vài giờ nữa là kì thi bắt đầu, ấy vậy mà ông ta chưa biết nên công bố sự việc hay mặc thây cho kẻ gian trá tranh học bổng đáng giá.".
Thời gian điều tra chỉ giới hạn trong một đêm. Thời gian như thế là hết sức ngắn ngủi, gấp gáp vì ngày mai, cuộc thi đã được tổ chức. Điều này giúp tạo độ căng,
Thời gian điều tra chỉ giới hạn trong một đêm. Thời gian như thế là hết sức ngắn ngủi, gấp gáp vì ngày mai, cuộc thi đã được tổ chức. Điều này giúp tạo độ căng, kịch tính cho câu chuyện và gây sự tò mò, căng thẳng, lôi cuốn người đọc. Đồng thời, độ căng về thời gian càng làm cho sự tự tin và tài năng của Sơ-lốc Hôm có điều kiện được bộc lộ. Dường như vị thám tử đã phát hiện ra được thủ phạm ngay từ buổi tối đến văn phòng của thầy Xôm khi ông cho rằng chiều cao của ba sinh viên "rất quan trọng". Sáng hôm sau, Sơ-lốc Hôm mở một toà án đặc biệt để củng cố thêm chứng cứ và khiến những kẻ có hành động gian dối trước khi kì thi diễn ra phải cúi đầu nhận tội.
Câu hỏi 4
Trong truyện trinh thám, nhà văn thường đẩy người đọc vào "vùng mờ" của nhận thức, làm họ suy đoán chệch hướng bằng cách giấu kín bí mật của câu chuyện để cuối cùng chân tướng sự việc lộ diện theo hướng người đọc không thể ngờ. Điều này đã tạo nên tính bí ẩn,
bất ngờ của truyện trinh thám. Để hướng dẫn HS tìm hiểu đặc điểm này trong truyện Ba chàng sinh viên, GV có thể đặt các câu hỏi gợi ý: Đặc điểm của ba sinh viên khiến người đọc nghi ngờ ai là thủ phạm chép trộm đề thi? Thầy Xôm và Oát-xơn nghi ngờ ai? Cuối cùng, sinh viên nào là thủ phạm chép trộm đề thi?
Gợi ý:
Một số chi tiết có vai trò đánh lạc hướng suy luận của người đọc: - Đặc điểm của các sinh viên ở cùng toà nhà với thầy Xôm: Ghi-crít - một sinh viên chăm chỉ, tử tế và là vận động viên giỏi - sống ở tầng hai. Đao-lát Rát sống ở tầng ba. Cậu học tốt nhưng môn tiếng Hy Lạp yếu. Sống ở tầng trên cùng là Mai Mắc Le-rờn. Cậu ta được xem là sáng dạ nhất trường, nhưng lại lười học, ương ngạnh, ăn chơi và vô kỉ luật. Cậu ta suýt bị đuổi học ngay trong năm thứ nhất vì dính vào một vụ bài bạc. Cả học kì này, cậu ta toàn rong chơi.
Trong ba sinh viên, thầy Xôm nghi ngờ Mai Mắc Le-rờn vì thái độ bất lịch sự khi ông gõ cửa phòng (Tất nhiên cậu ta không biết tôi là người gõ cửa. Nhưng kể cả vậy thì cậu ta cũng quả là bất lịch sự và lối cư xử đó thật đáng ngờ trong hoàn cảnh này.).
Oát-xơn nghi ngờ Mai Mắc Le-rờn vì ăn nói lỗ mãng và nổi tiếng vô kỉ luật. Ngoài ra, theo Oát-xơn, anh chàng Ấn Độ Đao-lát Rát cũng đáng nghi vì trông "ranh ma" và hành động khó hiểu (đi lại liên tục trong phòng).
Thầy Xôm, Sơ-lốc Hôm và Oát-xơn đều thấy người hầu Ben-ni-xtơ là người trung hậu, có lẽ không liên quan đến vụ việc.
Tuy nhiên, những người có liên quan đến hành động gian dối trước khi kì thi diễn ra là Ghi-crít và Ben-ni-xtơ (người bao che lỗi lầm cho Ghi-crít).
Câu hỏi 5 Câu hỏi hướng tới đáp ứng yêu cầu cần đạt của bài học là nhận biết và phân tích được nhân vật chính trong truyện trinh thám. Với câu hỏi này, GV có th
Câu hỏi 5
Câu hỏi hướng tới đáp ứng yêu cầu cần đạt của bài học là nhận biết và phân tích được nhân vật chính trong truyện trinh thám. Với câu hỏi này, GV có thể tổ chức cho HS tìm hiểu nhân vật thám tử Sớc-lốc Hòm bằng phương pháp dạy học hợp tác. GV yêu cầu HS phân tích cách thức giúp Sớc-lốc Hòm đi đến kết luận về người có hành động gian dối trước khi kì thi diễn ra (loại trừ giả thiết, xem xét hiện trường, tìm kiếm bằng chứng). GV có thể thiết kế phiếu học tập theo mẫu sau để gợi ý cho HS thảo luận:
Tìm hiểu nhân vật thám tử Sớc-lốc Hòm
Nhiệm vụ: Đọc VB Ba chàng sinh viên và điền thông tin về cách thức điều tra của thám tử Sớc-lốc Hòm vào bảng sau.
Loại trừ giả thiết | Xem xét hiện trường | Tìm kiếm bằng chứng
– Người thợ in có liên quan đến vụ án không? Vì sao? .......................................................................... – Sinh viên Đao-lát Rát có phải là người chép trộm đề thi không? Vì sao? .......................................................................... | – Việc kiểm tra cửa sổ ở văn phòng của thầy Xôm giúp thám tử xác định được điều gì? .......................................................................... – Trong phòng làm việc và phòng ngủ của thầy Xôm có dấu vết quan trọng nào? Điều đó giúp vị thám tử có suy luận gì? ...................................................... | Sớc-lốc Hòm đã tìm được bằng chứng quan trọng nào trong buổi sáng sớm của ngày diễn ra kì thi? ..........................................................................
Nhận xét về tài năng của vị thám tử: ....................................................................................................
Gợi ý:
– Suy luận ban đầu về thủ phạm bằng phương pháp loại trừ giả thiết: người thợ in không liên quan vì nếu muốn, anh ta có thể chép lại đề thi ngay tại nhà mình. Sinh viên Đao-lát Rát cũng không liên quan vì khi anh ta vào phòng thầy Xôm, bản in thử vẫn cuộn lại, anh ta không thể biết đó là gì.
– Xem xét hiện trường: quan sát khung cửa sổ, Sớc-lốc Hòm nhận thấy mình cao sáu foot, vậy mà phải cố lắm mới nhìn ra được tờ giấy để trên bàn giữa phòng. Từ đó, vị thám tử hướng sự chú ý vào cậu sinh viên có thân hình rất cao. Mẩu đất trên bàn ngoài phòng làm việc chứng tỏ kẻ chép trộm đề thi đặt đôi giày ở đó, vết rạch do đinh giày để lại trên mặt bàn hẳn rõ theo hướng phòng ngủ cho thấy chiếc giày bị kéo về hướng đó và thủ phạm đã trốn trong phòng ngủ.
Tìm kiếm bằng chứng: Vị thám tử đã đến sân nhảy xa và nhận thấy loại đất sét đen cứng được đổ trong hố nhảy cùng một ít mùn cưa rải lên bề mặt chính là loại đất
Tìm kiếm bằng chứng: Vị thám tử đã đến sân nhảy xa và nhận thấy loại đất sét đen cứng được đổ trong hố nhảy cùng một ít mùn cưa rải lên bề mặt chính là loại đất bám quanh đinh giày vương ở bàn và mẩu đất thứ hai rã ra, rơi xuống sàn phòng ngủ.
Như vậy, Sơ-lốc Hôm đã xâu chuỗi được các thông tin từ lời khai của nạn nhân (thầy Xôm) kết hợp chặt chẽ với việc xem xét hiện trường phạm tội và tìm kiếm bằng chứng bổ sung để đưa ra kết luận thuyết phục.
Từ đó, GV yêu cầu HS đưa ra nhận xét về tài năng của nhân vật thám tử. Có thể nêu các ý: Sơ-lốc Hôm là một thám tử thông minh, có khả năng phán đoán nhanh nhạy, quan sát tinh tường, phân tích sắc sảo, suy luận lô-gíc,...
Câu hỏi 6
Câu hỏi đáp ứng yêu cầu của bài học: nhận biết và phân tích lời người kể chuyện trong
tác phẩm. Thám tử trong các truyện trinh thám thường không đơn độc, anh ta luôn có một người bạn đồng hành. Tác phẩm được kể theo ngôi thứ nhất qua lời kể của nhân vật Oát-xơn - người bạn thân thiết đồng thời là cộng sự đắc lực của Sơ-lốc Hôm. Oát-xơn đã theo sát vụ án cùng vị thám tử và thường xuyên được Sơ-lốc Hôm trao đổi ý kiến chuyên môn. Vì thế, Oát-xơn biết tường tận từng chi tiết của vụ án. Câu chuyện trở nên chân thực, đáng tin cậy hơn vì nó được người trong cuộc, người chứng kiến kể lại.
Câu hỏi 7
Câu hỏi nhằm hướng tới yêu cầu cần đạt của bài học "Nêu được những thay đổi trong suy nghĩ, tình cảm, lối sống và cách thưởng thức, đánh giá của cá nhân do VB đã học mang lại". Câu hỏi mở nên GV cần khuyến khích HS bộc lộ những suy nghĩ cá nhân về VB. HS có thể trình bày suy nghĩ về các vấn đề:
Sự trung thực và lòng tự trọng của con người trong cuộc sống. - Mối quan hệ giữa tình cảm cá nhân và tinh thần tôn trọng sự thật, thượng tôn pháp luật.
Hoạt động 4 Viết kết nối với đọc
GV yêu cầu HS phân tích bài tập: - Nhiệm vụ: Viết đoạn văn với dung lượng khoảng 7 - 9 câu. - Nội dung của đoạn văn: Trình bày suy nghĩ về nhân vật Ben-ni-xtơ hoặc Ghi-crít trong truyện Ba chàng sinh viên.
GV có thể hướng dẫn HS viết đoạn văn theo các bước: chọn nhân vật; viết ra giấy một vài từ ngữ miêu tả đặc điểm nổi bật của nhân vật; tìm một số từ ngữ nêu cảm nhận, suy nghĩ về nhân vật; từ các từ ngữ đã tìm được, viết các câu và liên kết chúng thành đoạn văn.
CÁC KIỂU CÂU GHÉP VÀ PHƯƠNG TIỆN NỐI CÁC VẾ CÂU GHÉP 1. Phân tích yêu cầu cần đạt HS nhận biết được đặc điểm của câu ghép đẳng lập, câu ghép chính phụ, phương t
CÁC KIỂU CÂU GHÉP VÀ PHƯƠNG TIỆN NỐI CÁC VẾ CÂU GHÉP
1. Phân tích yêu cầu cần đạt
HS nhận biết được đặc điểm của câu ghép đẳng lập, câu ghép chính phụ, phương tiện nối các vế trong mỗi kiểu câu ghép để sử dụng hiệu quả các kiểu câu ghép trong giao tiếp.
2. Gợi ý tổ chức hoạt động dạy học Hoạt động 1 Hình thành kiến thức mới GV có thể giúp HS hình thành kiến thức mới bằng nhiều cách khác nhau. Ví dụ: yêu cầu HS đọc Tri thức ngữ văn (nội dung các kiểu câu ghép); đọc khung Nhận biết câu ghép đẳng lập, câu ghép chính phụ trong SGK (trang 15 - 16) để hiểu được đặc điểm của mỗi kiểu câu ghép, phương tiện nối các vế câu ghép. GV cho HS nêu thêm ví dụ để hiểu rõ hơn đặc điểm của từng kiểu câu ghép. Lưu ý, ngoài kiến thức mới, phần Tri thức ngữ văn trong SGK còn nhắc lại sự phân biệt câu đơn và câu ghép, câu ghép có mặt hay vắng mặt từ ngữ làm phương tiện nối các vế câu để HS được củng cố và nâng cao kiến thức đã học ở Tiểu học. Hoạt động 2 Luyện tập, vận dụng
Bài tập 1
- Câu ghép đẳng lập: a, d.
- Câu ghép chính phụ: b, c.
Bài tập 2
a. Quan hệ ý nghĩa giữa các vế câu ghép là quan hệ nguyên nhân - kết quả. Các vế câu ghép được nối với nhau bằng cặp kết từ vì … nên …
b. Quan hệ ý nghĩa giữa các vế câu ghép là quan hệ liệt kê. Các vế câu ghép được nối với nhau bằng kết từ và.
c. Quan hệ ý nghĩa giữa các vế câu ghép là quan hệ mục đích - sự kiện. Các vế câu ghép được nối với nhau bằng kết từ để ở vế phụ.
d. Quan hệ ý nghĩa giữa các vế câu ghép là quan hệ tăng cấp. Các vế câu ghép được nối với nhau bằng cặp từ hô ứng … càng … càng …
Bài tập 3
Ở một số kiểu câu ghép, vị trí của các vế câu khá linh hoạt. Tuy vậy, trong giao tiếp, việc lựa chọn trật tự của các vế câu đóng vai trò quan trọng để tạo điểm nhấn thông tin và có thể chi phối ý nghĩa của cả câu.
VĂN BẢN 2. BÀI HÁT ĐỒNG SÁU XU (A-ga-thơ Crít-xti) 1. Phân tích yêu cầu cần đạt Từ kết quả đọc hiểu VB 1, GV tổ chức cho HS đọc hiểu VB 2 để tiếp tục hình thành
VĂN BẢN 2. BÀI HÁT ĐỒNG SÁU XU
(A-ga-thơ Crít-xti)
1. Phân tích yêu cầu cần đạt
Từ kết quả đọc hiểu VB 1, GV tổ chức cho HS đọc hiểu VB 2 để tiếp tục hình thành và phát triển kĩ năng đọc hiểu truyện trinh thám cho các em. Yêu cầu cần đạt cụ thể như sau:
Nhận biết và phân tích được một số yếu tố của truyện trinh thám như: không gian, thời gian, chi tiết, cốt truyện, nhân vật chính, lời người kể chuyện được thể hiện trong truyện Bài hát đồng sáu xu.
Nêu được những thay đổi trong suy nghĩ, tình cảm, lối sống và cách thưởng thức, đánh giá của cá nhân do VB đã học mang lại sau khi đọc truyện Bài hát đồng sáu xu.
2. Gợi ý tổ chức hoạt động dạy học
Hoạt động 1 Khởi động
GV dựa vào nhiệm vụ trước khi đọc trong SGK để tổ chức hoạt động khởi động: cho HS thảo luận về những yếu tố làm nên sức hấp dẫn của truyện trinh thám (chẳng hạn: cốt truyện hấp dẫn, li kì; nhân vật người điều tra cá tính, tài năng; kết thúc truyện bất ngờ, thú vị;...). GV cũng có thể tổ chức hoạt động khởi động theo cách khác: yêu cầu HS chia sẻ cảm nghĩ về một số nhà văn viết truyện trinh thám nổi tiếng hoặc một tác phẩm truyện trinh thám mà HS yêu thích.
Hoạt động 2 Đọc văn bản
GV giao nhiệm vụ cho HS đọc VB trước khi đến lớp, tự tóm tắt nội dung VB. Trên lớp, GV yêu cầu HS đọc diễn cảm một số phần/ đoạn trong VB (có thể sử dụng biện pháp đọc phân vai).
GV nhắc HS sử dụng chiến lược đọc trong các thẻ chỉ dẫn: theo dõi, dự đoán, suy luận, đối chiếu. Sau đó, GV mời một số HS chia sẻ việc sử dụng các chiến lược nà
GV nhắc HS sử dụng chiến lược đọc trong các thẻ chỉ dẫn: theo dõi, dự đoán, suy luận, đối chiếu. Sau đó, GV mời một số HS chia sẻ việc sử dụng các chiến lược này khi đọc VB.
GV yêu cầu HS trao đổi với bạn và thầy cô về những từ ngữ được chú thích hoặc những từ ngữ trong VB mà các em chưa hiểu rõ.
Hoạt động 3 Khám phá văn bản
Trong 7 câu hỏi Sau khi đọc của VB Bài hát đồng sáu xu, câu 1, 2 ở mức độ nhận biết; câu 3, 4, 5, 6 ở mức phân tích, suy luận; câu 7 là câu hỏi đánh giá, vận dụng.
Câu hỏi 1
Câu hỏi định hướng HS đọc hiểu VB theo đặc trưng thể loại truyện trinh thám. GV yêu cầu HS đọc phần trích lược ở đầu VB trong SGK để tìm thông tin về vụ án, thời gian, không gian xảy ra vụ án. Với câu hỏi này, HS có thể làm việc cá nhân hoặc theo nhóm đôi
để trả lời câu hỏi.
Gợi ý:
Vụ án được kể lại trong tác phẩm: Bà Li-ly Cráp-tri bị giết trong nhà. Bà bị đánh bằng cái chặn giấy ở trên bàn cạnh cửa ra vào.
Không gian xảy ra vụ án: trong nhà bà Li-ly Cráp-tri. - Thời gian xảy ra vụ án: buổi tối (Khi bà giúp việc Ma-thơ đến để chuẩn bị dọn bữa tối vào lúc 7 giờ 30 phút thì bà Li-ly đã chết rồi.).
Câu hỏi 2
Câu hỏi bám sát yêu cầu của bài học, định hướng việc nhận diện đặc điểm của truyện trinh thám (hệ thống nhân vật). Hệ thống nhân vật trong tác phẩm gồm: người điều tra (luật sư Ét-uốt), nạn nhân (bà Li-ly Cráp-tri), nghi phạm (các thành viên trong gia đình hoặc một kẻ bên ngoài đột nhập vào ngôi nhà), thủ phạm (con trai bà giúp việc Ma-thơ). GV yêu cầu HS liên hệ, so sánh với hệ thống nhân vật trong truyện Ba chàng sinh viên để hiểu rõ đặc điểm nhân vật trong truyện trinh thám.
GV có thể gộp câu hỏi 1 và câu hỏi 2 thành một nội dung dạy học: Tìm hiểu về vụ án và hệ thống nhân vật trong tác phẩm.
Câu hỏi 3
HS xác định yếu tố ngẫu nhiên xuất hiện trong quá trình điều tra của luật sư Ét-uốt. Khi từ nhà Méc-đơ-lân ra về, luật sư trầm ngâm suy nghĩ: "Câu đố đã nằm trong tay… vậy mà ông vẫn chưa giải được. Cần thêm cái gì đấy… cái gì đấy nhỏ thôi. Vừa đủ để chỉ cho ông đi đúng hướng". Yếu tố ngẫu nhiên là cái bảng hiệu "Hai Tư Chú Sáo Đen". Cái bảng hiệu đó đã khiến vị luật sư nhớ tới một bài đồng dao cổ, trong đó có câu "Bài hát đồng sáu xu". Truyện Bài hát đồng sáu xu là kiểu phá án bằng một gợi ý tình cờ tưởng như không liên quan đến
vụ án. Bài đồng dao giúp luật sư Ét-uốt nhớ lại chứng cứ bỏ sót trong chiếc túi nhung đen của bà chủ bị giết. Từ đó, ông điều tra lại và phát hiện ra bà giúp vi
vụ án. Bài đồng dao giúp luật sư Ét-uốt nhớ lại chứng cứ bỏ sót trong chiếc túi nhung đen của bà chủ bị giết. Từ đó, ông điều tra lại và phát hiện ra bà giúp việc nói dối. Cuối cùng, bà giúp việc mới khai toàn bộ sự thật.
Câu hỏi 4
GV yêu cầu HS phân tích cách thức để đi đến kết luận về tội phạm trong suy luận của luật sư Ét-uốt, từ đó nhận xét về tài năng của người điều tra. Đây là câu hỏi tương đối khó, GV có thể cho HS thực hiện nhiệm vụ bằng phương pháp dạy học hợp tác.
Gợi ý:
Cách thức luật sư Ét-uốt phá án: - Luật sư thu thập, tìm hiểu thông tin về bà Li-ly qua những người liên quan đến bà: + Ông nói chuyện với luật sư của bà Li-ly để nắm được cách bà quản lí tiền bạc.
Ông đến nhà Méc-đơ-lân, nói chuyện với từng thành viên trong gia đình để nắm bắt thông tin của vụ án.
Ông rất tinh ý khi nói chuyện với bà giúp việc Ma-thơ. Ông nhận thấy đây là một nhân chứng quan trọng. (Ông nghĩ: "Một nhân chứng tốt. Bà ấy quan trọng lắm đây.")
Khi nghe bà Ma-thơ khẳng định các thành viên trong gia đình không liên quan đến vụ án, luật sư Ét-uốt nhận thấy "bà nói chân thành" và đã loại trừ những yếu tố gây nhiễu (động cơ, thái độ, hành vi có vẻ đáng ngờ của Méc-đơ-lân, bà Ê-mi-ly, chú Uy-li-am và đặc biệt là Mét-thiu). Từ đó, người điều tra thu hẹp phạm vi đối tượng cần xem xét. Quan sát thái độ và lắng nghe lời khai của bà giúp việc, vị luật sư đã nghi ngờ có người bên ngoài vào hại bà chủ Li-ly.
Luật sư thấy được mối liên hệ giữa đồng sáu xu mới qua lời kể của bà Ma-thơ với những đồ vật trong túi nhung đen của bà Li-ly. Trong túi không có đồng sáu xu mới nào. Điều này chứng tỏ rằng ai đó đã đến nhà bà Li-ly vào buổi tối hôm đó và lấy đi đồng sáu xu.
Để khám phá ra sự thật, người điều tra cần có nhiều phẩm chất và kĩ năng. Tuy nhiên, truyện Bài hát đồng sáu xu đề cao, tô đậm sự "tinh , nhạy cảm, kinh nghiệm điều tra của luật sư Ét-uốt. Đối với người nhạy cảm, khi phá án, mọi yếu tố ngẫu nhiên đều được tận dụng. Vì thế, từ cái bảng hiệu, vị luật sư đã nghĩ đến một bằng chứng quan trọng bị bỏ sót và giải mã được vụ án.
Với đối tượng HS có năng lực đọc hiểu tốt, GV có thể đặt ra câu hỏi để HS thảo luận: so sánh cách thức phá án của nhân vật luật sư Ét-uốt trong tác phẩm và thám tử Sơ-lốc Hôm trong truyện Ba chàng sinh viên.
Câu hỏi 5
Câu hỏi này yêu cầu HS bước đầu nhận xét về một nét đặc sắc nghệ thuật trong tác phẩm. Tác phẩm chủ yếu là lời thoại của các nhân vật. Việc không miêu tả kĩ quá trình cân nhắc, suy luận của người điều tra có tác dụng:
Ca ngợi tài năng, kinh nghiệm, tốc độ suy luận rất nhanh của luật sư Ét-uốt. Qua những lời đối thoại, ông đã loại trừ yếu tố gây nhiễu, phát hiện ra mấu chốt qu
Ca ngợi tài năng, kinh nghiệm, tốc độ suy luận rất nhanh của luật sư Ét-uốt. Qua những lời đối thoại, ông đã loại trừ yếu tố gây nhiễu, phát hiện ra mấu chốt quan trọng của vụ án, tìm bằng chứng củng cố giả thiết để đưa ra kết luận chính xác. - Giúp câu chuyện thêm kịch tính, căng thẳng, khiến người đọc hồi hộp khi theo dõi và thấy bất ngờ khi kết thúc.
Câu hỏi 6
Câu hỏi yêu cầu HS chỉ ra một đặc điểm nổi bật của truyện trinh thám. Truyện trinh thám hấp dẫn người đọc bởi yếu tố bất ngờ. Trong phần đầu vụ án, nhà văn đánh lạc hướng suy luận của người đọc bằng những manh mối gây nhiễu khá phức tạp. Thành viên nào trong gia đình cũng có thể là nghi phạm. Truyện của A-ga-thơ Crít-xti thường có công thức: Mở đầu giới thiệu một loạt nhân vật liên quan đến một sự kiện nào đó, có người bị giết, những người khác bị nghi ngờ. Họ lần lượt bị tra vấn, cung cấp những thông tin mình biết
về án mạng, nhưng lời khai của họ luôn có lỗ hổng khiến người đọc phải hoang mang. Và khi hung thủ thực sự lộ mặt, độc giả cảm thấy rất bất ngờ vì những manh mối gây nhiễu đã khiến họ loại bỏ khả năng người đó là tội phạm ngay từ đầu truyện.
Câu hỏi 7
Câu hỏi hướng tới yêu cầu cần đạt của bài học "Nêu được những thay đổi trong suy nghĩ, tình cảm, lối sống của cá nhân do VB đã đọc mang lại". Câu hỏi mở nên GV cần khuyến khích HS bộc lộ những suy nghĩ cá nhân về VB. Chẳng hạn, HS có thể trình bày suy nghĩ về các vấn đề: - Cần đánh giá sự việc, con người một cách sâu sắc, không nên chỉ nhìn vào vẻ bề ngoài. - Cần tinh tường trong việc quan sát sự việc, con người; đôi khi yếu tố ngẫu nhiên có ý nghĩa quan trọng giúp ta nhìn ra bản chất của sự việc hoặc con người.
Hoạt động 4 Viết kết nối với đọc
GV yêu cầu HS phân tích bài tập. + Nhiệm vụ: Viết đoạn văn với dung lượng khoảng 7 - 9 câu. + Nội dung của đoạn văn: Vào vai nhân vật Méc-đơ-lân, ghi lại cảm nghĩ về luật sư Ét-uốt sau khi ông phá án thành công. - GV có thể hướng dẫn HS viết đoạn văn theo các bước: viết ra giấy một vài từ ngữ miêu tả đặc điểm nổi bật của nhân vật luật sư Ét-uốt; tìm một số từ ngữ nêu cảm nghĩ về nhân vật; từ các từ ngữ đã tìm được, viết các câu và liên kết chúng thành đoạn văn. - GV lưu ý HS: Đoạn văn được viết bằng lời của nhân vật Méc-đơ-lân. Vì thế, khi viết, cần thể hiện đúng cách nhìn và giọng điệu của nhân vật.
Căn cứ vào thời gian dạy học, GV có thể cho HS viết đoạn văn trên lớp hoặc ở nhà.
VĂN BẢN 3. PHẠM XUÂN ẨN – TÊN NGƯỜI NHƯ CUỘC ĐỜI (Trích, Nguyễn Thị Ngọc Hải) 1. Phân tích yêu cầu cần đạt Thể loại đọc chính của bài 6 là truyện trinh thám. Tr
VĂN BẢN 3. PHẠM XUÂN ẨN – TÊN NGƯỜI NHƯ CUỘC ĐỜI
(Trích, Nguyễn Thị Ngọc Hải)
1. Phân tích yêu cầu cần đạt
Thể loại đọc chính của bài 6 là truyện trinh thám. Truyện trinh thám bao gồm nhiều tiểu loại, trong đó có truyện về điệp viên. Tuy nhiên, VB 3 trong bài học này không phải là truyện về một điệp viên mà là VB kí khắc hoạ chân dung điệp viên - nhà tình báo nổi tiếng Phạm Xuân Ẩn. Phạm Xuân Ẩn - tên người như cuộc đời là cuốn sách khởi đầu việc giới thiệu nhà tình báo huyền thoại với công chúng. VB 3 có chức năng kết nối về chủ đề Giải mã những bí mật. Đọc VB, HS sẽ hiểu được một vài nét về anh hùng tình báo, thiếu tướng Phạm Xuân Ẩn dưới góc nhìn của những nhà báo nước ngoài và nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải. Việc đọc hiểu VB 3 góp phần giúp HS hiểu được sự đa dạng của những bí mật trong đời sống xã hội và ý nghĩa của việc giải mã
những bí mật đó.
2. Gợi ý tổ chức hoạt động dạy học
Hoạt động 1 Khởi động
GV có thể cho HS khởi động bằng một trong những cách sau: - Yêu cầu HS chia sẻ những hiểu biết về nghề tình báo. - Yêu cầu HS giới thiệu ngắn gọn về một số nhà tình báo nổi tiếng mà các em biết.
Hoạt động 2 Đọc văn bản
HS cần đọc VB trước khi đến lớp. Trên lớp, GV có thể yêu cầu HS đọc diễn cảm một số đoạn tiêu biểu trong VB.
Hoạt động 3 Khám phá văn bản
Câu hỏi 1
GV hướng dẫn HS đọc kĩ phần (1) để tìm những thông tin cơ bản về cuộc đời hoạt động cách mạng của nhà tình báo Phạm Xuân Ẩn.
Gợi ý:
- Ông đã trải đời mình cùng với lịch sử kháng chiến của Việt Nam, là quân nhân trong ba quân đội khác nhau (tham gia Vệ quốc đoàn khi 18 tuổi; lính trong quân đội Pháp; nhân viên dịch thuật tại Bộ Tổng tham mưu, tham dự vào việc thành lập những sư đoàn đầu tiên do quân đội Mỹ tuyển chọn và đào tạo).
- Sau khi học ở Mỹ về, Phạm Xuân Ẩn hành nghề báo chí, từ làm việc cho Việt Tấn xã dưới thời Ngô Đình Diệm, cho tới làm phóng viên cho các hãng thông tấn của nước ngoài có văn phòng tại Việt Nam như Roi-tơ, Time,…
- Là một kí giả có tên tuổi làm việc cho Mỹ nhưng sự thực ông đã tham gia hoạt động cách mạng từ năm 1945 với các chức vụ khác nhau… Câu hỏi 2 Câu hỏi yêu cầu H
- Là một kí giả có tên tuổi làm việc cho Mỹ nhưng sự thực ông đã tham gia hoạt động cách mạng từ năm 1945 với các chức vụ khác nhau…
Câu hỏi 2
Câu hỏi yêu cầu HS tìm những chi tiết cho thấy các nhà báo nước ngoài đã đánh giá rất cao về cuộc đời, con người Phạm Xuân Ẩn.
Gợi ý:
- Pi-tơ Rót-xơ Rên-giơ khuyến khích Phạm Xuân Ẩn viết một cuốn sách về cuộc đời mình vì "Nếu không có câu chuyện của anh, một mảng quan trọng của lịch sử sẽ bị thiếu.".
- Sau khi đất nước được thống nhất, cả nước và thế giới biết rõ ông là tình báo, vậy mà những nhà báo Mỹ hoạt động cùng thời với ông nay trở lại Việt Nam vẫn tin tưởng và kính trọng ông.
- Có những nhà báo Mỹ là bạn cũ của ông Ẩn, nay đã mất nhưng dặn lại con cái họ hãy tìm đến ông Ẩn khi sang Việt Nam vì sẽ học được nhiều điều ở con người đó.
- Mo-li Xây-phơ đánh giá ông Ẩn là người khôn khéo.
Câu hỏi 3
GV gợi ý HS đọc kĩ phần (2), tìm những câu văn cho thấy thái độ đánh giá trực tiếp của nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải về Phạm Xuân Ẩn và mong ước của tác giả khi khắc hoạ chân dung ông.
Gợi ý:
- Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải đã đánh giá rất cao và thể hiện sự trân trọng, ngưỡng mộ con người Phạm Xuân Ẩn. Tác giả đã khẳng định: Đó là một nhân cách, một tài năng; Phạm Xuân Ẩn có cuộc đời của nhân vật tiểu thuyết, một người Việt đặc sắc;…
- Phạm Xuân Ẩn đã sống một cuộc đời hết sức thầm lặng, khiêm nhường và bình dị (Cuộc đời ông không được ông viết ra bao giờ.). Tác giả cho rằng cuộc đời của Phạm Xuân Ẩn thật phong phú, nhưng các nhà báo Việt Nam cũng như nước ngoài mới chỉ có được "vài chớp đèn flash nắm bắt những nét thoảng qua nào đó của cuộc đời ông". Do đó, nhà văn mong muốn người đọc hiểu thêm tâm hồn đẹp đẽ, trầm lặng, sâu sắc và nhân văn ở một con người cao quý.
Câu hỏi 4
Câu hỏi yêu cầu HS tìm hiểu nghệ thuật xây dựng chân dung nhân vật trong VB. GV nên tổ chức cho HS trao đổi, thảo luận theo nhóm để trả lời câu hỏi.
| THỰC HÀNH TIẾNG VIỆT LỰA CHỌN CÂU ĐƠN HOẶC CÂU GHÉP 1. Phân tích yêu cầu cần đạt | | HS phân tích được mục đích của việc sử dụng câu đơn, câu ghép; biết lựa c
| THỰC HÀNH TIẾNG VIỆT LỰA CHỌN CÂU ĐƠN HOẶC CÂU GHÉP 1. Phân tích yêu cầu cần đạt |
| HS phân tích được mục đích của việc sử dụng câu đơn, câu ghép; biết lựa chọn câu đơn hoặc câu ghép trong hoạt động giao tiếp. |
| 2. Gợi ý tổ chức hoạt động dạy học Hoạt động 1 Hình thành kiến thức mới GV có thể hướng dẫn HS hình thành kiến thức mới bằng nhiều cách khác nhau. Ví dụ: yêu cầu HS đọc Tri thức ngữ văn, nội dung Lựa chọn câu đơn hoặc câu ghép; đọc phần Mục đích của việc lựa chọn câu đơn hoặc câu ghép ở khung "nhận biết" trong SGK để hiểu được lí do sử dụng câu đơn, câu ghép trong giao tiếp. GV có thể lấy thêm các ví dụ khác để HS hiểu rõ hơn sự khác biệt trong việc biểu đạt nghĩa của câu đơn, câu ghép nhằm đáp ứng những mục đích giao tiếp khác nhau. Hoạt động 2 Luyện tập, vận dụng |
| Bài tập 1 |
| Bài tập yêu cầu xác định quan hệ ý nghĩa giữa các vế trong câu ghép, cho biết có thể tách mỗi vế của câu ghép thành một câu đơn được không và nêu lí do. |
Gợi ý: a. Các vế câu có quan hệ liệt kê, tăng cấp. Không nên tách mỗi vế câu thành câu đơn vì ý nghĩa của các vế câu có quan hệ chặt chẽ với nhau. Diễn đạt bằng
Gợi ý:
a. Các vế câu có quan hệ liệt kê, tăng cấp. Không nên tách mỗi vế câu thành câu đơn vì ý nghĩa của các vế câu có quan hệ chặt chẽ với nhau. Diễn đạt bằng câu ghép như vậy nhằm nhấn mạnh hậu quả tai hại khôn lường của việc mất nước.
b. Các vế câu có quan hệ giả thiết - hệ quả. Trong vế nêu giả thiết (Nếu con chưa đi, cụ Nghị chưa giao tiền cho, u chưa có tiền nộp sưu) có ba vế thể hiện ba sự việc tiếp nối nhau theo trật tự thời gian, có quan hệ nguyên nhân - kết quả, ràng buộc với nhau chặt chẽ. Cách diễn đạt như vậy cho thấy người mẹ đã giải thích cẩn thận, cặn kẽ để cố gắng thuyết phục con hiểu được sự cấp bách và hệ quả của giả thiết "nếu con chưa đi". Do đó, không thể tách mỗi vế của câu ghép thành một câu đơn.
Bài tập 2
Với bài tập 2, HS cần chuyển đổi các câu đơn trong mỗi trường hợp thành một câu ghép và nhận xét sự khác biệt về ý nghĩa giữa các câu đơn ban đầu và câu ghép có được sau khi chuyển đổi. GV có thể gợi ý cho HS bằng câu hỏi: Tác giả viết các câu đơn như vậy nhằm nhấn mạnh thông tin gì?
Gợi ý:
a. Chuyển đổi các câu đơn thành câu ghép: Rõ ràng Phạm Xuân Ẩn có cuộc đời của nhân vật tiểu thuyết nhưng các nhà báo Việt Nam cũng như nhà báo nước ngoài mới chỉ có được "vài chớp đèn flash" nắm bắt những nét thoảng qua nào đó của cuộc đời ông theo một số sự kiện lịch sử lớn lao. So với việc diễn đạt bằng một câu ghép, diễn đạt bằng các câu đơn có tác dụng nhấn mạnh hơn thông tin: các nhà báo nước ngoài mới chỉ nắm bắt được vài nét ít ỏi về Phạm Xuân Ẩn, trong khi cuộc đời ông phong phú, hấp dẫn như một nhân vật tiểu thuyết.
b. Chuyển đổi các câu đơn thành câu ghép: Thầy dạy rất ân cần, tỉ mỉ, chỉ bảo cho chúng tôi từng li từng tí: cách tô màu, đánh bóng, cả cách gọt bút chì thế nào cho đẹp và dễ vẽ nhưng thú vị hơn cả là những câu chuyện của thầy. So với việc diễn đạt bằng một câu ghép, diễn đạt bằng các câu đơn có tác dụng nhấn mạnh hơn thông tin: những câu chuyện của thầy thú vị hơn cả.
c. Chuyển đổi các câu đơn thành câu ghép: Chắc cô giáo rất vui trước món quà của em, giữa bao món quà của các bạn và em sẽ không để tên mình - tên người mang cánh buồm tặng cô. So với việc diễn đạt bằng một câu ghép, diễn đạt bằng các câu đơn có tác dụng nhấn mạnh hơn thông tin: "em" sẽ không để tên mình trên món quà tặng cô.
VIẾT VIẾT TRUYỆN KỂ SÁNG TẠO 1. Phân tích yêu cầu cần đạt HS viết được một truyện kể sáng tạo, có thể mô phỏng một truyện đã đọc; sử dụng các yếu tố miêu tả và
VIẾT
VIẾT TRUYỆN KỂ SÁNG TẠO
1. Phân tích yêu cầu cần đạt
HS viết được một truyện kể sáng tạo, có thể mô phỏng một truyện đã đọc; sử dụng các yếu tố miêu tả và biểu cảm trong truyện.
2. Những lưu ý về yêu cầu đối với truyện kể sáng tạo SGK đã đưa ra các yêu cầu đối với một truyện kể sáng tạo: - Sử dụng ngôi kể phù hợp: Người kể chuyện có thể
2. Những lưu ý về yêu cầu đối với truyện kể sáng tạo
SGK đã đưa ra các yêu cầu đối với một truyện kể sáng tạo: - Sử dụng ngôi kể phù hợp: Người kể chuyện có thể là một nhân vật trong tác phẩm, xưng "tôi", kể về những gì mình chứng kiến hoặc tham gia (ngôi thứ nhất). Người kể chuyện cũng có thể "giấu mình" không tham gia vào câu chuyện nhưng lại "biết hết" mọi chuyện (ngôi thứ ba). - Giới thiệu được bối cảnh, nhân vật và câu chuyện: Những nội dung này thường được triển khai ở phần Mở đầu. Tác phẩm truyện cần giới thiệu được thời gian, không gian xảy ra câu chuyện; nhân vật chính và câu chuyện. - Xây dựng nhân vật với một số yếu tố như lai lịch, ngoại hình, hành động, lời nói, suy nghĩ. Những yếu tố đó có mục đích khắc hoạ tính cách nhân vật và tạo nên mối liên kết giữa
các sự kiện trong tác phẩm.
Chuỗi sự kiện trong truyện cần được sắp xếp theo trình tự hợp lí, thường gồm: mở đầu, diễn biến và kết thúc. - Sử dụng hiệu quả các yếu tố miêu tả và biểu cảm để thể hiện chi tiết tiêu biểu trong truyện và làm cho câu chuyện trở nên sinh động, hấp dẫn hơn.
3. Gợi ý tổ chức hoạt động dạy học
Hoạt động 1 Giới thiệu kiểu bài
GV có thể giới thiệu kiểu bài viết bằng nhiều cách. Ví dụ: - Yêu cầu HS trả lời câu hỏi, chẳng hạn: Tác phẩm truyện nào đã để lại trong em ấn tượng sâu sắc nhất? Em đã bao giờ sáng tác một tác phẩm văn học chưa? Hãy chia sẻ ngắn gọn trải nghiệm đó.
Từ đó, GV dẫn dắt HS vào nhiệm vụ: viết một truyện kể sáng tạo.
Hoạt động 2 Tìm hiểu yêu cầu đối với truyện kể sáng tạo
Hoạt động tìm hiểu các yêu cầu đối với một truyện kể sáng tạo có thể tiến hành trước hoặc sau hoạt động phân tích bài viết tham khảo. GV cho HS đọc các yêu cầu đối với một truyện kể sáng tạo và nêu câu hỏi: Theo em, một truyện kể sáng tạo phải đáp ứng được những yêu cầu gì?
Hoạt động 3 Đọc và phân tích bài viết tham khảo
GV có thể hướng dẫn HS thảo luận theo nhóm các yêu cầu của truyện kể sáng tạo được thể hiện trong bài viết tham khảo Con mèo Đại Uý bằng các câu hỏi và nhiệm vụ như sau:
Câu chuyện được kể theo ngôi thứ mấy?
Bối cảnh, nhân vật và câu chuyện được giới thiệu ở phần nào của bài viết? Nêu bối cảnh, nhân vật và câu chuyện trong truyện kể. Hệ thống sự kiện trong truyện đư
Bối cảnh, nhân vật và câu chuyện được giới thiệu ở phần nào của bài viết? Nêu bối cảnh, nhân vật và câu chuyện trong truyện kể.
Hệ thống sự kiện trong truyện được thể hiện như thế nào? (Một buổi sáng ở tiệm cà phê Poa-rô, có ba người (bà Si-na-ga-oa, cậu thanh niên Ô-xa-oa, người đàn ông trung niên Ma-xu-cô) đều đến nhận là chủ của con mèo Đại Uý và cả ba người đều đưa ra bằng chứng. à Chị chủ quán A-du-xa bế con mèo ra để nhận chủ thì nó nhảy ngay lên lòng Ô-xa-oa. Anh ta định mang con mèo về nhưng bà Si-na-ga-oa và ông Ma-xu-cô đều không chấp nhận. à Thám tử Cô-nan đưa ra cách kiểm tra chủ nhân thực sự của con mèo. à Thám tử đã tìm được đúng chủ của mèo Đại Uý.)
Chỉ ra một số yếu tố miêu tả và biểu cảm trong truyện? Các yếu tố đó có tác dụng gì?
Hoạt động 4 Thực hành viết theo các bước
GV ra đề bài cụ thể cho HS (nên giao trước tiết học để HS tìm ý tưởng cho truyện): Viết một truyện kể sáng tạo. GV lưu ý HS dựa vào gợi ý trong SGK để xây dựng khung truyện. SGK đã hướng dẫn viết truyện theo các cách: dựa vào một truyện đã đọc (truyện tranh hoặc "truyện chữ") hoặc tự sáng tác truyện mới (có thể là một câu chuyện tưởng tượng do người viết hư cấu hoặc dựa trên một câu chuyện có thật). Do đó, GV nên cho HS lựa chọn cách thức các em viết truyện.
Ở trên lớp, GV yêu cầu HS làm việc theo nhóm: nhóm HS dựa vào một truyện đã đọc để tự sáng tác một truyện mới. Trong nhóm, HS chia sẻ khung truyện dự kiến với nhau và ghi chú phản hồi của các bạn để điều chỉnh, bổ sung.
GV hướng dẫn HS lập dàn ý cho bài viết theo gợi ý như trong SGK hoặc vẽ sơ đồ tư duy.
HS thực hiện bài viết ở nhà.
TRẢ BÀI
Hoạt động 1 Nhắc lại, khắc sâu yêu cầu của kiểu bài
GV cho HS nhắc lại yêu cầu đối với truyện kể sáng tạo và một vài lưu ý khi viết kiểu bài này.
Hoạt động 2 Nhận xét về kết quả viết và chỉnh sửa bài viết
GV nhận xét chung về mức độ đáp ứng yêu cầu cần đạt ở bài viết của HS. GV phân tích một số điểm tích cực và hạn chế trong bài làm để HS rút kinh nghiệm.
GV trả bài cho HS và yêu cầu các em chỉnh sửa bài viết theo hướng dẫn trong SGK bằng hình thức làm việc cá nhân hoặc theo nhóm.
CỦNG CỐ, MỞ RỘNG GV định hướng HS thực hiện cá nhân hoặc theo nhóm các bài tập 1, 2, 3. Bài tập 1 HS vận dụng kiến thức có được từ phần Tri thức ngữ văn và kết
CỦNG CỐ, MỞ RỘNG
GV định hướng HS thực hiện cá nhân hoặc theo nhóm các bài tập 1, 2, 3.
Bài tập 1
HS vận dụng kiến thức có được từ phần Tri thức ngữ văn và kết quả của phần Đọc để hoàn thành thông tin trong bảng.
Văn bản / Nội dung, Ba chàng sinh viên, Bài hát đồng sâu xu Vụ án, Chép trộm đề thi, Bà Li-ly Cráp-tri bị giết Không gian hiện trường, Phòng làm việc của thầy X
Văn bản / Nội dung, Ba chàng sinh viên, Bài hát đồng sâu xu
Vụ án, Chép trộm đề thi, Bà Li-ly Cráp-tri bị giết
Không gian hiện trường, Phòng làm việc của thầy Xôm ở trường đại học, Nhà bà Li-ly Cráp-tri
Hệ thống nhân vật: – Người điều tra – Nạn nhân – Nghi phạm – Thủ phạm, – Người điều tra: thám tử Sơ-lốc Hôm và người bạn Oát-xơn – Nạn nhân: thầy Xôm – Nghi phạm: ba sinh viên (Đao-lát Rát, Ghi-crít, Mai Mắc Le-rờn) – Thủ phạm: Ghi-crít, – Người điều tra: luật sư Ét-uốt – Nạn nhân: bà Li-ly Cráp-tri – Nghi phạm: các thành viên trong gia đình (Méc-đơ-lân, Mét-thiu, thám Ê-mi-ly, chú Uy-li-am) hoặc một người nào đó ở bên ngoài đột nhập vào nhà – Thủ phạm: con trai bà giúp việc Ma-thơ
Ngôi kể, Ngôi thứ nhất (người kể chuyện là Oát-xơn – bạn thân của Sơ-lốc Hôm), Ngôi thứ ba
Chủ đề, – Ca ngợi tài năng phá án của thám tử Sơ-lốc Hôm. – Thể hiện niềm tin vào sự thật và phẩm chất tốt đẹp của con người (lòng tự trọng, sự ân hận,...)., – Ca ngợi tài năng phá án của luật sư Ét-uốt. – Thể hiện niềm tin vào sự thật và công lí.
Bài tập 2
HS có thể thực hiện nhiệm vụ ở nhà. GV cần kiểm tra kết quả thực hiện của HS bằng cách yêu cầu các em trưng bày, chia sẻ sản phẩm học tập của mình ở trên lớp hoặc lưu trong hồ sơ học tập.
Bài tập 3
Bài tập này yêu cầu HS suy ngẫm về chủ đề của bài học “Giải mã những bí mật”. Ba chàng sinh viên và Bài hát đồng sâu xu là các tác phẩm truyện trinh thám giải mã bí mật những vụ án. Phạm Xuân Ẩn – tên người như cuộc đời là VB kí mong muốn giải mã cuộc đời trầm lặng đầy bí ẩn của nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn. Việc giải mã những bí mật trong thế giới tự nhiên và xã hội có ý nghĩa vô cùng quan trọng: giúp tìm kiếm sự thật, thực thi công lí, lí giải sự phức tạp, đa diện của cuộc sống,...
Trang 30
Trang 31
GIỚI THIỆU BÀI HỌC VÀ TRI THỨC NGỮ VĂN Hoạt động 1 Tìm hiểu Giới thiệu bài học GV yêu cầu HS đọc lại tên bài học, đề từ, hai đoạn văn trong phần Giới thiệu bài
GIỚI THIỆU BÀI HỌC VÀ TRI THỨC NGỮ VĂN
Hoạt động 1 Tìm hiểu Giới thiệu bài học
GV yêu cầu HS đọc lại tên bài học, đề từ, hai đoạn văn trong phần Giới thiệu bài học và xác định:
Chủ đề của bài học. - Thể loại của các VB được tìm hiểu trong bài học. Từ tên bài học, đề từ và đoạn văn thứ nhất trong phần Giới thiệu bài học, có thể thấy rõ chủ đề của bài học là sự phong phú, đa dạng của những tình cảm, cảm xúc được biểu đạt trong thơ ca.
Hoạt động 2 Khám phá Tri thức ngữ văn
GV yêu cầu HS đọc phần Tri thức ngữ văn trước khi đến lớp. - Phần Tri thức ngữ văn của bài 7 có bốn nội dung lớn: đặc điểm các thể thơ sáu chữ, bảy chữ, tám chữ; kết cấu (của tác phẩm); một số căn cứ để xác định chủ đề; sự phát triển của ngôn ngữ (nghĩa mới của từ ngữ và từ ngữ mới). Tuy nhiên, không nên yêu cầu HS tìm hiểu toàn bộ những tri thức này cùng lúc mà nên tổ chức tìm hiểu đặc điểm các thể thơ,
ĐỌC VĂN BẢN VÀ THỰC HÀNH TIẾNG VIỆT
ĐỌC VĂN BẢN VÀ THỰC HÀNH TIẾNG VIỆT
Trang 34
Trang 35
Trang 36
Trang 37
Trang 38
Trang 39
Trang 40
Trang 41
THỰC HÀNH TIẾNG VIỆT NGHĨA CỦA TỪ NGỮ, BIỆN PHÁP TU TỪ 1. Phân tích yêu cầu cần đạt HS củng cố kiến thức đã học về nghĩa của từ ngữ, biện pháp tu từ. - HS giải
THỰC HÀNH TIẾNG VIỆT
NGHĨA CỦA TỪ NGỮ, BIỆN PHÁP TU TỪ
1. Phân tích yêu cầu cần đạt
HS củng cố kiến thức đã học về nghĩa của từ ngữ, biện pháp tu từ. - HS giải thích được nghĩa của một số từ ngữ trong ngữ cảnh. - HS nhận biết và nêu được tác dụng của một số biện pháp tu từ đã học (so sánh, điệp ngữ, ẩn dụ,...).
2. Gợi ý tổ chức hoạt động dạy học
Hoạt động 1 Củng cố kiến thức đã học
Tiết Thực hành tiếng Việt này có bốn bài tập, gồm ba bài về nghĩa của từ ngữ và một bài
về biện pháp tu từ, không có yêu cầu tìm hiểu kiến thức mới. Vì vậy, để giúp HS làm bài tập tốt hơn, GV có thể tổ chức cho HS ôn lại kiến thức về nghĩa của từ ngữ trong ngữ cảnh, một số biện pháp tu từ như so sánh, điệp ngữ, ẩn dụ,... nếu thấy cần thiết.
Hoạt động 2 Luyện tập, vận dụng
Đối với hoạt động luyện tập, vận dụng, GV yêu cầu HS soạn bài ở nhà. Trên lớp, GV cho HS làm việc cá nhân, sau đó trao đổi nhóm (nhóm đôi hoặc nhóm 3, 4) và hoàn thiện bài tập, đại diện nhóm trình bày kết quả trước lớp. GV cũng có thể tổ chức cho HS làm bài tập thông qua các trò chơi như: hái hoa dân chủ, thi tiếp sức,…
Bài tập 1
a. - Trong từ điển tiếng Việt, từ thao thức được giải nghĩa là "ở trạng thái không ngủ được vì có điều phải suy nghĩ, không yên". Trong câu thơ "Tiếng thao thức lòng trai ôm ngọc sáng", từ thao thức chỉ sức sống của tiếng Việt ngay cả trong hoàn cảnh bị dập vùi. - Thành ngữ ăn cầu ngủ quán trong câu thơ "Tiếng tủi cực kẻ ăn cầu ngủ quán" chỉ cảnh đời lang thang, cơ nhỡ. - Từ vằng vặc được giải nghĩa là "rất sáng, không một chút gợn (thường nói về ánh trăng)". Trong câu thơ "Thành Nguyễn Du vằng vặc nỗi thương đời", từ vằng vặc diễn tả sự toả sáng không gì có thể làm lu mờ, khuất lấp của tình yêu thương, lòng nhân hậu của Nguyễn Du.
b. - Mai về trúc nhớ là hình ảnh mượn từ câu ca dao "Trúc với mai, mai về trúc nhớ/ Trúc trở về, mai nhớ trúc không?/ Bây giờ kẻ bắc người đông/ Kể sao cho hết tấm lòng tương tư.". Trong câu thơ "Buồm lộng sóng xô mai về trúc nhớ", nhà thơ dùng biện pháp tu từ ẩn dụ, lấy hình ảnh mai, trúc để chỉ nam nữ tương tư.
Trong từ điển tiếng Việt, từ đắng cay được giải nghĩa là "đau khổ, xót xa". Trong câu thơ "Tiếng nghẹn ngào như đời mẹ đắng cay" của Lưu Quang Vũ, đắng cay được
Trong từ điển tiếng Việt, từ đắng cay được giải nghĩa là "đau khổ, xót xa". Trong câu thơ "Tiếng nghẹn ngào như đời mẹ đắng cay" của Lưu Quang Vũ, đắng cay được dùng với nghĩa chỉ những đau khổ mà mẹ phải trải qua trong cuộc đời.
Trong từ điển Tiếng Việt, trong trẻo được giải nghĩa là "rất trong, gây cảm giác dễ chịu". Từ trong trẻo ở câu thơ "Tiếng trong trẻo như hồn dân tộc Việt" diễn tả vẻ đẹp trong sáng, thể hiện nét thanh tao như hồn dân tộc của tiếng Việt.
Bài tập 2
a. - Từ láy nhọc nhằn làm nổi bật cảnh lao động cực nhọc, vất vả của những người thợ kéo gỗ. - Từ láy dập dồn diễn tả hình ảnh nước lũ dâng cao và mạnh, tạo thành những đợt sóng lũ liên tiếp ập tới, làm xói lở chân đê.
b. - Từ láy tha thiết thể hiện một đặc điểm của tiếng Việt là hàm chứa, biểu đạt những tình cảm thắm thiết. - Từ láy ríu rít miêu tả nét cao, trong của tiếng Việt với nhiều âm thanh đan xen và có khả năng biểu đạt mọi tâm tư tình cảm của con người. - Từ láy chênh vênh thể hiện cảm nhận của nhà thơ về đặc điểm mà dấu ngã trong tiếng Việt biểu đạt, đó là cảm giác trơ trọi, thiếu vững chãi. (Lưu ý: Mỗi tiếng chênh và vênh trong từ chênh vênh vẫn có nghĩa, nên cũng có cơ sở để coi từ này là từ ghép. Tuy vậy, nhiều người vẫn cảm nhận nó là từ láy vì nghĩa của mỗi tiếng có phần bị mờ đi. Đây là một trong những ví dụ cho thấy ranh giới giữa từ ghép và từ láy trong tiếng Việt đôi khi không rạch ròi.)
Bài tập 3
Gừng cay muối mặn: ẩn dụ về những gian nan, vất vả trong cuộc sống vợ chồng. Đặt trong ngữ cảnh câu thơ "Đây muối mặn gừng cay lòng khế xót", thành ngữ này diễn tả tình cảm son sắt, thuỷ chung trong mối quan hệ vợ chồng.
Chân trời góc biển: ẩn dụ chỉ những nơi xa xôi, cách trở. Trong câu thơ "Ai phiêu bạt nơi chân trời góc bể ", thành ngữ nhấn mạnh nỗi nhớ tiếng mẹ đẻ tha thiết của người Việt dù họ có sinh sống ở nơi nào.
Bài tập 4
a. Biện pháp tu từ so sánh (Như vị muối chung lòng biển mặn/ Như dòng sông thương mến chảy muôn đời.) giúp người đọc hình dung cụ thể sự gắn bó mật thiết của những người cùng chung tiếng nói và sự trường tồn của tiếng Việt; thể hiện sự đồng cảm với những người cùng chung tiếng nói và niềm tin vào sức sống của tiếng Việt.
VĂN BẢN 2. MƯA XUÂN (Nguyễn Bính) 1. Phân tích yêu cầu cần đạt HS nhận biết được đặc điểm của thể thơ bảy chữ (về số tiếng trong mỗi dòng thơ, cách gieo vần, ng
VĂN BẢN 2. MƯA XUÂN
(Nguyễn Bính)
1. Phân tích yêu cầu cần đạt
HS nhận biết được đặc điểm của thể thơ bảy chữ (về số tiếng trong mỗi dòng thơ, cách gieo vần, ngắt nhịp,...) thể hiện trong bài thơ Mưa xuân; nhận biết và phân tích được chủ đề, chỉ ra căn cứ xác định chủ đề của bài thơ Mưa xuân.
HS nhận biết và nhận xét được nét độc đáo của bài thơ thể hiện ở yếu tố tự sự, yếu tố miêu tả, hình ảnh, biện pháp tu từ, mạch cảm xúc, cảm hứng chủ đạo,...
HS cảm nhận được vẻ đẹp trong sáng của tình yêu đôi lứa trong không gian mùa xuân của làng quê Bắc Bộ xưa.
2. Gợi ý tổ chức hoạt động dạy học
Hoạt động 1 Khởi động
Với hoạt động thứ nhất, GV yêu cầu HS chia sẻ những bài thơ, ca dao viết về mùa xuân đã sưu tầm theo yêu cầu trước đó. Để tạo không khí hào hứng cho HS, GV có thể tổ chức thi giữa các nhóm. Nhóm nào sưu tầm được nhiều hơn sẽ chiến thắng.
Với hoạt động thứ hai, GV yêu cầu một vài HS chia sẻ cảm nhận về mùa xuân.
Hoạt động 2 Đọc văn bản GV đọc mẫu một số khổ thơ, sau đó yêu cầu 2 - 3 HS đọc bài thơ. - Để giúp HS nắm được những yếu tố đặc trưng của thể thơ bảy chữ, GV lưu
Hoạt động 2 Đọc văn bản
GV đọc mẫu một số khổ thơ, sau đó yêu cầu 2 - 3 HS đọc bài thơ. - Để giúp HS nắm được những yếu tố đặc trưng của thể thơ bảy chữ, GV lưu ý HS các thẻ chỉ dẫn đọc đặt ở bên phải VB: theo dõi số tiếng trong mỗi dòng, vần và nhịp thơ; hình dung khung cảnh làng quê mùa xuân; hình dung tâm trạng của "em" khi "anh" lỡ hẹn.
Hoạt động 3 Khám phá văn bản
GV cho HS tự đọc phần giới thiệu về Nguyễn Bính và bài thơ Mưa xuân, nhắc HS lưu ý nét đặc trưng của thơ Nguyễn Bính và một số tác phẩm tiêu biểu của ông.
GV yêu cầu HS soạn bài trước khi đến lớp. Trên lớp, GV tổ chức hoạt động khám phá VB. Dựa vào hệ thống câu hỏi thuộc ba nhóm: nhận biết (câu 1, 2); phân tích, suy luận
(câu 3, 4, 5, 7); đánh giá, vận dụng (câu 6), GV có thể thiết kế hoạt động tìm hiểu các phương diện nghệ thuật và nội dung của bài thơ Mưa xuân như sau:
Đặc điểm về thể thơ (câu 1). - Bố cục, mạch cảm xúc (câu 2, 3, 4, 5) với các phương diện: + Lời tự giới thiệu của "em" (khổ thơ 1); + Tâm trạng của "em" trước khi xem hội chèo (khổ thơ 2 - 5); + Tâm trạng của "em" khi xem hội (khổ thơ 6 - 7); + Tâm trạng của "em" sau khi xem hội (khổ thơ 8 - 10). - Ngôn ngữ, cảm hứng chủ đạo, chủ đề (câu 6, 7).
Câu hỏi 1
Đối với câu hỏi 1, GV có thể yêu cầu HS làm việc cá nhân (trên cơ sở phiếu học tập do GV thiết kế), sau đó trao đổi với bạn bên cạnh rồi chia sẻ trước lớp.
Gợi ý:
Số tiếng trong mỗi dòng thơ: 7 tiếng/ dòng; không có dòng thơ đặc biệt xét về số lượng tiếng.
Nhịp thơ: + Đa số dòng thơ ngắt nhịp 4/3. + Có những dòng ngắt nhịp 2/5. Ví dụ: Lòng trẻ còn như cây lụa trắng (nhịp 2/5) nhấn mạnh vẻ đẹp tinh khôi, tâm hồn trong trắng của người thiếu nữ.
Mẹ bảo: "Thôn Đoài hát tối nay" (nhịp 2/5) làm nổi bật nội dung sự kiện trong lời mẹ, cho thấy cô gái rất quan tâm đến sự kiện đó.
– Vần thơ: Bài thơ gieo vần chân, vần hỗn hợp (có vần cách: già – xa, đầy – nay,…; có vần liền: bay – đẩy, tình – xinh,…) tạo âm hưởng và nhạc tính cho bài thơ.
– Vần thơ: Bài thơ gieo vần chân, vần hỗn hợp (có vần cách: già – xa, đầy – nay,…; có vần liền: bay – đẩy, tình – xinh,…) tạo âm hưởng và nhạc tính cho bài thơ.
Câu hỏi 2
GV yêu cầu HS làm việc cá nhân để hình dung, tái hiện “câu chuyện” qua lời kể của “em” bằng sơ đồ tư duy rồi trình bày.
Gợi ý:
Hội chèo làng Đặng đến thôn Đoài hát.
Cô gái đoán chàng trai sẽ đến dự hội nên xin phép mẹ đi xem.
Cô gái “mải” tìm chàng trai nhưng chàng trai không tới.
Cô gái buồn bã trở về nhà lúc đêm khuya.
Mùa xuân đã cạn ngày, hội chèo làng Đặng rời đi.
Cô gái băn khoăn không biết bao giờ mới gặp lại chàng trai.
“Câu chuyện” rất dung dị, xoay quanh sự việc cô gái đi tìm gặp người yêu vào một ngày hội mùa xuân. Tuy nhiên, việc chủ động bày tỏ tình cảm của cô lại thể hiện một quan niệm rất mới mẻ so với quan niệm truyền thống về tình yêu. Trong xã hội Việt Nam thời xưa, tình yêu đôi lứa chịu sự chi phối của tư tưởng nam nữ thụ thụ bất thân, cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy, đề cao hôn nhân hơn luyến ái, nên phụ nữ không được phép chủ động trong tình yêu. Qua hành động đi tìm gặp người yêu, cô gái trong bài thơ thể hiện khát vọng hạnh phúc lứa đôi rất mãnh liệt. Hình ảnh cô gái trong bài thơ gợi nhớ đến nàng Kiều “Xăm xăm băng lối vườn khuya một mình” đi tìm Kim Trọng. Bước chân của những thiếu nữ khát khao tình yêu thể hiện tư tưởng nhân văn, nhân đạo mới mẻ của các nhà thơ.
Câu hỏi 3
GV tổ chức cho HS tìm hiểu bố cục, mạch cảm xúc của bài thơ, vẽ sơ đồ tư duy; yêu cầu 1 – 2 HS trình bày trước lớp, các HS khác nhận xét.
Gợi ý:
– Bài thơ có bố cục gồm 4 phần:
Khổ thơ 1: Lời tự giới thiệu của “em”.
Khổ thơ 2 – 5: Tâm trạng của “em” trước khi đi xem hội.
Khổ thơ 6 – 7: Tâm trạng của “em” khi xem hội.
Khổ thơ 8 – 10: Tâm trạng của “em” sau khi tan hội.
– Mạch cảm xúc: ngậm ngùi, thương cảm; trân trọng, ngợi ca tâm hồn trong sáng và tình yêu chân thành của người thiếu nữ khát khao tình yêu mà không được đền đáp.
Câu hỏi 4 Gợi ý: GV có thể bổ sung câu hỏi phụ trợ, thiết kế phiếu học tập cho HS hoàn thiện rồi trình bày. a. Khổ thơ 1: Lời tự giới thiệu của "em" Qua lời tự
Câu hỏi 4 Gợi ý:
GV có thể bổ sung câu hỏi phụ trợ, thiết kế phiếu học tập cho HS hoàn thiện rồi trình bày.
a. Khổ thơ 1: Lời tự giới thiệu của "em"
Qua lời tự giới thiệu, người đọc biết cô gái sinh ra trong một gia đình làm nghề chăn tằm, dệt vải, rất nề nếp. Hoàn cảnh đó hé mở nét đẹp trong tính cách của cô là chăm chỉ, đoan trang (dệt lụa quanh năm với mẹ già).
Người con gái đó có tâm hồn trong sáng, được ví với cây lụa trắng (Mẹ già chưa bán chợ làng xa). Hình ảnh so sánh rất gần gũi với đời sống và công việc lao động của người dân quê, làm nổi bật sự trong trắng, tinh khôi của tâm hồn người thiếu nữ.
b. Khổ thơ 2 - 5: Tâm trạng của "em" trước khi đi xem hội
Tâm trạng của cô gái là "thấy giăng tơ một mối tình". Biện pháp tu từ ẩn dụ biểu đạt tâm trạng vấn vương, tương tư người yêu của cô gái trẻ.
Tâm trạng đó thể hiện qua những hành động, cử chỉ, cảm giác: ngừng thoi lại giữa tay xinh, má em bừng đỏ, nghĩ đến anh, ngửa bàn tay trước mái hiên xem mưa; thấy mưa nhỏ, nhẹ như chấm bàn tay từng chấm lạnh nên khấp khởi dự đoán thế nào anh ấy chả sang xem; xin phép mẹ, vội vàng đi; cảm thấy mưa không ướt áo, quãng đường đến thôn Đoài không xa. Cách miêu tả này cho thấy nhà thơ hết sức tinh tế, tài tình trong việc nắm bắt và biểu đạt tâm trạng của người thôn nữ đang yêu.
c. Khổ thơ 6 - 7: Tâm trạng của "em" khi xem hội
GV có thể tổ chức cho HS tìm hiểu theo phương pháp hỏi đáp dựa trên một số câu hỏi phụ trợ sau: Hội chèo diễn ra như thế nào? Tâm trạng cô gái khi xem hội diễn biến ra sao? Việc dùng thành ngữ "năm tao bảy tuyết" có tác dụng gì?
- Hội chèo diễn ra rất vui vẻ, say sưa quên thời gian (hát thâu đêm) nhưng không hấp dẫn đối với cô gái. Cô còn mải miết trông ngóng, đi tìm người yêu. Nghệ thuật đối lập làm nổi bật sức mạnh của tình yêu.
- Tâm trạng cô gái khi xem hội: mải ngóng tìm, chờ đợi người yêu nên quên lời mẹ dặn (xem về kể mẹ nghe), chả thiết xem, chả thiết làm (biện pháp tu từ nhân hoá giường cửi lạnh, thoi ngà nằm nhớ ngón tay em); thất vọng, hờn dỗi, trách móc (Chờ mãi anh sang anh chẳng sang/ Thế mà hôm nọ hát bên làng/ Năm tao bảy tuyết anh hò hẹn/ Để cả mùa xuân cũng nhỡ nhàng!). Việc dùng thành ngữ năm tao bảy tuyết có tác dụng nhấn mạnh thái độ trách móc, hờn giận của cô gái khi chàng trai đã rất nhiều lần hò hẹn rồi lại lỡ hẹn.
d. Khổ thơ 8 - 10: Tâm trạng của "em" sau khi tan hội
GV có thể tổ chức cho HS tìm hiểu tâm trạng của cô gái khi tan hội theo phương pháp hỏi đáp.
Gợi ý: Diễn biến tâm trạng của cô gái sau khi tan hội được thể hiện qua hành động, cảm giác: buồn bã, cô đơn (Mình em lầm lụi trên đường về), cảm thấy đường xa
Gợi ý:
Diễn biến tâm trạng của cô gái sau khi tan hội được thể hiện qua hành động, cảm giác: buồn bã, cô đơn (Mình em lầm lụi trên đường về), cảm thấy đường xa (Có ngắn gì đâu một dải đê), mưa nặng hạt (Áo mỏng che đầu mưa nặng hạt); hờn tủi (Lạnh lùng thêm tủi với canh khuya), mong mỏi và hi vọng được gặp người yêu (Bao giờ em mới gặp anh đây?/ Bao giờ hội Đặng đi ngang ngõ).
Biện pháp tu từ điệp ngữ (Mùa xuân đã cạn ngày, Bao giờ… được lặp lại) đã làm nổi bật tâm trạng tiếc nuối những ngày xuân đẹp đã qua và niềm bâng khuâng mong mỏi, những hi vọng mơ hồ của cô gái.
Xuyên suốt bài thơ là sự cảm thông, thấu hiểu, yêu mến của nhà thơ dành cho người thiếu nữ. Việc miêu tả tâm hồn ngây thơ, trong sáng; nỗi khấp khởi, hồi hộp, háo hức của cô gái khi sắp đi dự hội; sự mong ngóng, thất vọng, hờn dỗi, trách móc của cô khi người yêu
lỡ hẹn; nỗi cô đơn, buồn tủi, tiếc nuối và hi vọng gặp lại người yêu của cô;... đã làm nổi bật cảm xúc ngậm ngùi, thương cảm của nhà thơ dành cho người thiếu nữ khát khao tình yêu mà không được đền đáp.
Câu hỏi 5
Để giúp HS trả lời câu hỏi này, GV có thể gợi ý các em nêu những câu thơ miêu tả không gian mùa xuân ở từng thời điểm trước khi cô gái đi xem hội, trong và sau khi xem hội, nêu nhận xét về mối quan hệ với tâm trạng cô gái. GV có thể tổ chức cho HS làm việc cá nhân hoặc làm việc nhóm đôi.
Gợi ý:
Không gian mùa xuân hiện lên với những đặc trưng của làng quê Bắc Bộ và đồng điệu cùng tâm trạng cô gái.
Ở khổ thơ 2 - 3, không gian mùa xuân làng quê với những hình ảnh mưa xuân phơi phới bay, hoa xoan lớp lớp rụng vơi đầy, lễ hội truyền thống rộn ràng tương đồng với tâm trạng vui tươi và hi vọng của cô gái. Hình ảnh mưa xuân phơi phới bay diễn tả niềm vui háo hức lan toả trong tâm hồn cô. Việc lặp lại từ lớp (lớp lớp) tái hiện hình ảnh hoa xoan rụng rất nhiều, hết lớp này đến lớp khác, liên tiếp, dồn dập; từ đó làm nổi bật sức sống, vẻ đẹp của hoa cỏ mùa xuân và tâm hồn trẻ trung, yêu đời của người thiếu nữ.
Ở khổ thơ 8 - 9, không gian làng quê khi "mùa xuân đã cạn ngày", lễ hội đã kết thúc qua cảm nhận của cô gái có đặc điểm tàn tạ, héo úa, rất tương đồng với tâm trạng buồn tủi, thất vọng của cô: mưa xuân đã ngại bay (biện pháp tu từ nhân hoá), hoa xoan đã nát dưới chân giày, hội chèo tan. Biện pháp tu từ điệp ngữ (lặp từ đã) nhấn mạnh những hiện tượng đã xảy ra, không níu kéo hay thay đổi được. Sự đối lập hình ảnh ở khổ thơ 5 và 8, "mưa bụi
không ướt áo" - "mưa nặng hạt"; "cách có một thôi đê" - "có ngắn gì đâu một dải đê" thể hiện tâm trạng, cảm xúc của cô gái trước và sau khi xem hội: trước hội v
không ướt áo" - "mưa nặng hạt"; "cách có một thôi đê" - "có ngắn gì đâu một dải đê" thể hiện tâm trạng, cảm xúc của cô gái trước và sau khi xem hội: trước hội vui phơi phới, tràn đầy hi vọng - sau hội buồn bã, thất vọng.
Câu hỏi 6
Để HS có thể nêu nhận xét về ngôn ngữ bài thơ, GV gợi dẫn các em xác định những từ ngữ là lời ăn tiếng nói hằng ngày của người thôn quê, những từ ngữ diễn tả một cách tinh tế cảm xúc, tâm trạng của cô gái, sau đó nêu nhận xét.
Gợi ý:
Ngôn ngữ của bài thơ rất tinh tế, diễn tả những cung bậc tâm trạng phong phú của thiếu nữ đang yêu.
Sử dụng lời ăn tiếng nói của người thôn quê nên bài thơ cũng có nhiều từ ngữ mộc
mạc, chân chất (chả sang xem, chả thiết xem, anh chẳng sang, năm tao bảy tuyết, mùa xuân đã cạn ngày,…).
Câu hỏi 7
Để xác định cảm hứng chủ đạo, chủ đề của bài thơ, GV có thể gợi ý HS nêu suy nghĩ, cảm nhận về nhan đề, các hình ảnh, mạch cảm xúc, từ đó chỉ ra cảm hứng chủ đạo, chủ đề.
Gợi ý:
Cảm hứng chủ đạo của bài thơ: trân trọng, ngợi ca tình yêu trong sáng của tuổi trẻ, khát vọng hạnh phúc lứa đôi; cảm thông với những nỗi buồn vì tình yêu không trọn vẹn.
Chủ đề: khát vọng hạnh phúc, tình yêu trong sáng, mãnh liệt của tuổi trẻ. - Căn cứ để xác định chủ đề: + Nhan đề bài thơ: mưa xuân vốn mang đến cho vạn vật sức sống, sự sinh sôi, nảy nở. Trong bài thơ, mưa xuân mang ý nghĩa tượng trưng cho tình yêu tuổi trẻ. Tình yêu ấy mang đến cho cuộc đời sức sống, sự sinh sôi, nảy nở, phát triển.
+ Các hình ảnh, mạch cảm xúc trong bài thơ: thể hiện tấm lòng cảm thông, thấu hiểu và tình cảm yêu mến, sự trân trọng của nhà thơ dành cho cô gái ngây thơ và tình yêu trong sáng của cô.
Hoạt động 4 Viết kết nối với đọc
GV dành 5 - 7 phút cho HS viết bài tại lớp, lưu ý các em một số vấn đề sau: - Đoạn văn cần tập trung nêu cảm nhận của người viết về những nét đặc trưng của không gian mùa xuân làng quê Bắc Bộ, vai trò của không gian đó trong việc thể hiện tâm trạng cô gái.
Dung lượng đoạn văn: khoảng 7 - 9 câu.
THỰC HÀNH TIẾNG VIỆT SỰ PHÁT TRIỂN CỦA TỪ VỰNG, BIỆN PHÁP TU TỪ 1. Phân tích yêu cầu cần đạt HS biết cách xác định nghĩa mới của từ ngữ và từ ngữ mới, nắm được
THỰC HÀNH TIẾNG VIỆT
SỰ PHÁT TRIỂN CỦA TỪ VỰNG, BIỆN PHÁP TU TỪ
1. Phân tích yêu cầu cần đạt
HS biết cách xác định nghĩa mới của từ ngữ và từ ngữ mới, nắm được các cách phát triển từ vựng trong tiếng Việt.
HS nhận biết và nêu được tác dụng của các biện pháp tu từ so sánh, nhân hoá.
2. Gợi ý tổ chức hoạt động dạy học
Hoạt động 1 Hình thành kiến thức mới
GV có thể tổ chức cho HS tiếp cận kiến thức về nghĩa mới của từ ngữ và từ ngữ mới theo hướng diễn dịch hoặc quy nạp.
Nếu chọn hướng diễn dịch, GV diễn giải, thuyết trình về khái niệm nghĩa mới của từ ngữ và từ ngữ mới, kèm theo phân tích các ví dụ trong SGK, sau đó yêu cầu HS làm việc nhóm để tìm thêm một số ví dụ tương tự và chia sẻ kết quả trước lớp.
Nếu chọn hướng quy nạp, GV yêu cầu HS tìm các ví dụ cho từng cách tạo nghĩa mới của từ ngữ và từ ngữ mới, sau đó rút ra kết luận.
Hoạt động 2 Luyện tập, vận dụng
GV có thể tổ chức các trò chơi phù hợp để HS tìm nghĩa mới của từ ngữ và từ ngữ mới.
Bài tập 1
Nghĩa mới của các từ ngân hàng, cổng, gạo cội, lăn tăn: + Ngân hàng: kho lưu trữ (thông tin, đề thi, máu,…). + Cổng:
Thiết bị dùng để đồng bộ việc chuyển dữ liệu giữa đơn vị xử lí trung tâm của máy tính
với các thiết bị ngoại vi (như máy in, chuột, modem,…) hoặc giữa các máy tính với nhau trong một mạng máy tính.
Cổng thông tin điện tử (portal) là trang thông tin tích hợp các kênh thông tin, các
dịch vụ và ứng dụng theo một phương thức thống nhất, thông qua một điểm truy cập duy nhất.
Gạo cội: rất giỏi, rất có tài nghệ, do đã có thâm niên trong nghề (thường dùng trong lĩnh vực nghệ thuật, thể thao).
Lăn tăn: còn có những điều băn khoăn, chưa thật yên tâm, thoải mái. - Gợi ý đặt câu sử dụng nghĩa mới của các từ trên:
Từ năm học này, trường tôi bắt đầu xây dựng ngân hàng đề thi. + Máy tính của bạn kết nối với máy chiếu bằng cổng VGA hay cổng HDMI? + Cổng thông tin điện tử là
Từ năm học này, trường tôi bắt đầu xây dựng ngân hàng đề thi. + Máy tính của bạn kết nối với máy chiếu bằng cổng VGA hay cổng HDMI? + Cổng thông tin điện tử là kênh cung cấp thông tin thống nhất, tập trung của cơ quan nhà nước trên môi trường mạng.
Anh ấy là một diễn viên gạo cội. + Về nội dung này, anh còn lăn tăn điều gì không?
Bài tập 2
a. Từ ngữ mới được sáng tạo trên cơ sở những từ ngữ có sẵn trong tiếng Việt: điện thoại di động, đặc khu kinh tế, sở hữu trí tuệ, trà atiso, trà sâm, đồng hồ điện, đồng hồ nước, cơn sốt vàng, cơn sốt đất, vua hàng hiệu,…
b. Tiếp nhận từ ngữ của các ngôn ngữ khác: mít tinh, bốc, ten nít,… (gốc tiếng Anh); ga,
xăng, sơ mi, xà phòng,… (gốc tiếng Pháp);…
Bài tập 3
Xác định nghĩa của các từ ngữ in đậm: - Trong từ điển, từ phơi phới có hai nghĩa: "ở trạng thái mở rộng, tung bay trước gió" và "vẻ vui tươi đầy sức sống của cái gì đang phát triển, đang dâng lên mạnh mẽ". Nghĩa trong VB: (mưa xuân) bay trong gió, biểu đạt sức sống của mùa xuân, đồng thời kín đáo diễn tả tâm trạng phấn chấn, vui tươi trong lòng người thiếu nữ. - Giăng tơ có nghĩa gốc là "hoạt động của con nhện làm cho sợi tơ căng thẳng ra theo mọi hướng tạo thành tổ để bắt mồi". Trong câu thơ, Nguyễn Bính dùng để chỉ trạng thái tình cảm yêu đương lan toả, giăng mắc khắp tâm hồn người thiếu nữ.
Trong hai trường hợp trên, nghĩa thứ hai của từ đa nghĩa phơi phới được coi là nghĩa chuyển. Nghĩa của giăng tơ trong câu thơ mang màu sắc tu từ, gắn với sáng tạo riêng của nhà thơ trong trường hợp cụ thể, không mang tính chất ổn định của nghĩa từ vựng.
Bài tập 4
a. Biện pháp tu từ so sánh (Lòng trẻ còn như cây lụa trắng/ Mẹ già chưa bán chợ làng xa) có tác dụng: - Gợi lên tâm hồn trong trắng, ngây thơ của người thiếu nữ. Tâm hồn cô cũng tinh khôi như tấm lụa trắng do cô dệt nên. - Thể hiện tình cảm yêu mến, trân trọng của nhà thơ dành cho cô gái.
b. Biện pháp tu từ nhân hoá (giường cửi lạnh, thoi ngà nằm nhớ ngón tay em) có tác dụng: - Giúp người đọc cảm nhận được hình ảnh giường cửi, thoi ngà không có người dệt, thiếu hơi ấm của bàn tay con người nên lạnh lẽo, nằm lặng lẽ.
VĂN BẢN 3. MỘT KIỂU PHÁT BIỂU LUẬN ĐỀ ĐỘC ĐÁO (Phan Huy Dũng) 1. Phân tích yêu cầu cần đạt HS nhận biết được các yếu tố của VB nghị luận văn học như luận đề, lu
VĂN BẢN 3. MỘT KIỂU PHÁT BIỂU LUẬN ĐỀ ĐỘC ĐÁO
(Phan Huy Dũng)
1. Phân tích yêu cầu cần đạt
HS nhận biết được các yếu tố của VB nghị luận văn học như luận đề, luận điểm, lí lẽ, bằng chứng. - HS nhận biết được những điểm độc đáo của bài thơ Vội vàng qua cảm nhận của tác giả bài nghị luận.
2. Gợi ý tổ chức hoạt động dạy học
Hoạt động 1 Khởi động
Tuy SGK không đề xuất hoạt động khởi động ở VB 3, nhưng để huy động kiến thức và trải nghiệm về chủ đề cũng như để tạo hứng thú cho HS, GV có thể tổ chức hoạt động này theo gợi ý: Thiết kế trò chơi trên PowerPoint dưới dạng câu hỏi trắc nghiệm để HS ôn luyện kiến thức về VB nghị luận, sau đó GV dẫn dắt vào bài.
Hoạt động 2 Đọc văn bản
GV yêu cầu HS xác định cách đọc VB. GV nhận xét, kết luận rồi đọc mẫu một đoạn. GV chỉ định HS đọc một số đoạn trong VB.
Hoạt động 3 Khám phá văn bản
GV cần linh hoạt trong việc sử dụng hệ thống câu hỏi trong SGK như bổ sung, chia tách sao cho phù hợp với đối tượng HS để hoạt động khám phá VB đạt kết quả tốt nhất trong thời gian cho phép. Phần Khám phá văn bản có thể được triển khai theo các phương diện:
Luận đề; 2) Các luận điểm (với các lí lẽ, bằng chứng).
Câu 1, 2
Để giúp HS nhận biết được luận đề, luận điểm trong bài nghị luận cùng mối quan hệ giữa chúng, GV có thể yêu cầu HS làm việc nhóm, vẽ sơ đồ tư duy và trình bày.
Gợi ý: Luận đề, luận điểm trong bài nghị luận: Luận đề Một kiểu phát biểu luận đề độc đáo của Xuân Diệu ở bài thơ Vội vàng Luận điểm 1 Luận điểm 2 Sự kế thừa tư
Gợi ý:
Luận đề, luận điểm trong bài nghị luận:
Luận đề
Một kiểu phát biểu luận đề độc đáo của Xuân Diệu ở bài thơ Vội vàng
Luận điểm 1 Luận điểm 2
Sự kế thừa tư tưởng truyền thống Cá biệt hoá luận đề của luận đề (phần 3) (phần 4)
Câu 3
Để giúp HS tìm lí lẽ và bằng chứng được tác giả sử dụng làm sáng tỏ luận điểm 2 được trình bày trong phần (4) của bài nghị luận, GV tổ chức cho HS tìm hiểu bài viết, ghi lại kết quả rồi trao đổi, chia sẻ với bạn.
Gợi ý:
Để chứng minh luận điểm, tác giả dùng các lí lẽ và bằng chứng sau: - Lí lẽ: Luận đề trở nên hấp dẫn, trở nên mới mẻ chính nhờ phần "cá biệt hoá" của Xuân Diệu - cá biệt hoá bằng thứ cảm xúc nồng nàn hình như chỉ riêng ông mới có.
Thoạt đầu, sự xuất hiện của hai "nhân vật" chính của bài thơ là "tôi" và "cuộc đời" (hay "thời gian") có vẻ giống như sự "hình tượng hoá" của luận đề. Nhưng do là một nhà thơ của cảm giác, tác giả "Vội vàng" đã không bằng lòng với sự xuất hiện nhợt nhạt của "nhân vật" và ông đã tìm cách làm cho nó sống dậy. "Cuộc đời" (hay "thời gian") không phải hiện ra như một khái niệm khô cứng mà như một thực thể sống động mang nhiều tính danh(1).
Bằng chứng: Nó vừa là "nắng", "gió", vừa là "tuần tháng mật", "đồng nội xanh rì", "cành tơ phơ phất",…
Lí lẽ: Trong cơn "tự kỉ ám thị", nhà thơ hối hả níu giữ sắc màu, hương vị; tham lam vơ cả bàn tiệc của cuộc đời vào vòng tay, cất tiếng van vỉ thời gian hãy dừng lại, giãy giụa trong dự cảm tuyệt vọng […] rồi sực tỉnh và quật lên trong cuộc chạy thi với thời gian…
Bằng chứng: "Chẳng bao giờ, ôi! Chẳng bao giờ nữa"; "Mau đi thôi! Mùa chưa ngả chiều hôm". - Lí lẽ: Tận dụng triệt để thủ pháp liệt kê… Bằng chứng: "Và này đây ánh sáng chớp hàng mi", "Và non nước, và cây, và cỏ rạng".  Lí lẽ sắc bén; bằng chứng xác thực, giàu sức thuyết phục,…
(1) Tính danh, cũng như danh tính, là họ (và) tên. Trong ngữ cảnh, có thể hiểu đơn giản là tên gọi.
VIẾT A. TẬP LÀM MỘT BÀI THƠ TÁM CHỮ 1. Phân tích yêu cầu cần đạt HS tìm được đề tài hay, phù hợp. - HS làm được một bài thơ tám chữ đáp ứng được yêu cầu về thể
VIẾT
A. TẬP LÀM MỘT BÀI THƠ TÁM CHỮ
1. Phân tích yêu cầu cần đạt
HS tìm được đề tài hay, phù hợp. - HS làm được một bài thơ tám chữ đáp ứng được yêu cầu về thể thơ.
2. Những lưu ý về yêu cầu đối với bài tập làm một bài thơ tám chữ
Bài thơ tám chữ cần đạt được những yêu cầu sau: - Hình thức nghệ thuật:
Số lượng chữ trong mỗi dòng thơ đảm bảo đúng yêu cầu (8 chữ) + Gieo vần đúng đặc điểm thể loại + Nhịp thơ phù hợp với cảm xúc + Có hình ảnh và biện pháp tu từ.
Số lượng chữ trong mỗi dòng thơ đảm bảo đúng yêu cầu (8 chữ) + Gieo vần đúng đặc điểm thể loại + Nhịp thơ phù hợp với cảm xúc + Có hình ảnh và biện pháp tu từ. - Nội dung: + Cảm xúc tự nhiên, giản dị + Có chủ đề, thông điệp.
3. Gợi ý tổ chức hoạt động dạy học
Hoạt động 1 Giới thiệu kiểu bài
GV có thể tổ chức trò chơi phù hợp để HS được đọc một số bài thơ và xác định thể thơ hoặc chiếu một số bài thơ lên màn hình rồi yêu cầu HS đọc và xác định thể thơ. GV có thể dùng lời dẫn trong SGK để dẫn dắt vào bài.
Hoạt động 2 Tìm hiểu yêu cầu đối với bài thơ tám chữ
GV yêu cầu HS làm việc cá nhân, điền vào bảng thiết kế theo mẫu (GV tự thiết kế), trao đổi với bạn và chia sẻ kết quả trước lớp. Bài thơ tám chữ cần đáp ứng các yêu cầu sau:
Có 8 chữ trong mỗi dòng; có thể chia khổ hoặc không chia khổ; thường sử dụng vần chân; gieo vần liền, vần cách hoặc vần hỗn hợp; nhịp 3/3/2 hoặc 3/2/3. Có thể sáng tạo để đảm bảo diễn tả chân thật cảm xúc.
Sử dụng ngôn ngữ có hình ảnh, có biện pháp tu từ, từ ngữ chọn lọc,… - Thể hiện được cảm xúc của người viết và thông điệp có ý nghĩa.
Hoạt động 3 Thực hành viết theo các bước
a. Trước khi viết Xác định đề tài và lựa chọn hình ảnh để biểu đạt cảm xúc
GV trình chiếu để giới thiệu một số đề tài cho HS lựa chọn hoặc HS tự đề xuất đề tài. - Yêu cầu HS đọc kĩ rồi trình bày mục Lựa chọn hình ảnh biểu đạt cảm xúc.
Tập gieo vần, ngắt nhịp
GV có thể chiếu bài thơ cần điền khuyết trong SGK (trang 59) lên màn hình, yêu cầu HS suy nghĩ, tìm tiếng thích hợp và điền vào chỗ trống. Các tiếng cần điền là: la, nắng, tơ.
b. Viết GV yêu cầu HS làm việc nhóm, đọc phần hướng dẫn viết trong SGK, trình bày kiến thức dưới dạng sơ đồ tư duy, cử đại diện trình bày. Các nhóm khác nhận xé
b. Viết
GV yêu cầu HS làm việc nhóm, đọc phần hướng dẫn viết trong SGK, trình bày kiến thức dưới dạng sơ đồ tư duy, cử đại diện trình bày. Các nhóm khác nhận xét. GV kết luận.
Sau khi tìm hiểu xong những điểm cần lưu ý, HS viết bài. GV có thể cho HS hoàn thành bài tập ở nhà.
c. Chỉnh sửa
GV cho HS trình bày bài thơ làm được theo hình thức phù hợp sao cho các em có thể đọc bài của nhau. GV yêu cầu một vài HS đọc diễn cảm bài thơ các em đã hoàn thành.
Để đánh giá bài thơ tám chữ HS tập làm, có thể phối hợp các cách tự đánh giá, đánh giá đồng đẳng và đánh giá của GV. GV cho HS tự đối chiếu bài thơ mình vừa làm với bảng
yêu cầu đối với bài thơ tám chữ (đã hoàn thiện ở hoạt động 2) để xem bài thơ đã phù hợp hay chưa. GV tổ chức cho các HS khác nhận xét. Sau đó, GV nêu ý kiến đánh giá.
HS chỉnh sửa bài thơ đã làm trên cơ sở góp ý của thầy cô và các bạn.
Trang 57
Trang 58
Trang 59
CỦNG CỐ, MỞ RỘNG GV yêu cầu HS thực hiện hoạt động củng cố, mở rộng ở nhà. Trên lớp, GV có thể dành thời gian hướng dẫn HS thực hiện những bài tập ở phần này sa
CỦNG CỐ, MỞ RỘNG
GV yêu cầu HS thực hiện hoạt động củng cố, mở rộng ở nhà. Trên lớp, GV có thể dành thời gian hướng dẫn HS thực hiện những bài tập ở phần này sau tiết Nói và nghe.
Bài tập 1
Qua bài tập này, HS được ôn tập những đặc điểm về nội dung và nghệ thuật của hai bài thơ Tiếng Việt (Lưu Quang Vũ) và Mùa xuân (Nguyễn Bính). Căn cứ vào trình độ HS mà GV chọn hình thức phù hợp, chẳng hạn, yêu cầu HS tự vẽ sơ đồ tư duy hay cung cấp mẫu bảng để HS điền thông tin.
Bài tập 2
GV hướng dẫn HS tìm đọc một số bài thơ của Lưu Quang Vũ và Nguyễn Bính, sau đó tự rút ra những nét đặc sắc trong sáng tác của hai nhà thơ rồi chia sẻ với các bạn.
Bài tập 3
Bài tập 3 yêu cầu HS luyện viết đoạn văn nêu suy nghĩ về hai câu thơ làm đề từ cho bài 7. Hồn thơ muôn điệu. HS cần phải tự hoàn thành bài tập này ở nhà. Tuy vậy, GV có thể lưu ý các em một số yêu cầu mà đoạn văn cần đáp ứng:
– Nội dung: Các câu trong đoạn tập trung nêu suy nghĩ về hai câu thơ của Thế Lữ. Về nội dung, hai câu thơ nhấn mạnh khả năng của thơ ca trong việc biểu đạt thế giới tâm hồn của con người một cách phong phú, đa dạng, đầy màu sắc và âm thanh. Về nghệ thuật, tác giả sử dụng biện pháp tu từ nhân hoá (Nàng Thơ), ẩn dụ (đàn muôn điệu, bút muôn màu), điệp ngữ (tôi có),…
– Hình thức: đảm bảo đủ ba phần (Mở đoạn, Thân đoạn, Kết đoạn); sử dụng từ ngữ phù hợp, viết đúng ngữ pháp, chính tả; các câu liên kết với nhau chặt chẽ.
Trang 61
Trang 62
Trang 63
Trang 64
Trang 65
GIỚI THIỆU BÀI HỌC VÀ TRI THỨC NGỮ VĂN Hoạt động 1 Tìm hiểu Giới thiệu bài học Với phần Giới thiệu bài học, GV cần tập trung làm nổi bật hai ý: - Tiếng nói của
GIỚI THIỆU BÀI HỌC VÀ TRI THỨC NGỮ VĂN
Hoạt động 1 Tìm hiểu Giới thiệu bài học
Với phần Giới thiệu bài học, GV cần tập trung làm nổi bật hai ý:
- Tiếng nói của lương tri là một chủ đề liên quan đến nhiều mặt của cuộc sống xã hội.
Lương tri có thể có trong khả năng nhận thức của mỗi người, nhưng cất lên được tiếng nói của lương tri thường là những người có nhân cách tốt, nhận thức sâu sắc và có tầm ảnh hưởng lớn.
- Hai VB đọc chính trong bài là những bài nghị luận nổi tiếng của những người có vị
thế quan trọng trong xã hội. Tiếng nói của họ tác động sâu sắc đến nhận thức, tình cảm của nhiều người, có tác dụng thúc giục mọi người trên thế giới hành động. Cùng chủ đề đó là bài thơ đầy nhiệt huyết gửi gắm niềm tin vào thế hệ trẻ của Phan Bội Châu - một chí sĩ yêu nước trọn đời đấu tranh cho độc lập của dân tộc.
Hoạt động 2 Khám phá Tri thức ngữ văn
Tri thức ngữ văn của bài học này tập trung vào hai nội dung. Liên quan đến VB đọc có vấn đề thông tin khách quan và ý kiến chủ quan. HS tìm hiểu trước các mục này ở SGK. GV có thể nêu một số câu hỏi để củng cố tri thức cho các em: Thông tin khách quan khác với ý kiến chủ quan ở chỗ nào? Thông tin khách quan có vai trò gì? Vì sao cần phải có ý kiến chủ quan? Vì sao khi đọc một VB nghị luận, cần phân biệt thông tin khách quan và ý kiến chủ quan? GV có thể nêu dẫn chứng đã được cung cấp ở phần Tri thức ngữ văn cho GV hoặc tìm thêm một số dẫn chứng để làm cho vấn đề sáng rõ hơn. Tri thức cần thiết dành cho thực hành tiếng Việt ở bài này là nghĩa và cách dùng tên viết tắt của các tổ chức quốc tế quan trọng.
VĂN BẢN 1. ĐẤU TRANH CHO MỘT THẾ GIỚI HOÀ BÌNH (Trích, Ga-bri-en Gác-xi-a Mác-két) 1. Phân tích yêu cầu cần đạt - HS nhận biết được bối cảnh ra đời của bài nghị
VĂN BẢN 1. ĐẤU TRANH CHO MỘT THẾ GIỚI HOÀ BÌNH
(Trích, Ga-bri-en Gác-xi-a Mác-két)
1. Phân tích yêu cầu cần đạt
- HS nhận biết được bối cảnh ra đời của bài nghị luận, đối tượng tác động, tầm ảnh
hưởng và tính thời sự của bài viết.
- HS nhận biết và phân tích được luận đề, luận điểm, lí lẽ và bằng chứng tiêu biểu, hiểu
được cách triển khai vấn đề của bài nghị luận: hệ thống luận điểm, cách nêu lí lẽ và sử dụng
bằng chứng.
- HS hiểu và phân biệt được cách nêu thông tin khách quan và cách trình bày tư tưởng,
ý kiến chủ quan của người viết.
2. Gợi ý tổ chức hoạt động dạy học
Hoạt động 1 Khởi động
Câu hỏi trước khi đọc trong SGK là một phương án gợi ý để GV tham khảo. Kết hợp với phần trả lời của HS, GV có thể trình chiếu một vài đoạn phim tư liệu ngắn nói về việc chính phủ Mỹ ném bom nguyên tử xuống hai thành phố Hi-rô-si-ma và Na-ga-xa-ki của Nhật Bản vào cuối Chiến tranh thế giới lần thứ hai. GV cũng có thể nêu một số thông tin về thảm hoạ mà những quả bom nguyên tử này gây ra cho người Nhật trong thời gian dài.
Hoạt động 2 Đọc văn bản
GV cho một số HS đọc, mỗi em đọc một đoạn; hướng dẫn các em phân biệt giọng đọc ở các đoạn có màu sắc biểu cảm khác nhau (khi đưa thông tin khách quan, khi bình luận sắc bén, khi thì thể hiện thái độ bất bình rõ ràng,…). GV nhắc HS về các thẻ chỉ dẫn chiến lược đọc ở bên phải VB (theo dõi và đánh giá).
GV yêu cầu HS chú ý tên viết tắt của một số tổ chức quốc tế trong VB.
Hoạt động 3 Khám phá văn bản
Hệ thống câu hỏi Sau khi đọc của VB gồm các mức: nhận biết (câu 1); phân tích, suy luận (câu 2, 3, 4, 5); đánh giá, vận dụng (câu 6). GV định hướng về cách trả lời các câu hỏi đó, vừa để đánh giá tình hình chuẩn bị bài của HS, vừa để thiết kế kế hoạch dạy học của bài.
Câu hỏi 1 Xác định luận đề và các luận điểm là bước khởi đầu cần thiết của hoạt động khám phá bài nghị luận. GV có thể cho 2 - 3 HS nêu ý kiến cá nhân, các HS k
Câu hỏi 1
Xác định luận đề và các luận điểm là bước khởi đầu cần thiết của hoạt động khám phá bài nghị luận. GV có thể cho 2 - 3 HS nêu ý kiến cá nhân, các HS khác nhận xét, góp ý và GV kết luận.
Gợi ý:
Luận đề của bài nghị luận: Chạy đua sản xuất vũ khí hạt nhân là đặt nhân loại trước nguy cơ bị huỷ diệt.
Các luận điểm: + Luận điểm 1 (từ Chúng ta đang ở đâu đến đối với vận mệnh thế giới): Người ta đã bố trí số đầu đạn hạt nhân có khả năng huỷ diệt 12 lần Trái Đất.
+ Luận điểm 2 (từ Niềm an ủi duy nhất trước tất cả những suy diễn đến xoá nạn mù chữ
cho toàn thế giới): Số tiền bỏ ra cho việc chạy đua vũ trang có thể giải quyết nhiều vấn đề thiết yếu của nhân loại.
+ Luận điểm 3 (từ Một nhà tiểu thuyết lớn của thời đại chúng ta đến đã bị xoá bỏ khỏi vũ trụ này): Chạy đua vũ trang là đi ngược lại lí trí con người và cũng đi ngược lại cả lí trí tự nhiên.
Mối quan hệ giữa các luận điểm: Luận điểm 1 nêu thực trạng đáng sợ về chạy đua vũ khí hạt nhân giữa các cường quốc. Từ thực trạng này, tác giả có điều kiện so sánh để thấy kinh phí dành cho việc sản xuất vũ khí giết người hàng loạt đó tốn kém hơn nhiều lần so với việc giải quyết những vấn đề quan trọng, cấp bách của đời sống nhân loại (luận điểm 2). Những so sánh đó giúp tác giả rút ra sự vô lí của việc chạy đua vũ khí hạt nhân (luận điểm 3). Như vậy, các luận điểm có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, cùng góp phần làm rõ luận đề của bài viết.
Câu hỏi 2
Đây là câu hỏi có tính chất mở, cho phép HS chọn bất cứ luận điểm nào và phân tích theo các yêu cầu. GV có thể cho mỗi nhóm chọn một luận điểm và trình bày kết quả sau khi đã làm việc nhóm.
Gợi ý:
Luận điểm nào trong ba luận điểm nêu trên cũng đều có thể được chọn để phân tích. Chẳng hạn, phân tích luận điểm 2: Số tiền bỏ ra cho việc chạy đua vũ trang có thể giải quyết nhiều vấn đề thiết yếu của nhân loại (từ Niềm an ủi duy nhất đến xoá nạn mù chữ cho toàn thế giới).
Ở luận điểm này, bằng chứng và lí lẽ song hành, kết hợp chặt chẽ với nhau. Bằng chứng là những số liệu khách quan, nhưng ngay sau khi đưa số liệu, người viết liền nêu một
nhận xét rất có cơ sở, đó chính là lí lẽ: Chẳng hạn, số tiền cần thiết để giải quyết những vấn đề cấp bách cho 500 triệu trẻ em nghèo khổ chỉ gần bằng chi phí c
nhận xét rất có cơ sở, đó chính là lí lẽ: Chẳng hạn, số tiền cần thiết để giải quyết những vấn đề cấp bách cho 500 triệu trẻ em nghèo khổ chỉ gần bằng chi phí cho 100 máy bay ném bom chiến lược B.1B của Mỹ và cho dưới 7 000 tên lửa vượt đại châu; giá của 10 chiếc tàu sân bay mang vũ khí hạt nhân Hoa Kỳ dự định đóng trong 14 năm cũng đủ để thực hiện chương trình phòng bệnh trong 14 năm đó và bảo vệ cho hơn 1 tỉ người khỏi bệnh sốt rét và cứu hơn 14 triệu trẻ em châu Phi; năm 1985, thế giới có gần 575 triệu người thiếu dinh dưỡng, số ca-lo cần thiết cho từng ấy con người tốn kém không bằng 149 tên lửa MX;…
Trình bày thuyết phục luận điểm này đã cho phép tác giả chuyển sang luận điểm tiếp theo bằng một câu hỏi: "Phải chăng Trái Đất chúng ta chính là địa ngục của các hành tinh khác?". Nội dung luận điểm sẽ được triển khai đầy đủ để trả lời thoả đáng cho câu hỏi này.
Như vậy là lí lẽ và bằng chứng có vai trò làm cho luận điểm trở nên sáng tỏ, giàu sức thuyết phục.
Câu hỏi 3
GV chỉ dẫn HS tìm hiểu thông tin ở cước chú 1 (trang 68) để biết bối cảnh ra đời của bài nghị luận; tìm một số cứ liệu trong VB để hiểu thêm về sự cam go của tình hình thế giới lúc bấy giờ. Đặt trong bối cảnh đó sẽ thấy tầm quan trọng của vấn đề mà tác giả nêu và bàn luận ở đây. GV có thể cho HS làm việc cặp đôi, sau đó nêu ý kiến.
Gợi ý:
Bài nghị luận được viết năm 1986, lúc hai phe, đứng đầu là hai cường quốc (Mỹ và Liên Xô) mâu thuẫn gay gắt, cuộc chạy đua vũ trang đã lên đến đỉnh điểm, đặc biệt là vũ khí hạt nhân. Tại thời điểm đó, theo thông tin trong VB, số đầu đạn hạt nhân được bố trí khắp hành tinh là 50 000, đủ sức để làm tan biến 12 lần Trái Đất. Người ta gọi thời kì này là "chiến tranh lạnh", mặc dù chiến tranh chưa nổ ra, nhưng sự đối đầu hết sức căng thẳng, khiến chiến tranh ở quy mô rộng có thể bùng nổ bất cứ nơi nào, vũ khí hạt nhân có thể được sử dụng, lúc ấy, nhân loại sẽ bị huỷ diệt.
Như vậy, vấn đề được nêu để bàn luận là chuyện vô cùng hệ trọng, vì nó quyết định sự sống còn của cả nhân loại.
Câu hỏi 4
Câu hỏi này kiểm tra khả năng phân tích, suy luận của HS. GV có thể nêu lên như một đề tài cho HS thảo luận, GV theo dõi ý kiến của các em để nhận xét và kết luận.
Gợi ý:
Chiến tranh hạt nhân "không những đi ngược lại lí trí con người mà còn đi ngược lại cả lí trí tự nhiên nữa" là một ý kiến chủ quan. Trước hết, vì đây không phải là một điều đã xảy ra, không phải là một thực tế có thể kiểm chứng, mà là nhận định về một khả năng,
trên cơ sở những hiểu biết của tác giả về sức công phá của vũ khí hạt nhân, thực trạng chạy đua loại vũ khí có sức huỷ diệt khủng khiếp này ở các cường quốc. Ý
trên cơ sở những hiểu biết của tác giả về sức công phá của vũ khí hạt nhân, thực trạng chạy đua loại vũ khí có sức huỷ diệt khủng khiếp này ở các cường quốc.
Ý kiến nêu trên chính là chủ đề của đoạn văn. Tác giả đã triển khai chủ đề đó thành các ý nhỏ có quan hệ chặt chẽ với nhau: Quá trình hình thành và phát triển sự sống trên Trái Đất để con người có được như ngày nay là vô cùng lâu dài.  Sự sống của muôn loài trên Trái Đất hết sức đẹp đẽ, kì diệu.  Thế nhưng, chỉ cần một cú "bấm nút" hạt nhân, tất cả sẽ bị xoá sổ. Cách triển khai đoạn văn như vậy khiến cho ý kiến chủ quan của người viết trở nên có sức nặng, đầy tính thuyết phục.
Câu hỏi 5
Để trả lời câu hỏi này, HS phải biết căn cứ vào những lời bình luận, những so sánh, liên tưởng, đặc biệt là những câu thể hiện quan điểm của tác giả trước vấn đề bàn luận. GV có thể cho HS thảo luận, từ đó, nêu ý kiến khái quát.
Gợi ý:
Trước tình trạng chạy đua vũ khí hạt nhân, Mác-két đã lên tiếng phản đối quyết liệt. Bài nghị luận này trích từ một tham luận được đọc tại hội nghị nguyên thủ quốc gia của một số nước, thể hiện quan điểm, thái độ rạch ròi, dứt khoát của nhà văn.
Tác giả đã thể hiện thái độ của mình bằng nhiều cách. Có khi ông để cho sự thật khách quan tự lên tiếng (các số liệu); có khi ông thể hiện thái độ trực tiếp (Chúng ta đến đây để cố gắng chống lại việc đó, đem tiếng nói của chúng ta tham gia vào bản đồng ca của những người đòi hỏi một thế giới không có vũ khí và một cuộc sống hoà bình, công bằng.); lại có khi nhà văn dùng cách liên tưởng lạ lùng (đề nghị mở nhà băng lưu trữ trí nhớ có thể tồn tại được sau thảm hoạ hạt nhân);… Sự phối hợp nhiều cách thể hiện thái độ như vậy khiến người đọc hiểu hơn về tầm tư tưởng của tác giả.
Câu hỏi 6
Với câu hỏi yêu cầu đánh giá, vận dụng này, GV cho một số HS phát biểu ý kiến để vừa rút ra thông điệp, vừa phân tích để làm rõ ý nghĩa của thông điệp trong tình hình hiện nay của thế giới, lí giải được ý kiến của mình.
Gợi ý:
Thông điệp mà tác giả muốn truyền đi qua VB: Thế giới hãy bằng mọi cách ngăn chặn chạy đua vũ trang, loại bỏ vũ khí hạt nhân.
Trong tình hình hiện nay của thế giới, thông điệp trên vẫn còn nguyên ý nghĩa thời sự, bởi vì số vũ khí hạt nhân mà các quốc gia sở hữu không ngừng tăng lên; do xung đột về chính trị, quân sự cho nên các hiệp ước hạn chế vũ khí hạt nhân giữa hai cường quốc rất kém hiệu lực; một số nước thường xuyên tiến hành các vụ thử hạt nhân để đi đến sản xuất vũ khí hàng loạt;…
THỰC HÀNH TIẾNG VIỆT NGHĨA VÀ CÁCH DÙNG TÊN VIẾT TẮT CÁC TỔ CHỨC QUỐC TẾ QUAN TRỌNG viết tắt tên các tổ chức quốc tế, hiểu được nghĩa và biết cách sử dụng trong
THỰC HÀNH TIẾNG VIỆT NGHĨA VÀ CÁCH DÙNG TÊN VIẾT TẮT CÁC TỔ CHỨC QUỐC TẾ QUAN TRỌNG
viết tắt tên các tổ chức quốc tế, hiểu được nghĩa và biết cách sử dụng trong tạo lập VB.
1. Phân tích yêu cầu cần đạt
HS nhận biết được tên viết tắt của các tổ chức quốc tế trong VB; biết được cách thức viết tắt tên các tổ chức quốc tế, hiểu được nghĩa và biết cách sử dụng trong tạo lập VB.
2. Gợi ý tổ chức hoạt động dạy học
Hoạt động 1 Hình thành kiến thức mới
Kiến thức mới có liên quan đến tên viết tắt của các tổ chức quốc tế đã được trình bày ngắn gọn, rõ ràng ở mục Tri thức ngữ văn và khung Nghĩa và cách dùng tên viết tắt các tổ chức quốc tế ở phần Thực hành tiếng Việt. GV yêu cầu HS đọc lại, kết hợp đàm thoại với diễn giảng, hướng dẫn HS tìm thêm tên viết tắt của một số tổ chức để minh hoạ cho các ý trong SGK.
Hoạt động 2 Luyện tập, vận dụng
Bài tập 1
Đọc VB Đấu tranh cho một thế giới hoà bình, gặp tên viết tắt các tổ chức quốc tế như FAO, UNICEF, việc đầu tiên cần làm là tra cứu tài liệu để hiểu được cách viết đầy đủ tên đó và nghĩa của nó. Cụ thể, FAO là viết tắt cụm từ Food and Agriculture Organization, tên tiếng Anh của Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên hợp quốc; UNICEF là viết tắt cụm từ United Nations International Children's Emergency Fund, tên tiếng Anh của Quỹ Nhi đồng Liên hợp quốc. - Nếu không biết nghĩa của cụm từ biểu thị tên tổ chức quốc tế thì sẽ không hiểu được nội dung của câu.
Bài tập 2
Đoạn văn tuy dùng nhiều tên viết tắt các tổ chức quốc tế, nhưng phù hợp và cần thiết.
VĂN BẢN 2. BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU - MỐI ĐE DOẠ SỰ TỒN VONG CỦA HÀNH TINH CHÚNG TA (Trích Phát biểu của Tổng Thư kí Liên hợp quốc về biến đổi khí hậu, An-tô-ni-ô Gu-tê
VĂN BẢN 2. BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU - MỐI ĐE DOẠ SỰ TỒN VONG CỦA HÀNH TINH CHÚNG TA
(Trích Phát biểu của Tổng Thư kí Liên hợp quốc về biến đổi khí hậu,
An-tô-ni-ô Gu-tê-rét)
1. Phân tích yêu cầu cần đạt
HS nhận biết và phân tích được luận đề, hệ thống luận điểm, mối quan hệ giữa các luận điểm, vai trò của hệ thống luận điểm trong việc làm sáng tỏ luận đề, cách sử dụng lí lẽ và bằng chứng trong bài nghị luận. - HS nhận biết tầm quan trọng của vấn đề được bàn luận, phạm vi tác động và thông điệp của bài nghị luận; có ý thức trách nhiệm trước tác hại nghiêm trọng của hiện tượng biến đổi khí hậu trên toàn thế giới, từ đó có những hành động phù hợp và thiết thực.
HS biết nhận xét, đánh giá tính chất đúng và sai của vấn đề đặt ra trong VB. - HS phân biệt được cách trình bày thông tin khách quan và nêu ý kiến chủ quan.
2. Gợi ý tổ chức hoạt động dạy học
Hoạt động 1 Khởi động
GV có thể trình chiếu một số bức ảnh hoặc đoạn phim ngắn phản ánh tác hại nghiêm trọng do hiện tượng biến đổi khí hậu gây ra (hạn hán, lũ lụt, nước mặn xâm lấn đồng bằng, sa mạc hoá một số vùng đất,…). Dựa vào các hình ảnh đó, GV cho HS trả lời các câu hỏi trước khi đọc và thảo luận.
Hoạt động 2 Đọc văn bản
Cách thức thực hiện hoạt động này giống như ở VB 1, vì cả hai đều là VB nghị luận đề cập những vấn đề hệ trọng ở tầm quốc tế.
Hoạt động 3 Khám phá văn bản Hệ thống câu hỏi sau khi đọc tương ứng với các mức độ: nhận biết (câu 1, 5, 6); phân tích, suy luận (câu 2, 4, 7); đánh giá, vận dụ
Hoạt động 3 Khám phá văn bản
Hệ thống câu hỏi sau khi đọc tương ứng với các mức độ: nhận biết (câu 1, 5, 6); phân tích, suy luận (câu 2, 4, 7); đánh giá, vận dụng (câu 3, 8). GV phải nắm vững điều này để đánh giá đúng khả năng trả lời câu hỏi của HS.
Câu hỏi 1
GV có thể cho từng cặp HS thảo luận với nhau để giải quyết câu hỏi có tính chất nhận biết này. Từ các ý kiến của HS, GV nhận xét, bổ sung và chốt lại.
Gợi ý:
Luận đề của VB được thể hiện rõ ở nhan đề (do tác giả SGK đặt). HS có thể diễn đạt lại theo những cách khác, nhưng nội dung cốt lõi của luận đề là sự nghiêm trọng của tình trạng biến đổi khí hậu đang trở thành mối đe doạ sự tồn vong của hành tinh chúng ta.
Các luận điểm được triển khai để làm nổi bật luận đề: + Luận điểm 1 (từ đầu đến các nguồn tài nguyên đang dần teo tóp lại): Một số biểu hiện cụ thể của hiện tượng biến đổi khí hậu trên thế giới và hậu quả của nó.
+ Luận điểm 2 (từ Ngọn núi phía trước chúng ta đến những tổn hại mà các khí phát thải đó gây ra): Cần có các giải pháp để đối phó với tình trạng biến đổi khí hậu.
+ Luận điểm 3 (từ Đã đến lúc các nhà lãnh đạo đến không có thời gian để lãng phí nữa): Trách nhiệm lớn lao của lãnh đạo các quốc gia về vấn đề biến đổi khí hậu.
+ Luận điểm 4 (từ Như những vụ cháy rừng đến hết): Tất cả phải hành động, không thể chậm trễ.
Các luận điểm nêu trên có quan hệ chặt chẽ với nhau. Luận điểm trước là lí do, là cơ sở để nêu luận điểm tiếp đó, tạo thành một hệ thống lô-gíc. Xét bất cứ 2 luận điểm nào kề nhau cũng thấy rõ điều đó.
Câu hỏi 2
GV cho HS làm việc cá nhân, mỗi HS có thể chọn một luận điểm bất kì để phân tích; yêu cầu một số em trình bày kết quả. GV nhận xét, bổ sung và khái quát về vấn đề.
Gợi ý:
Chẳng hạn, ở luận điểm 1. Một số biểu hiện cụ thể của hiện tượng biến đổi khí hậu trên thế giới và hậu quả của nó:
Lí lẽ: Các nhà khoa học đã cảnh báo từ nhiều thập kỉ trước, nhưng những tiếng nói đó chưa được lắng nghe đầy đủ, và giờ đây chúng ta đã nhìn thấy hậu quả: sự biến đổi khí hậu ngày càng trầm trọng, con người nhận ra việc nuôi sống mình càng khó khăn hơn.
Bằng chứng: Băng ở Bắc Cực đang tan nhanh hơn; nạn cháy rừng kéo dài; các đại dương bị nhiễm a-xít nặng nề; san hô chết trên diện rộng; an ninh lương thực bị đe doạ do mức các-bon đi-ô-xít cao trong khí quyển; ngày càng nhiều người di cư khỏi vùng đất mà họ sinh sống;…
Như vậy, bằng chứng là những ví dụ tiêu biểu lấy từ thực tế do biến đổi khí hậu gây ra ở khắp nơi, có thể kiểm chứng; lí lẽ là những suy nghĩ của tác giả về vấn
Như vậy, bằng chứng là những ví dụ tiêu biểu lấy từ thực tế do biến đổi khí hậu gây ra ở khắp nơi, có thể kiểm chứng; lí lẽ là những suy nghĩ của tác giả về vấn đề, có các bằng chứng đi kèm để củng cố, do đó trở nên đáng tin cậy.
Câu hỏi 3
GV có thể xem câu hỏi là một đề tài nhỏ, tổ chức cho cả lớp thảo luận. GV theo dõi ý kiến của HS, nhận xét và kết luận.
Gợi ý:
Đây là một ý kiến đúng. Có thể khẳng định như vậy là bởi tác giả có điều kiện tiếp xúc, lắng nghe ý kiến của các nhà khoa học, có đủ các cứ liệu được tổng hợp từ nhiều nguồn trên khắp thế giới. Những cứ liệu đó cho thấy, biến đổi khí hậu không phải là vấn đề riêng của quốc gia nào, mà là vấn đề toàn cầu. Mối đe doạ ấy là có thật, ngày càng rõ ràng.
Câu hỏi 4
GV cho HS làm việc cá nhân và nêu ý kiến. Ý kiến của HS có thể khác nhau, GV phân tích để đi đến thống nhất.
Gợi ý:
Tác giả bài nghị luận là ông An-tô-ni-ô Gu-tê-rét - Tổng Thư kí Liên hợp quốc. Ở cương vị này, tác giả có trách nhiệm rất lớn về những vấn đề toàn cầu, đồng thời điều đó cũng giúp ông thuận lợi hơn trong việc trình bày ý kiến về vấn đề được xem là nguy cơ đe doạ sự tồn vong của nhân loại.
Vị thế xã hội cho phép tác giả biểu hiện thái độ thẳng thắn và trách nhiệm khi đối thoại với nguyên thủ các quốc gia, những nhà lãnh đạo các tổ chức quốc tế, toàn thể nhân dân các nước trên thế giới.
Câu hỏi 5
GV yêu cầu từng HS tự đọc và tìm trong VB những câu văn thể hiện thông tin khách quan, xác định căn cứ nhận biết. GV mời một số HS trình bày ý kiến trước lớp.
Gợi ý:
Một số thông tin khách quan được tác giả nêu trong VB: Nhiều người có trách nhiệm thuộc nhiều quốc gia trên thế giới đã đến cơ quan Liên hợp quốc để dự hội nghị về biến đổi khí hậu; nhân loại đang đối mặt với một mối đe doạ trực tiếp đến sự tồn vong; các nhà khoa học đã cảnh báo về nguy cơ biến đổi khí hậu; nhiều nhà lãnh đạo đã từ chối lắng nghe; băng ở Bắc Cực đang tan nhanh; nạn cháy rừng lan nhanh và kéo dài; các đại dương bị nhiễm a-xít nặng nề; sự biến đổi khí hậu ngày càng trầm trọng; các quốc gia nghèo nhất và các cộng đồng bình thường nhất phải chịu những tác động tồi tệ nhất từ biến đổi khí hậu,…
Căn cứ để nhận biết: Các thông tin nêu trên là những điều đã xảy ra trong thực tế, có thể kiểm chứng, tác giả chỉ là người nêu lên chứ không phải tự nghĩ ra.
Câu hỏi 6 GV cho HS làm việc nhóm, các nhóm trình bày những giải pháp mà nhóm mình phát hiện được từ VB. GV theo dõi và tổng hợp. Gợi ý: Một số giải pháp để ứng
Câu hỏi 6
GV cho HS làm việc nhóm, các nhóm trình bày những giải pháp mà nhóm mình phát hiện được từ VB. GV theo dõi và tổng hợp.
Gợi ý:
Một số giải pháp để ứng phó với tình trạng biến đổi khí hậu được tác giả nêu lên: - Thay đổi nhiên liệu hoá thạch bằng năng lượng sạch từ nước, gió và mặt trời. - Ngăn chặn nạn phá rừng và phục hồi rừng bị tàn phá. - Gắn kết kinh tế tuần hoàn với việc sử dụng hợp lí các nguồn tài nguyên. - Các quốc gia giàu có phải chịu trách nhiệm nhiều hơn về khủng hoảng khí hậu. Để thực thi các giải pháp nêu trên, theo tác giả, trách nhiệm chính thuộc về lãnh đạo các quốc gia, các doanh nghiệp và các nhà khoa học trên thế giới.
Câu hỏi 7
GV nêu vấn đề cho HS làm việc theo nhóm. Đại diện một số nhóm trình bày kết quả, các nhóm khác nhận xét, góp ý, GV tổng hợp các ý kiến của HS và kết luận về vấn đề.
Gợi ý:
Đối tượng tác động của hai VB rất giống nhau. Đó là các nhà lãnh đạo các quốc gia, giới khoa học và công chúng rộng rãi trên thế giới - những người phải đối mặt với nguy cơ chiến tranh hạt nhân và tình trạng biến đổi khí hậu.
Câu hỏi 8
Với câu hỏi yêu cầu khả năng khái quát như thế này, GV có thể cho HS trao đổi nhóm, sau khi đại diện các nhóm nêu ý kiến, cần cho HS thảo luận để thống nhất cách hiểu về vấn đề.
Gợi ý:
Mọi người trên Trái Đất này, tuỳ vào vị thế và khả năng của mình, cần khẩn trương hành động để làm chậm quá trình biến đổi khí hậu cũng như hạn chế những thiệt hại do tình trạng đó gây ra cho con người - đó là thông điệp có thể rút ra sau khi đọc VB.
Hoạt động 4 Viết kết nối với đọc
Với đề tài nêu trên, GV gợi ý cho HS bằng một số câu hỏi: Những nguyên nhân nào khiến Trái Đất ngày càng nóng lên? Trong đó, những nguyên nhân nào thuộc về con người? Con người có thể đưa ra các giải pháp hữu hiệu để thay đổi tình trạng đó được không? Vì sao?
GV dành khoảng 10 phút cho HS viết bài. Lưu ý các em về cách tổ chức đoạn văn, về sự mạch lạc và tính liên kết cũng như dung lượng đoạn văn (7 - 9 câu). GV thu bài để có tư liệu đánh giá mức độ tiếp thu bài học và khả năng viết của HS, có thể sửa nhanh một số bài, chú ý những HS gặp khó khăn với kĩ năng viết.
LỰA CHỌN CÂU ĐƠN HOẶC CÂU GHÉP, CÁC KIỂU CÂU GHÉP 1. Phân tích yêu cầu cần đạt HS xác định đúng câu đơn, câu ghép, các kiểu câu ghép trong VB, các phương tiện n
LỰA CHỌN CÂU ĐƠN HOẶC CÂU GHÉP, CÁC KIỂU CÂU GHÉP
1. Phân tích yêu cầu cần đạt
HS xác định đúng câu đơn, câu ghép, các kiểu câu ghép trong VB, các phương tiện nối các vế trong câu ghép, khả năng biểu đạt khác nhau giữa câu đơn và câu ghép, từ đó, biết sử dụng câu đơn, câu ghép phù hợp với mục đích giao tiếp.
2. Gợi ý tổ chức hoạt động dạy học
Hoạt động 1 Củng cố kiến thức đã học
Ở bài 6, HS đã được tiếp cận với các kiến thức lí thuyết liên quan đến các bài tập ở bài này. GV yêu cầu HS nhắc lại một số điểm cơ bản vừa để củng cố kiến thức, vừa chuẩn bị cho việc luyện tập, vận dụng.
Hoạt động 2 Luyện tập, vận dụng
Bài tập 1
HS làm việc cá nhân, GV yêu cầu một số em trình bày kết quả trước lớp. GV nhận xét, bổ sung và kết luận.
Gợi ý:
Câu đơn: + Chúng ta đang ở đâu? + Hôm nay ngày 8 - 8 - 1986, hơn 50 000 đầu đạn hạt nhân đã được bố trí trên khắp hành tinh.
Nguy cơ ghê gớm đó đang đè nặng lên chúng ta như thanh gươm Đa-mô-clét, về lí thuyết có thể tiêu diệt tất cả các hành tinh đang xoay quanh Mặt Trời, cộng thêm bốn hành tinh nữa, và phá huỷ thế thăng bằng của Hệ Mặt Trời.
Câu ghép: Nói nôm na ra, điều đó có nghĩa là mỗi người, không trừ trẻ con, đang ngồi trên một thùng 4 tấn thuốc nổ: tất cả chỗ đó nổ tung lên sẽ làm biến hết thảy, không phải là một lần mà là mười hai lần, mọi dấu vết của sự sống trên Trái Đất.
Bài tập 2
Với bài tập này, GV có thể cho HS làm việc theo cặp, thảo luận và trình bày kết quả trước lớp để cùng trao đổi; GV nhận xét, bổ sung và kết luận.
Gợi ý:
Câu a thuộc kiểu câu ghép đẳng lập, không dùng phương tiện nối; câu b là câu ghép đẳng lập, phương tiện nối là kết từ nhưng; câu c là câu ghép chính phụ, phương tiện nối là cặp kết từ dù cho … thì …; câu d là câu ghép đẳng lập, phương tiện nối là kết từ và.
VĂN BẢN 3. BÀI CA CHÚC TẾT THANH NIÊN (Phan Bội Châu) 1. Phân tích yêu cầu cần đạt HS hiểu được tâm trạng của chí sĩ cách mạng Phan Bội Châu thể hiện ở tiếng nó
VĂN BẢN 3. BÀI CA CHÚC TẾT THANH NIÊN
(Phan Bội Châu)
1. Phân tích yêu cầu cần đạt
HS hiểu được tâm trạng của chí sĩ cách mạng Phan Bội Châu thể hiện ở tiếng nói tha thiết với vận mệnh quốc gia, ở sự kì vọng đối với thế hệ trẻ. Đó cũng là tiếng nói xuất phát từ lương tri, thể hiện trách nhiệm của một con người suốt đời đấu tranh không mệt mỏi cho sự nghiệp giải phóng dân tộc khỏi ách thống trị của thực dân Pháp.
2. Gợi ý tổ chức hoạt động dạy học
Hoạt động 1 Khởi động
GV nên chọn cách khởi động nhẹ nhàng, có thể chiếu một số hình ảnh về Phan Bội Châu, về sông Hương, núi Ngự - nơi Phan Bội Châu bị an trí trong những năm tháng cuối cùng của cuộc đời và được gọi với biệt danh "Ông Già Bến Ngự". Từ đó, dẫn dắt HS vào bài thơ.
Hoạt động 2 Đọc văn bản Bài thơ không dài, GV chỉ định một vài HS đọc, nhận xét việc thể hiện tính biểu cảm qua giọng đọc (có thiết tha trầm lắng, có sôi nổi hù
Hoạt động 2 Đọc văn bản
Bài thơ không dài, GV chỉ định một vài HS đọc, nhận xét việc thể hiện tính biểu cảm qua giọng đọc (có thiết tha trầm lắng, có sôi nổi hùng hồn) phù hợp với mạch cảm xúc của bài thơ. - GV hướng dẫn HS tìm hiểu một số chú thích, vì ở bài thơ, có những cụm từ khá quan trọng, cần hiểu rõ nghĩa, chẳng hạn hai mươi năm lẻ, cựu giang san, nhật nhật tân, hựu nhật tân,…
Hoạt động 3 Khám phá văn bản
Trước khi hướng dẫn HS khám phá VB, GV cần cho HS đọc phần giới thiệu về Phan Bội Châu ở SGK. GV nhấn mạnh tầm vóc, nhân cách của chí sĩ cách mạng Phan Bội Châu trong phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc những năm đầu thế kỉ XX và tinh thần sục sôi
yêu nước - đặc điểm quan trọng nhất trong các trước tác của ông. - Cho HS đọc lại chú thích về hát nói (SGK Ngữ văn 9, tập một, trang 65), nhấn mạnh một số nét cơ bản của thể thơ này.
Câu hỏi 1
Câu hỏi yêu cầu nhận biết những yếu tố ngoài VB, nhưng đây là những thông tin quan trọng giúp HS đọc hiểu bài thơ. GV cho HS nêu ý kiến cá nhân, trao đổi với nhau, GV nhận xét, bổ sung và kết luận.
Gợi ý:
Bài thơ được sáng tác năm 1927, khi nước nhà đang bị thực dân Pháp đô hộ, nhiều phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc lần lượt thất bại, tương lai nền độc lập của nước nhà còn mờ mịt. Những năm này, tác giả đang bị thực dân Pháp bắt và giam lỏng ở Huế, bị kết án tử hình rồi giảm án bởi áp lực của các cuộc đấu tranh đòi thả Phan Bội Châu diễn ra khắp nơi. Bị giam lỏng, không còn được tự do hoạt động cách mạng, nhưng ông vẫn luôn canh cánh một nỗi lo âu cho vận mệnh của dân tộc. - Phần giới thiệu về tác giả và tác phẩm đã phần nào chứa đựng những thông tin liên quan đến câu hỏi. GV cũng cần đọc thêm một số tài liệu để hiểu sâu hơn. Bên cạnh đó, một số câu trong bài thơ như "Thẹn cùng sông, buồn cùng núi, tủi cùng trăng/ Hai mươi năm lẻ đã từng chua với xót/ Trời đất may còn thân sống sót" gợi tình cảnh riêng của tác giả; "Xúm vai vào xốc vác cựu giang sơn"; "Dựng gan óc lên đánh tan sắt lửa/ Xối máu nóng rửa vết nhơ nô lệ" là những câu gợi bối cảnh của đất nước khi tác giả viết bài thơ này.
Câu hỏi 2
GV cho HS làm việc theo cặp, yêu cầu một số em trình bày kết quả trao đổi.
Gợi ý: Có thể nêu bố cục bài thơ như sau: + Đoạn một (từ đầu đến Tháng ngày khuây khoả lũ đầu xanh): nỗi niềm của nhà cách mạng về "hai mươi năm lẻ" đã qua cũng
Gợi ý:
Có thể nêu bố cục bài thơ như sau: + Đoạn một (từ đầu đến Tháng ngày khuây khoả lũ đầu xanh): nỗi niềm của nhà cách mạng về "hai mươi năm lẻ" đã qua cũng như tình cảnh trong hiện tại.
Đoạn hai (từ Thưa các cô, các chị, lại các anh đến hết): lời nhắn nhủ thiết tha và sự kì vọng lớn lao của nhà cách mạng đối với lớp người trẻ tuổi.
Bố cục nêu trên gắn chặt với mạch cảm xúc của bài thơ. Đoạn đầu thể hiện cảm xúc trầm lắng, nhưng sang đoạn thứ hai, cảm xúc trở nên nồng nàn, sôi nổi, tha thiết. Cảm xúc ở hai đoạn thơ thoạt nhìn có vẻ không thống nhất, nhưng thực chất đó là một mạch vận động, kín đáo và lô-gíc.
Câu hỏi 3
Tâm trạng của tác giả - một nhà cách mạng - biểu hiện rất rõ ở từng đoạn thơ: - Ở đoạn đầu, thẹn, buồn, tủi là những từ thể hiện trực tiếp nỗi lòng tác giả. Đó là những gì được khơi dậy từ sự chiêm nghiệm về quãng đời bao "chua" với "xót" của bản thân, thể hiện qua những lời thơ có âm điệu trầm lắng, sử dụng nhiều từ ngữ trực tiếp miêu tả thân phận và nỗi niềm; câu hỏi tu từ như lời độc thoại nội tâm; câu thơ ngắt nhịp điệu chậm, đều (Thẹn cùng sông, buồn cùng núi, tủi cùng trăng); cảm giác cô độc, chỉ biết tâm sự cùng thiên nhiên (xuân, sông, núi, trăng, trời đất).
Đoạn sau của bài thơ thể hiện sự thay đổi đột ngột của tâm trạng: từ buồn sang vui, từ xót xa sang phấn chấn, từ cô độc, đơn lẻ sang ấm áp, rộn ràng với các cô, các chị, các anh, chư quân; từ âm điệu nhẹ nhàng sang sôi nổi, mạnh mẽ, giục giã với những cụm động từ có ngữ khí mạnh: mở mắt, xốc vác, đi cho êm, đứng cho vững, trụ cho gan, liên hiệp lại, xếp bút nghiên, tu dưỡng tinh thần, dựng gan óc, đánh tan sắt lửa, xối máu nóng, rửa vết nhơ,… Lời thơ mang sắc thái của lời hịch, có sức lay động mạnh mẽ nhận thức, tình cảm của người đọc, người nghe.
Câu hỏi 4
Với câu hỏi này, GV yêu cầu HS đọc lại bài thơ, suy nghĩ và tìm câu trả lời. Sau phần trình bày ý kiến của một số em, GV nhận xét, bổ sung và kết luận.
Gợi ý:
Xét trong quan hệ với bối cảnh đất nước, với cuộc đời hoạt động sôi nổi và tình cảnh riêng của tác giả, bài thơ thể hiện niềm tin và kì vọng rằng, thế hệ trẻ - những người vốn có sức mạnh và nhiệt huyết - sẽ xếp bỏ những ham muốn riêng tư bé mọn, sẵn sàng ghé vai gánh vác nhiệm vụ lớn lao là đưa non sông thoát khỏi vòng nô lệ.
VIẾT VIẾT BÀI VĂN NGHỊ LUẬN VỀ MỘT VẤN ĐỀ CẦN GIẢI QUYẾT (TRONG ĐỜI SỐNG XÃ HỘI) 1. Phân tích yêu cầu cần đạt HS nắm được cách thức tạo lập VB nghị luận về một
VIẾT
VIẾT BÀI VĂN NGHỊ LUẬN VỀ MỘT VẤN ĐỀ CẦN GIẢI QUYẾT (TRONG ĐỜI SỐNG XÃ HỘI)
1. Phân tích yêu cầu cần đạt
HS nắm được cách thức tạo lập VB nghị luận về một vấn đề cần giải quyết trong đời sống xã hội. - HS viết được VB nghị luận đáp ứng các yêu cầu: nêu được vấn đề theo giới hạn nội dung của phần Viết; bài viết có các luận điểm rõ ràng, hợp lí; các luận điểm được làm sáng tỏ bằng lí lẽ, bằng chứng.
2. Những lưu ý về yêu cầu đối với bài văn nghị luận về một vấn đề cần giải quyết
(trong đời sống xã hội)
Yêu cầu của kiểu bài viết đã được nêu tường minh trong SGK (trang 79). GV cần nhấn mạnh thêm: - Vấn đề cần giải quyết trong đời sống xã hội mà người viết chọn làm đề tài phải được nêu bằng một câu cụ thể làm căn cứ để triển khai bài viết. - Các khía cạnh của vấn đề phải được thể hiện bằng các luận điểm, phản ánh nhận thức của người viết về bản chất của vấn đề. Ý kiến trái chiều thường do người viết dự kiến, hình dung, nhưng cần hợp lí, việc bác bỏ ý kiến được nêu ra là một cách để củng cố sự đúng đắn của quan điểm cần khẳng định. - Vấn đề nêu ra để bàn luận có thể là tích cực hay tiêu cực. Nếu là vấn đề tích cực, cần nêu giải pháp phát huy, nếu là vấn đề tiêu cực, cần đề xuất giải pháp hạn chế, loại bỏ. Đó phải là những giải pháp có tính khả thi.
3. Gợi ý tổ chức hoạt động dạy học Hoạt động 1 Giới thiệu kiểu bài GV gợi ý cho HS bằng một số câu hỏi: Thế nào là một vấn đề cần giải quyết? Vì sao cần giới hạ
3. Gợi ý tổ chức hoạt động dạy học
Hoạt động 1 Giới thiệu kiểu bài
GV gợi ý cho HS bằng một số câu hỏi: Thế nào là một vấn đề cần giải quyết? Vì sao cần giới hạn nghị luận về một vấn đề cần giải quyết (trong đời sống xã hội)? Việc hiểu sâu sắc và bàn luận thấu đáo những vấn đề cần giải quyết trong đời sống có tác dụng gì?
Sau khi HS trả lời, GV khái quát lại để giới thiệu ngắn gọn về nội dung phần Viết của bài.
Hoạt động 2 Tìm hiểu yêu cầu đối với bài văn nghị luận về một vấn đề cần
giải quyết (trong đời sống xã hội)
Ở SGK, bốn ý của mục Yêu cầu đã được trình bày ngắn gọn, rõ ràng, GV cho HS nhắc lại để khắc sâu trước khi thực hiện việc viết bài. Chú ý việc cụ thể hoá các vấn đề đời sống cần giải quyết được thể hiện ở ý thứ nhất.
Hoạt động 3 Đọc và phân tích bài viết tham khảo
Khi HS đọc bài viết tham khảo, GV nhắc các em chú ý nội dung gợi dẫn ở các thẻ bên phải VB. GV định hướng thêm cho việc rút kinh nghiệm từ bài viết tham khảo: Bài viết bàn về vấn đề gì? Có những vấn đề nào tương tự trong đời sống có thể bàn luận? Em rút ra được điều gì từ cách triển khai các luận điểm, cách nêu lí lẽ và huy động bằng chứng, cách phản bác ý kiến trái chiều? Phần Mở bài và Kết bài gợi cho em điều gì về cách viết?
Hoạt động 4 Thực hành viết theo các bước
Hướng dẫn lựa chọn đề tài: Để định hướng cho HS trong việc tìm đề tài, GV cho HS nhắc lại một số đề tài mà SGK đã gợi ý, trên cơ sở đó, HS có thể tự tìm đề tài phù hợp. Lưu ý: Với những đề tài mà HS lựa chọn, GV cần kiểm tra, hướng dẫn các em biết cách diễn đạt ngắn gọn và tường minh.
Hướng dẫn tìm ý: GV cần hướng dẫn cho HS tìm ý bằng cách điền các thông tin vào phiếu tìm ý như đã trình bày ở bài 1 (Ngữ văn 9, tập một - Sách giáo viên, trang 62).
Hướng dẫn lập dàn ý: Các ý đã tìm theo các câu hỏi mà HS nêu ra khi tìm ý có thể đã theo trật tự tương đối hợp lí. Tuy nhiên, trong quá trình sắp xếp các ý vào từng phần trong dàn ý của bài viết (Mở bài, Thân bài, Kết bài), HS cần kiểm tra lại, nếu cần có thể thay đổi vị trí các ý cho phù hợp.
Hướng dẫn viết bài: GV hướng dẫn HS cách triển khai các phần của bài viết trên cơ sở dàn ý đã lập. HS cần phát huy những kinh nghiệm đã có trong quá trình thực hiện các bài viết VB nghị luận cũng như những điều học được từ bài viết tham khảo để có cách mở bài, kết bài ngắn gọn, sáng rõ, gây được ấn tượng; cách viết mỗi luận điểm của phần Thân bài thành một đoạn văn; cách nêu lí lẽ và sử dụng bằng chứng; cách phản bác ý kiến trái chiều,… phù hợp, hiệu quả. Mục đích hướng tới là tính thuyết phục của bài viết.
TRẢ BÀI Hoạt động 1 Nhắc lại, khắc sâu yêu cầu của kiểu bài GV cho HS nhắc lại yêu cầu của bài văn nghị luận về một vấn đề cần giải quyết (trong đời sống xã hội
TRẢ BÀI
Hoạt động 1 Nhắc lại, khắc sâu yêu cầu của kiểu bài
GV cho HS nhắc lại yêu cầu của bài văn nghị luận về một vấn đề cần giải quyết (trong đời sống xã hội), lấy đó làm căn cứ để tự đánh giá bài viết của bản thân. Từ cả những điều đạt và chưa đạt yêu cầu, HS biết khắc sâu để rút kinh nghiệm cho những lần viết sau.
Hoạt động 2 Nhận xét về kết quả viết và chỉnh sửa bài viết
GV nêu khái quát một số ưu điểm và nhược điểm trong bài viết của HS (mức độ thực hiện các yêu cầu của kiểu bài viết, cách triển khai các luận điểm, nêu lí lẽ và huy động bằng chứng, cách trình bày, diễn đạt,...), phân tích nguyên nhân, định hướng cách phát huy ưu điểm và khắc phục nhược điểm.
GV hướng dẫn HS chỉnh sửa bài bằng cách đối sánh với các yêu cầu của phần Viết,
dàn ý đã lập và lời nhận xét của GV. Khuyến khích HS về nhà viết lại một bản mới trên cơ sở bài viết đã được đánh giá và chỉnh sửa.
CỦNG CỐ, MỞ RỘNG GV hướng dẫn HS giải quyết các bài tập theo những yêu cầu cụ thể. - Bài tập 1 cần thực hiện bằng cách kẻ vào vở bảng hệ thống hoá các kiến thức
CỦNG CỐ, MỞ RỘNG
GV hướng dẫn HS giải quyết các bài tập theo những yêu cầu cụ thể. - Bài tập 1 cần thực hiện bằng cách kẻ vào vở bảng hệ thống hoá các kiến thức về VB nghị luận, thông qua hai VB đã đọc. Các cột tương ứng với các nội dung cần ôn tập: vấn đề được bàn luận, các luận điểm chính, lí lẽ, bằng chứng. - Bài tập 2 thực hiện các yêu cầu về viết: Lập dàn ý, viết phần Mở bài và đoạn đầu của phần Thân bài. GV lưu ý HS về tính liên kết của hai đoạn văn các em thực hiện viết. - Bài tập 3 yêu cầu lập dàn ý cho bài nói trên cơ sở dàn ý của bài viết đã thực hiện ở bài tập 2. Bài tập này đòi hỏi HS phân biệt được sự khác nhau về dàn ý của hai hoạt động (nói và viết) cùng thực hiện trên một đề tài. Dựa vào dàn ý, HS biết tập luyện theo nhóm để nâng cao kĩ năng nói và nghe. - Bài tập 4 hướng tới yêu cầu đọc mở rộng theo quy định của Chương trình. GV hướng dẫn HS tìm VB hoặc giới thiệu VB nên đọc cho các em. Đây là những công việc HS thực hiện ở nhà, GV cần có cách thức kiểm tra, đánh giá kết quả cụ thể.
Trang 84
Trang 85
GIỚI THIỆU BÀI HỌC VÀ TRI THỨC NGỮ VĂN Hoạt động 1 Tìm hiểu Giới thiệu bài học GV cho HS đọc phần Giới thiệu bài học trong SGK và nêu câu hỏi: Chủ đề của bài họ
GIỚI THIỆU BÀI HỌC VÀ TRI THỨC NGỮ VĂN
Hoạt động 1 Tìm hiểu Giới thiệu bài học
GV cho HS đọc phần Giới thiệu bài học trong SGK và nêu câu hỏi: Chủ đề của bài học đã được gợi mở như thế nào trong đoạn văn thứ nhất? Đoạn văn thứ hai cho biết điều gì về loại VB trọng tâm của bài học và các nội dung cần thực hành? Hãy bày tỏ niềm mong đợi của em về những điều sẽ được học, thực hành với bài học này. GV khái quát hai điểm chính:
VĂN BẢN 1. YÊN TỬ, NÚI THIÊNG (Thi Sảnh) 1. Phân tích yêu cầu cần đạt HS nhận biết và phân tích được đặc điểm của loại VB giới thiệu danh lam thắng cảnh, có kết
VĂN BẢN 1. YÊN TỬ, NÚI THIÊNG
(Thi Sảnh)
1. Phân tích yêu cầu cần đạt
HS nhận biết và phân tích được đặc điểm của loại VB giới thiệu danh lam thắng cảnh, có kết hợp với việc giới thiệu di tích lịch sử. - HS nhận biết và phân tích được cách triển khai đặc thù của loại VB giới thiệu một danh lam thắng cảnh hoặc di tích lịch sử. - HS thấy được những giá trị đáng tự hào, cần được gìn giữ, phát huy của những danh lam thắng cảnh và di tích lịch sử được giới thiệu trong VB.
2. Gợi ý tổ chức hoạt động dạy học Hoạt động 1 Khởi động GV có thể sử dụng các câu hỏi, vấn đề được gợi ý ở phần Trước khi đọc trong SGK để khởi động giờ học. C
2. Gợi ý tổ chức hoạt động dạy học
Hoạt động 1 Khởi động
GV có thể sử dụng các câu hỏi, vấn đề được gợi ý ở phần Trước khi đọc trong SGK để khởi động giờ học. Câu 1 hướng HS bước đầu hình thành ý niệm về sự cần thiết của loại VB giới thiệu về một cảnh quan, địa chỉ thường được khách du lịch tới tham quan, thưởng ngoạn. Câu 2 yêu cầu HS kể tên một số danh lam thắng cảnh có di tích lịch sử mà mình đã đến hoặc đã biết. Câu này đòi hỏi HS vừa phải biết xếp hạng đối tượng (không phải mọi nơi đã đến, đã biết đều có thể được liệt vào loại danh lam thắng cảnh), từ đó hiểu đúng nghĩa của các yếu tố trong cụm từ Hán Việt dùng để gọi tên đối tượng, lại vừa phải biết suy luận để chỉ ra chính xác cảnh quan, địa chỉ nào có sự kết hợp "hai trong một" cả danh lam thắng cảnh lẫn di tích lịch sử.
GV có thể chọn một hình thức khởi động khác, chẳng hạn: chiếu đoạn phim ngắn có
liên quan đến các đối tượng được VB đề cập (nhân vật hoặc cảnh quan, di tích); mời HS tham gia trò chơi để xác định từ ngữ hay hình ảnh thể hiện được tinh thần chung toát lên từ VB đọc hay từ toàn bộ hoạt động sắp triển khai;… Dù chọn hình thức nào, tất cả đều phải hướng đến đáp ứng yêu cầu cần đạt của bài học: giúp HS nắm được đặc điểm của loại VB giới thiệu về một danh lam thắng cảnh hoặc di tích lịch sử (trong đó có cách triển khai thông tin mang nhiều nét khu biệt).
Hoạt động 2 Đọc văn bản
GV cho HS (1 - 2 em) đọc to VB, nhắc các em chú ý những chỉ dẫn về chiến lược đọc trong các thẻ ở bên phải VB. Các chiến lược đọc chủ yếu cần vận dụng là theo dõi, hình dung, liên hệ và suy luận. Các chiến lược đọc này hoàn toàn phù hợp với loại VB thuyết minh về một danh lam thắng cảnh hoặc di tích lịch sử (có thuật lại một hành trình giả định, có miêu tả cảnh quan, có "hồi cố" các sự kiện trong sử sách và có tổng hợp các dữ kiện để đưa ra nhận xét, đánh giá chung về đối tượng).
Hoạt động 3 Khám phá văn bản
Về tác giả và xuất xứ của VB, GV cho HS đọc lại hai cước chú có liên quan để nắm được một số thông tin cốt yếu (không cần tìm hiểu sâu). Nếu phải đặt câu hỏi thì nội dung hỏi nên tập trung vào "thẩm quyền" của người viết khi cung cấp những thông tin về Yên Tử - một danh lam thắng cảnh nổi tiếng, cũng là nơi có nhiều di tích lịch sử đặc biệt quý giá. Ví dụ: Tác giả hoạt động chủ yếu ở lĩnh vực nào và có tác phẩm gì gần gũi với VB được học ở đây? Đối với những du khách muốn đến Yên Tử, tác giả có phải là người "dẫn đường" phù hợp hay không? Qua việc xem xét mối quan hệ giữa tác giả và đối tượng được nói tới trong VB, em có suy nghĩ gì về các yếu tố quyết định độ tin cậy của VB giới thiệu một danh lam thắng cảnh?
Dựa vào hệ thống câu hỏi và yêu cầu trong SGK, GV hướng dẫn HS tìm hiểu sâu những thông tin và cách triển khai thông tin của VB. Việc sử dụng các câu hỏi có sẵn
Dựa vào hệ thống câu hỏi và yêu cầu trong SGK, GV hướng dẫn HS tìm hiểu sâu những thông tin và cách triển khai thông tin của VB. Việc sử dụng các câu hỏi có sẵn cần linh hoạt: có thể đảo trật tự trong trường hợp cần thiết hoặc chi tiết hoá một số câu hỏi lớn thành nhiều câu hỏi nhỏ để HS dễ trả lời. Trong khi phân tích lần lượt từng phần, từng đoạn VB, cần chú ý bám sát yêu cầu cần đạt của bài học, tránh biến giờ học thành giờ phô bày hiểu biết của các cá nhân (GV và HS) về Yên Tử.
SGK nêu tất cả 7 câu hỏi, đáp ứng yêu cầu tác động vào nhiều cấp độ tư duy của người học.
Câu 1, câu 2 thuộc loại câu hỏi nhận biết (nhận biết loại VB, nội dung chính và bố cục của VB).
Câu 3, câu 4, câu 5 thuộc loại câu hỏi phân tích, suy luận (phân tích sự tương ứng giữa nhan đề VB và nội dung thông tin được triển khai; phân tích sự kết hợp giữa miêu tả với dẫn
tư liệu lịch sử; suy luận về mối quan hệ giữa đòi hỏi của loại VB đối với thao tác giải thích và việc vận dụng nó một cách tự nhiên của tác giả).
Câu 6, câu 7 thuộc loại câu hỏi đánh giá, vận dụng (đánh giá tác dụng của yếu tố biểu cảm và sơ đồ được dùng trong VB; vận dụng những kiến thức ngoài SGK để có cái nhìn bao quát, khách quan hơn về những hạn chế tất yếu của VB thông tin).
Khi hướng dẫn HS tìm hiểu VB theo những câu hỏi trong SGK, GV có thể tham khảo các gợi ý sau:
Câu hỏi 1
Câu hỏi yêu cầu HS "gọi tên" được chính xác loại, thể loại của VB. Muốn "gọi tên" đúng, HS cần nhớ lại những kiến thức đã học về các loại VB chính có trong SGK Ngữ văn từ lớp 6 trở đi, đồng thời cũng phải nhận ra được những mách bảo ở phần Giới thiệu bài học và Tri thức ngữ văn.
Về vế thứ nhất của câu hỏi, HS có thể đưa ra những câu trả lời khác nhau: VB thông tin, VB thuyết minh, VB giới thiệu một danh lam thắng cảnh, VB giới thiệu một di tích lịch sử. Qua tình huống này, GV cần cho các em thấy việc phân loại VB có thể được thực hiện theo nhiều cấp độ khác nhau. Câu trả lời hợp lí nhất là: Yên Tử, núi thiêng thuộc VB thuyết minh (một tiểu loại của VB thông tin), có nội dung giới thiệu danh lam thắng cảnh, ít nhiều kết hợp với việc giới thiệu các di tích lịch sử nằm trong danh lam thắng cảnh đó.
Vế thứ hai của câu hỏi nhắc HS phải luôn có ý thức đưa ra những căn cứ xác đáng mỗi khi khẳng định một vấn đề nào đó. Cụ thể, ở đây, HS phải nêu được các ý về mục đích viết của tác giả, nội dung giới thiệu về đối tượng và cách triển khai thông tin trong VB, việc kết hợp phương tiện ngôn ngữ và phương tiện phi ngôn ngữ như một "thao tác" mà người viết không thể bỏ qua.
Câu hỏi 2 Câu hỏi hướng đến việc nắm bắt chính xác nội dung, cấu trúc, cách triển khai thông tin trong VB. GV lưu ý HS về cách phân đoạn của tác giả, nhắc các e
Câu hỏi 2
Câu hỏi hướng đến việc nắm bắt chính xác nội dung, cấu trúc, cách triển khai thông tin trong VB.
GV lưu ý HS về cách phân đoạn của tác giả, nhắc các em xem lại những ý trong phần Tri thức ngữ văn nói về cách triển khai thường thấy ở loại VB giới thiệu một danh lam thắng cảnh, từ đó, xác định một cách hợp lí bố cục của VB Yên Tử, núi thiêng.
Có thể chia VB thành 4 phần: + Phần giới thiệu khái quát về Yên Tử (từ đầu đến thêm quyến rũ du khách bốn phương). + Phần miêu tả một hành trình có thể lựa chọn để đến với danh sơn Yên Tử (từ Yên Tử ngày nay thuộc thành phố Uông Bí đến đến nơi mà mình mơ ước).
Phần thuyết minh cụ thể về Yên Tử cùng các sự kiện, di tích có liên quan (từ Tên xa xưa của Yên Tử là Núi Voi đến chính là Phù Vân quốc sư?).
Phần khẳng định những yếu tố cốt lõi làm nên núi thiêng Yên Tử (đoạn còn lại). - Để giúp HS trả lời được ý sau cùng của câu hỏi, GV có thể nêu thêm một số câu hỏi gợi dẫn: Tác giả đã dẫn dắt sự chú ý của người đọc như thế nào? Sự tiếp nối giữa các phần VB có lần lượt giải đáp được những tò mò liên tục nảy sinh trong em về Yên Tử hay không? Theo em, mạch kết nối các nội dung của VB đã hợp lí chưa? Lưu ý: Không nhất thiết phải khẳng định rằng VB đã có một bố cục hay cách tổ chức nội dung hoàn hảo. Hoàn toàn có thể chọn những phương án bố cục khác cho VB mà vẫn đảm bảo được mục đích thuyết minh về cảnh quan Yên Tử.
Câu hỏi 3
Câu hỏi hướng HS chú ý tới mối liên hệ giữa nhan đề VB và nội dung được triển khai sau đó, đồng thời, thực sự hiểu được giá trị cốt lõi của danh lam thắng cảnh Yên Tử.
GV cho HS trao đổi theo cặp hay theo nhóm để nêu những lí do chính khiến Yên Tử được nhìn nhận là "núi thiêng":
Yên Tử gắn liền với tên tuổi của những thiền sư danh tiếng, trong đó có người nguyên là vị vua anh minh lỗi lạc (Trần Nhân Tông).
Yên Tử là "chốn tu hành tuyệt đỉnh của những người mộ đạo". + Yên Tử có cảnh quan hùng vĩ, tươi đẹp mà con đường hành hương lên đỉnh đòi hỏi sự kiên trì và ý thức "tìm về nguồn" nhằm thanh lọc tâm hồn.
Lưu ý: Trong VB, không phải lúc nào tác giả cũng trình bày trực tiếp lí do khiến Yên Tử được nhìn nhận là "núi thiêng". GV có thể liên hệ đến những tài liệu văn
Lưu ý: Trong VB, không phải lúc nào tác giả cũng trình bày trực tiếp lí do khiến Yên Tử được nhìn nhận là "núi thiêng". GV có thể liên hệ đến những tài liệu văn hoá, lịch sử khác để giúp HS hiểu thêm vấn đề, dựa trên những gì được tác giả gợi mở. Tuy nhiên, cần tránh sa đà vào sự kiện vua Trần Thái Tông bỏ ngôi, bỏ Thăng Long để lên Yên Tử hay việc Trần Nhân Tông khai mở Thiền phái Trúc Lâm vì các sự kiện này tuy lí thú nhưng việc nắm được bản chất của chúng không hề dễ dàng.
Câu hỏi 4
Câu hỏi hướng tới làm sáng tỏ cách tác giả tổ chức VB, sử dụng các thao tác thuyết minh quen thuộc ở loại VB giới thiệu một danh lam thắng cảnh hay một di tích lịch sử.
GV có thể đặt thêm một số câu hỏi gợi dẫn để HS dễ trả lời, ví dụ: Các đoạn miêu tả chủ yếu nằm ở phần nào của VB? Các đoạn dẫn tư liệu lịch sử gắn với nội dung thuyết minh cụ thể gì? Nếu thêm các đoạn miêu tả và giảm bớt các đoạn dẫn tư liệu lịch sử hoặc ngược lại
thì hiệu quả tác động đến người đọc sẽ như thế nào?
GV lưu ý HS: Khi trả lời câu hỏi chính trong SGK, cần hiểu rõ ý tưởng của tác giả trong việc dùng các thao tác thuyết minh kể trên. Vốn hiểu biết về văn hoá, lịch sử cũng như những trải nghiệm thực tế của tác giả với "núi thiêng" Yên Tử có thể rất phong phú, nhưng khi đưa thông tin, tác giả phải chắt lọc, tiết chế, nhằm giúp người đọc (đồng thời cũng có thể là những du khách tiềm tàng) không bị rối trong việc hình thành cái nhìn tổng quan về Yên Tử.
Sau khi cho HS trao đổi, GV có thể đưa các em đến đánh giá khái quát: Sự đan xen giữa miêu tả và dẫn tư liệu lịch sử trong VB tỏ ra rất phù hợp với đối tượng được giới thiệu. Đó là một cảnh quan non nước đẹp đẽ; một địa chỉ lịch sử, văn hoá, tôn giáo có một không hai của đất nước. Các đoạn miêu tả và dẫn tư liệu lịch sử có tỉ lệ khá cân bằng, quan trọng nhất là phù hợp với từng nội dung thông tin cụ thể, giúp người đọc vừa được thấy, vừa được suy ngẫm về một nơi chốn đáng tham quan, ngưỡng vọng.
Câu hỏi 5
Câu hỏi yêu cầu HS bám sát VB để hiểu sâu các nội dung thông tin, từ đó nhận ra được những đòi hỏi chung của loại VB giới thiệu một cảnh quan.
GV cho HS phát hiện các chi tiết và lược ghi chúng lên bảng để HS thấy rõ hơn sự cần thiết của việc giải thích tên gọi của một số vị trí và di tích trong quần thể du lịch tâm linh Yên Tử. Có thể nêu câu hỏi: Nếu không có sự giải thích đó của tác giả, yếu tố tâm lí nào có thể nảy sinh ở người đọc khi tiếp nhận VB?
GV giúp HS nhận thức được: Trong VB giới thiệu một cảnh quan (danh lam thắng cảnh), việc giải thích tên gọi của một số đối tượng được đề cập rất cần thiết, vì tên gọi ấy không chỉ nói lên đặc điểm vốn có của đối tượng mà còn cho thấy cách cảm nhận của
bao thế hệ người Việt về đối tượng đó. Chính cách cảm nhận ấy khiến cho đối tượng được "mĩ hoá" hoặc được linh thiêng hoá, toả ra một vầng sáng tinh thần riêng,
bao thế hệ người Việt về đối tượng đó. Chính cách cảm nhận ấy khiến cho đối tượng được "mĩ hoá" hoặc được linh thiêng hoá, toả ra một vầng sáng tinh thần riêng, vẫy gọi du khách gần xa đến tham quan, chiêm ngưỡng.
Lưu ý: Việc giải thích tên gọi của đối tượng không phải bao giờ cũng được thực hiện theo yêu cầu khách quan, khoa học. Nhiều khi, người viết VB đã dẫn những cách giải thích có màu sắc dân gian, phản ánh mong muốn, cảm nhận chủ quan của người đời hơn là căn cứ vào bản chất khách quan của đối tượng. Chính vì vậy, trong những VB thuộc loại này, nhiều tác giả thường dùng một số cụm từ như: tục truyền, người ta cho rằng, dân địa phương thường kể câu chuyện,…
Câu hỏi 6
Câu hỏi này hướng HS lưu ý đến kĩ thuật viết VB thuyết minh, trong đó có việc sử dụng yếu tố biểu cảm một cách hợp lí.
GV cho HS trao đổi để chỉ ra được những dấu hiệu đặc trưng của yếu tố biểu cảm trong VB: những tính từ biểu đạt cảm xúc; những nhận định mang sắc thái ca ngợi, tôn vinh; những câu thơ được trích dẫn; cảm hứng của tác giả đối với việc miêu tả cảnh vật;… Về vế thứ hai của câu hỏi, GV có thể nêu câu hỏi gợi dẫn: Nếu bỏ hết những từ ngữ, những câu hay đoạn mang đậm màu sắc biểu cảm, VB sẽ như thế nào? Phải chăng sự nồng nhiệt của người giới thiệu cảnh quan luôn tác động mạnh mẽ đến cảm nhận và hứng thú của người đọc, người nghe?
Câu hỏi 7
Câu hỏi này lưu ý HS về giá trị của sơ đồ, hình ảnh trong VB giới thiệu một danh lam thắng cảnh hoặc di tích lịch sử, về đặc điểm có tính thời sự của VB thông tin, nhất là loại VB nói tới những đối tượng có bộ phận dễ bị thay đổi theo thời gian.
GV nhắc HS đọc lại đoạn viết về chuyến đi giả định dành cho du khách ở phần thứ hai của VB, sau đó, đối chiếu nội dung đoạn viết với sơ đồ in kèm để có thể hình dung cụ thể hơn về con đường lên Yên Tử. Cần giúp HS thấy được sự hỗ trợ tích cực của sơ đồ cho những đoạn thuyết minh bằng lời (ngôn ngữ). Chính sơ đồ đã trực quan hoá nội dung biểu đạt của các câu, chữ, giúp người đọc như được nhìn thấy đối tượng trước mắt.
GV có thể huy động kiến thức ngoài VB về việc quy hoạch, phát triển khu du lịch tâm linh Yên Tử để giúp HS nhận ra hàm ý của vế sau câu hỏi. Cần lưu ý HS: Từ thời điểm VB ra đời đến nay, đường đến danh lam thắng cảnh Yên Tử đã có nhiều thay đổi với một số tuyến đường mới và phương tiện di chuyển cũng đã được hiện đại hoá. Qua đây, có thể thấy, hiệu chỉnh sơ đồ của một khu di tích qua các lần xuất bản luôn là việc cần thiết.
Hoạt động 4 Viết kết nối với đọc
GV cần dành khoảng 5 - 7 phút cuối của giờ học cho HS viết.
THỰC HÀNH TIẾNG VIỆT BIẾN ĐỔI CẤU TRÚC CÂU 1. Phân tích yêu cầu cần đạt HS nhận biết được mục đích, ý nghĩa của việc làm biến đổi cấu trúc câu khi tạo lập VB. -
THỰC HÀNH TIẾNG VIỆT
BIẾN ĐỔI CẤU TRÚC CÂU
1. Phân tích yêu cầu cần đạt
HS nhận biết được mục đích, ý nghĩa của việc làm biến đổi cấu trúc câu khi tạo lập VB. - HS biết làm biến đổi cấu trúc câu trong quá trình viết và lựa chọn các hình thức thể hiện để đạt được hiệu quả tối đa trong truyền đạt thông tin.
2. Gợi ý tổ chức hoạt động dạy học
Hoạt động 1 Hình thành kiến thức mới
GV cho HS đọc, trao đổi về nội dung của mục Biến đổi và mở rộng cấu trúc câu ở phần Tri thức ngữ văn (SGK, trang 91), phối hợp với việc tìm hiểu các ví dụ được nêu và phân tích ở các trang 95, 96 trong khung Nhận biết một số hình thức biến đổi cấu trúc câu. Nhắc các em chú ý 3 vấn đề cơ bản: mục đích của việc làm biến đổi cấu trúc câu; các tình huống cần làm biến đổi cấu trúc câu; cách làm biến đổi cấu trúc câu. - GV yêu cầu HS làm việc nhóm để thực hiện các bài tập, sau đó, cho các em trình bày kết quả và nhận xét về sản phẩm của nhau. - Hướng dẫn thực hiện bài tập 1: Bài tập này đưa ra 3 câu (ngữ liệu), yêu cầu HS làm biến đổi cấu trúc của từng câu và nhận xét về kết quả đạt được. Lưu ý HS: không phải bất cứ hành vi "biến đổi" nào cũng làm câu có sự biến đổi về cấu trúc; khi làm biến đổi cấu trúc câu, có thể thêm hoặc bớt một số từ ngữ để đảm bảo câu viết đúng ngữ pháp. + Câu a: Câu gốc chủ yếu đưa thông tin về đối tượng tán thưởng (ai tán thưởng). Để làm biến đổi cấu trúc câu, cần chuyển trọng tâm thông tin nhằm vào đối tượng được tán thưởng (cái gì được tán thưởng). Theo đó, câu mới có thể là: "Bài thuyết minh của em về danh lam thắng cảnh được các bạn tán thưởng.". Lúc này câu có cấu trúc chủ động đã được chuyển thành câu có cấu trúc bị động.
Câu b: Cũng thực hiện theo cách đã làm với câu a để có các câu biến đổi cấu trúc như: (1) "Một số hoạt động vô ý thức do con người tiến hành đã phá vỡ sự toàn v
Câu b: Cũng thực hiện theo cách đã làm với câu a để có các câu biến đổi cấu trúc như: (1) "Một số hoạt động vô ý thức do con người tiến hành đã phá vỡ sự toàn vẹn của cảnh quan." hoặc (2) "Sự toàn vẹn của cảnh quan đã bị phá vỡ do con người tiến hành một số hoạt động vô ý thức." và (3) "Con người đã phá vỡ sự toàn vẹn của cảnh quan vì một số hoạt động vô ý thức.". Câu gốc nhấn mạnh thông tin vào chủ thể của hoạt động (con người); câu biến đổi cấu trúc (1) nhấn mạnh hoạt động và tính chất của hoạt động mà chủ thể tiến hành (một số hoạt động vô ý thức); câu biến đổi cấu trúc (2) nhấn mạnh hậu quả việc làm của con người (sự toàn vẹn của cảnh quan đã bị phá vỡ); câu biến đổi cấu trúc (3) đã chuyển cụm động từ thành một cụm danh từ (bỏ từ tiến hành). Lưu ý: trong câu biến đổi cấu trúc (2), cấu trúc chủ động đã được thay thế bằng cấu trúc bị động. + Câu c: Có thể chuyển câu gốc thành: (1) "Sự ra đời của tác phẩm ấy đã đánh dấu một thành tựu mới của truyện ngắn Việt Nam hiện đại." hoặc (2) "Một thành tựu mới của truyện
ngắn Việt Nam hiện đại đã được đánh dấu bằng sự ra đời của tác phẩm ấy.". Trong câu biến đổi cấu trúc (1), cụm chủ ngữ - vị ngữ đã được thay thế bằng cụm danh từ; trong câu biến đổi cấu trúc (2), cấu trúc chủ động của câu gốc đã được thay bằng cấu trúc bị động với sự xác định khác trước về trọng tâm thông tin. - Hướng dẫn thực hiện bài tập 2: Bài tập này đặt ra 2 yêu cầu chính: làm biến đổi câu bị động thành câu chủ động và nhận xét về kết quả đạt được. + Chuyển câu bị động thành câu chủ động: Người đời sau gọi khối đá có hình người trên đỉnh Yên Tử là tượng An Kỳ Sinh. + Nhận xét về sự thay đổi nghĩa của câu sau khi biến đổi cấu trúc: câu đặt trọng tâm thông tin vào "người đời sau" (đúng hơn là "hành vi" của "người đời sau"), thay cho trọng tâm đặt vào "khối đá có hình người" như ở câu gốc. - Hướng dẫn thực hiện bài tập 3: Bài tập này đặt ra các yêu cầu ngược lại với yêu cầu ở bài tập 2 nhưng quy trình thực hiện vẫn giống như trước. + Căn cứ để xếp câu đã cho vào kiểu câu chủ động: không xuất hiện các từ được, bị vốn rất đặc trưng của câu bị động(1). + Biến đổi cấu trúc của câu từ chủ động sang bị động theo hướng 1: Phù Vân quốc sư đã được chính Thái Tông gọi là Trúc Lâm đạo sĩ, khi vị vua này nhắc lại câu nói của ông. + Biến đổi cấu trúc câu theo hướng 2: "Chính vì quan điểm mới về Thiền thể hiện qua câu nói này, Phù Vân quốc sư đã được gọi là Trúc Lâm đạo . Lưu ý: Khi làm biến đổi
(1) Tuy vậy, cần lưu ý, không phải hễ câu có được, bị là câu bị động, chẳng hạn, trong những câu như Họ được gặp lại thầy giáo cũ của mình, Tôi bị ốm,… được, bị chỉ biểu thị ý "mong muốn" hay "không mong muốn" của chủ thể đối với sự việc được nêu ở vị ngữ. Ngược lại, có nhiều câu được coi là "bị động" vì chủ ngữ không biểu thị chủ thể mà biểu thị đối thể của hoạt động được nêu ở vị ngữ nhưng không hề có từ được, bị, chẳng hạn như: Bàn lau rồi, Thư gửi đi đã lâu,…
VĂN BẢN 2. VĂN HOÁ HOA - CÂY CẢNH (Trần Quốc Vượng) 1. Phân tích yêu cầu cần đạt HS nhận biết được đề tài, thông điệp của VB và ý nghĩa của việc chọn VB này để
VĂN BẢN 2. VĂN HOÁ HOA - CÂY CẢNH
(Trần Quốc Vượng)
1. Phân tích yêu cầu cần đạt
HS nhận biết được đề tài, thông điệp của VB và ý nghĩa của việc chọn VB này để đưa vào bài học có chủ đề chung là Đi và suy ngẫm.
HS phân tích được các thông tin cơ bản của VB cũng như cách tiếp cận vấn đề độc đáo, giàu tính phát hiện của tác giả.
HS biết đặt câu hỏi về những biểu hiện đa dạng của văn hoá truyền thống trong cuộc sống, từ đó biết giữ gìn, phát huy những giá trị văn hoá tốt đẹp mà tiền nhân đã tạo nên.
2. Gợi ý tổ chức hoạt động dạy học
Hoạt động 1 Khởi động
Cả hai câu hỏi gợi ý trong SGK đều thiết lập được mối liên hệ với nội dung cốt lõi của VB Văn hoá hoa - cây cảnh. GV có thể sử dụng các câu hỏi này để thực hiện việc khởi động giờ học.
GV cũng có thể tạo ra những tình huống phù hợp, sinh động khác để dẫn dắt HS bước vào giờ học một cách tự nhiên, thoải mái. Hoạt động 2 Đọc văn bản GV "đọc mẫu"
GV cũng có thể tạo ra những tình huống phù hợp, sinh động khác để dẫn dắt HS bước vào giờ học một cách tự nhiên, thoải mái.
Hoạt động 2 Đọc văn bản
GV "đọc mẫu" một đoạn rồi cho 1 - 2 HS đọc tiếp phần còn lại. Cần nhắc các em chú ý những thẻ gợi ý về chiến lược đọc.
VB có nhiều từ ngữ khó, trong đó có các địa danh cổ, những từ ngữ Hán Việt mang tính chuyên môn. Việc giải thích từ ngữ nên được kết hợp với việc đọc (thành tiếng), tránh tiến hành hoạt động này một cách riêng biệt, vì khi thoát khỏi ngữ cảnh đọc, dù GV có nói sâu về các từ ngữ khó (đặc biệt là từ và thành ngữ Hán Việt) thì HS vẫn thấy không dễ tiếp nhận. Theo đó, khi "đọc mẫu", sau khi đọc nguyên văn câu của tác giả, GV nên "đọc lại" câu đó với sự điều chỉnh về từ ngữ (thay một số từ ngữ khó bằng từ ngữ giản dị, quen thuộc hơn).
Hoạt động 3 Khám phá văn bản
Khi cho HS tìm hiểu nhanh về tác giả (dựa vào cước chú có liên quan trong SGK), GV có thể nói thêm về phong cách viết vừa bác học, vừa dân dã của Giáo sư Trần Quốc Vượng. Trong một số bài viết hướng về đại chúng, tác giả thường sử dụng văn phong giàu yếu tố khẩu ngữ, gây cho người đọc cảm tưởng đang được nghe tác giả trực tiếp nói chuyện. Nhìn chung, việc bổ sung thông tin này là cần thiết, giúp HS có tâm thế tiếp nhận VB nhẹ nhàng, gạt được ấn tượng chủ quan về sự "khúc mắc" hay "tuỳ hứng" trong cách diễn đạt mà tác giả đã chọn.
GV có thể hướng dẫn HS phân tích VB theo từng phần của bố cục hoặc theo hệ thống vấn đề, nhưng dù chọn cách nào thì cũng cần bám vào các câu hỏi đã có trong SGK, với sự gia giảm, điều chỉnh hợp lí (điều chỉnh về cách diễn đạt hay trật tự của câu hỏi). GV cũng cần phát triển các câu hỏi đã có thành nhiều câu hỏi nhỏ để giúp HS có thể tiếp cận dễ dàng hơn bản chất các vấn đề.
Khi thiết kế hệ thống câu hỏi trong SGK, người biên soạn luôn hình dung hệ thống đó phải có đủ loại câu hỏi phù hợp với các cấp độ của tư duy: nhận biết; phân tích, suy luận; đánh giá, vận dụng. Tuy nhiên, trên thực tế, việc sắp xếp hệ thống câu hỏi không tuân theo trật tự máy móc, vì phải đảm bảo cái nhìn toàn diện về các yếu tố chi phối khác. Tính tự nhiên của hệ thống câu hỏi là điều cần được chú ý thích đáng. Trong một số câu hỏi, có sự kết hợp giữa nhận biết và phân tích hoặc giữa phân tích và vận dụng. Đây là những điều GV cần ý thức được khi sử dụng hệ thống câu hỏi trong SGK để tổ chức hoạt động dạy học.
Câu hỏi 1
Câu hỏi hướng HS nhận thức được điều sâu xa cần đạt tới của việc học (đọc, viết) những VB giới thiệu về danh lam thắng cảnh hay di tích lịch sử, đồng thời, giải toả phần nào những băn khoăn có thể có về sự xuất hiện của VB Văn hoá hoa - cây cảnh trong bài học.
GV có thể nêu một số câu hỏi gợi dẫn như: VB "Yên Tử, núi thiêng" đã học thuộc loại VB gì? Xét trên phương diện loại VB, có điểm nào chung giữa VB nói trên với
GV có thể nêu một số câu hỏi gợi dẫn như: VB "Yên Tử, núi thiêng" đã học thuộc loại VB gì? Xét trên phương diện loại VB, có điểm nào chung giữa VB nói trên với VB "Văn hoá hoa - cây cảnh"? Loại thông tin mà hai VB đưa tới khác biệt nhau như thế nào? Phải chăng những thông tin chứa đựng trong VB "Văn hoá hoa - cây cảnh" chính là hiểu biết mà mỗi người cần bồi đắp sau những chuyến du ngoạn?
Trên cơ sở câu trả lời của HS, GV cần giúp các em hiểu rõ vấn đề được câu hỏi nêu lên: Sự thực, với việc học VB Yên Tử, núi thiêng (VB 1), GV và HS đã có thể đáp ứng được hết những yêu cầu cần đạt của bài học về đọc VB theo loại, thể loại. Đến phần Viết, bài viết tham khảo Bia Vĩnh Lăng góp phần củng cố cho HS kiến thức về loại VB thuyết minh về một danh lam thắng cảnh hay di tích lịch sử. Như vậy, ở vị trí VB 2, nếu tiếp tục chọn một VB giới thiệu danh lam thắng cảnh hay di tích lịch sử nữa thì sẽ gây cảm giác thừa. Vì lẽ đó, vị trí này cần dành cho một VB mang nhiều thông điệp văn hoá hơn các VB chỉ đưa những thông tin thông thường về cảnh quan, di tích. Văn hoá hoa - cây cảnh của Trần Quốc Vượng
là VB đáp ứng được yêu cầu nêu trên.
Câu hỏi 2
Câu hỏi kết hợp cả yêu cầu đơn giản và yêu cầu ở mức độ cao hơn, hướng HS tới việc nắm bắt được "mạch" viết trong một VB vốn có nhiều yếu tố ngẫu hứng, in đậm phong cách riêng của tác giả.
GV cho HS trao đổi nhóm để thực hiện yêu cầu của câu hỏi. Riêng với yêu cầu của vế thứ nhất, cần lưu ý các em về những dấu hiệu tách đoạn và chia nội dung thành từng phần của VB gốc. Có thể xác định bố cục của VB như sau:
Phần 1 (từ đầu đến tuy gần mà xa...): thiên nhiên như một đối tượng phong phú, kì bí, luôn thách thức mọi nỗ lực tìm hiểu, khám phá của con người.
Phần 2 (từ Thiên nhiên Đông Nam Á đến tục thờ cây cối...): đặc điểm của thiên nhiên Đông Nam Á và truyền thống sống hài hoà với thiên nhiên của người phương Đông (trong đó có Việt Nam).
Phần 3 (từ Văn minh lớn Trung Hoa đến cơ chế thị trường...): những biểu hiện của cách "tạo dựng một thiên nhiên thứ hai hài hoà với thiên nhiên thứ nhất" trong các nền văn hoá Trung Hoa, Nhật Bản, Việt Nam (qua những chứng tích cụ thể).
Phần 4 (còn lại): thú chơi hoa - cây cảnh trong nền văn hoá Việt Nam. - Để giúp HS nhận xét, đánh giá được về cách tác giả triển khai ý tưởng và trình bày thông tin, GV có thể cho các em trao đổi nhóm để xây dựng một sơ đồ đơn giản, làm rõ các tầng bậc thông tin được lần lượt đưa ra: Quan niệm  Nguyên tắc ứng xử  Các việc làm và kết quả cụ thể. Cần lưu ý HS: Những đoạn liên hệ đến cách ứng xử với thiên nhiên của người Trung Hoa, người Nhật chỉ mang tính dẫn dắt, hướng tới việc tìm ra nét tương đồng chứ không phải là nét khác biệt giữa các nền văn hoá Trung Hoa, Nhật Bản và Việt Nam.
Câu hỏi 3 Câu hỏi định hướng cho HS nhận thức được vấn đề cơ bản: Người Việt thực sự có một văn hoá ứng xử riêng với thiên nhiên qua lịch sử tồn tại và phát tri
Câu hỏi 3
Câu hỏi định hướng cho HS nhận thức được vấn đề cơ bản: Người Việt thực sự có một văn hoá ứng xử riêng với thiên nhiên qua lịch sử tồn tại và phát triển dài lâu của mình. Các thông tin đưa ra dĩ nhiên phải đạt được sự đa dạng cần thiết. Đây là điều mà người viết VB thông tin phải đặc biệt chú ý.
GV cho HS phát biểu ý kiến và ghi các loại thông tin được các em phát hiện lên bảng, sau đó định danh và phân loại chúng. Có thể nói đến các loại thông tin sau:
Thông tin về quan niệm sống hài hoà với thiên nhiên được thể hiện qua ngôn ngữ (văn, thơ, cách đặt địa danh,…).
Thông tin về các công trình nhân tạo được bố trí hài hoà với cảnh quan thiên nhiên tươi đẹp.
Thông tin về sự tồn tại trải đều trên nhiều vùng đất của các làng, trại, chợ hoa - cây cảnh.
Thông tin về cách người Việt đưa thiên nhiên vào mỗi ngôi nhà, vào từng không gian cư trú riêng tư.
GV cần lưu ý HS: Các thông tin kể trên tuy được trình bày tách bạch nhưng giữa chúng vẫn có những điểm giao thoa.
Câu hỏi 4
Câu hỏi lưu ý HS về một loại thông tin đặc biệt thường xuất hiện trong các VB viết về văn hoá nói chung hay về các di tích nói riêng (khái niệm di tích trong Luật Di sản văn hoá dùng để chỉ chung danh lam thắng cảnh và di tích lịch sử - điều này đã được đề cập trong phần Tri thức ngữ văn cho GV).
GV đặt câu hỏi khơi gợi: Em có suy nghĩ gì về vai trò của ngôn ngữ, văn học trong việc lưu giữ các chứng tích văn hoá, lịch sử? Ở một đất nước có lịch sử không yên bình, nhiều công trình mang tính chất vật thể đã bị huỷ hoại, muốn "tìm lại dấu xưa", các cứ liệu ngôn ngữ, văn học có tầm quan trọng đặc biệt như thế nào?
Trên cơ sở những trao đổi của HS, cần hướng các em tới việc nắm bắt một số luận điểm chính:
Trong những yếu tố làm nên văn hoá, có thể phân ra yếu tố vật thể và yếu tố phi vật thể. Khi nghiên cứu về văn hoá, nhất thiết không được bỏ qua yếu tố phi vật thể, trong đó, cần đặc biệt chú ý các chứng tích ngôn ngữ và văn học.
Ngôn ngữ và văn học luôn phản ánh cách tư duy, cách hiểu, cách cảm của một cộng đồng người về thế giới. Tìm hiểu các chứng tích ngôn ngữ và văn học chính là tìm hiểu bản chất của mọi quan hệ ứng xử được ngưng kết, phản chiếu trong những phương tiện ngôn từ.
Việc đưa ra các chứng tích về ngôn ngữ và văn học đòi hỏi người nghiên cứu văn hoá phải có tầm hiểu biết rộng, luôn nhìn ra mối quan hệ liên đới giữa các vấn đề
Việc đưa ra các chứng tích về ngôn ngữ và văn học đòi hỏi người nghiên cứu văn hoá phải có tầm hiểu biết rộng, luôn nhìn ra mối quan hệ liên đới giữa các vấn đề được xem xét, bàn luận.
Câu hỏi 5
Câu hỏi đáp ứng một yêu cầu cần đạt của bài học liên quan đến cách trình bày thông tin trong VB. Khi trả lời câu hỏi 2, HS phần nào đã chạm đến vấn đề này. Ở đây, câu hỏi xoáy sâu vào "mạch liên kết giữa các thông tin", đòi hỏi HS phải kế thừa được kết quả của việc phân cấp thông tin đã thực hiện trước đó. - GV cho HS nêu cảm nhận chung về cách dẫn dắt của tác giả khi đưa người đọc đến với thông tin cốt lõi của VB (vốn được xác định rõ ngay ở nhan đề). Từ cảm nhận chung, HS sẽ thực hiện việc phân tích cụ thể về "mạch liên kết". Lưu ý: Cần ý thức được rằng, với nhiều người đọc, cách dẫn dắt của tác giả có vẻ tuỳ hứng và hơi "rối". Đây là cảm nhận dễ nảy sinh khi
người đọc mới tiếp xúc với VB, chưa thực sự nhận ra phong cách viết "đặc hữu" của tác giả. - Để nhận xét thoả đáng về các câu trả lời của HS, cần căn cứ vào nội dung gợi ý sau đây: + Các thông tin được đưa ra theo một tầng bậc hợp lí, cái chung, cái bao hàm được nói trước; cái cụ thể, chi tiết được nói sau. + Những đoạn sau luôn "láy lại" một cụm từ, một khái niệm hay một ý đã xuất hiện hay đã được trình bày ở đoạn trước đó. + Các cứ liệu ngôn ngữ, văn học là yếu tố nổi trội được dùng để kết nối các thông tin. Sự quảng bá của tác giả có thể gây cho người đọc cảm giác ngỡ ngàng, thú vị khi ông chỉ ra sự ngưng kết của văn hoá trong các địa danh, các cách nói thông thường và trong các câu thơ đã được nhiều người biết tới hay thuộc lòng.
Câu hỏi 6
Câu hỏi hướng HS quan tâm tìm hiểu những yếu tố cơ bản nào làm nên giá trị của một VB thông tin (thông thường, khi đọc VB thông tin, độc giả chỉ nhớ thông tin được đưa tới mà quên tác giả, dẫn đến việc coi nhẹ các yếu tố thuộc về chủ quan người viết). - GV cho HS trao đổi về vấn đề trên cơ sở so sánh VB Văn hoá hoa - cây cảnh với một số VB thông tin đã học.
Các ý cần phải làm nổi bật qua trao đổi: + VB được kết dệt nên từ nhiều VB khác, tạo được sự tham chiếu thú vị, giúp người đọc nắm được tổng quan vấn đề. + VB là kết quả của việc vận dụng nhuần nhuyễn phương pháp nghiên cứu liên ngành, theo đó, đã phát hiện ra những khía cạnh mới, giá trị mới của một đối tượng đã quen thuộc.
THỰC HÀNH TIẾNG VIỆT MỞ RỘNG CẤU TRÚC CÂU 1. Phân tích yêu cầu cần đạt HS nhận biết được mục đích, ý nghĩa của việc mở rộng cấu trúc câu khi tạo lập VB. - HS bi
THỰC HÀNH TIẾNG VIỆT
MỞ RỘNG CẤU TRÚC CÂU
1. Phân tích yêu cầu cần đạt
HS nhận biết được mục đích, ý nghĩa của việc mở rộng cấu trúc câu khi tạo lập VB. - HS biết mở rộng cấu trúc của câu định viết hoặc đã viết để đạt được hiệu quả tối đa trong truyền đạt thông tin.
2. Gợi ý tổ chức hoạt động dạy học
Hoạt động 1 Hình thành kiến thức mới
GV yêu cầu HS đọc lại nội dung có liên quan đến tiết học đã được trình bày ở phần Tri thức ngữ văn (SGK, trang 91) đồng thời tìm hiểu kĩ các ví dụ được nêu trong khung Nhận biết một số hình thức mở rộng cấu trúc câu (SGK, trang 100 - 101). Cần dành thời gian
thích đáng để giải đáp thắc mắc của các em về các định nghĩa trong SGK và về sự phân biệt mang tính quy ước giữa biến đổi cấu trúc câu với mở rộng cấu trúc câu
thích đáng để giải đáp thắc mắc của các em về các định nghĩa trong SGK và về sự phân biệt mang tính quy ước giữa biến đổi cấu trúc câu với mở rộng cấu trúc câu (vấn đề sau đã được nói đến trong mục Tri thức ngữ văn cho GV ở phần viết trên).
GV có thể cho HS làm bài tập theo nhóm, sau đó, cử đại diện của một nhóm lên trình bày, các nhóm khác góp ý và đánh giá. GV cùng HS thống nhất kết quả. Lưu ý, việc mở rộng cấu trúc câu có thể có nhiều phương án khác nhau, vì vậy, GV cần khuyến khích HS tìm kiếm các lựa chọn đa dạng. Nhờ đó, các em có kĩ năng biểu đạt các ý tưởng và thông tin một cách linh hoạt và sáng tạo.
Gợi ý thực hiện bài tập 1: Mặc dù bài tập chỉ yêu cầu cho biết tác dụng của trạng ngữ trong hai câu được trích dẫn, nhưng theo định hướng thực hành của bài học, GV cần nêu giả định: Nếu câu gốc chỉ có thông tin tối giản thì hiệu quả tác động vào nhận thức của người đọc sẽ như thế nào? Qua giải đáp vấn đề này, HS sẽ hiểu được ý nghĩa của việc mở
rộng thành phần câu trong quá trình tạo lập VB.
Trong câu a, trạng ngữ đã làm cho đối tượng chính được nói tới trở nên nổi bật, do nó ngầm chứa sự so sánh các đối tượng với nhau.
Trong câu b, trạng ngữ đã giúp người đọc hiểu được toàn diện những lí do khiến Yên Tử "quyến rũ du khách bốn phương".
Gợi ý thực hiện bài tập 2: Bài tập yêu cầu so sánh hai câu có chung thông tin cốt lõi nhưng khác nhau ở quy mô câu, do câu sau thực hiện việc mở rộng thành phần của câu trước đó. Ở câu b, cụm từ mang nghĩa phiếm chỉ (thể loại nào) trong câu a đã được triển khai cụ thể hơn bằng một đoạn câu khá dài (dù là thơ cách luật (lục bát, bảy chữ, năm chữ, tứ tuyệt,…) hay thơ tự do). Theo đó, người đọc vừa có thể đoán hiểu được những thể loại mà nhà thơ đã sử dụng, vừa được củng cố thêm hiểu biết về cách phân chia các thể thơ thành hai nhóm: cách luật và tự do.
Gợi ý thực hiện bài tập 3: Để HS có thể làm được bài tập này, GV cần dành thời gian cho các em tìm hiểu kĩ các ví dụ trong khung "nhận biết".
Với câu a, có thể mở rộng cấu trúc câu bằng việc bổ sung thành phần biệt lập: Yên Tử thật sự trở thành nơi trung tâm náo nhiệt của Phật giáo Trúc Lâm chỉ từ khi vua Trần Nhân Tông - một trong những vị vua anh minh nhất của lịch sử Việt Nam - đến Yên Tử tu hành.
Với câu b, có thể mở rộng cấu trúc câu bằng việc bổ sung thành phần trạng ngữ:
Trong bối cảnh toàn cầu hoá hiện nay, nhiều ngôn ngữ trên thế giới có nguy cơ biến mất.
Với câu c, cũng có thể mở rộng cấu trúc câu bằng việc bổ sung thành phần biệt lập: Các nền giáo dục trên thế giới cần phải thay đổi nội dung và phương pháp giáo dục - những
yếu tố cốt lõi phản chiếu trình độ của một trong những hoạt động quan trọng nhất của xã hội.
VĂN BẢN 3. TÌNH SÔNG NÚI (Trần Mai Ninh) 1. Phân tích yêu cầu cần đạt HS đồng cảm được với cảm hứng sáng tác của nhà thơ. - HS phân tích được những điểm đặc sắc
VĂN BẢN 3. TÌNH SÔNG NÚI
(Trần Mai Ninh)
1. Phân tích yêu cầu cần đạt
HS đồng cảm được với cảm hứng sáng tác của nhà thơ. - HS phân tích được những điểm đặc sắc của bài thơ trên cả hai mặt: nội dung (tình yêu nước; sự gắn bó với nhân dân, đặc biệt là tầng lớp cần lao; ý thức trách nhiệm trước cộng đồng dân tộc) và nghệ thuật (hình thức thơ tự do phóng khoáng; giọng điệu hào sảng, thắm thiết; việc sử dụng hiệu quả các địa danh và câu hỏi tu từ; việc kết hợp nhuần nhuyễn bút pháp tạo hình và bút pháp suy tưởng;…).
HS biết vun đắp những tình cảm lớn hướng về đất nước, dân tộc và có ý chí hành động mạnh mẽ vì tương lai tươi sáng của cả cộng đồng.
2. Gợi ý tổ chức hoạt động dạy học Hoạt động 1 Khởi động SGK không gợi ý câu hỏi khởi động nhưng GV cần suy nghĩ về cách dẫn dắt HS vào bài học một cách tự nhiê
2. Gợi ý tổ chức hoạt động dạy học
Hoạt động 1 Khởi động
SGK không gợi ý câu hỏi khởi động nhưng GV cần suy nghĩ về cách dẫn dắt HS vào bài học một cách tự nhiên, hấp dẫn.
Tuỳ vào cách chọn điểm nhấn của giờ học, GV có thể đặt câu hỏi gợi cho HS nhớ đến những bài thơ thể hiện chủ đề quê hương, đất nước hay lịch sử dân tộc đã học, đã đọc; cũng có thể nêu vấn đề về sự dấn thân của các nhà thơ, nhà văn vào cuộc đấu tranh cách mạng, về thể thơ tự do,…
Hoạt động 2 Đọc văn bản
GV cho HS đọc VB (1 - 2 em đọc to trước lớp, số còn lại theo dõi và đọc thầm theo
SGK), nhắc các em ngắt, ngừng đúng nhịp, làm nổi bật được đặc điểm của thơ tự do và sự biến chuyển linh hoạt trong giọng điệu bài thơ (từ reo vui đến trầm lắng, suy tư; từ tiết chế đến bung toả cảm xúc,…).
Hoạt động 3 Khám phá văn bản
GV cho HS đọc cước chú về Trần Mai Ninh; cung cấp thêm một số thông tin về hoạt động cách mạng, hoạt động văn nghệ của nhà thơ vào thời điểm "đêm trước" Cách mạng tháng Tám và ở giai đoạn đầu của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Có thể kể thêm về sự hi sinh anh dũng của nhà thơ ở chiến trường miền Nam Trung Bộ (tham khảo bài báo của tác giả Kiều Mai Sơn đăng trên báo điện tử Nông nghiệp Việt Nam: https://nongnghiep.vn/ tro-chuyen-cung-em-gai-nha-tho-nha-bao-tran-mai-ninh-d294071.html). Lưu ý: Trong dạy đọc hiểu VB, về cơ bản, GV cần tiết chế khi đưa thông tin về tác giả. Tuy nhiên, ở một số trường hợp, vấn đề này cần được xử lí linh hoạt nhằm đáp ứng mục tiêu giáo dục phẩm chất cho HS.
VB trong SGK tồn tại một số điểm có thể gây băn khoăn, chẳng hạn: Có dấu phẩy đặt giữa câu "Sông Cầu của đất, nước này là duyên." hay không? "Tuy Hoà ngay dọc ngõ" hay "Tuy Hoà ngang dọc ngõ"? Từ "rào rạt" trong câu "Ngựa xe rào rạt đổ người sang ngang" phải chăng viết không đúng chính tả? Theo tình trạng nghiên cứu VB học hiện nay, tạm để những điều nêu trên vào diện "tồn nghi", không thể tuỳ tiện sửa chữa. Riêng từ rào rạt, không thể đem từ điển ra để "đính chính" thành dào dạt, vì trong thơ, nhiều khi những từ ngữ thông thường đã được làm biến đổi một cách chủ động nhằm đưa đến những ấn tượng, cảm giác đặc biệt. So với từ dào dạt, từ rào rạt có thể gây ấn tượng rõ rệt hơn về sự chuyển động (chuyển động của đối tượng được tạo hình - miêu tả và chuyển động trong trạng thái cảm xúc của nhà thơ).
Khi tìm hiểu, phân tích bố cục, có thể chia bài thơ thành 3 đoạn (phần): + Đoạn 1 (từ đầu đến Diên Khánh xanh um): niềm hân hoan, phấn chấn của nhà thơ trước vẻ
Khi tìm hiểu, phân tích bố cục, có thể chia bài thơ thành 3 đoạn (phần): + Đoạn 1 (từ đầu đến Diên Khánh xanh um): niềm hân hoan, phấn chấn của nhà thơ trước vẻ đẹp kì thú của non nước miền Nam Trung Bộ.
Đoạn 2 (từ ...Tôi lim dim cặp mắt đến Tiếng thoi nghe dội rộn ràng vách nghiêng): sự lắng đọng trong cảm xúc của nhà thơ trước cảnh sống thanh bình do nhân dân lao động tạo nên qua lịch sử lâu dài.
Đoạn 3 (những câu thơ còn lại): suy ngẫm của nhà thơ về Tổ quốc đẹp tươi, gian lao và anh dũng với tư cách là thực thể "Trộn hoà lao động với giang sơn".
Lưu ý: Vì đến lớp 9, HS vẫn chưa được học về khái niệm nhân vật trữ tình nên có thể dùng khái niệm nhà thơ để thay thế. Xét trong nhiều tương quan, khái niệm nhà thơ được sử dụng ở đây hoàn toàn hợp lí, có phần chính xác hơn khái niệm tác giả.
GV có thể hướng dẫn HS khám phá bài thơ theo từng phần của bố cục hoặc theo từng vấn đề lớn của nội dung và nghệ thuật tác phẩm, trên cơ sở trao đổi, thảo luận về những câu hỏi Sau khi đọc được nêu trong SGK.
Câu hỏi 1
Câu hỏi hướng HS nhớ đến một khâu cơ bản của việc đọc hiểu VB thơ: xác định cảm hứng sáng tạo của tác giả thông qua một số tín hiệu nổi bật, trước hết là nhan đề tác phẩm.
GV cho HS nhắc lại nội dung của khái niệm cảm hứng (đã học) và nêu một số câu hỏi gợi dẫn, ví dụ: Tác giả muốn thể hiện cảm xúc trước một cảnh sắc cụ thể hay trước một vấn đề mang tính phức hợp, tổng hoà? Có thể diễn giải ý của nhan đề "Tình sông núi" như thế nào? Sông núi, tình của sông núi hay cái tình đối với sông núi (của nhân dân nói chung, của tác giả nói riêng) là điều thôi thúc ông viết nên bài thơ?
Sau khi cho HS trao đổi, GV hướng các em tới nhận định khái quát: Qua nhan đề bài thơ, có thể thấy điều thôi thúc tác giả phải viết chính là sự gắn bó sâu nặng với Tổ quốc, trong đó có tình yêu mặn nồng với những cảnh sắc đẹp tươi và niềm xúc động lớn lao trước hình ảnh nhân dân lao động đã đổ mồ hôi và máu để "làm ra đất nước".
Câu hỏi 2
Câu hỏi yêu cầu HS phân tích bố cục của bài thơ, từ đó khái quát lên mạch cảm xúc xuyên suốt tác phẩm. Thực chất, câu hỏi này liên quan đến việc xác định cái tứ chi phối bài thơ, khiến nó trở thành một chỉnh thể sống động (khái niệm tứ HS sẽ được học ở lớp 11, GV chưa cần nhắc tới, nhưng việc hướng dẫn HS tìm hiểu vấn đề do câu hỏi đặt ra sẽ tạo tiền đề tốt để sau này các em nắm được bản chất của khái niệm tứ).
Căn cứ vào những điều được gợi ý ở phần trên, GV hướng dẫn HS xác định nội dung cụ thể của từng đoạn trong bài thơ. Lưu ý: Vì VB đọc là thơ trữ tình nên khi "nê
Căn cứ vào những điều được gợi ý ở phần trên, GV hướng dẫn HS xác định nội dung cụ thể của từng đoạn trong bài thơ. Lưu ý: Vì VB đọc là thơ trữ tình nên khi "nêu nội dung cụ thể", cần phải đặt yếu tố cảm xúc của nhà thơ lên trước, tránh việc đơn thuần kể về các đối tượng được tác giả nhắc đến. Chẳng hạn, không nên nói "vẻ đẹp kì thú của non nước miền Nam Trung Bộ" mà nên diễn đạt là "niềm hân hoan, phấn chấn của nhà thơ trước vẻ đẹp kì thú của non nước miền Nam Trung Bộ".
Cảm xúc trong bài thơ luôn có sự vận động với những sắc thái, cung bậc khác nhau, nhưng tất cả đều thống nhất trên một nền tảng tình cảm và nhận thức chung. Khi hướng dẫn HS tìm hiểu mạch cảm xúc trong bài thơ, nên gợi ý cho các em vẽ một sơ đồ đơn giản và chọn những từ ngữ khái quát nhất, tinh tế nhất để thâu tóm tinh thần của từng giai đoạn cảm xúc. Với bài thơ Tình sông núi, có thể diễn tả mạch cảm xúc bằng những từ ngữ đã được dùng ở phần phân tích bố cục và khái quát nội dung từng đoạn thơ.
Câu hỏi 3
Câu hỏi gồm hai vế có quan hệ chặt chẽ với nhau, bắt đầu từ yêu cầu nhận diện một đặc điểm hình thức nổi bật của bài thơ: sử dụng nhiều địa danh để biểu thị cái nhìn toàn cảnh về đối tượng được nói tới, đồng thời cũng thể hiện tình cảm sâu nặng của nhà thơ đối với những nơi mình từng gắn bó.
GV ghi lên bảng các địa danh mà HS phát hiện được để giúp các em dễ dàng trả lời được vế hỏi thứ nhất. Với vế hỏi thứ hai, GV có thể gợi ý bằng một số câu hỏi phụ: Phải chăng tác giả chỉ giới hạn việc bày tỏ tình cảm với mảnh đất Nam Trung Bộ? Lô-gíc kết nối giữa các địa danh cụ thể của miền Nam Trung Bộ với khái niệm "Tổ quốc" là gì? Tình yêu Tổ quốc có phải là một thứ tình yêu chung chung, trừu tượng hay không? Em nhớ những câu danh ngôn nào nói về điều này? Hãy nhắc lại một đoạn thơ đã học ở lớp 8 có những điểm tương đồng với đoạn thơ thứ nhất trong bài "Tình sông núi".
GV cho HS tự do phát biểu suy nghĩ, nhưng sau cùng, cần hướng các em đến nhận thức: Tình yêu dành cho một miền đất cụ thể chẳng những không ngăn cản ta đi đến với tình yêu đất nước, Tổ quốc, mà ngược lại, giúp cho tình yêu đất nước, Tổ quốc ngỡ trừu tượng, mơ hồ có thêm "máu thịt", thêm điểm tựa vững chãi. Điều đó là tất yếu, bởi mọi vùng miền cụ thể đều thuộc một đất nước thống nhất, và sự tồn tại của đất nước chỉ có thể được xác định qua sự tồn tại của những vùng miền cụ thể. Tình cảm của con người cũng thế, luôn phát triển theo chiều hướng đi từ cái riêng nhỏ bé đến cái chung lớn lao, bao trùm.
Câu hỏi 4
Câu hỏi yêu cầu làm rõ cái nhìn của chủ thể sáng tạo về đối tượng miêu tả, thể hiện (câu hỏi loại này chưa được quan tâm đúng mức trong hoạt động dạy đọc hiểu VB trước đây).
GV cho HS làm việc nhóm, sau đó đem kết quả ra trao đổi chung trong phạm vi cả lớp. Những ý cần nêu được: Những đặc điểm của sông núi quê hương được chú ý làm n
GV cho HS làm việc nhóm, sau đó đem kết quả ra trao đổi chung trong phạm vi cả lớp. Những ý cần nêu được:
Những đặc điểm của sông núi quê hương được chú ý làm nổi bật: trữ tình, thơ mộng; hùng vĩ, khoáng đạt; gần gũi, thân thương.
Góc nhìn đưa lại cho tác giả những khám phá mới mẻ về đất nước: đất nước gắn liền với "lao động" (Trộn hoà lao động với giang sơn), tức là gắn liền với nhân dân, với tầng lớp cần lao đã đổ bao mồ hôi, xương máu để tạo lập, điểm tô, gìn giữ. Xét theo lịch sử phát triển của thơ trữ tình Việt Nam, đây là góc nhìn rất mới mẻ, chỉ xuất hiện từ khi trong ý thức xã hội hình thành một quan niệm mang tính cách mạng về vai trò của quần chúng nhân dân. Về sau, góc nhìn này được thể hiện ngày càng đậm nét ở những tác phẩm thơ tiêu biểu như Đất nước của Nguyễn Đình Thi, Việt Bắc của Tố Hữu, Mặt đường khát vọng của Nguyễn Khoa Điềm, Những người đi tới biển của Thanh Thảo,…
Câu hỏi 5
Đây là câu hỏi thuộc loại nâng cao, đòi hỏi HS phải suy luận để phát hiện được lớp hình tượng ngầm ẩn trong bài thơ - hình tượng tác giả.
GV cần giúp HS nắm được một số vấn đề lí thuyết sơ giản có liên quan đến việc giải quyết yêu cầu của câu hỏi: Trong sáng tác văn học nói chung, trong thơ trữ tình nói riêng luôn tồn tại hình tượng tác giả. Thông thường, hình tượng tác giả không được miêu tả, thể hiện trực tiếp, nhưng người đọc vẫn có thể nhận ra sự hiện diện của hình tượng này qua giọng điệu, ngôn ngữ tác phẩm, qua việc tác giả triển khai các góc nhìn riêng về đối tượng miêu tả.
GV nêu một số câu hỏi gợi ý: Đại từ "tôi" trong bài thơ chỉ đối tượng nào? Có thể nói gì về dáng dấp, tâm trạng của "tôi" được thể hiện qua mấy câu thơ: "Tôi lim dim cặp mắt/ Không thấy nơi nào không đẹp/ Không giàu"? Ngoài những dấu hiệu rõ ràng nói trên, em còn nhận ra dấu hiệu nào khác chứng tỏ sự hiện diện của "tôi" trong bài thơ?
Những ý cần khẳng định qua trao đổi, thảo luận trong nhóm và giữa các nhóm: + Cách tác giả tự bộc lộ mình trong bài thơ: xây dựng hình tượng "tôi" trong tư cách một đầu mối của mọi quan sát, liên hệ, suy ngẫm; sử dụng nhiều từ ngữ thể hiện trực tiếp quan điểm nhìn nhận, đánh giá về đối tượng quan sát, chiêm ngưỡng (buồn, rộng, lì, cao vun vút, vừa đẹp - vừa lành, dịu màu tươi, đẹp, giàu,…); dùng các câu hỏi tu từ để thể hiện vai trò dẫn dắt cảm xúc và định hướng suy nghĩ cho người đọc (Hỏi ai tới đó sao đành lòng đi?; Có mối tình nào hơn thế nữa?; Có mối tình nào hơn/ Tổ quốc?);… Qua cách tự bộc lộ mình như vậy, có thể thấy tác giả là người rất mực yêu quý vẻ đẹp của đất nước, hết sức kính trọng và biết ơn nhân dân, quan tâm tìm hiểu cội nguồn sức sống của dân tộc.
Việc tác giả xác lập chỗ đứng của mình trong cộng đồng dân tộc: tác giả đã hình dung mình như một người con của nhân dân, người thừa hưởng bao thành quả tốt đẹp
Việc tác giả xác lập chỗ đứng của mình trong cộng đồng dân tộc: tác giả đã hình dung mình như một người con của nhân dân, người thừa hưởng bao thành quả tốt đẹp mà tiền nhân đã tạo dựng, đồng thời là người sẵn sàng gánh trách nhiệm giữ gìn, bảo vệ Tổ quốc cùng những đứa con trung hiếu khác trong cộng đồng dân tộc.
Câu hỏi 6
Câu hỏi này mở rộng mạch cảm nhận về bài thơ đã được khơi lên từ câu 4 và câu 5, hướng đến làm rõ tư tưởng "đất nước của nhân dân" trong tác phẩm.
GV hướng dẫn HS tìm các chi tiết, hình ảnh nói về con người trong bài thơ, lược ghi kết quả lên bảng để các em dễ theo dõi và rút ra được những nhận xét phù hợp, xác đáng. GV nên giải thích ngắn gọn về cụm từ đặt vào vị trí trung tâm: cụm từ này có nghĩa tương đương với cụm từ tập trung chú ý hay tập trung miêu tả, thể hiện.
GV cho HS trao đổi để đi đến nhận thức chung: Khi nói về những người con của đất nước, tầng lớp cần lao là đối tượng được tác giả đặt vào vị trí trung tâm. Mọi chi tiết, hình ảnh về hoạt động của con người đều được khai thác từ thực tế cuộc sống của tầng lớp này: lá thuyền, mái tranh, rẫy, vạn chài, tiếng thoi, Bắp căng như đồng/ Tay ghì cán cuốc/ Tay ghì tay xe,… Việc tập trung miêu tả, thể hiện hình ảnh những người cần lao (nói khác đi là hình ảnh nhân dân lao động) cho thấy nhận thức rõ ràng của tác giả: đất nước, Tổ quốc là thành tựu vĩ đại mà nhân dân tạo nên; đất nước, Tổ quốc với nhân dân là một.
Câu hỏi 7
Câu hỏi này tạo cơ hội cho HS tổng hợp lại những ý đã phân tích trước đó về đặc sắc nghệ thuật của bài thơ.
GV cho HS thảo luận theo các nhóm, sau đó mỗi nhóm trình bày kết quả trước cả lớp (mỗi nhóm tập trung bàn về một khía cạnh đã được gợi ý trong câu hỏi).
GV tổng hợp kết quả phân tích của HS, làm rõ thêm một số điểm còn chưa được các em chú ý:
Bài thơ được viết theo thể tự do, các câu dài ngắn không đều, có sử dụng vần ở một số chỗ cần thiết (không theo mô hình cố định).
Nhịp điệu bài thơ rắn rỏi, mạnh mẽ, được tạo nên theo nhịp điệu của cảm xúc với những chỗ ngừng, ngắt hết sức linh hoạt.
Việc sử dụng nhiều động từ làm cho bài thơ căng tràn tính vận động, không gây cảm giác tĩnh tại, xa vắng như nhiều bài thơ khác có chủ đề gần gũi trong thơ trung đại hoặc Thơ mới.
Sự xuất hiện của nhiều loại câu như câu kể (để kể, tả), câu cảm, câu hỏi khiến bài thơ có thể khuấy động được nhiều tầng bậc cảm xúc ở người đọc. Việc phối hợp
Sự xuất hiện của nhiều loại câu như câu kể (để kể, tả), câu cảm, câu hỏi khiến bài thơ có thể khuấy động được nhiều tầng bậc cảm xúc ở người đọc.
Việc phối hợp giữa miêu tả cụ thể với nêu mệnh đề khái quát đưa lại cho bài thơ một vẻ đẹp đặc trưng: vừa tươi tắn vừa giàu chất suy tưởng, trí tuệ.
Nhìn chung, hình thức nghệ thuật mới mẻ của bài thơ hoàn toàn tương hợp với tư tưởng cách mạng mà nhà thơ muốn biểu đạt.
Trang 109
Trang 110
CỦNG CỐ, MỞ RỘNG GV cần hướng dẫn việc thực hiện các yêu cầu của phần Củng cố, mở rộng và Thực hành đọc một cách cụ thể, chi tiết, giúp HS thấy rõ lợi ích của v
CỦNG CỐ, MỞ RỘNG
GV cần hướng dẫn việc thực hiện các yêu cầu của phần Củng cố, mở rộng và Thực hành đọc một cách cụ thể, chi tiết, giúp HS thấy rõ lợi ích của việc ôn tập, vận dụng các kiến thức, kĩ năng mà bài học đã đưa lại hay góp phần hình thành.
Với yêu cầu của bài tập 1, GV cần gợi ý cho HS lập bảng so sánh để các em có thể nhìn nhận vấn đề được bao quát hơn.
Với yêu cầu của bài tập 2, GV nên đưa ra một danh mục sách, báo cần tìm để HS có được định hướng sáng rõ khi bước đầu xây dựng tủ sách mang tính chuyên đề.
Với yêu cầu của bài tập 3, GV cho HS tự do phát huy sáng kiến và năng khiếu cá nhân trong việc thiết kế - tạo lập VB thuyết minh bằng hình ảnh về một danh lam thắng cảnh hay một di tích lịch sử ở địa phương. Cần có kế hoạch lưu trữ những sản phẩm tốt để phục vụ cho hoạt động dạy học về sau.
Với yêu cầu của bài tập 4, GV cần giao nhiệm vụ cụ thể cho các nhóm học tập và yêu cầu các em báo cáo kết quả một cách nghiêm túc.
SGK đã nêu một số điểm cần chú ý khi đọc VB Khu Trung tâm Hoàng thành Thăng Long - Hà Nội. GV có thể soạn thêm một hệ thống câu hỏi trắc nghiệm và tự luận về VB này để giúp HS thực hành đọc hiệu quả hơn.
Trang 112
Trang 113
Trang 114
Trang 115
Trang 116
Trang 117
Trang 118
Trang 119
Trang 120
GIỚI THIỆU BÀI HỌC VÀ TRI THỨC NGỮ VĂN Hoạt động 1 Tìm hiểu Giới thiệu bài học GV hướng dẫn HS thực hiện các hoạt động sau để khởi động dự án: HS tìm hiểu mối q
GIỚI THIỆU BÀI HỌC VÀ TRI THỨC NGỮ VĂN
Hoạt động 1 Tìm hiểu Giới thiệu bài học
GV hướng dẫn HS thực hiện các hoạt động sau để khởi động dự án:
HS tìm hiểu mối quan hệ giữa tên bài, đề từ và mục tiêu của dự án Văn học - lịch sử tâm hồn.
HS thảo luận nhóm để xác định rõ mục tiêu, lựa chọn chủ đề, xây dựng danh mục sách cần đọc, kế hoạch đọc sách, sản phẩm dự kiến.
Hoạt động 2 Khám phá Tri thức ngữ văn
Phần Tri thức ngữ văn trong SGK của bài học này tập trung vào hai vấn đề chính như đã lưu ý trong mục Tri thức ngữ văn cho GV: 1) Sơ giản về lịch sử văn học Việt Nam và vai trò của tri thức về lịch sử văn học trong đọc hiểu VB; 2) Bài phỏng vấn. Những nội dung cốt lõi trong phần Tri thức ngữ văn là cơ sở, có vai trò định hướng cho các hoạt động đọc, viết, nói và nghe trong các giai đoạn của dự án, đặc biệt là các vấn đề về lịch sử văn học. HS cần bước đầu nắm được những vấn đề sau để chọn đọc và xây dựng sản phẩm trong các hoạt động của dự án:
Bộ phận văn học: Các tác phẩm trong những cuốn sách được chọn đọc thuộc bộ phận văn học dân gian hay văn học viết? Nếu sách bao gồm các tác phẩm văn học dân gian thì ai là người sưu tầm, tuyển chọn, biên soạn lại? Nếu cuốn sách là tác phẩm văn học viết thì những tác phẩm này có tiếp thu ảnh hưởng từ văn học dân gian hay không?
Thời kì văn học: Tác phẩm được chọn đọc thuộc thời kì văn học nào? Bối cảnh lịch sử, xã hội, văn hoá của tác phẩm có điều gì đáng chú ý?
- Đặc điểm thể loại: Thể loại tác phẩm văn học được chọn đọc là gì? Những đặc điểm nội dung và hình thức nổi bật của thể loại được thể hiện trong tác phẩm như thế nào?
GV cần hướng dẫn HS vận dụng các tri thức về lịch sử văn học vào quá trình tìm hiểu, lựa chọn và đọc tác phẩm một cách phù hợp, tránh áp đặt, nặng nề.
Trang 122
Trang 123
Trang 124
Trang 125
Trang 126
Trang 127
Trang 128
Trang 129
Trang 130
Hướng dẫn HS viết bài quảng cáo về sách dưới hình thức VB đa phương thức: Đọc kĩ các yêu cầu của kiểu bài viết trong mục Yêu cầu. - Đọc kĩ phần phân tích bài vi
Hướng dẫn HS viết bài quảng cáo về sách dưới hình thức VB đa phương thức:
Đọc kĩ các yêu cầu của kiểu bài viết trong mục Yêu cầu. - Đọc kĩ phần phân tích bài viết tham khảo để tìm hiểu và nhận diện đặc điểm hình
thức và nội dung của bài quảng cáo về sách.
Lựa chọn cuốn sách yêu thích đã đọc để viết bài quảng cáo tới những người đọc khác.
Thực hành viết theo các bước hướng dẫn của SGK, chú ý phối hợp giữa ngôn ngữ và phương tiện phi ngôn ngữ trong bài quảng cáo. Lưu ý: Có thể chuyển bài quảng cáo
Thực hành viết theo các bước hướng dẫn của SGK, chú ý phối hợp giữa ngôn ngữ và phương tiện phi ngôn ngữ trong bài quảng cáo.
Lưu ý:
Có thể chuyển bài quảng cáo thành các hình thức vi-đi-ô cờ-líp, sản phẩm công nghệ số.
Trang 133
Trang 134
Trang 135
Trang 136
Trang 137
Trang 138
Trang 139
Trang 140
Trang 141
Trang 142
Trang 143
Trang 144
cover-last