SGV - Ngữ văn 9 - Tập 1
0/0
minus
100%
plus
Ghi chú
setting
share
Nền
Đọc offline

Lưu sách trên máy

Đang kiểm tra...

list Mục lục
list Mục lục
Chủ đề 1: Thế giới kì ảo
Tri thức ngữ văn
Đọc: Chuyện người con gái Nam Xương
Thực hành tiếng Việt: Một số yếu tố Hán Việt dễ nhầm lẫn và cách phân biệt
Đọc: Dế chọi
Thực hành tiếng Việt: Điển tích, điển cố
Đọc: Sơn Tinh - Thủy Tinh
Viết: Viết bài văn nghị luận về một vấn đề cần giải quyết (con người trong mối quan hệ với tự nhiên)
Củng cố, mở rộng
Chủ đề 2: Những cung bậc tâm trạng
Tri thức ngữ văn
Đọc: Nỗi niềm chinh phụ
Thực hành tiếng Việt: Biện pháp tu từ chơi chữ
Đọc: Tiếng đàn mưa
Thực hành tiếng Việt: Biện pháp tu từ điệp thanh và biện pháp tu từ điệp vần
Đọc: Một thể thơ độc đáo của người Việt
Viết: Viết bài văn nghị luận phân tích một tác phẩm văn học (thơ song thất lục bát)
Củng cố, mở rộng
Chủ đề 3: Hồn nước nằm trong tiếng mẹ cha
Tri thức ngữ văn
Đọc: Kim - Kiều gặp gỡ
Thực hành tiếng Việt: Chữ quốc ngữ
Đọc: Lục Vân Tiên đánh cướp, cứu Kiều Nguyệt Nga
Thực hành tiếng Việt: Chữ Nôm
Đọc: Tự tình (Bài 2)
Viết: Viết bài văn nghị luận về một vấn đề cần giải quyết (trong đời sống của học sinh hiện nay)
Củng cố, mở rộng
Chủ đề 4: Khám phá vẻ đẹp văn chương
Tri thức ngữ văn
Thực hành tiếng Việt: Cách dẫn trực tiếp và cách dẫn gián tiếp
Đọc: Từ "Thằng quỷ nhỏ" của Nguyễn Nhật Ánh nghĩ về những phẩm chất của một tác phẩm viết cho thiếu nhi
Thực hành tiếng Việt: Cách sử dụng tài liệu tham khảo và trích dẫn tài liệu
Đọc: Ngày xưa
Viết: Viết bài văn nghị luận phân tích một tác phẩm văn học (truyện)
Củng cố, mở rộng
Chủ đề 5: Đối diện với nỗi đau
Tri thức ngữ văn
Đọc: Rô-mê-ô và Giu-li-ét
Thực hành tiếng Việt: Câu đặc biệt
Đọc: Lơ Xít
Đọc: Bí ẩn của làn nước
Viết: Viết bài văn nghị luận phân tích một tác phẩm văn học (kịch)
Củng cố, mở rộng
ÔN TẬP HỌC KÌ I
Ôn tập kiến thức
Luyện tập tổng hợp
Học liệu
Đang xem trang 0 Học liệu dưới đây tương ứng với nội dung bạn đang đọc
empty Không có học liệu bổ trợ
cover-first
page-1
Trang 1
Trang 2
Trang 3
Trang 4
Trang 5
Trang 6
Trang 7
Trang 8
Trang 9
Trang 10
Trang 11
Trang 12
Trang 13
Trang 14
Trang 15
Trang 16
Trang 17
Trang 18
Trang 19
Trang 20
Trang 21
Trang 22
Trang 23
Trang 24
Trang 25
Trang 26
Trang 27
Trang 28
Trang 29
Trang 30
Trang 31
Trang 32
Trang 33
Trang 34
Trang 35
Trang 36
Trang 37
Trang 38
Trang 39
Trang 40
Trang 41
Trang 42
Trang 43
VĂN BẢN 1. CHUYỆN NGƯỜI CON GÁI NAM XƯƠNG (Nguyễn Dữ) 1. Phân tích yêu cầu cần đạt HS biết vận dụng kiến thức ở phần Tri thức ngữ văn để nhận biết và phân tích
VĂN BẢN 1. CHUYỆN NGƯỜI CON GÁI NAM XƯƠNG
(Nguyễn Dữ)
1. Phân tích yêu cầu cần đạt
HS biết vận dụng kiến thức ở phần Tri thức ngữ văn để nhận biết và phân tích các yếu tố của truyện truyền kì (không gian, thời gian, chi tiết, cốt truyện, nhân vật chính, lời người kể chuyện, ngôn ngữ) trong VB Chuyện người con gái Nam Xương và nêu được nội dung chủ đề của VB.
HS biết kết nối VB với thực tế đời sống và trải nghiệm cá nhân, từ đó bồi đắp lòng nhân ái, trân trọng những con người có phẩm chất tốt đẹp. 2. Gợi ý tổ chức ho
HS biết kết nối VB với thực tế đời sống và trải nghiệm cá nhân, từ đó bồi đắp lòng nhân ái, trân trọng những con người có phẩm chất tốt đẹp.
2. Gợi ý tổ chức hoạt động dạy học
Hoạt động 1 Khởi động - Theo gợi ý của SGK, GV có thể nêu câu hỏi nhằm hướng sự quan tâm của HS tới vị
thế của người phụ nữ Việt Nam trong xã hội phong kiến. Yêu cầu này nhằm huy động những trải nghiệm của HS, giúp các em thuận lợi hơn trong việc tiếp cận VB Chuyện người con gái Nam Xương.
GV cũng có thể cho HS chia sẻ ấn tượng sâu sắc về một tác phẩm viết về người phụ
nữ để dẫn dắt HS vào bài đọc một cách tự nhiên, sinh động.
Hoạt động 2 Đọc văn bản
GV yêu cầu HS đọc VB, tóm tắt nội dung tác phẩm trước khi đến lớp. Ở trên lớp, GV đọc mẫu đoạn đầu, yêu cầu HS đọc một số đoạn tiêu biểu. GV nhắc HS chú ý các thẻ bên phải VB (bên cạnh chiến lược theo dõi, còn có dự đoán, đối chiếu, suy luận). Chẳng hạn, thẻ chỉ dẫn theo dõi ở trang 10 lưu ý HS các chi tiết giới thiệu về nhân vật Vũ Thị Thiết và Trương Sinh. Còn các chỉ dẫn dự đoán (trang 11) và đối chiếu (trang 13) hướng các em vào việc dự đoán kết cục của cuộc hôn nhân giữa Trương Sinh và Vũ Nương, sau đó đối chiếu để kiểm tra kết quả suy đoán của mình.
GV hướng dẫn HS tìm hiểu nghĩa của những từ ngữ khó được chú thích ở chân trang, đặc biệt là các điển tích, điển cố.
Hoạt động 3 Khám phá văn bản
GV dành vài phút cho HS tự đọc phần giới thiệu về tác giả Nguyễn Dữ và tác phẩm Chuyện người con gái Nam Xương trong SGK. Sau đó, GV bổ sung kiến thức về bối cảnh lịch sử đầy biến động ở nước ta trong thế kỉ XVI (các cuộc chiến tranh phi nghĩa đã đẩy người dân vào cảnh lầm than), nhằm tạo tâm thế thuận lợi giúp HS đi vào khám phá VB.
GV cần quan tâm các câu hỏi sau khi đọc, có phương án giải quyết để vừa nhằm đánh giá mức độ nhận thức của HS về các khía cạnh của VB, vừa xác định cách tổ chức các hoạt động trong tiết dạy cho phù hợp. Hệ thống câu hỏi sau khi đọc được chia thành các nhóm: nhận biết (câu 1, 2); phân tích, suy luận (câu 3, 4, 5) và đánh giá, vận dụng (câu 6, 7). Dựa trên những câu hỏi này và tuỳ vào đối tượng HS, trong kế hoạch bài dạy, GV có thể sắp xếp, điều chỉnh để tạo thành hệ thống câu hỏi riêng của mình.
Câu hỏi 1
Với câu hỏi này, GV yêu cầu HS đọc kĩ VB, nắm được cốt truyện và bố cục của tác phẩm, nêu ý chính của từng phần. Có thể cho HS làm việc cá nhân hoặc cặp đôi, sau đó trình bày kết quả trước lớp.
Gợi ý: Khi trình bày cốt truyện, HS cần nêu được một số tình tiết chính sau đây: Vũ Nương là người con gái thuỳ mị nết na, lấy Trương Sinh (người ít học, có tín
Gợi ý:
Khi trình bày cốt truyện, HS cần nêu được một số tình tiết chính sau đây: Vũ Nương là người con gái thuỳ mị nết na, lấy Trương Sinh (người ít học, có tính đa nghi). → Trương Sinh phải đi lính đánh giặc Chiêm; ở nhà, Vũ Nương sinh con, hết lòng chăm sóc mẹ chồng, khi mẹ chồng mất, lo đám tang chu đáo. → Trương Sinh trở về, nghe câu nói của con và nghi ngờ vợ; bị oan nhưng không thể minh oan, Vũ Nương tự tử ở bến Hoàng Giang, nhưng được Linh Phi cứu giúp. → Ở nơi cung nước, Vũ Nương gặp Phan Lang (người cùng làng), Phan Lang khuyên nàng trở về. → Được Linh Phi giúp, Vũ Nương trở về gặp Trương Sinh, từ giữa dòng nói vọng vào mấy lời để chồng thấu nỗi oan của mình rồi biến mất.
Bố cục: Tác phẩm gồm ba phần. + Phần thứ nhất (từ đầu đến lo liệu như đối với cha mẹ đẻ mình): Giới thiệu về hai nhân vật Vũ Nương - Trương Sinh; gia cảnh nhà Trương Sinh và cuộc sống của Vũ Nương khi chồng đi lính.
Phần thứ hai (từ Qua năm sau, giặc ngoan cố đã chịu trói đến nhưng việc trót đã qua rồi): Nỗi oan bị chồng nghi ngờ và hành động tự trầm của Vũ Nương.
Phần cuối (từ Cùng làng với nàng đến hết): Cuộc gặp gỡ tình cờ giữa Phan Lang và Vũ Nương trong động của Linh Phi và việc Vũ Nương trở về trên sông gặp Trương Sinh để giải toả nỗi oan khuất.
Câu hỏi 2
Câu hỏi này yêu cầu HS xác định những chi tiết mà Nguyễn Dữ sử dụng để khắc hoạ nhân vật Vũ Nương và Trương Sinh; làm rõ vai trò của lời người kể chuyện trong việc khắc hoạ nhân vật.
Gợi ý:
Một số chi tiết Nguyễn Dữ sử dụng để khắc hoạ nhân vật Vũ Nương: tính đã thuỳ mị, nết na, lại thêm tư dung tốt đẹp, giữ gìn khuôn phép, không từng để lúc nào vợ chồng phải đến thất hoà,… Còn nhân vật Trương Sinh được nhà văn giới thiệu: có tính đa nghi, đối với vợ phòng ngừa quá sức; tuy con nhà hào phú nhưng không có học, nên tên phải ghi trong sổ lính đi vào loại đầu,…
Lời của người kể chuyện có vai trò rất lớn trong việc khắc hoạ nhân vật. Qua lớp ngôn
ngữ này, hầu như mọi nét thuộc về bản chất của nhân vật đã phát lộ: Vũ Nương là người phụ nữ đẹp người, đẹp nết, đức hạnh, hết lòng vun đắp hạnh phúc gia đình; ngược lại, Trương Sinh là một kẻ ít học, đa nghi,… Đồng thời qua lời kể, ta cũng thấy được sự yêu mến, trân trọng của tác giả đối với nhân vật Vũ Nương cũng như thái độ phê phán đối với nhân vật Trương Sinh.
Câu hỏi 3
Để trả lời câu hỏi này, GV yêu cầu HS đọc kĩ lời than của Vũ Nương trước khi gieo mình xuống sông Hoàng Giang. GV gợi ý cụ thể hơn cho HS bằng một số câu hỏi nhỏ: Qua lời than, nỗi đau đớn của nhân vật Vũ Nương được bộc lộ như thế nào? Nhà văn thể hiện thái độ gì đằng sau lời than đó? Lời than thể hiện đặc điểm gì của ngôn ngữ nhân vật trong truyện truyền kì?
Gợi ý: Lời than của Vũ Nương cũng là lời nguyền mà nàng nói với thần sông để giãi bày nỗi niềm trước khi tự vẫn: xót xa vì mình luôn trong trắng, thuỷ chung; kh
Gợi ý:
Lời than của Vũ Nương cũng là lời nguyền mà nàng nói với thần sông để giãi bày nỗi
niềm trước khi tự vẫn: xót xa vì mình luôn trong trắng, thuỷ chung; khát khao được sống êm ấm, hạnh phúc với chồng con… vậy mà cuối cùng lại phải tìm đến cái chết để vùi chôn nỗi oan khiên - một nỗi oan chỉ có trời đất, thần linh mới có thể thấu tỏ. - Lời than của Vũ Nương cũng cho thấy nét đặc trưng của ngôn ngữ truyện truyền kì là sử dụng nhiều điển tích, điển cố.
Câu hỏi 4
Câu hỏi này yêu cầu HS phân tích, suy luận trên cơ sở nhận biết các chi tiết có liên quan đến cái chết của Vũ Nương. GV có thể gợi ý thêm để HS suy nghĩ, tìm cách trả lời: Những nguyên nhân trực tiếp và gián tiếp nào gây ra bi kịch của Vũ Nương? Trong những nguyên nhân đó, theo em, đâu là nguyên nhân chủ yếu?
Gợi ý:
Nguyên nhân trực tiếp: + Chiếc bóng trên tường (Vũ Nương thường chỉ vào và bảo với con rằng đó là cha nó). + Câu nói ngây thơ của đứa trẻ: "Ô hay! Thế ra ông cũng là cha tôi ư? Ông lại biết nói, chứ không như cha tôi trước kia chỉ nín thin thít." đã thổi bùng lên ngọn lửa ghen tuông trong lòng Trương Sinh. + Tính cách của Trương Sinh: đa nghi, ghen tuông, hồ đồ, gia trưởng, sẵn sàng thô bạo với vợ.
Nguyên nhân gián tiếp: + Cuộc hôn nhân không bình đẳng: Vũ Nương là "con kẻ khó" được Trương Sinh, là con nhà khá giả, đem trăm lạng vàng để xin cưới. + Lễ giáo phong kiến cùng chế độ nam quyền đã hạn chế tiếng nói bình đẳng, quyền được bảo vệ bản thân của người phụ nữ.
Những cuộc chiến tranh phi nghĩa gây nên cảnh sinh li tử biệt, vợ chồng xa cách. GV cho HS thảo luận, phân tích để bảo vệ ý kiến khẳng định nguyên nhân chủ yếu dẫn đến bi kịch của Vũ Nương. GV có thể gợi ý: Với tính cách như Trương Sinh, nếu không phải ra trận vì chiến tranh, mà đi làm ăn xa, trở về thấy con chỉ vào chiếc bóng và nói như vậy, ngọn lửa ghen tuông có thể bùng lên không? Vậy giữa "chiến tranh" và bản tính nghi kị hồ đồ của Trương Sinh, đâu mới là nguyên nhân chủ yếu? Nếu bé Đản không chỉ vào chiếc bóng và bảo đó là cha mình, thì trong suốt cuộc đời vợ chồng sống với nhau, ai dám chắc cơn ghen của Trương Sinh sẽ không có dịp nào bùng phát? Xét như thế để thấy giữa câu nói vô tình của con trẻ và tính cách đa nghi thái quá của người cha, nguyên nhân nào quan trọng hơn. GV cho HS thử trả lời các câu hỏi đó để các em có cơ sở khẳng định chủ kiến của mình.
Câu hỏi 5 GV yêu cầu HS xem lại phần cuối của VB, tập trung vào những chi tiết miêu tả không gian, thời gian thực và không gian, thời gian mang tính kì ảo (nhữn
Câu hỏi 5
GV yêu cầu HS xem lại phần cuối của VB, tập trung vào những chi tiết miêu tả không gian, thời gian thực và không gian, thời gian mang tính kì ảo (những ngày Phan Lang sống ở nơi cung nước). GV hướng dẫn HS dựa vào đó để nêu suy nghĩ, cảm nhận của mình về vai trò của nhân vật này trong truyện.
Gợi ý:
Không gian, thời gian thực thể hiện qua những chi tiết nói về nơi sinh sống, nghề
nghiệp và các mối quan hệ của Phan Lang với Vũ Nương và Trương Sinh, chi tiết Phan Lang nhắc đến nhà cửa, cây cối, phần mộ tổ tiên,… của gia đình Vũ Nương. Không gian, thời gian ảo được thể hiện qua những chi tiết miêu tả cuộc sống của Phan Lang ở nơi cung nước: dạt vào động rùa của Linh Phi, được đãi tiệc và gặp Vũ Nương; sau đó Phan Lang được sứ giả Xích Hỗn rẽ nước đưa về…
Tiếp theo, GV cho HS nêu cảm nhận về vai trò của nhân vật Phan Lang trong truyện. Đây là câu hỏi mở, mỗi HS có thể tự do bày tỏ ý kiến riêng của mình, sau đó GV kết luận: Phan Lang đã cầm theo tín vật của Vũ Nương và trở về nhân gian, nói với Trương Sinh ước nguyện của Vũ Nương (Trương Sinh phải lập đàn bên sông). Như vậy, Phan Lang là chiếc cầu nối giữa hai cõi, là nhân tố kết nối giúp Vũ Nương có điều kiện trở về để bày tỏ nỗi oan với Trương Sinh, nhờ đó, Trương Sinh hiểu ra mọi điều về vợ, dù đã quá muộn màng.
Câu hỏi 6
Để giải quyết câu hỏi này, GV gợi ý để HS chỉ ra được một số chi tiết tiêu biểu có tác dụng khắc hoạ rõ nét hình ảnh Vũ Nương trở về giữa dòng Hoàng Giang, cho HS trình bày suy nghĩ về vai trò của cách kết thúc truyện đối với việc thể hiện chủ đề của tác phẩm.
Gợi ý:
Một số chi tiết HS cần chỉ ra được: Vũ Nương ngồi trên một chiếc kiệu hoa đứng ở giữa dòng, theo sau có đến năm mươi chiếc xe cờ tán, võng lọng, rực rỡ đầy sông, lúc ẩn, lúc hiện; nàng vẫn ở giữa dòng mà nói vọng vào: [...] đa tạ tình chàng, thiếp chẳng thể trở về nhân gian được nữa; bóng nàng loang loáng mờ nhạt dần mà biến đi mất.
Tác dụng của cách kết thúc đó đối với việc thể hiện chủ đề tư tưởng của tác phẩm là câu hỏi có nhiều phương án trả lời. GV cần khuyến khích để HS trình bày được những cảm nhận riêng của mình. GV có thể gợi mở để HS thấy được: cách kết thúc này là sáng tạo của Nguyễn Dữ so với cốt truyện dân gian Vợ chàng Trương. Nó làm cho câu chuyện trở nên lung linh, kì ảo, tạo cho người đọc sự chờ đợi như khi đọc truyện cổ tích, do vậy mà có sức lôi cuốn. Cái kết này trước hết giúp tác giả thể hiện khát vọng về công bằng, hạnh phúc của dân gian, người trong sạch cuối cùng cũng sẽ được minh oan. Tuy nhiên, nó vẫn để lại dư âm xót xa, nuối tiếc về một cái gì không trọn vẹn. Với một người khao khát vun đắp hạnh phúc gia đình như Vũ Nương, đó vẫn là một nỗi đau. Nó không hề viên mãn như cái kết có hậu của truyện cổ tích.
THỰC HÀNH TIẾNG VIỆT ĐIỂN TÍCH, ĐIỂN CỐ 1. Phân tích yêu cầu cần đạt HS hiểu được cách diễn giải khái niệm điển tích, điển cố ở SGK, nhận biết các nguồn điển tí
THỰC HÀNH TIẾNG VIỆT ĐIỂN TÍCH, ĐIỂN CỐ
1. Phân tích yêu cầu cần đạt
HS hiểu được cách diễn giải khái niệm điển tích, điển cố ở SGK, nhận biết các nguồn điển tích, điển cố thường được sử dụng. - HS biết cách nhận ra điển tích, điển cố trong các VB, biết cách tìm hiểu, tra cứu để hiểu được ý nghĩa của điển tích, điển cố ở từng trường hợp cụ thể; thấy được tác dụng cũng như giới hạn của việc sử dụng điển tích, điển cố trong văn học.
2. Gợi ý tổ chức hoạt động dạy học
Hoạt động 1 Hình thành kiến thức mới
SGK đã diễn giải khá cụ thể nội dung khái niệm điển tích, điển cố. GV nêu một số câu hỏi để HS suy nghĩ, trả lời:
- Điển tích, điển cố là gì? - Muốn hiểu được ý nghĩa của điển tích, điển cố khi đọc VB, cần phải làm gì?
- Việc sử dụng điển tích, điển cố trong các VB, nhất là VB văn học, có tác dụng gì? Trên cơ sở ý kiến trả lời của HS, GV chốt lại các ý cơ bản giúp các em nắm v
- Việc sử dụng điển tích, điển cố trong các VB, nhất là VB văn học, có tác dụng gì? Trên cơ sở ý kiến trả lời của HS, GV chốt lại các ý cơ bản giúp các em nắm vững bản chất của vấn đề.
Hoạt động 2 Luyện tập, vận dụng
Bài tập 1
Với bài tập có tính chất nhận biết như thế này, HS cần đọc hết các chú thích ở chân trang, dựa vào kiến thức đã có, chỉ ra được những trường hợp sử dụng điển tích, điển cố của VB; tự xem xét khả năng của bản thân để thấy những khó khăn trong việc hiểu ý nghĩa của từng điển tích, điển cố vừa chỉ ra. - Những điển tích, điển cố được sử dụng trong Chuyện người con gái Nam Xương: mùa dưa chín quá kì; nước hết chuông rền; ngõ liễu tường hoa; núi Vọng Phu; ngọc Mị Nương; cỏ Ngu mĩ; Tào Nga; Tinh Vệ; ngựa Hồ gầm gió bắc, chim Việt đậu cành nam; quăng thoi đứng dậy;
mất búa đổ ngờ; ý dĩ đầy xe, Quang Võ đổ ngờ lão tướng; trói lại mà giết, Tào Tháo đến phụ ân nhân. - Vế hỏi thứ hai, GV có thể nêu bất kì trường hợp nào trong các điển tích, điển cố trên; yêu cầu HS giải thích nghĩa (không nhìn vào chú thích trong SGK). GV biểu dương những HS trả lời chính xác. Nếu HS không giải thích được, cần nói rõ lí do. Trên cơ sở đó, GV khái quát: điển tích, điển cố có nguồn gốc từ nền văn hoá, văn học xưa, các tác giả Việt Nam chủ yếu mượn từ văn học Trung Quốc. Mặc dù trong VB, điển tích, điển cố chỉ là từ ngữ, nhưng đằng sau đó là những câu chuyện, lời thơ, kinh sách,… khá xa lạ với người đọc ngày nay.
Bài tập 2
Bài tập này có ba yêu cầu: hiểu được đặc điểm của điển tích, điển cố; hiểu nghĩa của từng điển tích, điển cố cụ thể; chỉ ra được tác dụng của việc sử dụng điển tích, điển cố gắn với từng ngữ cảnh.
a. Cụm từ in đậm trong các câu đều ẩn chứa câu chuyện, sự tích nào đó. Thế nhưng, ý nghĩa sâu xa của từng câu chuyện, sự tích thì không phải ai cũng biết. Muốn biết, phải xem chú giải hay tìm tài liệu để tra cứu.
b. GV yêu cầu HS đọc lại chú thích từng trường hợp để hiểu ý nghĩa của cụm từ in đậm (điển tích, điển cố) trong các câu.
c. Tác dụng của từng cụm từ in đậm trong câu: - Ở câu thứ nhất, câu chuyện người đàn bà bồng con ngóng chồng đến hoá đá (điển tích núi Vọng Phu) là biểu tượng của tình yêu sâu nặng, lòng chung thuỷ sắt son, khát vọng gắn bó bền chặt giữa vợ chồng. Trong lời than trước khi trẫm mình xuống sông, Vũ Nương nhắc điển tích này để làm nổi bật nỗi xót xa của mình: đến tình cảnh đáng thương của nàng Vọng Phu, Vũ Nương cũng không thể có được. Điều đó có nghĩa bi kịch của nàng sâu sắc hơn nhiều.
VĂN BẢN 2. DẾ CHỌI (Bồ Tùng Linh) 1. Phân tích yêu cầu cần đạt HS thấy được cách sử dụng các yếu tố kì ảo trong truyện truyền kì, vai trò của yếu tố kì ảo đối v
VĂN BẢN 2. DẾ CHỌI
(Bồ Tùng Linh)
1. Phân tích yêu cầu cần đạt
HS thấy được cách sử dụng các yếu tố kì ảo trong truyện truyền kì, vai trò của yếu tố kì ảo đối với việc thể hiện nội dung của tác phẩm.
HS nắm bắt được diễn biến của câu chuyện mà trọng tâm là số phận của nhân vật chính gắn với trò chơi chọi dế, qua đó, biết đánh giá giá trị hiện thực và ý nghĩa phê phán của tác phẩm.
2. Gợi ý tổ chức hoạt động dạy học
Hoạt động 1 Khởi động
GV cần khai thác vốn hiểu biết của HS về trò chọi dế trong dân gian, kết hợp với khả năng suy luận để giải quyết hai câu hỏi đặt ra ở phần Trước khi đọc. Với câu hỏi thứ nhất, GV cho HS thảo luận nhanh, từ đó yêu cầu một em nêu hiểu biết của bản thân về trò chọi dế (bối cảnh cuộc sống; lứa tuổi phù hợp với việc tổ chức trò chơi; đặc điểm của dế chọi; cách thức tiến hành trò chơi;…). Với câu hỏi thứ hai, GV gợi thêm một số khía cạnh: Một ông vua thường phải có trọng trách như thế nào đối với đất nước? Việc say mê trò chơi chọi dế có phù hợp với vị thế của một ông vua không? Việc người đứng đầu đất nước đam mê trò chơi chọi dế có thể dẫn đến hậu quả gì? Các ý kiến được nêu sẽ tạo tâm thế giúp HS đi vào đọc hiểu VB.
Hoạt động 2 Đọc văn bản Theo yêu cầu của GV, trước khi đến lớp, HS đọc VB, tóm tắt nội dung tác phẩm, dựa vào hệ thống câu hỏi để chuẩn bị bài. - Trong tiết học
Hoạt động 2 Đọc văn bản
Theo yêu cầu của GV, trước khi đến lớp, HS đọc VB, tóm tắt nội dung tác phẩm, dựa vào hệ thống câu hỏi để chuẩn bị bài. - Trong tiết học ở lớp, GV cho một số HS đọc VB; hướng dẫn các em phân biệt ngôn ngữ người kể chuyện, ngôn ngữ nhân vật và lời bình ở cuối tác phẩm. Khi đọc, HS luôn chú ý các thẻ chỉ dẫn chiến lược đọc (theo dõi, dự đoán, đối chiếu) để có định hướng ban đầu về những vấn đề nổi bật của tác phẩm. - GV nhắc HS chú ý nghĩa của các từ ngữ khó đã được chú thích ở chân trang; nếu HS nêu thắc mắc về những từ ngữ khác trong VB, GV cần hướng dẫn các em cách xác định nghĩa.
Hoạt động 3 Khám phá văn bản
GV cho HS đọc khung giới thiệu về tác giả, đặc điểm trong sáng tác, nhấn mạnh vị trí của truyện truyền kì, đặc biệt là tác phẩm Liêu trai chí dị trong di sản của tác giả.
Hệ thống câu hỏi Sau khi đọc trước hết nhằm hướng dẫn HS cách khám phá VB, tuy nhiên, đây cũng là những câu hỏi tạo cơ sở cho GV xây dựng kế hoạch bài dạy. Từ những câu hỏi này, GV có thể thiết kế các hoạt động của người dạy và người học; nêu nhiệm vụ cụ thể để việc đọc VB đạt hiệu quả cao nhất.
Câu hỏi 1
Câu hỏi này yêu cầu HS nhận biết những yếu tố cơ bản nhất của truyện truyền kì, điều kiện cần thiết để từ đó đi sâu tìm hiểu giá trị của tác phẩm. GV có thể dùng phương pháp đàm thoại, cho HS nêu các thông tin theo yêu cầu.
Gợi ý:
Các sự kiện tạo nên cốt truyện: Trong cung, vua rất mê trò chọi dế, khiến từ lí dịch đến quan lại đua nhau tìm dế hay để nộp lên trên; dân đen là những người phải chịu cái hoạ nộp dế chọi. → Thành - một người có hiểu biết - bị ép giữ chức nhỏ trong làng với nhiệm vụ chính là thúc dân kiếm dế để nộp; do không đáp ứng được yêu cầu của quan trên nên đã bị đánh đập tàn tệ. → Theo sự chỉ dẫn của bà đồng gù làm nghề bói toán, Thành đã bắt được một con dế quý. → Cha mẹ đi vắng, đứa con trai của Thành tò mò mở lồng xem, để dế nhảy mất; sợ bị cha đánh, nó bỏ trốn, rơi xuống giếng. → Ban đầu nghe tin mất dế quý, Thành tức giận, nhưng thấy con chết, vợ chồng Thành rất đau xót, đêm định liệm xác con đem chôn thì chợt phát hiện con vẫn còn sống, mặc dù thần thái đờ đẫn, ngây ngốc, ngủ mê mệt. → Nghe tiếng gáy của một con dế trong nhà, Thành đuổi theo, bắt được, hoá ra là một con dế nhỏ, không đủ tiêu chuẩn nộp quan. → Có người đem dế tốt đến thách đấu, Thành đưa dế ra chọi, không ngờ nó thắng con dế kia, lại còn thắng luôn cả con gà lao vào mổ nó. → Thành mừng rỡ đưa dế lên nộp quan, quả đúng như lời Thành nói, con dế tuy nhỏ, nhưng có thể thắng bất cứ con nào, do đó Thành được quan thưởng. → Con dế được dâng lên vua, trong cung, nó trở thành con dế vô địch, thắng bất cứ con dế kì lạ nào; đã thế lại còn biết nhảy mỗi khi có nhạc nổi lên. → Các quan sau khi được vua trọng thưởng đã nâng đỡ để Thành đỗ được tú tài. → Hơn một năm sau, con trai Thành bình phục, kể rằng chính mình đã hoá thành
con dế chọi giỏi kia, nay mới sống lại; biết chuyện, quan tiếp tục thưởng cho Thành, chỉ vài năm, nhà Thành trở nên giàu sang phú quý. Nhận xét một số yếu tố: +
con dế chọi giỏi kia, nay mới sống lại; biết chuyện, quan tiếp tục thưởng cho Thành, chỉ vài năm, nhà Thành trở nên giàu sang phú quý.
Nhận xét một số yếu tố: + Không gian trong truyện là không gian gắn với sinh hoạt của các nhân vật (hẹp thì có ngôi nhà của Thành, điện thờ của bà đồng gù làm nghề bói toán, ngôi chùa có mộ cổ nơi Thành đi tìm dế, cái thôn nhỏ nơi Thành sinh sống,…; rộng hơn thì có huyện Hoa Âm, tỉnh Thiểm Tây, cung vua - những địa danh xác thực).
Thời gian cũng có sự tương ứng với đặc điểm của không gian (gắn với sinh hoạt đời thường của con người). Đứa con trai của Thành biến thành dế chỉ "hơn một năm" và cũng chỉ "sau vài năm", nhờ được trọng thưởng và nâng đỡ, Thành phất lên, có cơ ngơi bề thế, giàu sang phú quý tột bậc. Điều đáng chú ý: toàn bộ câu chuyện diễn ra trong thời điểm xác định của lịch sử (đời Tuyên Đức nhà Minh). Sự chính xác về thời điểm lịch sử như vậy đã bao
hàm thái độ mỉa mai của tác giả đối với xã hội.
Nhân vật của truyện là con người, với những thành phần khác nhau: các thành viên của gia đình Thành, bà đồng gù làm nghề bói toán, những người dân có liên quan đến chuyện bắt dế, lí dịch, tri huyện, tuần phủ, vua. Truyện không có loại nhân vật thần tiên, ma quỷ. Duy nhất có đứa con trai của Thành hoá thành dế, đó là nhân vật liên quan đến yếu tố kì ảo ít ỏi trong truyện. Đây là những yếu tố làm nên giá trị riêng của truyện Dế chọi.
Câu hỏi 2
Đây là câu hỏi vừa yêu cầu nhận biết những biểu hiện cụ thể ở hai tình huống của nhân vật chính vừa đòi hỏi phân tích sự đối lập giữa hai tình huống đó để thấy được ý nghĩa sâu xa của tác phẩm. GV có thể cho HS làm việc nhóm, đại diện nhóm trình bày kết quả.
Gợi ý:
Vì dế mà gia đình Thành phải chịu bao nhiêu khốn khổ: bị ép giữ chức lí chính mà thực chất là đầu sai; không có thời gian làm ăn vì lo làm sao tìm dế để nộp quan; không tìm được dế chọi đủ tiêu chuẩn, bị đánh đòn tàn tệ đến mức muốn tự tử; phải tìm đến bói toán để cầu mong bắt được dế; con trai nhỏ vì lỡ làm dế chết, bỏ trốn rơi xuống giếng khiến cha mẹ xót xa, đau đớn…
Ngược lại, nhờ tìm được dế lạ chọi hay nộp cho quan để quan dâng vua mà Thành được thưởng tiền bạc, được miễn sai dịch, được nâng đỡ để đậu tú tài. Nhờ đó, chỉ vài năm sau, nhà Thành trở nên giàu có, sang trọng đến mức không ngờ.
Hai tình huống đối lập nêu trên rất có ý nghĩa. Vì dế chọi mà Thành phải chịu tai ương là chuyện phi lí; nhờ dế chọi hay mà Thành trở nên danh giá cũng phi lí không kém. Hoá ra, con người khổ đau, bất hạnh hay sung sướng, hạnh phúc lại phụ thuộc vào những điều hết sức nhỏ nhoi. Cái phi lí được đẩy đến tận cùng của hai cực đối lập ấy cho thấy sự vô lối, tuỳ tiện của những kẻ cầm quyền. Một chế độ như vậy thì cuộc sống của muôn dân sẽ luôn đối diện với bất trắc, phúc hoạ không biết đâu mà lường.
Câu hỏi 3 Yêu cầu của câu hỏi này là phân tích để thấy vai trò của yếu tố kì ảo trong truyện - một yếu tố quan trọng ở thể loại truyện truyền kì - qua đó, làm r
Câu hỏi 3
Yêu cầu của câu hỏi này là phân tích để thấy vai trò của yếu tố kì ảo trong truyện - một yếu tố quan trọng ở thể loại truyện truyền kì - qua đó, làm rõ được nét riêng ở khía cạnh sáng tạo này của tác phẩm. GV có thể cho HS trình bày ý kiến, trên cơ sở đó, kết luận về vấn đề.
Gợi ý:
Truyện có hai sự việc mang tính chất kì ảo. Sự việc thứ nhất là mảnh giấy do bà đồng gù ném ra sau khi vợ Thành sắm lễ đến xin bói. Những hình vẽ trên mảnh giấy kia là sự chỉ dẫn kì lạ giúp Thành bắt được con dế quý. Sự việc thứ hai: sau khi làm chết con dế quý của cha, đứa con trai 9 tuổi của Thành đã hoá thân thành con dế, tuy nhỏ, nhưng có thể thắng bất cứ con dế kì lạ nào.
Để thấy được ý nghĩa, vai trò của từng yếu tố kì ảo trong truyện, cần đặt nó vào mạch chuyện. Sự kiện thứ nhất xuất hiện lúc Thành đang lâm vào thế bế tắc: không làm sao mà tìm được con dế đạt tiêu chuẩn để nộp quan. Sự bế tắc này khiến Thành rơi vào khốn đốn: bị đánh
đập, o ép đến mức muốn tự tử. Mảnh giấy có tính chất chỉ dẫn của bà đồng gù đã giúp Thành tìm được con dế quý. Mặc dù con dế đó không nộp được cho quan (vì bị đứa con trai làm chết), nhưng có vai trò dẫn đến sự việc có tính chất kì ảo thứ hai: đứa con trai đã hoá thành một con dế để cứu cha. Như vậy, các yếu tố kì ảo trong truyện có quan hệ liên đới, cùng tập trung tháo gỡ bế tắc của nhân vật, đẩy câu chuyện phát triển theo chủ ý sáng tạo của tác giả.
Câu hỏi 4
Với câu hỏi có tính chất phân tích, suy luận như thế này, GV có thể nêu vấn đề cho HS thảo luận. Cần gợi ý thêm bằng một số câu hỏi nhỏ: Những chi tiết, sự việc nào giúp câu chuyện được kể trở nên đáng tin? Yếu tố kì ảo có làm suy giảm tính hiện thực của tác phẩm không? Vì sao? Khi miêu tả bức tranh cuộc sống trong tác phẩm, tác giả thể hiện thái độ gì? Thái độ đó có ý nghĩa như thế nào?
Gợi ý:
Một số chi tiết, sự việc có tác dụng thể hiện tính chất hiện thực của tác phẩm: câu chuyện xảy ra có thời gian xác định (đời Tuyên Đức nhà Minh); có địa danh cụ thể (huyện Hoa Âm, tỉnh Thiểm Tây); vị thế và cách hành xử của các nhân vật phản ánh đúng bản chất các quan hệ xã hội thời phong kiến (quan lại bắt dân phải làm những gì họ muốn; có quyền trách phạt, đánh đập cũng như quyền ban thưởng một cách tuỳ tiện, chủ quan); tính phổ quát của sự việc khiến cho sự tác động của yếu tố kì ảo không làm suy giảm giá trị hiện thực (nếu Thành không nhờ có bà đồng gù chỉ dẫn mà tìm được dế quý thì người trong thiên hạ cũng có dế lạ để dâng vua; nếu Thành không được ban thưởng thì cũng sẽ có người khác hưởng phong lưu phú quý nhờ có dế tốt, dế lạ). Điều đó có nghĩa, mọi hệ luỵ và tác hại của trò chọi dế đối với đời sống là tất yếu, qua đó, bộ mặt của xã hội trong một thời kì đã được phơi bày.
Mặc dù người kể chuyện không trực tiếp bày tỏ thái độ đồng tình hay phản đối, nhưng qua câu chuyện được kể lại bằng một cái nhìn thấu suốt và khách quan, ta cũng
có thể nhận thấy sự phê phán nghiêm khắc của tác giả đối với hiện thực xã hội đương thời. Miêu tả sự tồn tại công nhiên của những điều phi lí, vô lối chính là c
có thể nhận thấy sự phê phán nghiêm khắc của tác giả đối với hiện thực xã hội đương thời. Miêu tả sự tồn tại công nhiên của những điều phi lí, vô lối chính là cách tác giả thể hiện thái độ châm biếm của mình. Lời bình ở cuối truyện thêm một lần xác nhận thái độ đó: "Họ Thành vì sâu mọt mà nghèo, nhờ dế chọi mà giàu, áo cừu ngựa tốt vênh vang, lúc làm lí chính bị trách phạt chắc không nghĩ rằng mình được thế đâu. Trời đền đáp cho kẻ trưởng giả trọng hậu, tới nỗi tuần phủ tri huyện cũng được hưởng phúc ấm nhờ con dế.".
Câu hỏi 5
Để trả lời câu hỏi này, HS cần đọc lại đoạn văn, phân biệt được ngôn ngữ người kể chuyện và ngôn ngữ nhân vật, cảm nhận được màu sắc riêng của ngôn ngữ người kể chuyện.
Gợi ý:
Đoạn văn chỉ có một câu là lời nhân vật (Thành tự nói với mình), còn lại chủ yếu là ngôn ngữ của người kể chuyện ngôi thứ ba.
Ngôn ngữ người kể chuyện đảm trách các nhiệm vụ: phần dẫn cho lời nhân vật, miêu tả cảnh vật, kể lại diễn biến của sự việc. Qua ngôn ngữ người kể chuyện, phần nào thấy được thái độ của tác giả đối với hiện thực cuộc sống.
Với từng ý, GV cần gợi cho HS tìm các câu cụ thể trong đoạn văn để minh hoạ.
Câu hỏi 6
Câu hỏi yêu cầu HS phân tích, suy luận, vận dụng tri thức cơ bản về truyện truyền kì (ở mục Tri thức ngữ văn) để nhận xét màu sắc truyền kì của tác phẩm. GV có thể cho HS thảo luận.
Gợi ý:
Một số đặc điểm của truyện truyền kì thể hiện qua Dế chọi: - Cốt truyện là chuỗi sự kiện được tổ chức theo quan hệ tuyến tính (xem lại gợi ý trả lời câu hỏi 1). - Có sự kết hợp giữa yếu tố hiện thực và yếu tố kì ảo. Các yếu tố kì ảo gắn với những sự kiện quan trọng nhất, quyết định diễn biến của câu chuyện và số phận của nhân vật chính.
Hoạt động 4 Viết kết nối với đọc
Để HS thực hiện phần viết đúng hướng, GV có thể gợi ý thêm: Truyện có đậm màu sắc kì ảo không? Tính chất kì ảo gắn với sự việc, nhân vật nào? Nó có làm thay đổi tính chất hiện thực của tác phẩm không? Vì sao? Tính chất kì ảo có vai trò như thế nào trong việc tạo nên sức hấp dẫn của tác phẩm? Từ gợi ý trên, HS triển khai đoạn văn theo hình thức tự chọn (diễn dịch, quy nạp, song song, phối hợp), chú ý tính mạch lạc, tính liên kết và dung lượng đoạn văn theo quy định. GV dành khoảng 10 phút cho HS thực hiện phần viết, thu lại làm tài liệu theo dõi, đánh giá năng lực viết của các em.
MỘT SỐ YẾU TỐ HÁN VIỆT DỄ NHẦM LẪN VÀ CÁCH PHÂN BIỆT 1. Phân tích yêu cầu cần đạt HS hiểu được nguyên nhân gây ra sự nhầm lẫn, cách phân biệt nghĩa của các yếu
MỘT SỐ YẾU TỐ HÁN VIỆT DỄ NHẦM LẪN VÀ CÁCH PHÂN BIỆT
1. Phân tích yêu cầu cần đạt
HS hiểu được nguyên nhân gây ra sự nhầm lẫn, cách phân biệt nghĩa của các yếu tố Hán Việt dễ nhầm lẫn.
Tránh sự nhầm lẫn trong nhận thức về nghĩa của các yếu tố và nghĩa của từ để sử dụng từ chính xác khi nói và viết.
2. Gợi ý tổ chức hoạt động dạy học
Hoạt động 1 Hình thành kiến thức mới
GV hướng dẫn để HS nắm được bản chất của hiện tượng dễ nhầm lẫn về nghĩa giữa các yếu tố Hán Việt (tìm hiểu nội dung này ở mục Tri thức ngữ văn và khung "nhận biết" ở
SGK, trang 22 - 23; tập trung làm rõ hai nguyên nhân dẫn đến việc nhầm lẫn về nghĩa giữa các yếu tố: hiện tượng đồng âm và hiện tượng gần âm (qua phân tích các ví dụ trong SGK hoặc ví dụ GV chuẩn bị thêm).
Với HS lớp 9, việc hiểu chính xác nghĩa của yếu tố Hán Việt là một yêu cầu cao, vì thế, GV cần hướng dẫn các em cách dựa vào từ có yếu tố đồng âm để suy luận, xác định nghĩa, đặc biệt là cách tra cứu tài liệu, từ điển.
Hoạt động 2 Luyện tập, vận dụng
Bài tập 1
Để xác định nghĩa của các yếu tố mà bài tập yêu cầu, HS có thể sử dụng hai cách như SGK đã nêu; trong đó, ưu tiên việc tra cứu từ điển Hán Việt, tránh suy luận chủ quan, thiếu căn cứ dẫn đến hiểu không đúng nghĩa của yếu tố.
a. sinh trong sinh thành có nghĩa là "đẻ"; sinh trong sinh viên nghĩa là "học trò".
b. bá trong bá chủ nghĩa là "thủ lĩnh liên minh các chư hầu thời phong kiến Trung Quốc cổ đại; làm lớn, xưng hùng"; bá trong cụm từ nhất hô bá ứng nghĩa là "trăm".
c. bào trong đồng bào nghĩa là "thuộc cùng huyết thống"; bào trong chiến bào nghĩa là "áo dài ống tay rộng".
d. bằng trong công bằng nghĩa là "ngang, đều"; bằng trong bằng hữu nghĩa là "bạn".
Bài tập 2
GV hướng dẫn HS tra từ điển Hán Việt đề tìm từ chứa các yếu tố đồng âm với yếu tố đã chỉ định, nêu nghĩa của cả hai yếu tố đồng âm đó để có cơ sở phân biệt.
a. Từ kinh nghiệm có yếu tố kinh (trải qua) đồng âm với kinh (gây kích động mạnh) trong từ kinh ngạc.
b. Từ kì vọng có yếu tố kì (trông mong) đồng âm với kì (lạ, khác với bình thường) trong từ kì lạ.
VĂN BẢN 3. SƠN TINH - THUỶ TINH (Trích, Nguyễn Nhược Pháp) 1. Phân tích yêu cầu cần đạt Nhận biết và phân tích được cách miêu tả yếu tố kì ảo trong bài thơ, góp
VĂN BẢN 3. SƠN TINH - THUỶ TINH
(Trích, Nguyễn Nhược Pháp)
1. Phân tích yêu cầu cần đạt
Nhận biết và phân tích được cách miêu tả yếu tố kì ảo trong bài thơ, góp phần củng cố hiểu biết về yếu tố kì ảo trong truyện truyền kì.
HS cảm nhận được tình yêu cuộc sống, yêu con người và tinh thần lạc quan của nhà thơ thể hiện trong tác phẩm.
2. Gợi ý tổ chức hoạt động dạy học Hoạt động 1 Khởi động VB 3 chỉ dạy trong 1 tiết, yêu cầu kết nối với VB 1 và VB 2 về chủ đề "thế giới kì ảo". Để tạo không kh
2. Gợi ý tổ chức hoạt động dạy học
Hoạt động 1 Khởi động
VB 3 chỉ dạy trong 1 tiết, yêu cầu kết nối với VB 1 và VB 2 về chủ đề "thế giới kì ảo". Để tạo không khí, GV có thể cho HS xem một vài tranh, ảnh hoặc xem đoạn phim ngắn nói về những nhân vật có khả năng đặc biệt, phép thuật cao cường, chuẩn bị tâm thế trước khi khám phá VB.
Hoạt động 2 Đọc văn bản
HS được yêu cầu đọc VB trước khi đến lớp. GV hướng dẫn ngữ điệu đọc phù hợp với nội dung bài thơ. Nói chung VB này nên đọc với giọng vui tươi, trong sáng, dí dỏm.
GV có thể đọc mẫu đoạn đầu, sau đó chỉ định một vài HS đọc tiếp những phần còn lại. Lưu ý, chỉ nên để mỗi HS đọc một đoạn có độ dài vừa phải, điều quan trọng là hướng dẫn HS cách đọc diễn cảm đối với một bài thơ bảy chữ được dùng để kể chuyện.
Hoạt động 3 Khám phá văn bản
Hệ thống câu hỏi sau khi đọc chủ yếu để HS chuẩn bị bài ở nhà. Tuy nhiên, khi xây dựng kế hoạch dạy học, GV cũng cần dựa vào các nội dung cơ bản được nêu ở đây, trên cơ sở đó, gợi ý thêm cho HS hướng giải quyết các câu hỏi và nhiệm vụ.
Câu hỏi 1
Câu hỏi hướng HS đến việc dựa vào đặc trưng thể loại để chỉ ra những điểm giống nhau và khác nhau giữa truyền thuyết Sơn Tinh, Thuỷ Tinh với bài thơ của Nguyễn Nhược Pháp. GV có thể đưa ra những câu hỏi gợi ý: Câu chuyện được kể trong hai tác phẩm giống nhau ở những điểm nào? Sự khác nhau cơ bản giữa hai tác phẩm là gì? Vì sao có sự khác nhau đó?
Gợi ý:
Những điểm giống nhau: + Cả truyền thuyết Sơn Tinh, Thuỷ Tinh với bài thơ của Nguyễn Nhược Pháp đều giống nhau về câu chuyện được kể (các nhân vật, các sự kiện chính, diễn biến).
Hai tác phẩm đều sử dụng một số chi tiết kì ảo, thể hiện phép thuật cao cường của Sơn Tinh và Thuỷ Tinh trong cuộc giao tranh quyết liệt, long trời lở đất.
Những điểm khác nhau: + Tác giả và phương thức sáng tạo: Truyền thuyết Sơn Tinh, Thuỷ Tinh là sáng tác dân gian, phương thức truyền miệng, mang tính tập thể; tác phẩm của Nguyễn Nhược Pháp là sản phẩm sáng tạo cá nhân của tác giả, mang phong cách của nhà thơ.
Thể loại: Truyền thuyết Sơn Tinh, Thuỷ Tinh kể bằng hình thức văn xuôi; tác phẩm của Nguyễn Nhược Pháp thuộc thể loại thơ, kể chuyện bằng thơ.
Về mối quan hệ giữa hai tác phẩm: Bài thơ của Nguyễn Nhược Pháp ra đời trên cơ sở truyện dân gian Sơn Tinh, Thuỷ Tinh, có tính chất sáng tạo lại.
Câu hỏi 2 Câu hỏi này yêu cầu mức độ cao hơn so với câu hỏi trước đó. GV cần hướng dẫn HS xác định được những chi tiết khắc hoạ phép thuật của Sơn Tinh và Thuỷ
Câu hỏi 2
Câu hỏi này yêu cầu mức độ cao hơn so với câu hỏi trước đó. GV cần hướng dẫn HS xác định được những chi tiết khắc hoạ phép thuật của Sơn Tinh và Thuỷ Tinh, qua đó sẽ cảm nhận được thái độ của người kể chuyện đối với hai nhân vật này. GV có thể cho HS thảo luận nhóm, nêu ý kiến thống nhất của nhóm.
Gợi ý:
Phép thuật của Sơn Tinh được thể hiện: phi bạch hổ; niệm chú đẩy đất vù lên cao; tay vẫy hùm, voi, báo; đạp long đất núi,… Phép thuật của Thuỷ Tinh: cưỡi lưng rồng uy nghi; bắt quyết hô mưa to gió lớn; giậm chân rung khắp làng gần quanh,…
Những chi tiết khắc hoạ tài năng của Sơn Tinh và Thuỷ Tinh trong bài thơ cho thấy không có sự thiên vị đối với Sơn Tinh như ở truyện dân gian. Với hồn thơ đầy lãng mạn, Nguyễn Nhược Pháp đã thể hiện một cái nhìn công bằng, không đứng về bất cứ bên nào.
Với ông, câu chuyện về Sơn Tinh, Thuỷ Tinh là câu chuyện của tình yêu; cả hai chàng đều đáng yêu, vì yêu nên mới ghen tuông, giận dữ. Chỉ qua những câu thơ kết thúc tác phẩm, ta cũng có thể thấy được nụ cười hồn hậu, hóm hỉnh và bao dung của nhà thơ trước hành động dâng nước lên đánh Sơn Tinh của Thuỷ Tinh: Thuỷ Tinh năm năm dâng nước bể/ Đục núi hò reo đòi Mị Nương/ Trần gian đâu có người dai thế/ Cũng bởi thần yêu nên khác thường. Đây cũng là một yếu tố tạo nên sự tươi mới, trẻ trung, sức hấp dẫn của bài thơ.
Câu hỏi 3
GV cần hướng dẫn HS đọc kĩ lại phần đầu của VB để chỉ ra những chi tiết miêu tả Mị Nương và suy luận xem những chi tiết đó giúp các em hình dung thế nào về nhân vật.
Gợi ý:
Nguyễn Nhược Pháp đã miêu tả Mị Nương qua những chi tiết: Con vua Hùng Vương thứ mười tám, xinh như tiên, tóc xanh, viền má hây hây đỏ, miệng bé thắm như san hô, tay trắng nõn, hai chân nhỏ, bao người mê nên làm thơ ca ngợi,…
Những chi tiết đó giúp ta hình dung Mị Nương là một người con gái xinh đẹp tuyệt trần, nền nã, nết na và rất đáng yêu. Đáng yêu không chỉ bởi vẻ đẹp ngoại hình mà còn bởi cách thể hiện cảm xúc (nghĩ vì mình mà xảy ra cuộc chiến khốc liệt giữa Sơn Tinh và Thuỷ Tinh): Mị Nương kinh hãi ngồi trong kiệu/ Bỗng chợt nàng kêu, mắt lệ nhoà/ (Giọng kiêu hay buồn không ai hiểu/ Nhưng thật dễ thương): "Ô! Vì ta!"… Cũng qua miêu tả từ hình thức tới cách thể hiện nội tâm, ta thấy nàng Mị Nương của Nguyễn Nhược Pháp ít nhiều đã được "hiện đại hoá".
Câu hỏi 4
Câu hỏi này nhằm hướng HS vào việc cảm nhận, lí giải vai trò của chi tiết, hình ảnh trong thơ trữ tình. GV yêu cầu HS chỉ ra một số chi tiết, hình ảnh sinh động, giàu sức gợi miêu tả cảnh giao tranh giữa Sơn Tinh và Thuỷ Tinh; trình bày cảm nhận của mình về một chi tiết ấn tượng nhất, giải thích lí do.
Gợi ý: Về phía Thuỷ Tinh, có thể nêu các chi tiết: sóng cả gầm reo lăn như chớp, cưỡi lưng rồng hung hăng; đội quân của Thuỷ Tinh có cá voi quác mồm to muốn đớp
Gợi ý:
Về phía Thuỷ Tinh, có thể nêu các chi tiết: sóng cả gầm reo lăn như chớp, cưỡi lưng rồng hung hăng; đội quân của Thuỷ Tinh có cá voi quác mồm to muốn đớp, cá mập quẫy đuôi cuồng nhe răng,… Về phía Sơn Tinh: tức khắc niệm chú, đất nẩy vù lên cao; đưa tay vẫy hùm, voi, báo; các con vật thì đuôi quắp, nhe nanh, giơ vuốt; đạp long đất núi, gầm, xông xáo, cuộc chiến khiến cho máu vọt phì reo muôn ngấn hồng; quang cảnh xung quanh thì mây đen hăm hở bay mù mịt; sấm ran, sét động nổ loè xanh…
Trong số các chi tiết đó, HS tuỳ ý lựa chọn một chi tiết gây ấn tượng mạnh đối với mình. Đây là câu hỏi có thể có nhiều phương án trả lời, GV cần khuyến khích HS tích cực, chủ động để các em trình bày được những cảm nhận riêng.
Câu hỏi 5
Mục tiêu của câu hỏi là củng cố kiến thức về yếu tố kì ảo cho HS thông qua việc nhận diện và phân tích biểu hiện, cách miêu tả các yếu tố đó trong VB. GV có thể cho HS làm việc
theo cặp, nêu ý kiến để thảo luận trong lớp.
Gợi ý:
GV hướng dẫn HS trả lời câu hỏi này theo các bước: - Liệt kê những yếu tố kì ảo: thần núi, thần nước mà cũng muốn lấy người trần làm vợ; thần nào cũng có những phép thần thông phi thường, có thể trổ tài ngay trước mặt mọi người; trong giao tranh, đội quân của Thuỷ Tinh là những loài thuỷ tộc ghê gớm; đội quân của Sơn Tinh là những con vật dữ tợn của chốn rừng xanh; hằng năm vì mối thù không lấy được Mị Nương mà Thuỷ Tinh không bao giờ quên gây chiến…
Cách miêu tả những yếu tố kì ảo đó của Nguyễn Nhược Pháp rất đặc sắc, thể hiện trí tưởng tượng phong phú, sáng tạo; khả năng liên tưởng tài tình, cách miêu tả giàu tính hài hước, vui nhộn. Chính những yếu tố kì ảo đó đã mang lại sự hấp dẫn, thú vị cho tác phẩm.
Câu hỏi 6
Câu hỏi 6 yêu cầu ở mức độ cao hơn so với các câu hỏi trước đó. GV cần hướng dẫn HS phân tích để chỉ ra được lí do vì sao bài thơ Sơn Tinh - Thuỷ Tinh lại hấp dẫn đối với người đọc. GV hướng dẫn HS trả lời bằng cách gợi ý cho các em chỉ ra những nét đặc sắc về nghệ thuật kể chuyện, nghệ thuật miêu tả nhân vật trong thơ trữ tình, nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ, hình ảnh, giọng điệu,… GV có thể cho HS thảo luận nhóm, nhóm cử đại diện nêu phương án trả lời. GV tổ chức cho HS trao đổi, sau đó nhận xét, đánh giá, khái quát vấn đề.
Gợi ý:
Nghệ thuật kể chuyện hấp dẫn. Bài thơ của Nguyễn Nhược Pháp cơ bản vẫn bám sát cốt truyện của truyền thuyết Sơn Tinh, Thuỷ Tinh, song vì đây là thơ trữ tình nên ông đã đưa vào trong bài thơ nhiều liên tưởng lạ, từ tả cảnh, tả người đến tả tình, khiến cho câu chuyện trở nên sinh động và duyên dáng lạ thường.
Nghệ thuật miêu tả nhân vật kết hợp giữa miêu tả ngoại hình và nội tâm khiến nhân vật hiện lên rất sinh động, gần gũi, đời thường. Nhà thơ đã "hiện đại hoá" các nhân vật,
VIẾT VIẾT BÀI VĂN NGHỊ LUẬN VỀ MỘT VẤN ĐỀ CẦN GIẢI QUYẾT (CON NGƯỜI TRONG MỐI QUAN HỆ VỚI TỰ NHIÊN) 1. Phân tích yêu cầu cần đạt HS nắm được cấu trúc của bài vă
VIẾT
VIẾT BÀI VĂN NGHỊ LUẬN VỀ MỘT VẤN ĐỀ CẦN GIẢI QUYẾT
(CON NGƯỜI TRONG MỐI QUAN HỆ VỚI TỰ NHIÊN)
1. Phân tích yêu cầu cần đạt
HS nắm được cấu trúc của bài văn nghị luận về một vấn đề cần giải quyết, cụ thể ở đây là con người trong mối quan hệ với tự nhiên.
HS viết được bài văn nghị luận bằng cách nêu vấn đề theo giới hạn nội dung của phần Viết, bài viết có bố cục rõ ràng, triển khai các phần hợp lí (có hệ thống luận điểm, sử dụng lí lẽ và bằng chứng làm rõ từng luận điểm), giàu sức thuyết phục.
2. Những lưu ý về yêu cầu đối với bài văn nghị luận về một vấn đề cần giải quyết
(con người trong mối quan hệ với tự nhiên)
SGK nêu bốn yêu cầu chính của kiểu bài viết với trình tự các bước cần thực hiện của một bài nghị luận. GV cần lưu ý HS một số điểm cụ thể:
Khi nêu vấn đề thể hiện mối quan hệ giữa con người với tự nhiên, cần tường minh hoá bằng câu văn cụ thể để nhận thức đúng bản chất của nó, từ đó mới có thể triển khai bài viết theo đúng yêu cầu.
Các luận điểm phải làm rõ từng khía cạnh của vấn đề (những khía cạnh thể hiện nhận thức của người viết); có đề cập ý kiến trái chiều để phản bác nhằm củng cố ý kiến của bản thân, việc phản bác ý kiến trái chiều cần phải có cơ sở.
Nếu bàn về vấn đề có tính tích cực, cần nêu cách phát huy tác dụng của nó đối với đời sống; nếu bàn về vấn đề có tính tiêu cực, cần đề xuất giải pháp hạn chế. Các giải pháp phải có tính khả thi.
3. Gợi ý tổ chức hoạt động dạy học
Hoạt động 1 Giới thiệu kiểu bài
GV yêu cầu HS đọc lời dẫn dưới nhan đề Viết bài văn nghị luận về một vấn đề cần giải quyết (con người trong mối quan hệ với tự nhiên) ở SGK, nêu một số câu hỏi: Vì sao chúng ta phải quan tâm giải quyết các vấn đề thể hiện mối quan hệ giữa con người với tự nhiên? Bài văn nghị luận có ưu thế gì khi lấy những vấn đề đó làm đề tài? Việc hiểu sâu sắc và bàn luận thấu đáo những vấn đề như vậy có tác dụng gì?
Dựa trên các câu trả lời của HS, GV giới thiệu ngắn gọn về nội dung phần Viết của bài.
Hoạt động 2 Tìm hiểu yêu cầu đối với bài văn nghị luận về một vấn đề cần giải quyết (con người trong mối quan hệ với tự nhiên) GV cho HS nhắc lại các ý trong ph
Hoạt động 2 Tìm hiểu yêu cầu đối với bài văn nghị luận về một vấn đề cần giải
quyết (con người trong mối quan hệ với tự nhiên)
GV cho HS nhắc lại các ý trong phần Yêu cầu ở SGK (trang 28), nêu một vài câu hỏi để kiểm tra mức độ nhận thức của HS. Các yêu cầu đều được trình bày ngắn gọn, tường minh, cho nên chỉ trao đổi về những ý đòi hỏi phải làm rõ thêm hoặc cần nhấn mạnh khi viết bài nghị luận.
Hoạt động 3 Đọc và phân tích bài viết tham khảo
GV yêu cầu HS đọc kĩ bài viết tham khảo, khi đọc chú ý theo dõi các thẻ đặt bên phải VB. GV có thể nêu thêm một số câu hỏi để định hướng cho HS rút ra được những kinh nghiệm từ bài viết tham khảo: Vấn đề được bài viết đề cập gợi cho em suy nghĩ gì trong việc chọn đề tài để viết? Các luận điểm của bài viết được triển khai có rõ ràng, mạch lạc không? Đọc bài viết, em rút ra được kinh nghiệm gì trong cách dùng lí lẽ, bằng chứng và trong việc phản bác ý kiến trái chiều? Em học được gì từ cách mở bài và kết bài của bài viết tham khảo?
Hoạt động 4 Thực hành viết theo các bước
Hướng dẫn HS chọn đề tài: GV lưu ý HS dựa vào nội dung đã nêu trong SGK để tìm đề tài. SGK đã nêu một số đề tài có tính chất gợi ý, HS có thể chọn một trong số đó hoặc tìm đề tài mà mình am hiểu và có hứng thú để viết bài.
Hướng dẫn HS tìm ý: Sau khi HS chọn được đề tài, GV hướng dẫn các em tìm ý bằng cách điền thông tin vào các ô theo mẫu phiếu sau đây:
PHIẾU TÌM Ý
Họ và tên: .................................................. Lớp: ................................
Nhiệm vụ: Tìm ý cho bài văn nghị luận về một vấn đề cần giải quyết (con người trong mối
quan hệ với tự nhiên).
Gợi ý: Suy nghĩ kĩ về đề tài, trả lời các câu hỏi đã được nêu ở phần tìm ý trong SGK,
ghi nhanh các ý tìm được vào các ô sau:
Vấn đề nào cần được giải quyết?, ......................................................................................... .........................................................................................
Em có ý kiến như thế nào về vấn đề? (Lí lẽ, bằng chứng), ......................................................................................... .........................................................................................
Có ý kiến trái chiều nào cần phản bác? Phải phản bác như thế nào? (Lí lẽ, bằng chứng), ......................................................................................... .........................................................................................
Cần có giải pháp nào để giải quyết vấn đề?, ......................................................................................... .........................................................................................
Hướng dẫn HS lập dàn ý: Từ kết quả tìm ý của HS, GV nhận xét, chỉnh sửa, bổ sung; cho HS sắp xếp các ý đã ghi chép vào các phần của bài viết (Mở bài, Thân bài,
Hướng dẫn HS lập dàn ý: Từ kết quả tìm ý của HS, GV nhận xét, chỉnh sửa, bổ sung; cho HS sắp xếp các ý đã ghi chép vào các phần của bài viết (Mở bài, Thân bài, Kết bài) theo trật tự hợp lí để hoàn thành dàn ý.
Hướng dẫn HS viết bài: HS dựa vào dàn ý để tiến hành viết bài. Cần đọc kĩ bài viết tham khảo để biết cách mở bài, kết bài trong một đoạn văn sao cho gây được ấn tượng. Mỗi luận điểm của phần Thân bài cũng cần được triển khai trong một đoạn văn, tổ chức theo các hình thức linh hoạt (diễn dịch, quy nạp, song song, phối hợp). Điều quan trọng nhất khi viết bài là sử dụng lí lẽ và bằng chứng ở từng luận điểm (khẳng định sự đúng đắn của ý kiến mình nêu hoặc phản bác ý kiến trái chiều) để bài viết giàu sức thuyết phục.
TRẢ BÀI
Hoạt động 1 Nhắc lại, khắc sâu yêu cầu của kiểu bài
Khi viết bài, HS đã phải chú ý đến yêu cầu của bài văn nghị luận về một vấn đề cần giải
quyết (con người trong mối quan hệ với tự nhiên). GV nhắc lại yêu cầu này để HS lấy đó làm căn cứ tự đánh giá bài viết của mình sau khi nhận bài từ GV.
Hoạt động 2 Nhận xét về kết quả viết và chỉnh sửa bài viết
GV nêu một số nét chung về bài viết của HS (mức độ bám sát yêu cầu viết, bố cục bài viết, cách triển khai các luận điểm, huy động kiến thức, dùng lí lẽ và bằng chứng, cách trình bày, diễn đạt,...), khái quát những mặt mạnh và mặt yếu, hướng dẫn cách khắc phục.
Hướng dẫn HS sửa bài (căn cứ vào hướng dẫn chỉnh sửa nêu ở SGK, xem lại những chỗ GV đã đánh dấu và nhận xét cụ thể). Khuyến khích HS về nhà viết lại một bản mới, khắc phục những nhược điểm, phát huy ưu điểm của bài viết đã được đánh giá.
Trang 64
CỦNG CỐ, MỞ RỘNG GV hướng dẫn HS làm bài tập 1, 2, 3 để củng cố kiến thức cơ bản, nhìn lại một cách có hệ thống các khía cạnh cốt truyện, nhân vật, không gian,
CỦNG CỐ, MỞ RỘNG
GV hướng dẫn HS làm bài tập 1, 2, 3 để củng cố kiến thức cơ bản, nhìn lại một cách có hệ thống các khía cạnh cốt truyện, nhân vật, không gian, thời gian, yếu tố kì ảo, chủ đề của hai VB trong phần đọc, từ đó, hiểu sâu sắc hơn về thể loại truyện truyền kì nói chung.
Gợi ý cho HS danh mục một số truyện truyền kì hoặc truyện hiện đại có yếu tố kì ảo, cách ghi chép các thông tin theo yêu cầu của bài tập 4.
Dù HS làm việc cá nhân hay làm việc nhóm, GV cần có cách thức kiểm tra kết quả, nhắc nhở để hoạt động củng cố, mở rộng trở nên thú vị, nhẹ nhàng và có hiệu quả.
Trang 66
Trang 67
Trang 68
Trang 69
GIỚI THIỆU BÀI HỌC VÀ TRI THỨC NGỮ VĂN Hoạt động 1 Tìm hiểu Giới thiệu bài học Tên bài học là Những cung bậc tâm trạng. Hai ý trong phần Giới thiệu bài học vừa
GIỚI THIỆU BÀI HỌC VÀ TRI THỨC NGỮ VĂN
Hoạt động 1 Tìm hiểu Giới thiệu bài học
Tên bài học là Những cung bậc tâm trạng. Hai ý trong phần Giới thiệu bài học vừa làm rõ chủ đề, vừa nêu khái quát thể loại VB được học trong bài.
Chủ đề chính của bài học là những nỗi niềm, khát vọng riêng tư của con người trong cuộc sống. GV có thể yêu cầu HS chia sẻ những nỗi niềm, ước mong của bản thân hoặc sử dụng một trích đoạn thơ ngắn (nên chọn đoạn chỉ gồm 4 câu song thất lục bát) làm ví dụ minh hoạ để giới thiệu nội dung này. Chẳng hạn, 4 câu thơ trong bản dịch Dụ chư tì tướng hịch văn (Hịch tướng sĩ) bộc lộ cảm xúc căm hận, kiên quyết đánh đuổi quân Mông - Nguyên xâm lược:
… Ăn gan ấy mới hầu thoả dạ, Uống huyết kia mới hả giận này.
Ví dù gan nát, óc lầy, Cho rằng da ngựa bọc thây cũng đành… (Phan Kế Bính, bản dịch Dụ chư tì tướng hịch văn) - Thể loại trọng tâm của bài học là thơ song thất lục bát. GV sử dụng 4 câu thơ song thất lục bát (dùng bảng hoặc máy chiếu để hiển thị các câu thơ đó giúp HS dễ quan sát, theo dõi), yêu cầu HS nhận biết số chữ trong từng câu thơ, từ đó so sánh với thơ lục bát để có sự phân biệt rõ hơn hai thể thơ.
GV triển khai ngắn gọn, hấp dẫn hai nội dung trên, sau đó giới thiệu khái quát các hoạt động mà HS sẽ thực hiện ở bài học này.
VĂN BẢN 1. NỖI NIỀM CHINH PHỤ (Trích Chinh phụ ngâm, nguyên tác của Đặng Trần Côn, bản dịch của Đoàn Thị Điểm (?)) 1. Phân tích yêu cầu cần đạt HS nhận biết và
VĂN BẢN 1. NỖI NIỀM CHINH PHỤ
(Trích Chinh phụ ngâm, nguyên tác của Đặng Trần Côn, bản dịch của Đoàn Thị Điểm (?))
1. Phân tích yêu cầu cần đạt
HS nhận biết và phân tích được một số yếu tố về thi luật của thơ song thất lục bát như: vần, nhịp, số chữ, số dòng trong một khổ thơ; sự khác biệt so với thơ lục bát được thể hiện trong đoạn trích Nỗi niềm chinh phụ. - HS nhận biết và phân tích được tình cảm, cảm xúc, cảm hứng chủ đạo của người viết thể hiện qua VB.
HS nhận biết và phân tích được mối quan hệ giữa nội dung và hình thức của VB văn học.
2. Gợi ý tổ chức hoạt động dạy học
Hoạt động 1 Khởi động
Trong SGK, phần Trước khi đọc có hai yêu cầu: - Đối với yêu cầu 1, GV mời một vài HS phát biểu (nêu tên và giới thiệu ngắn gọn về một cuộc chiến tranh đã xảy ra trên đất nước ta trong khoảng đầu thế kỉ XVIII). GV tổng hợp các ý kiến để HS thấy được một thời kì tao loạn của lịch sử - yếu tố quan trọng quyết định sự ra đời của các tác phẩm viết về đề tài chiến tranh, trong đó có miêu tả các nạn nhân của chiến tranh. Những hiểu biết đó giúp HS chuẩn bị tâm thế để khám phá VB. Tham khảo thông tin về một số cuộc chiến đáng chú ý: + Trịnh - Nguyễn phân tranh: phân chia lãnh thổ giữa chế độ "vua Lê chúa Trịnh" ở phía bắc sông Gianh (Đàng Ngoài) và chúa Nguyễn cai trị ở phía nam (Đàng Trong), mở đầu khi Trịnh Tráng đem quân đánh Nguyễn Phúc Nguyên năm 1627 và kết thúc vào năm 1777 khi chúa Nguyễn sụp đổ.
Khởi nghĩa Nguyễn Dương Hưng (1737) ở Sơn Tây.
Khởi nghĩa Nguyễn Danh Phương (1740 - 1751) ở khu vực nay thuộc các tỉnh Vĩnh Phúc, Phú Thọ. + Khởi nghĩa Nguyễn Hữu Cầu (1741 - 1751) xuất phát từ Đồ Sơn (Hải
Khởi nghĩa Nguyễn Danh Phương (1740 - 1751) ở khu vực nay thuộc các tỉnh Vĩnh Phúc, Phú Thọ. + Khởi nghĩa Nguyễn Hữu Cầu (1741 - 1751) xuất phát từ Đồ Sơn (Hải Phòng), di chuyển lên Kinh Bắc (Bắc Giang, Bắc Ninh), uy hiếp kinh thành Thăng Long rồi xuống Sơn Nam, vào Thanh Hoá, Nghệ An.
Khởi nghĩa Hoàng Công Chất (1739 - 1769) trên địa bàn trấn Sơn Nam. - Đối với yêu cầu 2, GV cho HS thảo luận nhóm, sau đó nhận xét, gợi ý để HS liên hệ theo định hướng kết nối với VB, làm cơ sở cho hoạt động đọc sau đó.
Hoạt động 2 Đọc văn bản
GV yêu cầu một số HS đọc VB thành tiếng trước lớp, lưu ý HS cách ngắt nhịp, tốc độ, âm lượng đọc phù hợp. Nếu HS đọc chưa đạt, GV đọc mẫu một đoạn ngắn (tối thiểu 4 câu thơ) để chỉnh sửa ngữ điệu đọc cho HS. - GV lưu ý HS đọc kĩ các chú thích, đặc biệt là các tên đất, tên người mang tính chất ước
lệ, tượng trưng, các điển tích, điển cố kết hợp với giảng giải mở rộng để các em hiểu nghĩa của những từ ngữ này; đồng thời cần giải thích nghĩa của một số từ ngữ khó, nhất là những từ ngữ ngày nay ít dùng. - Trong quá trình hướng dẫn HS đọc, GV nhắc HS sử dụng chiến lược đọc được nêu ở các thẻ bên phải VB để chú ý và ghi nhớ những chi tiết, những từ ngữ chỉ cảm xúc quan trọng trong VB.
Hoạt động 3 Khám phá văn bản
GV cho HS tự đọc, ghi lại những thông tin cần ghi nhớ về tác giả, dịch giả, bản dịch, đoạn trích đã cung cấp trong khung đặt ở sau VB. GV có thể mở rộng thông tin về dịch giả Đoàn Thị Điểm (đặc biệt là những thông tin về cuộc đời của nữ sĩ có thể là nguồn cảm hứng khi bà dịch tác phẩm này) giúp HS thuận lợi hơn khi khám phá VB. Các câu hỏi sau khi đọc được thiết kế theo mức độ yêu cầu đọc hiểu tăng dần: nhận biết (câu 1); phân tích, suy luận (câu 2, 3, 4, 5, 6); đánh giá, vận dụng (câu 7). Cần lưu ý hệ thống câu hỏi Sau khi đọc chủ yếu dành cho HS chuẩn bị bài ở nhà; GV có thể dựa vào đó để xây dựng hệ thống câu hỏi trong kế hoạch bài dạy của mình.
Câu hỏi 1
HS cần đọc kĩ những đặc điểm của thể thơ song thất lục bát trong phần Tri thức ngữ văn, sau đó đối chiếu, vận dụng vào đoạn trích này để có thể đưa ra câu trả lời. GV mời một số HS phát biểu hoặc cho HS làm việc nhóm để trao đổi phương án trả lời, sau đó cử đại diện trình bày. Trên cơ sở nhận biết những đặc điểm của thể thơ song thất lục bát kết hợp với tri thức về thể thơ lục bát đã được học ở lớp 6, HS chỉ rõ những điểm khác biệt của thể thơ song thất lục bát so với thể thơ lục bát.
Gợi ý:
Ở ý hỏi thứ nhất, phần Tri thức ngữ văn đã cung cấp 4 dấu hiệu để nhận diện thể thơ
song thất lục bát. HS cần lấy 4 câu thơ liên tiếp, chẳng hạn 4 câu thơ (từ câu thứ 9 đến câu thứ 12) của đoạn trích để minh hoạ (GV lưu ý không nên chọn khổ đầu
song thất lục bát. HS cần lấy 4 câu thơ liên tiếp, chẳng hạn 4 câu thơ (từ câu thứ 9 đến câu thứ 12) của đoạn trích để minh hoạ (GV lưu ý không nên chọn khổ đầu và khổ cuối đoạn trích, vì cần liên hệ với câu thơ liền trước và liền sau của khổ thơ GV chọn để có thể minh hoạ rõ những vần được gieo ở câu đầu và câu cuối khổ thơ được chọn):
Số tiếng trong mỗi câu thơ: HS cần chỉ rõ đâu là cặp câu 7 tiếng (song thất), đâu là câu 6 và 8 tiếng (lục bát). Ví dụ:
Tiếng dịch thổi nghe chùng đồng vọng, Hàng cờ bay trông bóng phất phơ., Cặp câu 7 tiếng (song thất)
Dấu chàng theo lớp mây đưa,, Câu lục
Thiếp nhìn răng núi ngân ngơ nỗi nhà., Câu bát
Về vần: HS chỉ rõ vần đã được gieo ở những tiếng nào, tiếng đó ở vị trí nào (chữ thứ mấy trong câu thơ), vần đó được gọi là vần lưng (yêu vận) hay vần chân (cước vận).
Tiếng dịch thổi nghe chùng đồng vọng,
Hàng cờ bay trông bóng phất phơ.
Dấu chàng theo lớp mây đưa,
Thiếp nhìn răng núi ngân ngơ nỗi nhà.
GV lưu ý HS: chữ chùng (vần ưng, gần âm với vần ăng) hiệp vần với chăng ở cuối câu thơ liền trước (Liễu dương biết thiếp đoạn trường này chăng); chữ nhà (vần a) hiệp vần với xa ở chữ thứ 5 của câu thơ liền sau (Chàng thì đi cõi xa mưa gió); các vần gieo ở giữa câu thơ là vần lưng (yêu vận): chùng, bóng, ngơ; ở cuối câu thơ là vần chân (cước vận): vọng, phơ, đưa, nhà.
Về thanh điệu: HS cần xác định các thanh bằng (B) – trắc (T) ở một số vị trí tiếng trong câu thơ khớp với sơ đồ thanh điệu đã cung cấp trong SGK, cụ thể là vị trí tiếng.
Tiếng dịch thổi nghe chùng đồng vọng,
B T
*Hàng cờ **bay** trông **bóng** phất **phơ**.*
B T B
*Dấu **chàng** theo lớp mây **đưa**,*
B T B
*Thiếp nhìn răng núi ngân **ngơ** nỗi **nhà**.*
B T B B
Về nhịp: Thể thơ song thất lục bát không có đặc điểm riêng, nổi bật về nhịp, vì thế nhịp không được coi là dấu hiệu quan trọng để nhận biết thể thơ này. Câu lục bát trong thơ song thất lục bát có cách ngắt nhịp tương tự câu lục bát trong thơ lục bát. Tuy nhiên, cách ngắt nhịp câu 7 chữ có điểm khác biệt nhất định so với câu 7 chữ trong thơ Đường luật. Đó là câu thơ Đường luật luôn ngắt chẵn trước, lẻ sau, còn câu 7 chữ trong thơ song thất lục bát thường ngắt lẻ trước, chẵn sau (trường hợp ngắt chẵn trước, lẻ sau hiếm hơn). Vì vậy, GV cần hướng dẫn HS chọn ví dụ minh hoạ câu thơ 7 chữ có cách ngắt nhịp lẻ trước, chẵn sau trong đoạn trích để HS thấy rõ hơn sự khác biệt.
Tham khảo cách ngắt nhịp sau: Tiếng địch thổi/ nghe chừng đồng vọng, (3/4) Hàng cờ bay/ trông bóng phất phơ. (3/4) Dấu chàng/ theo lớp mây đưa, (2/4) Thiếp nhìn
Tham khảo cách ngắt nhịp sau:
Tiếng địch thổi/ nghe chừng đồng vọng, (3/4) Hàng cờ bay/ trông bóng phất phơ. (3/4)
Dấu chàng/ theo lớp mây đưa, (2/4) Thiếp nhìn rặng núi/ ngẩn ngơ nỗi nhà. (4/4) - Ở ý hỏi thứ hai, sự khác biệt dễ nhận ra giữa hai thể thơ này (không xét đến trường hợp song thất lục bát biến thể và lục bát biến thể) căn bản thể hiện ở cặp câu song thất. GV hướng dẫn HS phân tích những biểu hiện cụ thể của sự khác biệt khi có sự hiện diện của cặp câu song thất:
Thơ song thất lục bát được thể hiện bằng các câu thơ dài ngắn phong phú hơn (6, 7 và 8 tiếng) thơ lục bát (6 và 8 tiếng).
Do cặp câu song thất đan xen cặp câu lục bát, vần chân ở câu lục sẽ hiệp với vần chân
ở câu thất (thay vì câu bát trong thơ lục bát) liền trước nó; vần chân ở câu bát sẽ hiệp với vần lưng ở câu thất (thay vì hiệp với vần chân ở câu lục trong thơ lục bát) liền sau nó.
Với sự xuất hiện của câu thơ 7 tiếng, thơ song thất lục bát có cách ngắt nhịp linh hoạt hơn (nhịp chẵn kết hợp với nhịp lẻ trong một câu thơ) so với thơ lục bát.
Câu hỏi 2
Câu hỏi yêu cầu HS phân tích, suy luận trên cơ sở bao quát nội dung đoạn trích. GV yêu cầu một số HS phát biểu hoặc cho các em làm việc nhóm để trả lời câu hỏi. Nếu HS làm việc nhóm, GV tổ chức cho các nhóm thảo luận. Sau đó, các nhóm cử đại diện phát biểu. GV chốt phương án thống nhất.
Gợi ý:
Bố cục đoạn trích gồm 2 phần: - Phần 1 gồm 12 câu thơ đầu: nỗi niềm người chinh phụ lúc vừa chia li người chinh phu. - Phần 2 gồm 12 câu thơ cuối: nỗi niềm người chinh phụ khi một mình trở về nhà. Lưu ý, nỗi niềm người chinh phụ ở hai thời khắc có điểm khác biệt: lúc vừa chia li người chinh phu thì lưu luyến, buồn (ngùi ngùi, ngẩn ngơ); còn khi một mình trở về thì cảm xúc chủ đạo của người chinh phụ là nỗi sầu khôn tả (Lòng chàng ý thiếp ai sầu hơn ai?).
Câu hỏi 3
HS có thể đọc theo những cách ngắt nhịp khác nhau, nhưng về cơ bản việc ngắt nhịp phải có cơ sở, không thể tuỳ tiện.
Gợi ý:
GV tổ chức cho HS làm việc nhóm, xác định cách ngắt nhịp của từng câu thơ, sau đó gọi đại diện một nhóm lên trình bày, các nhóm còn lại nêu ý kiến nhận xét, góp ý. Trường hợp ý kiến giữa các nhóm có sự khác biệt, GV lưu ý HS cơ sở của việc ngắt nhịp để thống nhất những phương án trả lời chính xác.
Việc ngắt nhịp phải đảm bảo quy tắc cấu tạo từ (tuyệt đối không tách một từ đa âm tiết để đọc ngắt trong các nhịp riêng biệt) và quy tắc ngữ pháp (không ngắt từ
Việc ngắt nhịp phải đảm bảo quy tắc cấu tạo từ (tuyệt đối không tách một từ đa âm tiết để đọc ngắt trong các nhịp riêng biệt) và quy tắc ngữ pháp (không ngắt từ thuộc cụm từ này để đọc liền nhịp với các từ thuộc cụm từ khác). Đây chính là cơ sở để HS xác định cách ngắt nhịp.
Với trường hợp bốn câu thơ đã cho, trên nguyên tắc, HS có thể đề xuất những phương án khác nhau, nhưng phải chỉ ra được tác dụng của cách ngắt nhịp mình lựa chọn. Có thể tham khảo cách ngắt nhịp sau:
Chốn Hàm Kinh/ chàng còn ngoảnh lại, (3/4) Bến Tiêu Tương/ thiếp hãy trông sang. (3/4)
Khói Tiêu Tương/ cách Hàm Dương, (3/3) Cây Hàm Dương/ cách Tiêu Tương mấy trùng. (3/5) Cách ngắt nhịp này đảm bảo được tính liên kết của từ, của cụm từ, tạo nhịp điệu đều
đặn, dàn trải, đem lại cảm xúc về một nỗi buồn man mác, mênh mang.
Ngoài ra, có thể có cách ngắt nhịp như:
Chốn Hàm Kinh/ chàng/ còn ngoảnh lại, (3/1/3) Bến Tiêu Tương/ thiếp/ hãy trông sang. (3/1/3)
Khói Tiêu Tương/ cách/ Hàm Dương, (3/1/2)
Cây Hàm Dương/ cách/ Tiêu Tương mấy trùng. (3/1/4)
Tuy nhiên, đây không phải là cách ngắt nhịp thông thường mà có tính chất "phá cách". Việc nhấn mạnh vào một số từ (bằng cách tách nhịp riêng) giúp người đọc cảm nhận rõ hơn những chi tiết cần quan tâm.
Câu hỏi 4
Đây là câu hỏi có cả yêu cầu nhận biết, phân tích, suy luận. Cần lưu ý rằng phép đối là cách sử dụng từ ngữ tạo nên sự cân xứng về ngữ pháp, hài hoà về âm thanh, nhịp điệu, sự tương phản hoặc tương đồng về nghĩa giữa các vế đối để nhấn mạnh một nội dung nào đó. HS cần xác định được nội dung nhấn mạnh này, bởi đó chính là giá trị, tác dụng của phép đối.
Gợi ý:
a. Đây là trường hợp đối liên (mỗi câu thơ là một liên/ vế) - Về ngữ pháp, hai câu thơ sử dụng cùng một cấu trúc ngữ pháp, tạo sự hô ứng:
Chủ ngữ, Vị ngữ
Chàng, thì đi cõi xa mưa gió,
Thiếp, thì về buồng cũ chiếu chăn.
– Về ngắt nhịp, hai câu thơ đều ngắt nhịp lẻ trước chắn sau, tạo âm hưởng sóng đôi khi đọc: Chàng thì đi/ cõi xa/ mưa gió, (3/2/2) Thiếp thì về/ buồng cũ/ chiếu
– Về ngắt nhịp, hai câu thơ đều ngắt nhịp lẻ trước chắn sau, tạo âm hưởng sóng đôi khi đọc:
Chàng thì đi/ cõi xa/ mưa gió, (3/2/2)
Thiếp thì về/ buồng cũ/ chiếu chăn. (3/2/2)
– Về nội dung, ý nghĩa (đây là nội dung quan trọng nhất cần phân tích để chỉ ra giá trị của phép đối), có thể tham khảo bảng sau:
Vế đối 1, Chàng, thì đi cõi xa mưa gió,
Đối tượng được miêu tả: người chinh phu, Hành động: xông pha, vất vả nơi biên thuỳ
Vế đối 2, Thiếp, thì về buồng cũ chiếu chăn.
Đối tượng được miêu tả: người chinh phụ, Tâm trạng: ở nhà, cô quạnh trong căn phòng
Phép đối có tác dụng nhấn mạnh sự chia lìa, cùng những khó khăn của người chinh phu và người chinh phụ khi không được gần bên nhau (đối tương thành).
b. Đây là trường hợp tiểu đối (đối ngay trong một câu thơ)
– Về ngữ pháp, hai vế câu thơ sử dụng cùng một cấu trúc ngữ pháp, tạo sự hô ứng:
Vế đối trước, Tuôn, màu mây biếc
Vế đối sau, trải, ngần núi xanh
Có thể có 2 cách phân tích ngữ pháp: cách 1: coi mỗi vế đối là một cụm động từ (tuôn/trải là động từ, màu mây biếc/ngần núi xanh là thành phần phụ (bổ ngữ)); cách 2: coi đây là hiện tượng đảo vị (còn gọi là đảo ngữ, là hiện tượng đảo ngược vị trí động từ lên trước chủ ngữ nhằm mục đích nhấn mạnh, thể hiện cảm xúc của người viết hoặc tạo hình ảnh, đường nét, chiều sâu cho lời văn, ý thơ; tuy nhiên việc thay đổi trật tự từ này không làm mất đi quan hệ cú pháp vốn có của câu mà chỉ mang dụng ý nghệ thuật, làm tăng tính gợi hình, gợi cảm cho sự diễn đạt).
– Về nội dung, ý nghĩa, có thể tham khảo bảng sau:
Vế đối trước, Tuôn, màu mây biếc
Động từ biểu thị sự di chuyển từ trong ra thành dòng, thành luồng, nhiều và liên tục, Hình ảnh của mây trời (gợi sự xa xôi)
Vế đối sau, trải, ngần núi xanh
Động từ biểu thị sự mở rộng ra trên bề mặt, Hình ảnh rặng núi (gợi sự cách trở)
Hai vế tiểu đối khắc hoạ sự chia xa của người chinh phu và người chinh phụ. Phép đối có tác dụng nhấn mạnh khoảng cách chia lìa, mỗi lúc một xa nhau hơn giữa hai người (đối tương thành).
c. Đây là trường hợp đối liên (mỗi câu thơ là một liên/ về) – Về ngữ pháp, hai câu thơ sử dụng cùng một cấu trúc ngữ pháp, tạo sự hô ứng: Trạng ngữ, Chủ ngữ, Vị
c. Đây là trường hợp đối liên (mỗi câu thơ là một liên/ về)
– Về ngữ pháp, hai câu thơ sử dụng cùng một cấu trúc ngữ pháp, tạo sự hô ứng:
Trạng ngữ, Chủ ngữ, Vị ngữ
Chốn Hàm Kinh, chàng, còn ngoảnh lại,
Bến Tiêu Tương, thiếp, hãy trông sang.
– Về nội dung, ý nghĩa, có thể tham khảo bảng sau:
Vế đối 1, Chốn Hàm Kinh, chàng, còn ngoảnh lại,
Không gian: nơi từng xảy ra nhiều trận chiến ác liệt (không gian của chiến tranh khốc liệt), Chinh phu, Hành động: ánh mắt hướng về phía người chinh phụ
Vế đối 2, Bến Tiêu Tương, thiếp, hãy trông sang.
Không gian: nơi có truyền thuyết về Nga Hoàng và Nữ Anh khóc thương chồng đến chảy máu mắt (không gian gợi nỗi buồn lo, đau đơn của người vợ), Chinh phụ, Hành động: ánh mắt hướng về phía người chinh phụ
Hai câu thơ (vế đối) miêu tả người chinh phu và chinh phụ ở hai không gian cách biệt nhưng vẫn luôn hướng về nhau. Phép đối có tác dụng nhấn mạnh tình cảm quyến luyến, yêu thương gắn bó (đối tương thành).
Câu hỏi 5
HS cần nhận diện, gọi tên biện pháp tu từ đã được sử dụng trong bốn câu thơ cuối của đoạn trích, đồng thời phân tích được tác dụng của mỗi biện pháp tu từ mà HS đã nhận diện được. GV tổ chức cho HS làm việc nhóm hoặc yêu cầu một vài HS phát biểu, sau đó cho các HS khác nhận xét, góp ý, bổ sung để câu trả lời được hoàn thiện hơn.
Gợi ý:
– Biện pháp tu từ điệp ngữ (cùng, thấy, ngàn dâu, ai), đặc biệt là phép điệp liên hoàn (còn gọi là điệp ngữ vòng – từ ngữ cuối của câu trước được lặp lại ở đầu câu sau). Tác dụng: diễn tả sự đồng điệu trong xúc cảm của cả hai người, tâm trí hai người cùng hướng về nhau, với cảm xúc trào dâng mãnh liệt.
– Biện pháp đối (tiểu đối: lòng chàng/ ý thiếp). Tác dụng: khắc hoạ sự quyến luyến, tình cảm sâu nặng của hai vợ chồng trong lúc chia li, tô đậm bi kịch chia li.
– Biện pháp tu từ ẩn dụ (hình ảnh ngàn dâu xanh: xanh xanh những mấy ngàn dâu, ngàn dâu xanh ngất). Đây là hình ảnh vừa có màu sắc tả thực (khung cảnh thiên nhiên trong buổi đưa tiễn) vừa có tính tượng trưng (ngàn dâu xanh là một hình ảnh ước lệ). Có thể có hai khả năng sau đây về tính ước lệ của hình ảnh ngàn dâu xanh:
Gợi liên tưởng tới tác phẩm Mạch thượng tang(1) (ngàn dâu bên đường): ngàn dâu xanh tượng trưng cho ước muốn về một người chồng tài năng, thành đạt; nhưng ngàn
Gợi liên tưởng tới tác phẩm Mạch thượng tang(1) (ngàn dâu bên đường): ngàn dâu xanh tượng trưng cho ước muốn về một người chồng tài năng, thành đạt; nhưng ngàn dâu xanh ấy giờ lại là thứ khiến hai người phải xa cách, không thể nhìn thấy nhau. Tác dụng: khắc hoạ tâm trạng đầy mâu thuẫn, cảnh ngộ đầy trớ trêu của người chinh phụ. + Gợi liên tưởng tới thành ngữ thương hải tang điền(2) (biển xanh biến thành nương dâu): ngàn dâu tượng trưng cho những thay đổi, biến cố lớn của cuộc đời. Tác dụng: cực tả nỗi buồn lo của người chinh phụ khi nghĩ về tương lai.
Câu hỏi 6
GV có thể cho HS tự do phát biểu cá nhân hoặc thảo luận nhóm để nêu cảm nhận của mình.
Gợi ý:
Sự lưu luyến, buồn lo, cô đơn,… của người chinh phụ luôn gắn với những giá trị của cuộc
sống mà người chinh phụ theo đuổi: trân trọng lí tưởng công danh, sự nghiệp của chồng; trân quý những tình cảm của con người, trong đó có tình cảm vợ chồng gắn bó tha thiết; hi sinh bản thân để đem lại hạnh phúc cho người khác, trong đó có người mình yêu thương,…
Câu hỏi 7
Câu hỏi ở mức độ đánh giá, vận dụng. HS có thể bộc lộ quan điểm riêng, tự lựa chọn một hình ảnh trong VB để phân tích, làm rõ lí do bản thân có ấn tượng nhất với hình ảnh đó. GV tổ chức cho HS làm việc nhóm hoặc một vài HS phát biểu, sau đó yêu cầu các HS khác nhận xét, góp ý, bổ sung để câu trả lời được hoàn thiện hơn. Nếu HS chưa thể nêu được những giá trị quan trọng của hình ảnh, GV cần gợi ý giúp HS khai thác những giá trị ấy.
Hoạt động 4 Viết kết nối với đọc
GV hướng dẫn HS vận dụng những hiểu biết thu nhận được từ việc đọc VB để phân tích, làm rõ tâm trạng của người chinh phụ thể hiện trong bốn câu thơ, sau đó viết đoạn văn trong khoảng 10 phút. Đoạn văn cần đáp ứng các yêu cầu:
(1) Hai câu thơ Thấy xanh xanh những mấy ngàn dâu/ Ngàn dâu xanh ngắt một màu dịch từ nguyên
văn chữ Hán Thanh thanh mạch thượng tang/ Mạch thượng tang, mạch thượng tang (Ngàn dâu xanh xanh bên đường/ Ngàn dâu bên đường, ngàn dâu bên đường) của Đặng Trần Côn. Mạch thượng tang (ngàn dâu bên đường) cũng là tên của một bài nhạc phủ nổi tiếng thời Hán (không rõ tác giả) có nội dung: Nàng La Phu (tự nhận đã hơn 15 tuổi, nhưng chưa tới 20 tuổi) hái dâu bên đường để nuôi tằm; nàng nói về người chồng (trong mơ ước) của mình là người 15 tuổi đã làm một chức vụ nhỏ trong phủ quan, 20 tuổi đã làm quan đại phu trong triều, 30 tuổi làm chức Thị lang trung, 40 tuổi làm chủ một toà thành,…
(2) Cuốn Thần tiên truyện của Cát Hồng (317 - 420) - nhà văn Trung Quốc thời Đông Tấn - có
đoạn kể: một vị tiên nữ tên là Ma Cô nói với người bạn của mình rằng: "Từ khi ta thành tiên đến nay, đã ba lần biển biến thành nương dâu.".
THỰC HÀNH TIẾNG VIỆT BIỆN PHÁP TU TỪ CHƠI CHỮ 1. Phân tích yêu cầu cần đạt HS nhận biết và phân tích được tác dụng của biện pháp tu từ chơi chữ. 2. Gợi ý tổ chứ
THỰC HÀNH TIẾNG VIỆT BIỆN PHÁP TU TỪ CHƠI CHỮ
1. Phân tích yêu cầu cần đạt
HS nhận biết và phân tích được tác dụng của biện pháp tu từ chơi chữ.
2. Gợi ý tổ chức hoạt động dạy học
Hoạt động 1 Hình thành kiến thức mới
Về khái niệm biện pháp tu từ chơi chữ, GV có thể dùng phương thức quy nạp giúp HS hình thành kiến thức mới.
Bước 1: GV tập trung phân tích các ví dụ nhằm giúp HS nhận diện chính xác biện pháp tu từ chơi chữ, đồng thời làm rõ hiệu quả, tác dụng của biện pháp tu từ này trong từng trường hợp cụ thể. GV yêu cầu HS đọc tri thức ngữ văn về biện pháp tu từ chơi chữ (mỗi cách chơi chữ do một HS đọc) hoặc cho HS thảo luận nhóm. Sau đó, GV yêu cầu HS nêu những điều còn chưa hiểu (nếu có) và giảng giải thêm cho các em.
Bước 2: Trên cơ sở các cách chơi chữ được học và những ví dụ đã phân tích, GV yêu cầu HS trình bày cách hiểu của mình về biện pháp tu từ chơi chữ và một số cách chơi chữ thường gặp. GV có thể cho HS đối chiếu cách hiểu của mình với thông tin về khái niệm biện pháp tu từ chơi chữ được trình bày trong phần Tri thức ngữ văn của bài học (SGK, trang 40) để giúp HS củng cố nội dung khái niệm biện pháp tu từ chơi chữ.
Hoạt động 2 Luyện tập, vận dụng
GV yêu cầu HS đọc kĩ yêu cầu của từng bài tập; chỗ nào HS chưa hiểu, GV có thể giải thích rõ hơn, sau đó lần lượt cho HS thực hành từng bài tập theo hình thức làm việc cá nhân hoặc theo cặp, nhóm.
Bài tập 1 Bài tập giúp HS rèn luyện kĩ năng nhận diện các cách chơi chữ đã được học và cảm nhận được hiệu quả biểu đạt mà biện pháp tu từ này mang lại. Gợi ý: a
Bài tập 1
Bài tập giúp HS rèn luyện kĩ năng nhận diện các cách chơi chữ đã được học và cảm nhận được hiệu quả biểu đạt mà biện pháp tu từ này mang lại.
Gợi ý:
a. Dùng từ đồng âm: chín (1)là tính từ chỉ khả năng nắm chắc, tinh thông, kĩ lưỡng, đầy đủ mọi khía cạnh; chín (2) là danh từ chỉ số lớn nhất có một chữ số trong dãy số tự nhiên, tượng trưng cho ý nghĩa là nhiều. Cách chơi chữ này làm phong phú cho tư duy (cùng một âm đọc nhưng có thể là những từ khác nhau, biểu thị các ý nghĩa khác nhau).
b. Dùng từ đồng âm kết hợp với đồng nghĩa: phụ là một yếu tố Hán Việt có nghĩa là cha, đồng âm với phụ trong từ đậu phụ; mẫu là một yếu tố Hán Việt có nghĩa là mẹ, đồng âm với mẫu trong từ ích mẫu. Cách chơi chữ này vừa giúp làm phong phú tư duy (kiến thức về các yếu tố Hán Việt đồng âm), vừa tạo nên sự ý vị, hấp dẫn cho lời nói (tên các thức bồi bổ cho
cơ thể lại chứa yếu tố mang ý nghĩa gợi nhớ tới cha mẹ).
c. Dùng từ cùng trường nghĩa kết hợp từ đồng âm: cáo (con cáo) cùng trường nghĩa với mèo (con mèo) để chỉ những loài thú, đồng thời đồng âm với cáo trong từ mắt cáo (chỉ các lỗ trống được tạo ra bởi các nan đan lại với nhau của bờ giậu); tôm (con tôm) cùng trường nghĩa với tép (con tép) để chỉ những loài sống ở dưới nước, đồng thời đồng âm với tôm trong cụm từ lòng tôm (chỉ hình dáng lõm, võng xuống của lòng rổ). Cách chơi chữ này vừa giúp làm phong phú tư duy (liên tưởng các từ gần âm trong cùng một trường nghĩa), vừa tạo nên sự hấp dẫn cho lời nói (tên các sự vật có âm gần với các con vật, được tạo ra để ngăn trở con vật đó, nhưng lại không phát huy được tác dụng: giậu rào mắt cáo (nan cài rất mau) nhưng không ngăn được mèo; rổ nức lòng tôm (lòng rổ nức rất sâu) nhưng vẫn không ngăn được tép nhảy ra ngoài).
d. Dùng kết hợp từ trái nghĩa với từ đồng âm: bánh cả thúng (ý nói là có nhiều bánh) nhưng tên sự vật là bánh ít, đồng âm với từ ít (trái nghĩa với nhiều); trầu cả khay (ý nói là có nhiều trầu) nhưng tên sự vật là trầu không, đồng âm với từ không (trái nghĩa với có). Cách chơi chữ này vừa giúp làm phong phú tư duy (tương tự như trường hợp câu c), vừa tạo nên sự hấp dẫn cho lời nói (lời nói tưởng như vô lí mà thực ra là có lí).
e. Dùng từ cùng trường nghĩa: các từ nếp, xôi, gạo, cơm đều là những danh từ có liên quan đến cây lúa. Cách chơi chữ này giúp tạo nên sự ý vị, hấp dẫn cho lời nói (những sản vật của nền nông nghiệp lúa nước đồng thời được nhắc đến trong câu ca dao một cách thân thương). g. Dùng từ đồng âm: đá là động từ chỉ hành động dùng chân tác động lên một đối tượng nào đó, đồng âm với đá là danh từ chỉ một loại chất rắn tồn tại nhiều trong vỏ Trái Đất. Cách chơi chữ này vừa giúp làm phong phú tư duy (buộc người nghe phải suy nghĩ để hiểu lời nói
VĂN BẢN 2. TIẾNG ĐÀN MƯA (Bích Khê) 1. Phân tích yêu cầu cần đạt HS nhận biết và phân tích được một số yếu tố về thi luật của thơ song thất lục bát như: vần, nh
VĂN BẢN 2. TIẾNG ĐÀN MƯA
(Bích Khê)
1. Phân tích yêu cầu cần đạt
HS nhận biết và phân tích được một số yếu tố về thi luật của thơ song thất lục bát như: vần, nhịp, số chữ, số dòng trong một khổ thơ; sự khác biệt so với thơ lục bát được thể hiện trong bài thơ Tiếng đàn mưa. - HS nhận biết và phân tích được tình cảm, cảm xúc, cảm hứng chủ đạo của người viết thể hiện qua VB. - HS nhận biết và phân tích được mối quan hệ giữa nội dung và hình thức của VB văn học.
2. Gợi ý tổ chức hoạt động dạy học Hoạt động 1 Khởi động Để tổ chức hoạt động khởi động, GV chú ý yêu cầu được nêu ở mục Trước khi đọc trong SGK: Hãy chia sẻ cả
2. Gợi ý tổ chức hoạt động dạy học
Hoạt động 1 Khởi động
Để tổ chức hoạt động khởi động, GV chú ý yêu cầu được nêu ở mục Trước khi đọc trong SGK: Hãy chia sẻ cảm nhận về một âm thanh hoặc bản nhạc từng khiến em xúc động. GV cho HS tự do phát biểu để chia sẻ những trải nghiệm, cảm xúc của bản thân. Sau đó, GV cần hướng đến nhận định: Mỗi cá nhân đều có những nỗi niềm riêng (nỗi niềm đó có thể được gợi ra từ một âm thanh hoặc một bản nhạc nào đó mà ta nghe thấy), và cuộc sống trở nên nhân văn hơn khi chúng ta biết cảm thông, chia sẻ trước những nỗi niềm riêng ấy.
Hoạt động 2 Đọc văn bản
Bài thơ này rất giàu nhạc tính (do đặc điểm của thể thơ song thất lục bát, kết hợp với chủ ý sáng tạo nghệ thuật của tác giả), khi đọc, cần phải chú trọng đến đặc điểm đó. GV cho
HS đọc, hướng dẫn các em cách ngắt nhịp, lưu ý HS về ngữ điệu khi đọc: Cần chú ý sự biến đổi về tốc độ (những câu thơ nói về xúc cảm thường đọc chậm rãi, giọng ngân dài hơn những câu tả cảnh mưa rơi) và cao độ (các từ rụng, xuống cần trầm giọng xuống).
GV có thể đọc mẫu một vài khổ thơ giúp HS cảm nhận âm điệu, từ đó có được cảm xúc thẩm mĩ. GV có thể đọc những khổ thơ đó bằng nhiều cách để HS có được những cảm nhận khác nhau về tác phẩm.
GV lưu ý HS các thẻ chỉ dẫn trong khi đọc ở bên phải VB để HS biết chú ý những chi tiết quan trọng, phục vụ cho việc hiểu, phân tích nội dung và nghệ thuật của VB.
Hoạt động 3 Khám phá văn bản
Trước khi trả lời câu hỏi sau khi đọc, GV yêu cầu HS tự đọc thông tin giới thiệu về tác giả Bích Khê và tác phẩm Tiếng đàn mưa, tự ghi nhớ các thông tin chính yếu. Chú ý:
Về tác giả: GV lưu ý HS về những nét đặc sắc trong sáng tác của Bích Khê ít nhiều được thể hiện qua tác phẩm Tiếng đàn mưa. GV có thể mở rộng cung cấp cho HS những thông tin về cuộc đời tác giả mà nội dung của nó hữu ích cho việc phân tích tác phẩm Tiếng đàn mưa, chẳng hạn: "Ngày khởi nghĩa tháng Tám, anh đang bị bệnh phổi nặng, nhờ người nhà khiêng cả giường nhỏ anh nằm ra trước cổng để tận mắt nhìn thấy nhân dân xuống đường, trực tiếp sống cái giây phút giải phóng đất nước, giải phóng tâm hồn người thơ. Tôi hiểu sâu sắc nỗi niềm của anh, cũng như ít nhiều từng hiểu tấm lòng anh Hàn Mặc Tử ngày anh còn sống. Trong không khí hào sảng của cuộc khởi nghĩa cả nước, tôi cứ nghĩ rằng, cũng như Bích Khê, nếu Hàn Mặc Tử còn đến hôm nay, anh cũng sẽ cùng chúng tôi, xuống đường biểu tình với quần chúng cách mạng". (Nguyễn Viết Lãm, Miền Nam Trung Bộ, đất thơ trong kháng chiến chống Pháp, in trong Liên hiệp các Hội Văn học - Nghệ thuật Việt Nam 1948 - 2005, NXB Hội Nhà văn, Hà Nội, 2005, tr. 1029).
Về tác phẩm: GV lưu ý về thời điểm tác phẩm ra đời, đó là lúc đất nước ta vẫn nằm dưới ách thống trị của thực dân Pháp. Thông tin này rất cần thiết để lí giải t
Về tác phẩm: GV lưu ý về thời điểm tác phẩm ra đời, đó là lúc đất nước ta vẫn nằm dưới ách thống trị của thực dân Pháp. Thông tin này rất cần thiết để lí giải tâm sự của nhân vật "khách tha hương" trong bài thơ nói riêng, nội dung tư tưởng của tác phẩm nói chung.
Sáu câu hỏi sau khi đọc VB vừa hướng HS vào việc nắm bắt nội dung, vừa yêu cầu các em hiểu được các đặc điểm cơ bản của VB thơ song thất lục bát. Các câu hỏi ứng với những mức độ khác nhau của năng lực đọc: nhận biết (câu 1, 2); phân tích, suy luận (câu 3, 4, 5); đánh giá, vận dụng (câu 6). Nắm vững đặc điểm của hệ thống câu hỏi, GV lựa chọn phương pháp để tổ chức dạy học phù hợp và hiệu quả.
Câu hỏi 1
Câu hỏi này giúp HS củng cố tri thức về thể thơ song thất lục bát. GV tổ chức cho HS trình bày ý kiến rồi nhận xét, đưa ra kết luận.
Bài thơ Tiếng đàn mưa thuộc thể thơ song thất lục bát với những đặc điểm nổi bật sau:
Bài thơ gồm các câu thơ đan xen hai câu thơ bảy chữ với cặp câu thơ lục bát. - Vần lưng được gieo ở tiếng thứ sáu của câu bát (hiệp vần với tiếng cuối của câu lục liền trước nó) và tiếng thứ năm của câu thơ 7 tiếng (hiệp vần với tiếng cuối của câu thơ 7 tiếng liền trước nó). Vần chân được gieo ở tiếng cuối của câu thơ 7 tiếng thứ hai và câu thơ lục bát trong tất cả các khổ thơ.
Về thanh điệu, các thanh bằng (B) - trắc (T) khớp với sơ đồ được trình bày trong SGK, trang 40.
Câu thơ 7 tiếng có cách ngắt nhịp lẻ trước chẵn sau (3/2/2 hoặc 3/4). Câu lục bát ngắt nhịp chẵn (2/4, 4/2 hoặc 2/2/2 ở câu lục; 4/4, 2/2/2/2 ở câu bát).
Câu hỏi 2
Câu hỏi có đáp án mở, HS có thể nêu nhiều phương án khác nhau. Tuy nhiên, các phương án đều phải đảm bảo thuyết phục, hợp lí.
Gợi ý:
Có thể chia bài thơ thành 2 phần: - Phần 1 (ba khổ thơ đầu): hoa rụng cùng mưa (cảnh mưa rơi). - Phần 2 (khổ thơ cuối): lệ rơi cùng mưa (tâm trạng của khách tha hương).
Câu hỏi 3
GV yêu cầu HS làm việc cá nhân, tìm những từ ngữ được sử dụng nhiều lần trong bài thơ và nêu tác dụng của việc sử dụng lặp lại các từ ngữ đó. Tiếp theo, GV cho HS làm việc nhóm để trao đổi và đại diện một số nhóm chia sẻ kết quả trước lớp, các nhóm khác góp ý, bổ sung. Có thể sử dụng mẫu phiếu học tập theo gợi ý sau:
STT, Từ ngữ, Số lần xuất hiện, Tác dụng 1 2 3 ... Gợi ý: STT, Từ ngữ, Số lần xuất hiện, Tác dụng 1, mưa, 18, Đây là từ được sử dụng nhiều lần nhất, xuất hiện ở
STT, Từ ngữ, Số lần xuất hiện, Tác dụng
1
2
3
...
Gợi ý:
STT, Từ ngữ, Số lần xuất hiện, Tác dụng
1, mưa, 18, Đây là từ được sử dụng nhiều lần nhất, xuất hiện ở tất cả các khổ thơ (khổ 1: 6 lần; khổ 2: 5 lần; khổ 3: 4 lần; khổ 4: 3 lần) tạo cảm nhận về một cơn mưa bao trùm lên vạn vật.
2, hoa, 5, Hình tượng hoa luôn gắn với cái đẹp. Cùng với từ hoa, từ lan (tên một loài hoa, xuất hiện 2 lần) gợi nên vẻ tao nhã.
3, rơi, 7, Các từ này dùng để miêu tả hình ảnh những hạt mưa rơi xuống (cùng với mưa còn có hoa, bóng tà dương). Trạng thái rơi xuống, di chuyển theo chiều hướng đi xuống của các sự vật, hiện tượng gợi nỗi buồn thế lương trong xúc cảm.
4, xuống, 6
5, rụng, 4
6, xuân, 4, Ngoài ý nghĩa trực tiếp nói về mùa xuân, từ xuân còn gợi liên tưởng đến cái đẹp.
7, khách, 4, Nhân vật "khách" là hình ảnh con người duy nhất trong bài thơ. Nếu ở khổ thơ đầu nhân vật chưa xuất hiện thì càng về sau càng hiện lên rõ nét (từ khách xuất hiện 1 lần ở khổ 2 và 3; xuất hiện 2 lần ở khổ cuối, thậm chí câu thơ cuối cùng còn nêu rõ đó là khách tha hương). Nhà thơ muốn gửi gắm những nỗi niềm tâm sự của chính mình qua nhân vật này.
8, nước non, 3, Từ này tuy chỉ xuất hiện 3 lần (ít hơn một số từ khác), nhưng không thể không gây chú ý trong một bài thơ mà nhan đề chỉ nhắc đến tiếng đàn và mưa. Đặt trong bối cảnh lịch sử Việt Nam thời bấy giờ (đang nằm dưới ách cai trị của thực dân Pháp), có thể cảm nhận được lòng yêu nước thầm kín của tác giả gửi gắm qua từ ngữ này.
Câu hỏi 4 Câu hỏi yêu cầu HS huy động khả năng phân tích, suy luận. GV có thể cho HS thảo luận nhóm, từng nhóm cử đại diện trình bày ý kiến. Cả lớp trao đổi để
Câu hỏi 4
Câu hỏi yêu cầu HS huy động khả năng phân tích, suy luận. GV có thể cho HS thảo luận nhóm, từng nhóm cử đại diện trình bày ý kiến. Cả lớp trao đổi để đi đến thống nhất phương án trả lời.
Gợi ý:
Các sự vật, hiện tượng phụ hoạ cùng mưa đều ở trạng thái rơi rụng, xu hướng đi xuống (hoa rụng, bóng dương tà,…), như muốn gợi lên một nỗi buồn thương trong tâm hồn "khách tha hương".
Câu hỏi 5
Câu này đòi hỏi HS phải có khả năng phân tích, suy luận. GV có thể cho HS thảo luận nhóm, sau đó đại diện một số nhóm trình bày câu trả lời, các nhóm khác nhận xét, góp ý, GV hướng dẫn HS rút ra kết luận.
Gợi ý:
Từ nước non được nhắc tới ở 3 khổ thơ đầu (mỗi khổ thơ, từ nước non xuất hiện 1 lần) gắn với những hình ảnh đẹp nhưng đượm buồn:
Mưa rơi, hoa rụng, bóng chiều tà: gợi cảm giác buồn thương. + Thềm lan, mưa xuân, hoa xuân: liên tưởng đến cái đẹp. - Hai câu thơ cuối không nói tới nước non, nhưng lại đặc tả nhân vật "khách tha hương" (một con người không được sống trên chính mảnh đất quê hương mình) đang rơi lệ trong không gian mưa rơi và thời gian là lúc chiều tà. Con người, không gian và thời gian như cùng hoà điệu trong một nỗi buồn thương.
Như vậy, có thể thấy, nội dung của hai câu thơ cuối là một sự hô ứng, tiếp nối, đồng vọng, hoà nhịp với hình ảnh nước non ở ba khổ thơ đầu. Cảnh và tình hoà làm một. Đặt trong bối cảnh ra đời của bài thơ (đất nước đang bị thực dân Pháp đô hộ), với một thi nhân có tấm lòng yêu nước, người đọc không khó nhận ra nỗi buồn thương của tác giả trước tình cảnh của dân tộc lúc bấy giờ.
Câu hỏi 6
Câu này giúp HS phát triển khả năng đánh giá. GV cho HS thảo luận nhóm, sau đó đại diện một số nhóm trình bày câu trả lời, các nhóm khác nhận xét, góp ý, GV hướng dẫn HS rút ra kết luận.
Gợi ý:
Bài thơ có thể gây ấn tượng mạnh cho người đọc bởi: - Nhạc tính: được tạo ra bởi sự kết hợp vần và nhịp vốn có của thể thơ song thất lục bát, cùng với biện pháp tu từ điệp thanh, điệp vần được tác giả vận dụng khéo léo, sáng tạo.
Sự hoà quyện hình ảnh mưa đổ, hoa rụng, bóng chiều tà và lệ rơi: tạo cảm nhận về một nỗi buồn mênh mang, nhưng vẫn rất đẹp và đậm chất lãng mạn.
Hình tượng nhân vật "khách tha hương": hình ảnh một con người không xác định được tên tuổi, không rõ hình dáng, nhưng hiện lên càng lúc càng rõ nét qua từng khổ
Hình tượng nhân vật "khách tha hương": hình ảnh một con người không xác định được tên tuổi, không rõ hình dáng, nhưng hiện lên càng lúc càng rõ nét qua từng khổ thơ, qua đó truyền tải cảm xúc và thông điệp chính yếu của tác phẩm.
Hoạt động 4 Viết kết nối với đọc
Về nội dung đoạn văn: GV yêu cầu HS căn cứ vào việc đọc, nắm được những giá trị nội dung và nghệ thuật của tác phẩm, từ đó nêu cảm nghĩ của mình về bài thơ Tiếng đàn mưa. Do yêu cầu viết kết nối với đọc chỉ có quy mô một đoạn văn (khoảng 7 - 9 câu), GV gợi ý HS chỉ nên tập trung vào điều mà mình ấn tượng nhất. Có thể gợi ý HS tìm ý cho đoạn văn bằng một số câu hỏi, chẳng hạn: Bài thơ viết về điều gì? Nội dung của bài thơ gợi cho em cảm nghĩ gì? Vì sao em có cảm nghĩ như vậy?
Về hình thức đoạn văn: GV yêu cầu HS viết đoạn văn theo một cấu trúc rõ ràng (diễn dịch, quy nạp, song song hoặc phối hợp), viết đúng chính tả, dùng từ ngữ phù hợp,
đặt câu đúng ngữ pháp, đảm bảo số câu theo quy định.
GV theo dõi quá trình viết của HS, chú ý những HS thường gặp khó khăn với kĩ năng viết để hỗ trợ các em. Có thể chọn một số bài để chấm nhanh.
BIỆN PHÁP TU TỪ ĐIỆP THANH VÀ BIỆN PHÁP TU TỪ ĐIỆP VẦN
1. Phân tích yêu cầu cần đạt
HS nhận biết được biện pháp tu từ điệp thanh và biện pháp tu từ điệp vần. - HS phân tích được tác dụng của biện pháp tu từ điệp thanh và biện pháp tu từ điệp vần trong những ngữ cảnh cụ thể.
2. Gợi ý tổ chức hoạt động dạy học
Hoạt động 1 Hình thành kiến thức mới
Phần tri thức về biện pháp tu từ điệp thanh và biện pháp tu từ điệp vần đã có ở khung "nhận biết" trong SGK (trang 47 - 48). Về các khái niệm biện pháp tu từ điệp thanh, biện pháp tu từ điệp vần, HS đã được yêu cầu đọc trước ở nhà (phần Tri thức ngữ văn), trên lớp GV chủ yếu tập trung phân tích các ví dụ nhằm giúp HS nhận diện chính xác các biện pháp tu từ này, đồng thời làm rõ tác dụng của mỗi biện pháp tu từ trong từng trường hợp cụ thể.
Để mở rộng khả năng nhận biết biện pháp tu từ điệp thanh và biện pháp tu từ điệp vần, GV có thể tìm thêm một số ví dụ ngoài SGK để phân tích. HS vận dụng hiểu biết để nhận diện từng trường hợp cụ thể, thông qua đó củng cố vững chắc tri thức ngữ văn về khái niệm biện pháp tu từ điệp thanh, biện pháp tu từ điệp vần đã tự đọc ở nhà. Sau đó, GV yêu cầu HS lần lượt thực hiện các bài tập thực hành.
Hoạt động 2 Luyện tập, vận dụng GV yêu cầu HS đọc kĩ yêu cầu của từng bài tập; chỗ nào HS chưa hiểu, GV có thể giảithích rõ hơn. GV cho HS thực hành luyện tập t
Hoạt động 2 Luyện tập, vận dụng
GV yêu cầu HS đọc kĩ yêu cầu của từng bài tập; chỗ nào HS chưa hiểu, GV có thể giảithích rõ hơn. GV cho HS thực hành luyện tập theo hình thức làm việc cá nhân hoặc theo cặp, nhóm.
Bài tập 1
Gợi ý:
a. Biện pháp tu từ điệp thanh được tạo nên bằng cách lặp lại các âm tiết có cùng loại thanh điệu là thanh trắc (các âm tiết dùng thanh trắc: khóc, nước, mắt, thắt, gọi, chửa, dính, chặt), đặc biệt là các thanh trắc ở các vị trí gieo vần (mắt, thắt, chặt), tạo âm hưởng về một cảm xúc đau đớn đang phải cố nén lại.
b. Biện pháp tu từ điệp thanh được tạo nên bằng cách lặp lại một loạt âm tiết có cùng
loại thanh điệu là thanh bằng, tạo âm hưởng về một nỗi niềm (nỗi buồn) nhẹ nhàng, êm dịu.
c. Sau 3 câu thơ dùng nhiều thanh trắc, miêu tả cảnh thiên nhiên với núi non hùng vĩ, địa hình hiểm trở, câu thơ thứ 4 sử dụng biện pháp tu từ điệp thanh, với một loạt âm tiết có cùng thanh bằng như tiếng thở phào thảnh thơi của người vừa vượt qua chặng đường gian nan, đồng thời gợi hình dung về một khung cảnh rộng mở, bình yên.
Bài tập 2
GV có thể cho HS xác định từng trường hợp có sử dụng biện pháp tu từ điệp thanh theo từng nhóm (nhóm 3 âm tiết điệp thanh với nhóm 3 âm tiết khác trong cùng một câu thơ), để từ đó làm rõ tác dụng của biện pháp tu từ này trong bài thơ Tiếng đàn mưa.
Gợi ý:
Có 5 trường hợp điệp thanh theo từng nhóm: + Mưa hoa rụng, mưa hoa xuân rụng (bằng - bằng - trắc) + Mưa xuống lầu, mưa xuống thềm lan (bằng - trắc - bằng) + Lầu mưa xuống, thềm lan mưa xuống (bằng - bằng - trắc) + Đầm mưa xuống, nẻo đồi mưa xuống (bằng - bằng - trắc) + Bóng dương tà … rụng bóng tà dương (trắc - bằng - bằng) - Sự lặp lại thanh điệu theo từng nhóm âm tiết tạo nên tính nhạc cho câu thơ, đồng thời giúp người đọc cảm nhận được sự vật đang diễn ra trong một trạng thái, một xu thế không thay đổi (những giọt mưa đang rơi mau ở khắp chốn/ bóng chiều buông xuống).
Bài tập 3
GV lưu ý HS nắm vững kiến thức để nhận diện biện pháp tu từ điệp vần và phân tích tác dụng của nó.
VĂN BẢN 3. MỘT THỂ THƠ ĐỘC ĐÁO CỦA NGƯỜI VIỆT (Dương Lâm An) 1. Phân tích yêu cầu cần đạt Qua VB kết nối về chủ đề, HS củng cố và mở rộng hiểu biết về thể thơ s
VĂN BẢN 3. MỘT THỂ THƠ ĐỘC ĐÁO CỦA NGƯỜI VIỆT
(Dương Lâm An)
1. Phân tích yêu cầu cần đạt
Qua VB kết nối về chủ đề, HS củng cố và mở rộng hiểu biết về thể thơ song thất lục bát, đặc biệt là nhận biết được thế mạnh của thể thơ này trong việc miêu tả những cảm xúc, khát vọng của con người.
2. Gợi ý tổ chức hoạt động dạy học
Hoạt động 1 Khởi động
SGK không thiết kế nội dung cho hoạt động khởi động nên GV có thể căn cứ vào khả năng của HS để tổ chức hoạt động khởi động sao cho thiết thực, vừa sức, tác động tích cực đến tâm thế, cảm xúc của HS.
Hoạt động 2 Đọc văn bản
Bài đọc là một VB thuyết minh (VB thông tin), GV có thể cho một số HS đọc lần lượt theo các đoạn để tách các ý chính của bài đọc, giúp HS nắm bắt VB rõ hơn. Phần 1 (chỉ gồm 1 câu) nêu ý khái quát của toàn VB. Phần 2 (từ Những tác phẩm đầu tiên đến trước sau không lâu) cung cấp thông tin về thời điểm ra đời của thể thơ song thất lục bát và khẳng định thể thơ này do người Việt sáng tạo nên. Phần 3 (từ Thể thơ song thất lục bát và thể thơ lục bát tương đồng đến trên đầu chứng cho) nêu nét đặc sắc về hình thức khiến thơ song thất lục bát
giàu nhạc tính, có khả năng truyền tải cảm xúc mạnh mẽ. Phần 4 (từ Ngoài ngâm khúc đến tôi bác cùng nhau) thông tin về các thể loại có sử dụng thể thơ song thất
giàu nhạc tính, có khả năng truyền tải cảm xúc mạnh mẽ. Phần 4 (từ Ngoài ngâm khúc đến tôi bác cùng nhau) thông tin về các thể loại có sử dụng thể thơ song thất lục bát. Phần cuối cùng (còn lại) khẳng định thể thơ này được các thế hệ nhà thơ từ xưa tới nay sử dụng trong sáng tác văn chương.
Hoạt động 3 Khám phá văn bản
Những câu hỏi khám phá VB chủ yếu dành cho HS tự đọc. GV có thể sử dụng các câu hỏi này như là những gợi ý, định hướng để thiết kế hệ thống câu hỏi của mình, giúp HS khám phá VB một cách hiệu quả.
Câu hỏi 1
GV yêu cầu HS chú ý các bằng chứng được VB sử dụng để xác định thời điểm ra đời của thể thơ song thất lục bát. Trên cơ sở đó, GV lưu ý HS về kết luận được đưa ra trong bài viết: thơ song thất lục bát ra đời trong khoảng thế kỉ XV - XVI.
Câu hỏi 2
GV yêu cầu HS tìm hiểu thông tin trong phần 2 và phần 3 để trả lời câu hỏi. Về cơ bản, những nét đặc sắc về hình thức của thơ song thất lục bát như thanh điệu, vần, sự đa dạng về số chữ trong một câu thơ, nhịp điệu,… giúp thơ song thất lục bát giàu nhạc tính.
Câu hỏi 3
GV yêu cầu HS tìm hiểu thông tin trong phần 3 để trả lời câu hỏi. Theo nội dung VB, thể thơ song thất lục bát và thể thơ lục bát tương đồng ở quy luật dùng thanh điệu và cách gieo vần ở cặp câu lục bát. VB lưu ý hai phương diện khác biệt giữa hai thể thơ này là thanh điệu và vần của cặp câu song thất.
Câu hỏi 4
GV yêu cầu HS tìm hiểu thông tin trong phần cuối của VB để trả lời câu hỏi. GV lưu ý HS các từ ngữ trực tiếp chỉ ra lí do vì sao thơ song thất lục bát vẫn được sáng tác trong thời kì hiện đại như: vẻ đẹp, sức truyền cảm đặc biệt, mang hơi thở của thời đại mới, truyền tải những tâm trạng, xúc cảm mới mẻ, đem lại ấn tượng về những tình cảm thân thương, có thể gửi gắm vào trong đó tâm hồn sâu lắng,…
Câu hỏi 5
GV lưu ý HS các từ khoá: Trình bày suy nghĩ của em về nhận định của tác giả đối với thể thơ song thất lục bát: "Đó thực sự là một thể thơ đặc sắc mà người Việt đã sáng tạo nên để có
thể gửi gắm vào trong đó tâm hồn sâu lắng của mình". HS có thể nêu quan điểm đồng tình
hoàn toàn, đồng tình một phần hoặc không đồng tình với nhận định của tác giả về thể thơ song thất lục bát. Ba điều HS cần bày tỏ suy nghĩ của mình đối với nhận định của tác giả về thơ song thất lục bát là: "một thể thơ đặc sắc", "người Việt đã sáng tạo nên", "có thể gửi gắm vào trong đó tâm hồn sâu lắng của mình". Nhìn chung, nhận định này của tác giả là có cơ sở. Tuy vậy, HS có thể đưa ra nhận định khác miễn là có lí lẽ và bằng chứng xác đáng.
VIẾT VIẾT BÀI VĂN NGHỊ LUẬN PHÂN TÍCH MỘT TÁC PHẨM VĂN HỌC (THƠ SONG THẤT LỤC BÁT) 1. Phân tích yêu cầu cần đạt HS nêu được chủ đề, dẫn ra và phân tích được tác
VIẾT
VIẾT BÀI VĂN NGHỊ LUẬN PHÂN TÍCH MỘT TÁC PHẨM VĂN HỌC
(THƠ SONG THẤT LỤC BÁT)
1. Phân tích yêu cầu cần đạt
HS nêu được chủ đề, dẫn ra và phân tích được tác dụng của một vài nét đặc sắc về hình thức nghệ thuật của tác phẩm.
HS triển khai được hệ thống luận điểm chặt chẽ; sử dụng lí lẽ, bằng chứng xác đáng từ tác phẩm để làm sáng tỏ ý kiến nêu trong bài viết.
2. Những lưu ý về yêu cầu đối với bài văn nghị luận phân tích một tác phẩm văn học
(thơ song thất lục bát)
Giới thiệu được khái quát về tác phẩm và tác giả, nêu được nhận định chung của
người viết về tác phẩm. GV lưu ý HS: Các thông tin khái quát đáng chú ý về tác phẩm và tác giả cần được thể hiện trong phần Mở bài.
Làm rõ được nội dung chủ đề của tác phẩm. Nội dung các tác phẩm viết bằng thể song thất lục bát rất đa dạng, thường là những tâm sự, xúc cảm, khát vọng trước những vấn đề, những câu chuyện xảy ra trong đời sống, từ những vấn đề riêng tư của cá nhân cho đến những vấn đề trọng đại của đất nước. Từ nội dung của tác phẩm, bài viết cần nêu bật được chủ đề. Chẳng hạn, Ai tư vãn của Lê Ngọc Hân là nỗi đau của người vợ mất chồng, Khóc Dương Khuê của Nguyễn Khuyến là tâm sự nỗi đau mất bạn, Đường số 5 anh dũng của Hồ Chí Minh thể hiện quyết tâm bảo vệ đất nước,…
Phân tích được tác dụng của những nét đặc sắc về hình thức nghệ thuật của tác phẩm, tập trung vào những yếu tố đặc trưng của thể thơ song thất lục bát và tác dụng của thể thơ này trong việc thể hiện nội dung của tác phẩm. GV lưu ý HS không nhất thiết phải phân tích hết tất cả những điểm đáng chú ý về hình thức nghệ thuật của tác phẩm mà có thể chỉ cần tập trung vào những điểm thực sự đặc sắc, nhất là gắn với đặc điểm thể loại của nó, triển khai được luận điểm chặt chẽ, sử dụng lí lẽ, bằng chứng xác đáng từ tác phẩm để làm sáng tỏ ý kiến nêu trong bài viết.
Khẳng định được ý nghĩa, giá trị của tác phẩm. Yêu cầu này thường được thực hiện ở phần Kết bài. Tuy vậy, HS có thể có cách kết bài linh hoạt và sáng tạo, theo đó ý khẳng định ý nghĩa, giá trị của tác phẩm có thể được lồng ghép vào phần Thân bài.
3. Gợi ý tổ chức hoạt động dạy học
Hoạt động 1 Giới thiệu kiểu bài
HS đã được làm quen với kiểu bài phân tích tác phẩm văn học nói chung. Trong phần Viết này, GV cần lưu ý HS làm rõ được nét đặc thù của kiểu bài phân tích tác phẩm thơ song thất lục bát. Nét đặc thù nằm ở những điểm nổi bật về nội dung và hình thức của thơ song thất lục bát so với những thể thơ khác.
Sau phần Đọc, HS đã có hiểu biết nhất định về thơ song thất lục bát để thực hiện bài viết. Vận dụng kết hợp tri thức ấy với các kĩ năng phân tích tác phẩm văn h
Sau phần Đọc, HS đã có hiểu biết nhất định về thơ song thất lục bát để thực hiện bài viết. Vận dụng kết hợp tri thức ấy với các kĩ năng phân tích tác phẩm văn học nói chung, HS có thể hoàn thiện được kĩ năng phân tích bài thơ song thất lục bát.
Hoạt động 2 Tìm hiểu yêu cầu đối với bài văn nghị luận phân tích một tác phẩm
văn học (thơ song thất lục bát)
Yêu cầu phần Viết của bài này ở SGK nêu rõ ràng 5 ý. GV cần hướng dẫn HS nắm vững các ý để các em biết được bài viết của mình cần đáp ứng những yêu cầu cơ bản nào. Để HS nắm bắt được các yêu cầu đối với bài văn nghị luận, GV cho HS trình bày cách hiểu của mình về từng ý, GV nhận xét, bổ sung và kết luận. Cần giúp HS hiểu rằng, các yêu cầu này vừa là định hướng, vừa là tiêu chuẩn đánh giá bài viết của các em.
Hoạt động 3 Đọc và phân tích bài viết tham khảo
Để HS có thể học được các thao tác cần thiết từ bài viết tham khảo, GV nên hướng dẫn HS chú ý những chỉ dẫn đặt trong các thẻ ở bên phải VB. Qua đó, HS thấy được quy trình triển khai các phần của bài viết. - Phần Mở bài nêu những nội dung gì? → Mở bài giới thiệu khái quát về tác phẩm thơ song thất lục bát (nhan đề, tên tác giả) và nêu nhận định chung về tác phẩm. - Phần Thân bài triển khai như thế nào? → Thân bài lần lượt phân tích bài thơ theo bố cục; trong quá trình triển khai, bài viết đã phân tích nội dung của bài thơ Trưa vắng là những tâm tư, nỗi niềm, khát vọng của con người,... và một số nét đặc sắc về nghệ thuật, nhất là gắn với thể thơ song thất lục bát để làm rõ nội dung chủ đề của tác phẩm; việc liên hệ mở rộng với tác phẩm văn học khác trong quá trình phân tích đã góp phần làm rõ hơn những giá trị nội dung, nghệ thuật của tác phẩm.
Phần Kết bài khẳng định điều gì? → Khẳng định giá trị, ý nghĩa của tác phẩm.
Hoạt động 4 Thực hành viết theo các bước
Hướng dẫn lựa chọn đề tài: GV giới thiệu cho HS một số tác phẩm thơ song thất lục bát để chọn đề tài cho bài viết. GV cần chú ý tính phù hợp của tác phẩm thơ song thất lục bát được chọn với đối tượng là HS lớp 9. - Hướng dẫn tìm ý: Khi HS đã xác định được đề tài, GV yêu cầu các em đọc kĩ tác phẩm thơ song thất lục bát được chọn để phân tích, GV có thể thiết kế phiếu tìm ý cho các em theo gợi ý sau:
Nhan đề tác phẩm là gì?
.......................................... Tác giả là ai? Nhận định chung của em về tác phẩm này là gì? ..........................................
Tác phẩm được bố cục như thế nào? Nội dung cụ thể của mỗi phần là gì?, Phần 1 (từ câu thơ... đến câu thơ...): Nội dung của phần này là gì? Phần này có những nét
Tác phẩm được bố cục như thế nào? Nội dung cụ thể của mỗi phần là gì?, Phần 1 (từ câu thơ... đến câu thơ...): Nội dung của phần này là gì? Phần này có những nét đặc sắc nào về nghệ thuật?, ..................................................................... .....................................................................
Phần 2 (từ câu thơ... đến câu thơ...): Nội dung của phần này là gì? Phần này có những nét đặc sắc nào về nghệ thuật?, ..................................................................... .....................................................................
..., ..................................................................... .....................................................................
Giá trị, ý nghĩa của tác phẩm là gì?, ..................................................................... .....................................................................
– Hướng dẫn lập dàn ý: GV lưu ý HS nên chọn cách lập dàn ý theo trật tự bố cục tác phẩm để kết hợp làm rõ được những giá trị nội dung và nghệ thuật vốn luôn hoà quyện với nhau: Nội dung là những tâm tư, nỗi niềm, khát vọng,... luôn được thể hiện một cách hiệu quả bằng hình thức nghệ thuật phù hợp; cách triển khai phân tích nội dung riêng, nghệ thuật riêng sẽ dễ bị trùng lặp khi phải nhắc lại câu thơ trích dẫn, đồng thời không phân tích được sự hoà quyện, gắn kết chặt chẽ giữa nội dung và hình thức tác phẩm; có thể dành một phần phân tích riêng về hình thức nghệ thuật nếu đặc điểm nghệ thuật ấy là đặc sắc, độc đáo, cần được làm rõ. Vì vậy, dàn ý của bài viết cũng tuân theo bố cục đã xác định được khi tìm ý.
– Hướng dẫn viết bài: GV hướng dẫn HS bám sát dàn ý để viết tuần tự các phần. Các phần Mở bài và phần Kết bài mỗi phần viết thành một đoạn văn hoàn chỉnh. Ở phần Thân bài, mỗi ý (tương ứng một phần trong bố cục tác phẩm) nên viết trong một đoạn văn. HS cần chủ động lựa chọn kiểu tổ chức đoạn văn (diễn dịch, quy nạp, song song, phối hợp) cho phù hợp. Khi viết, luôn chú ý liên kết các câu trong đoạn và liên kết các đoạn trong bài. GV cần lưu ý HS về việc sử dụng lí lẽ và bằng chứng trong khi triển khai các ý của phần Thân bài để đảm bảo tính thuyết phục của một bài văn nghị luận.
TRẢ BÀI
Hoạt động 1 Nhắc lại, khắc sâu yêu cầu của kiểu bài
GV cần yêu cầu HS nhắc lại các yêu cầu của kiểu bài (nêu được những đóng góp của tác giả, những nét đặc sắc về nội dung và nghệ thuật của tác phẩm thơ song thất lục bát) và kiểm tra việc triển khai bài viết của bản thân so với yêu cầu của kiểu bài cũng như với dàn ý đã lập.
Hoạt động 2 Nhận xét về kết quả viết và chỉnh sửa bài viết GV chỉ rõ điểm mạnh thể hiện qua bài làm của HS, chẳng hạn: bố cục bài viết chặt chẽ; các ý mạch lạc,
Hoạt động 2 Nhận xét về kết quả viết và chỉnh sửa bài viết
GV chỉ rõ điểm mạnh thể hiện qua bài làm của HS, chẳng hạn: bố cục bài viết chặt chẽ; các ý mạch lạc, thông suốt, có tính hô ứng; những chỗ bài viết có chiều sâu, có tính phát hiện, có quan điểm cá nhân; những câu văn hay, cách dùng từ sáng tạo; đồng thời, cũng cần chú ý chỉ ra một số lỗi phổ biến ở bài viết của HS và gợi ý cách sửa.
Hướng dẫn HS dựa vào nhận xét chung và những chỗ GV đánh dấu, nhận xét cụ thể ở từng bài viết để HS tự chỉnh sửa. GV lưu ý HS tham khảo những yêu cầu và gợi ý chỉnh sửa ở phần Chỉnh sửa bài viết trong SGK, trang 58.
CỦNG CỐ, MỞ RỘNG GV hướng dẫn và yêu cầu HS hoàn thành các bài tập 1, 2, 3, 4 phần Củng cố, mở rộng trong SGK, trang 59 - 60. Bài tập 1 và 2 đòi hỏi HS không ch
CỦNG CỐ, MỞ RỘNG
GV hướng dẫn và yêu cầu HS hoàn thành các bài tập 1, 2, 3, 4 phần Củng cố, mở rộng trong SGK, trang 59 - 60. Bài tập 1 và 2 đòi hỏi HS không chỉ hiểu nội dung VB đọc, mà còn phải liên hệ được những giá trị nội dung của các VB đọc, nắm được đặc điểm thể thơ song thất lục bát. Đây là cơ sở để HS đọc mở rộng theo yêu cầu của Chương trình. Bài tập 3 và 4 hướng tới việc mở rộng tìm hiểu các tác phẩm thơ song thất lục bát ngoài những tác phẩm đã được nêu trong SGK và rèn luyện kĩ năng phân tích tác phẩm thơ song thất lục bát. - GV yêu cầu HS vận dụng những tri thức và kĩ năng đã được học khi tìm hiểu VB 1 và VB 2 trong bài học để hoàn thành nhiệm vụ thực hành đọc VB Nỗi sầu oán của người cung nữ (trích Cung oán ngâm khúc, Nguyễn Gia Thiều) dựa trên những định hướng đã nêu trong SGK.
Trang 95
Trang 96
Trang 97
Trang 98
VĂN BẢN 1. KIM – KIỀU GẶP GỠ (Trích Truyện Kiều, Nguyễn Du) 1. Phân tích yêu cầu cần đạt – HS xác định được vị trí của đoạn trích trong tác phẩm, bố cục của đoạ
VĂN BẢN 1. KIM – KIỀU GẶP GỠ
(Trích Truyện Kiều, Nguyễn Du)
1. Phân tích yêu cầu cần đạt
– HS xác định được vị trí của đoạn trích trong tác phẩm, bố cục của đoạn trích; phân biệt được lời người kể chuyện và lời nhân vật; nhận biết được lời độc thoại của nhân vật.
HS biết phân tích các chi tiết (ngoại hình, lời nói, cử chỉ, hành động, cảm xúc, suy nghĩ,…) từ đó khái quát được đặc điểm nhân vật, chủ đề của đoạn trích; hiểu
HS biết phân tích các chi tiết (ngoại hình, lời nói, cử chỉ, hành động, cảm xúc, suy nghĩ,…) từ đó khái quát được đặc điểm nhân vật, chủ đề của đoạn trích; hiểu được nghệ thuật miêu tả tâm lí nhân vật và nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ của tác giả Truyện Kiều. - HS biết kết nối VB với thực tế đời sống, từ đó bồi đắp cảm xúc thẩm mĩ và có thái độ trân trọng vẻ đẹp của tình yêu đôi lứa.
2. Gợi ý tổ chức hoạt động dạy học
Hoạt động 1 Khởi động
GV có thể chỉ định một vài HS chia sẻ ấn tượng đẹp về một câu chuyện tình yêu trong tác phẩm văn học hoặc điện ảnh mà em đã đọc, đã xem nhằm tạo sự kết nối với nội dung VB đọc.
Hoạt động 2 Đọc văn bản
GV khuyến khích HS đọc thuộc lòng đoạn trích trước khi đến lớp. GV hướng dẫn
cách đọc, sau đó gọi một vài HS đọc diễn cảm. - GV lưu ý HS sử dụng các chiến lược đọc ở từng thẻ chỉ dẫn bên phải VB. Với VB Kim - Kiều gặp gỡ, HS sử dụng chiến lược theo dõi (các chi tiết miêu tả nhân vật Kim Trọng và các từ ngữ, hình ảnh miêu tả cảm xúc, tâm trạng của Kim Trọng, Thuý Kiều; lời người kể chuyện và lời nhân vật); hình dung (bức tranh thiên nhiên của buổi hoàng hôn khi Kim - Kiều từ biệt và khung cảnh đêm trăng khi Thuý Kiều đối diện với chính mình). GV cần chia sẻ việc vận dụng một chiến lược đọc để làm mẫu cho HS. Ví dụ, đọc mười hai câu thơ đầu, có thể nhận biết các chi tiết miêu tả nhân vật Kim Trọng: ngoại hình, cử chỉ, lai lịch, tài năng, cốt cách,… Những chi tiết này sẽ giúp các em trả lời câu hỏi ở phần Sau khi đọc (câu hỏi 1, 2). - Hiểu từ ngữ là bước chuẩn bị rất cần thiết cho hoạt động khám phá VB, đặc biệt là VB văn học trung đại. Vì vậy, GV nhắc HS tìm hiểu nghĩa của những từ ngữ khó, trao đổi với bạn hoặc thầy cô về những từ ngữ mà bản thân các em không hiểu nhưng chưa được chú giải.
Hoạt động 3 Khám phá văn bản
GV cho HS tự đọc phần giới thiệu về Nguyễn Du và Truyện Kiều; lưu ý giá trị nội dung, thành tựu nghệ thuật của Truyện Kiều và những đóng góp to lớn của Nguyễn Du cho nền văn học dân tộc. - Sáu câu hỏi Sau khi đọc bám sát các yêu cầu cần đạt và được thiết kế theo cấp độ tư duy: nhóm câu hỏi nhận biết (câu 1, 2); nhóm câu hỏi phân tích, suy luận (câu 3, 4); nhóm câu hỏi đánh giá, vận dụng (câu 5, 6). Trong mỗi nhóm câu hỏi, cũng có sự kết hợp các thao tác như nhận biết và phân tích, suy luận (câu 3, 4). Khi tổ chức hoạt động dạy học, GV có thể tham khảo gợi ý sau:
Câu hỏi 1
Câu hỏi 1 yêu cầu HS xác định sự việc được kể và các nhân vật trong đoạn trích. GV cho HS làm việc cá nhân và gọi một vài em trả lời câu hỏi. Tuỳ theo đối tượng, có thể thêm yêu cầu
như chỉ ra mối liên hệ giữa nhan đề và sự việc được kể, mối quan hệ của các nhân vật được miêu tả trong đoạn trích. Câu hỏi 2 Câu hỏi 2 yêu cầu HS nhận biết lời
như chỉ ra mối liên hệ giữa nhan đề và sự việc được kể, mối quan hệ của các nhân vật được miêu tả trong đoạn trích.
Câu hỏi 2
Câu hỏi 2 yêu cầu HS nhận biết lời người kể chuyện và các chi tiết miêu tả nhân vật Kim Trọng. GV có thể sử dụng một số câu hỏi gợi dẫn: Nhân vật Kim Trọng xuất hiện trong khung cảnh như thế nào? Các chi tiết miêu tả ngoại hình, cử chỉ, hành động và lời giới thiệu về nguồn gốc, lai lịch gợi cho em hình dung như thế nào về nhân vật?;… GV cho HS làm việc cá nhân và mời một số em trình bày. - Kim Trọng xuất hiện trong khung cảnh thiên nhiên êm đềm, thơ mộng Hài văn lần bước dặm xanh/ Một vùng như thể cây quỳnh cành dao: cỏ cây tươi đẹp, hữu tình (quỳnh và dao là hai loài cây cảnh thường được trồng cùng để tôn vẻ đẹp của nhau; cũng là biểu tượng cho sự cân xứng, hài hoà, quấn quýt). GV có thể mở rộng, so sánh với cảnh sắc thiên nhiên
khi Thuý Kiều nhìn thấy ngôi mộ của Đạm Tiên (Sè sè nấm đất bên đường/ Dàu dàu ngọn cỏ nửa vàng nửa xanh) và khi nghe Vương Quan kể về cuộc đời ngắn ngủi, bất hạnh của nàng (Một vùng cỏ áy bóng tà/ Gió hiu hiu thổi một vài bông lau: cỏ cây úa tàn trong ánh tà dương, khung cảnh tiêu điều, hiu quạnh). Từ đó, có thể thấy, sự xuất hiện của chàng Kim khiến cảnh vật như được "hồi sinh" - chân Kim Trọng bước tới đâu, màu xanh trải theo tới đó! - Cử chỉ, hành động của Kim Trọng toát lên vẻ lịch lãm, nho nhã: từ xa đã "xuống ngựa tới nơi tự tình", bước chân khoan thai. - Nguồn gốc, lai lịch cao quý: gia đình giàu sang, bản tính thông minh, nổi tiếng tài hoa, cốt cách phong nhã. Nhân vật Kim Trọng được khắc hoạ với vẻ đẹp hoàn hảo, lí tưởng của mẫu người tài tử, văn nhân thời xưa.
Câu hỏi 3
Câu hỏi 3 kết hợp các yêu cầu nhận biết, phân tích, suy luận. GV tổ chức cho HS làm việc nhóm, mời đại diện nhóm trình bày, các nhóm khác nhận xét, bổ sung. - Đoạn thơ tập trung khám phá, thể hiện cảm xúc, tâm trạng của hai nhân vật Thuý Kiều và Kim Trọng: + Hai dòng thơ đầu (Bóng hồng nhác thấy nẻo xa/ Xuân lan thu cúc mặn mà cả hai) miêu tả cảm giác của Kim Trọng khi gặp chị em Thuý Kiều: Dù ở khoảng cách xa và mới chỉ "thoáng nhìn" song đã ngỡ ngàng, ngưỡng mộ vẻ đẹp "mặn mà" của hai thiếu nữ. + Bốn dòng thơ tiếp (Người quốc sắc kẻ thiên tài… Rốn ngồi chẳng tiện dứt về chỉn khôn) thể hiện một cách tinh tế những trạng thái cảm xúc của tình yêu chớm nở ngay trong lần gặp gỡ đầu tiên giữa Kim Trọng và Thuý Kiều: Người quốc sắc kẻ thiên tài/ Tình trong như đã mặt ngoài còn e. Tình yêu "sét đánh" nhưng bị ràng buộc bởi lễ giáo khắt khe nên nhiều ngại ngùng, bối rối mà vẫn nồng nàn, say đắm (Chập chờn cơn tỉnh cơn mê), quyến luyến không muốn từ biệt (Rốn ngồi chẳng tiện dứt về chỉn khôn).
Bốn dòng thơ cuối tái hiện khoảnh khắc từ biệt đầy vấn vương, lưu luyến: Thời gian, không gian của buổi hoàng hôn khơi lên nỗi buồn chia biệt; cái nhìn ẩn chứa
Bốn dòng thơ cuối tái hiện khoảnh khắc từ biệt đầy vấn vương, lưu luyến: Thời gian, không gian của buổi hoàng hôn khơi lên nỗi buồn chia biệt; cái nhìn ẩn chứa bao ý tình của người thiếu nữ khuê các: Khách đà lên ngựa người còn nghé theo. Đặc biệt, nhà thơ đã sử dụng bút pháp tả cảnh ngụ tình để tái hiện những cảm xúc tinh tế của đôi trái tim "lần đầu rung động nỗi thương yêu" (Xuân Diệu). Vẫn là không gian êm đềm với "ngọn tiểu khê" và nhịp cầu nho nhỏ (Nao nao dòng nước uốn quanh/ Nhịp cầu nho nhỏ cuối ghềnh bắc ngang) nhưng giờ đây không còn vắng vẻ, đượm buồn mà trong trẻo, tươi sáng, sống động, tình tứ (Dưới cầu nước chảy trong veo/ Bên cầu tơ liễu bóng chiều thướt tha). Đúng là cảnh vật được nhìn qua đôi mắt của tình yêu!
Câu hỏi 4
Đối với các yêu cầu nhận biết, phân tích, suy luận ở câu hỏi 4, GV có thể tổ chức cho HS làm việc nhóm và sử dụng phiếu học tập theo gợi ý ở từng câu hỏi nhỏ.
a. Nhà thơ đã miêu tả khung cảnh một đêm trăng thơ mộng trong không gian êm đềm,
riêng tư - nơi khuê phòng của người thiếu nữ. Mọi sự vật trong bức tranh thiên nhiên này đều tươi đẹp, tình tứ, tràn đầy xuân sắc. Vầng trăng sáng trong "chênh chếch" như đang nhòm qua song cửa; ánh trăng toả sắc vàng lộng lẫy trên mặt nước, chiếu qua vòm cây lá, in bóng trên nền sân - đẹp tựa tranh vẽ. Nhánh hoa mềm mại, duyên dáng, tình tứ không chỉ tái hiện vẻ đẹp của mùa xuân mà còn gợi những xao xuyến, bâng khuâng, rung động trong trái tim người con gái bắt đầu yêu. Những từ ngữ, chi tiết miêu tả (lả ngọn đông lân, giọt sương gieo nặng, la đà,…) có thể hàm chứa nhiều ẩn ý nhưng với đối tượng HS và yêu cầu cần đạt của bài học, GV chưa cần khai thác sâu các lớp nghĩa này.
b. Câu (b) yêu cầu HS nhận biết được các hình thức ngôn ngữ trong tác phẩm truyện, đặc biệt là lời độc thoại của nhân vật. GV hướng dẫn HS vận dụng tri thức ngữ văn về lời độc thoại để nhận biết hình thức ngôn ngữ này.
c. Trong đoạn thơ, tác giả đã sử dụng ngôn ngữ miêu tả thiên nhiên (bút pháp tả cảnh ngụ tình), lời kể và lời độc thoại để thể hiện thế giới nội tâm của nhân vật. Khi khái quát tâm trạng nhân vật Thuý Kiều, HS cần nêu được các ý cơ bản: - Trạng thái bâng khuâng, xao xuyến, mơ mộng sau cuộc gặp gỡ Tình trong như đã, mặt ngoài còn e với Kim Trọng. - Nỗi xót xa, thương cảm cho thân phận nàng Đạm Tiên nhan sắc, tài hoa mà bạc mệnh (Người mà đến thế thì thôi/ Đời phồn hoa cũng là đời bỏ đi). - Tâm trạng bồi hồi, khắc khoải vừa có nỗi âu lo vừa có niềm mong ước, hi vọng khi nghĩ về Kim Trọng (Người đâu gặp gỡ làm chi/ Trăm năm biết có duyên gì hay không?).
Câu hỏi 5
Câu hỏi 5 kết hợp các yêu cầu phân tích, suy luận, đánh giá. GV có thể hướng dẫn HS trả lời bằng một số câu hỏi, yêu cầu sau: Trong đoạn trích, nhân vật Thuý Kiều chủ yếu được khắc hoạ bằng những chi tiết nào (ngoại hình, lời nói, cử chỉ, hành động, cảm xúc, suy nghĩ,…)? Nhà thơ đã sử dụng những phương tiện gì để thể hiện thế giới nội tâm của nhân vật? Chọn phân tích một số từ ngữ, câu thơ, hình ảnh em cho là đặc sắc.
THỰC HÀNH TIẾNG VIỆT CHỮ NÔM 1. Phân tích yêu cầu cần đạt HS có hiểu biết sơ giản về nguồn gốc, quá trình hình thành, phát triển và vai trò của chữ Nôm trong nề
THỰC HÀNH TIẾNG VIỆT CHỮ NÔM
1. Phân tích yêu cầu cần đạt
HS có hiểu biết sơ giản về nguồn gốc, quá trình hình thành, phát triển và vai trò của chữ Nôm trong nền văn hoá dân tộc. - HS tự hào và có ý thức trân trọng, gìn giữ các giá trị văn hoá truyền thống của dân tộc, đặc biệt là ngôn ngữ.
2. Gợi ý tổ chức hoạt động dạy học Hoạt động 1 Hình thành kiến thức mới Do yêu cầu cần đạt của tiết thực hành tiếng Việt này nên GV có thể điều chỉnh gia tăng t
2. Gợi ý tổ chức hoạt động dạy học
Hoạt động 1 Hình thành kiến thức mới
Do yêu cầu cần đạt của tiết thực hành tiếng Việt này nên GV có thể điều chỉnh gia tăng thêm thời gian cho hoạt động hình thành kiến thức mới (so với tiết thực hành tiếng Việt ở các bài khác). - GV hướng dẫn HS đọc và tóm tắt nội dung về chữ Nôm trong phần Tri thức ngữ văn (SGK, trang 65). Có thể sử dụng một số câu hỏi gợi ý: Chữ Nôm có nguồn gốc từ đâu? Việc sáng tạo chữ Nôm thể hiện khát vọng, tư tưởng gì của ông cha ta? Nêu thời điểm hình thành và một số mốc thời gian đánh dấu quá trình phát triển của chữ Nôm. - GV yêu cầu HS đọc kĩ khung Sơ giản về chữ Nôm (SGK, trang 70) để nhận biết được phương thức cấu tạo và vai trò cũng như hạn chế của chữ Nôm. Về phương thức cấu tạo, chữ Nôm được cấu tạo theo hai phương thức cơ bản: vay mượn chữ Hán có sẵn và tự tạo dựa
trên kí tự văn tự Hán. GV phân tích ví dụ để HS hiểu rõ từng phương thức. Về vai trò, chữ Nôm góp phần đặc biệt quan trọng vào quá trình phát triển của nền văn học và văn hoá dân tộc; đồng thời bảo tồn được nhiều chứng tích của tiếng Việt ở các thời đại trước. Tuy nhiên, chữ Nôm có những hạn chế rất lớn như: muốn đọc được chữ Nôm cần có hiểu biết về chữ Hán và do được cấu tạo nhằm ghi một âm tiết trọn vẹn nên chữ Nôm không giúp người đọc đánh vần theo cách ghép âm đầu với phần vần và thanh điệu để đọc như chữ quốc ngữ.
Hoạt động 2 Luyện tập, vận dụng
Bài tập 1
GV hướng dẫn HS vận dụng Tri thức ngữ văn và tuỳ theo đối tượng HS, có thể kết nối với hiểu biết về lịch sử, văn học, văn hoá dân tộc để làm bài tập.
Gợi ý:
Vào khoảng thế kỉ X, ông cha ta đã dùng chữ Hán để sáng tác, xây dựng nền văn học viết của dân tộc; sau đó dựa theo kí tự của chữ Hán để sáng tạo ra chữ Nôm. - Sáng tạo chữ Nôm - văn tự dùng để ghi âm tiếng Việt - ông cha ta đã thể hiện tinh thần tự chủ, tự cường và khát vọng xây dựng, phát triển nền văn học, văn hoá của dân tộc.
Bài tập 2
GV gợi nhắc HS nhớ lại các tác phẩm đã học trong chương trình hoặc các tác phẩm mà các em tự đọc để hoàn thành bài tập.
Gợi ý: Quốc âm thi tập (Nguyễn Trãi); Truyện Kiều, Văn tế thập loại chúng sinh
(Nguyễn Du); Bánh trôi nước, Mời trầu, Tự tình,… (Hồ Xuân Hương); Qua Đèo Ngang, Chiều hôm nhớ nhà (Bà Huyện Thanh Quan); Bạn đến chơi nhà, Thu vịnh, Thu điếu, Thu ẩm (Nguyễn Khuyến); Thương vợ, Lễ xướng danh khoa Đinh Dậu (Trần Tế Xương);…
Bài tập 3
Bài tập yêu cầu HS nhận biết vai trò lịch sử của chữ Nôm qua các hình thức văn tự được dùng để in ấn Truyện Kiều. Về việc tác phẩm có cần được lưu truyền bằng chữ Nôm hay
VĂN BẢN 2. LỤC VÂN TIÊN ĐÁNH CƯỚP, CỨU KIỀU NGUYỆT NGA (Trích Truyện Lục Vân Tiên, Nguyễn Đình Chiểu) 1. Phân tích yêu cầu cần đạt HS xác định được vị trí của đ
VĂN BẢN 2. LỤC VÂN TIÊN ĐÁNH CƯỚP, CỨU KIỀU NGUYỆT NGA
(Trích Truyện Lục Vân Tiên, Nguyễn Đình Chiểu)
1. Phân tích yêu cầu cần đạt
HS xác định được vị trí của đoạn trích trong tác phẩm cũng như bố cục của đoạn trích, nhận biết được lời đối thoại của các nhân vật.
HS biết phân tích các chi tiết (ngoại hình, lời nói, cử chỉ, hành động,…), từ đó khái quát được đặc điểm của nhân vật, chủ đề của đoạn trích.
HS biết kết nối VB với thực tế đời sống, từ đó bồi đắp cảm xúc thẩm mĩ và quan niệm
sống đúng đắn, cao đẹp.
2. Gợi ý tổ chức hoạt động dạy học
Hoạt động 1 Khởi động
Nếu sử dụng gợi ý trong SGK, GV mời một vài HS chia sẻ về nhân vật anh hùng mà mình yêu thích; hướng các em đến việc khẳng định những "hình mẫu" có ý nghĩa tích cực.
GV có thể tự sáng tạo hình thức khởi động phù hợp với VB và đối tượng HS, điều kiện thực tế của nhà trường.
Hoạt động 2 Đọc văn bản
GV yêu cầu HS đọc đoạn trích trước khi đến lớp, khuyến khích HS đọc thuộc lòng một số đoạn mà các em yêu thích. GV hướng dẫn cách đọc, sau đó mời một vài HS đọc diễn cảm.
GV lưu ý HS sử dụng các chiến lược đọc ở từng thẻ chỉ dẫn bên phải VB. Với VB Lục Vân Tiên đánh cướp, cứu Kiều Nguyệt Nga, HS sử dụng chiến lược theo dõi (các chi tiết miêu tả lời nói và hành động của nhân vật Lục Vân Tiên, Kiều Nguyệt Nga), chiến lược hình dung (hình ảnh Lục Vân Tiên giữa vòng vây của bọn cướp). Trong quá trình đọc, GV cần chia sẻ việc áp dụng một chiến lược đọc cụ thể để làm mẫu cho HS. Ví dụ, đọc bốn câu thơ đầu, có thể nhận biết các chi tiết miêu tả nhân vật Lục Vân Tiên như: hành động (ghé lại, bẻ cây, nhắm làng xông vô), lời nói (hỏi tội bọn cướp, thể hiện tinh thần nghĩa hiệp sẵn sàng cứu giúp dân lành),… Những chi tiết này sẽ giúp các em trả lời câu hỏi ở phần Sau khi đọc (câu hỏi 2, 3, 6).
Để phù hợp với thời gian đọc hiểu dành cho VB 2 (2 tiết), ngữ liệu trong SGK (trang
đã lược 14 dòng, từ câu Thưa rằng: "Tôi thiệt người ngay" đến câu "Hai nàng ai tớ, ai thầy nói ra?". Tuỳ theo đối tượng HS và kế hoạch bài dạy của tổ chuyên môn, GV có thể bổ sung đoạn ngữ liệu này và mở rộng câu hỏi về ngôn ngữ đối thoại. Ví dụ: Thưa rằng: "Tôi thiệt người ngay…" là lời của nhân vật nào? Những lời hỏi han của Lục Vân Tiên cho thấy thái độ,
tình cảm như thế nào với người gặp nạn? Cũng có thể sử dụng đoạn thơ trên để hướng dẫn HS thực hiện bài tập 3 trong phần Củng cố mở rộng (SGK, trang 84). - VB c
tình cảm như thế nào với người gặp nạn? Cũng có thể sử dụng đoạn thơ trên để hướng dẫn HS thực hiện bài tập 3 trong phần Củng cố mở rộng (SGK, trang 84). - VB có nhiều từ ngữ địa phương và từ Hán Việt, điển tích, điển cố. GV nhắc HS tìm hiểu nghĩa của những từ ngữ khó, trao đổi với bạn hoặc thầy cô về những từ ngữ bản thân không hiểu nhưng chưa được chú giải. GV có thể yêu cầu HS diễn xuôi một số câu thơ (Ví dụ: Chẳng qua là sự bất bình/ Hay vầy cũng chẳng đăng trình làm chi; Gẫm câu báo đức thù công/ Lấy chi cho phỉ tấm lòng cùng ngươi,…).
Hoạt động 3 Khám phá văn bản
GV hướng dẫn HS tự đọc phần giới thiệu về tác giả, tác phẩm; lưu ý một vài thông tin về cuộc đời, con người Nguyễn Đình Chiểu và nguồn gốc cốt truyện của Truyện Lục Vân Tiên. Sáu câu hỏi Sau khi đọc bám sát các yêu cầu cần đạt và được thiết kế theo cấp độ tư duy: nhóm câu hỏi nhận biết (câu 1, 2); nhóm câu hỏi phân tích, suy luận (câu 3, 4); nhóm câu hỏi đánh giá, vận dụng (câu 5, 6). Khi tổ chức hoạt động dạy học, có thể kết hợp các câu hỏi
nhưng cần bám sát yêu cầu cần đạt và phải đảm bảo trình tự tư duy.
Câu hỏi 1
Câu hỏi 1 yêu cầu HS nhận biết được bố cục của đoạn trích và nội dung chính của từng phần. GV hướng dẫn HS dựa vào nhan đề, sự việc được kể và các nhân vật được miêu tả để thực hiện yêu cầu. Đoạn trích có thể chia thành ba phần: - Mười bốn dòng thơ đầu (từ Vân Tiên ghé lại bên đàng đến Bị Tiên một gậy thác rày thân vong): Lục Vân Tiên ra tay trừng trị bọn cướp, cứu người gặp nạn. - Hai mươi tư dòng thơ tiếp (từ Dẹp rồi lũ kiến chòm ong đến Lấy chi cho phỉ tấm lòng cùng ngươi): Lục Vân Tiên hỏi han, an ủi Kiều Nguyệt Nga. - Sáu dòng thơ cuối: Lục Vân Tiên bày tỏ quan niệm sống và quan niệm về người anh hùng.
Câu hỏi 2
Trong tác phẩm truyện thơ, lời đối thoại của nhân vật không được trình bày theo hình thức dễ nhận biết (ngắt xuống dòng, gạch đầu dòng) như thường thấy trong truyện hiện đại. Nhưng VB trong SGK đã được "xử lí" nên HS có thể dựa vào dấu hai chấm và dấu ngoặc kép để nhận biết lời đối thoại của các nhân vật (Lục vân Tiên nói với Phong Lai, Lục Vân Tiên nói với Kiều Nguyệt Nga, Kiều Nguyệt Nga nói với Lục Vân Tiên).
Câu hỏi 3
Câu hỏi 3 kết hợp các yêu cầu nhận biết, phân tích, suy luận. GV tổ chức cho HS làm việc nhóm, mời đại diện một vài nhóm trình bày (có thể theo nội dung của từng câu hỏi nhỏ); các nhóm khác nhận xét, bổ sung, trên cơ sở đó GV khái quát lại.
Gợi ý:
a. Lí do khiến Lục Vân Tiên quyết định ra tay trừng trị bọn cướp được thể hiện rõ qua lời nhân vật: Kêu rằng: "Bớ đảng hung đồ/ Chớ quen làm thói hồ đồ hại dân". Đó là sự phẫn nộ trước hành động ngang ngược, bất lương của bọn cướp, nỗi xót thương cho những người
dân lành bị ức hiếp. Đó còn là tinh thần nghĩa hiệp, không thể thờ ơ trước sự bất công, ngang trái. b. Trong đoạn thơ, tính cách nhân vật Lục Vân Tiên chủ yếu đ
dân lành bị ức hiếp. Đó còn là tinh thần nghĩa hiệp, không thể thờ ơ trước sự bất công, ngang trái. b. Trong đoạn thơ, tính cách nhân vật Lục Vân Tiên chủ yếu được thể hiện qua lời nói và cử chỉ, hành động. GV hướng dẫn HS chọn phân tích một số từ ngữ, hình ảnh tiêu biểu: - Khi Lục Vân Tiên quyết định trừng trị bọn cướp: cử chỉ dứt khoát, hành động mạnh mẽ, quyết đoán, không chút ngập ngừng (ghé lại, bẻ cây, xông vô) mặc dù chỉ là việc "giữa đường" và biết rõ bọn cướp đông đúc, hung hãn, tàn ác như thế nào. - Khi Lục Vân Tiên tung hoành giữa vòng vây, đánh tan bọn cướp: tả đột hữu xông, bị Tiên một gậy,… : thể hiện lòng quả cảm và võ nghệ cao cường. c. Thái độ, tình cảm của người kể chuyện đối với nhân vật Lục Vân Tiên được thể hiện qua cách kể, cách miêu tả sự việc và nhân vật. GV hướng dẫn HS sử dụng kết quả ở các câu a, b và phân tích một số từ ngữ, hình ảnh tiêu biểu để thấy được tình cảm yêu mến, trân trọng của người kể chuyện. Qua lời kể, Lục Vân Tiên hiện lên với vẻ đẹp của người anh hùng
quả cảm, nghĩa hiệp, sẵn sàng cứu giúp, bảo vệ dân lành.
Câu hỏi 4
Nhân vật Kiều Nguyệt Nga chủ yếu được khắc hoạ qua ngôn ngữ đối thoại. GV hướng dẫn HS phân tích các chi tiết thể hiện lời đối thoại để nêu cảm nhận về nhân vật: thông minh, đoan trang, nề nếp, khiêm nhường; biết ứng xử và trọng ân nghĩa.
Gợi ý:
Lối xưng hô (quân tử, chàng - thiếp) và lời nói khiêm nhường, lễ phép, thể hiện thái độ trân trọng ân nhân: Thưa rằng… Xin cho tiện thiếp… Xin theo cùng thiếp… - Chi tiết xin được lạy tạ ơn cứu mạng và thiết tha mời Lục Vân Tiên đến nơi cha mình đang làm quan để báo đền ân nghĩa.
Câu hỏi 5
GV yêu cầu HS đọc kĩ sáu dòng thơ cuối để hiểu rõ quan niệm về người anh hùng của nhân vật Lục Vân Tiên: cứu giúp, làm ơn cho người khác mà không màng tới sự báo đáp (Làm ơn há dễ trông người trả ơn, Nào ai tính thiệt so hơn làm gì); coi việc nghĩa là bổn phận, trách nhiệm của người anh hùng (Nhớ câu kiến nghĩa bất vi/ Làm người thế ấy cũng phi anh hùng). Với câu hỏi mở như thế này, HS tự do thể hiện quan điểm; tuy nhiên GV cũng cần định hướng để các em biết hình thành những quan niệm đúng đắn, sâu sắc.
Câu hỏi 6
GV hướng dẫn HS sử dụng kết quả của các hoạt động ở các câu hỏi 3, 4, 5 để thực hiện yêu cầu của câu 6.
Gợi ý:
Về nghệ thuật xây dựng nhân vật: nhân vật chủ yếu được khắc hoạ qua ngoại hình, lời nói, cử chỉ, hành động,… - Về nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ, cần lưu ý một số đặc điểm nổi bật: ngôn ngữ giản dị, mang màu sắc địa phương, đôi chỗ còn thô mộc; sử dụng từ Hán Việt và điển tích, điển cố khá nhuần nhuyễn…
THỰC HÀNH TIẾNG VIỆT CHỮ QUỐC NGỮ 1. Phân tích yêu cầu cần đạt HS có hiểu biết sơ giản về quá trình hình thành, phát triển của chữ quốc ngữ và vai trò của hệ th
THỰC HÀNH TIẾNG VIỆT CHỮ QUỐC NGỮ
1. Phân tích yêu cầu cần đạt
HS có hiểu biết sơ giản về quá trình hình thành, phát triển của chữ quốc ngữ và vai trò của hệ thống chữ viết này trong đời sống văn hoá, kinh tế, xã hội của đất nước.
HS biết vận dụng những hiểu biết về chữ quốc ngữ vào việc khắc phục lỗi chính tả. - HS tự hào và có ý thức trân trọng, gìn giữ vẻ đẹp của tiếng Việt.
2. Gợi ý tổ chức hoạt động dạy học
Hoạt động 1 Hình thành kiến thức mới
GV hướng dẫn HS đọc và tóm tắt nội dung về chữ quốc ngữ trong phần Tri thức ngữ văn (SGK, trang 65); lưu ý những người có đóng góp lớn và một số điểm mốc quan trọng trong quá trình hình thành, phát triển của chữ quốc ngữ.
GV yêu cầu HS đọc kĩ phần Sơ giản về chữ quốc ngữ (SGK, trang 74 - 75) để nhận biết đặc điểm, vai trò của chữ quốc ngữ. Về đặc điểm, chữ quốc ngữ dùng các con chữ trong chữ cái La-tinh để ghi âm tiếng Việt; giữa chữ và âm, cách viết và cách đọc có sự tương ứng nên chỉ cần học thuộc bảng chữ cái và nắm được nguyên tắc ghép vần là có thể đọc được tất cả các chữ (tiếng) trong tiếng Việt.
Tuỳ theo đối tượng HS, GV có thể mở rộng thông tin về vai trò, tác dụng của chữ quốc ngữ đối với sự phát triển văn hoá, xã hội của đất nước. Ví dụ: tình hình báo chí và văn học viết bằng chữ quốc ngữ cuối thế kỉ XIX - đầu thế kỉ XX; công cuộc xoá nạn mù chữ sau năm 1945,… Có thể hướng dẫn HS tự tìm hiểu vấn đề này bằng các yêu cầu như: giới thiệu ngắn gọn về tờ báo đầu tiên, về tác phẩm văn học đầu tiên viết bằng chữ quốc ngữ, về phong trào "bình dân học vụ",…
Hoạt động 2 Luyện tập, vận dụng Theo yêu cầu cần đạt của bài học, các bài tập trong tiết Thực hành tiếng Việt này nghiêng về lí thuyết. GV hướng dẫn HS vận dụng
Hoạt động 2 Luyện tập, vận dụng
Theo yêu cầu cần đạt của bài học, các bài tập trong tiết Thực hành tiếng Việt này nghiêng về lí thuyết. GV hướng dẫn HS vận dụng kiến thức ở mục Tri thức ngữ văn và Sơ giản về chữ quốc ngữ để thực hiện các bài tập.
Bài tập 1
Bài tập 1 yêu cầu HS nắm được một số điểm mốc quan trọng trong quá trình hình thành và phát triển của chữ quốc ngữ. Ngoài những nội dung có liên quan trong SGK, GV hướng dẫn HS tìm kiếm thông tin trên in-tơ-nét. a. Một số điểm mốc quan trọng trong quá trình hình thành và phát triển của chữ quốc ngữ (GV tham khảo, HS chỉ cần tiếp cận sơ bộ, không nhất thiết phải ghi nhớ hết): - Thế kỉ XVII: chữ quốc ngữ được hình thành trong quá trình các tu sĩ Dòng Tên truyền
đạo Công giáo ở Việt Nam. Năm 1651, hai công trình Từ điển Việt - Bồ - La và Phép giảng tám ngày của A-lếch-xăng đờ Rốt được in tại Rô-ma (Roma) - những cuốn sách đầu tiên được in bằng chữ quốc ngữ còn lưu giữ đến ngày nay - đánh dấu điểm mốc quan trọng trong lịch sử của hệ thống chữ viết này. - Từ cuối thế kỉ XVIII: chữ quốc ngữ được chỉnh lí, giúp cho chữ viết này có hình thức gần giống ngày nay. - Năm 1878, Thống đốc Nam Kỳ người Pháp kí Nghị định quy định sau bốn năm (tức năm 1882) thì các VB hành chính lưu hành ở các địa phương thuộc Nam Kỳ đều phải dùng chữ quốc ngữ. - Năm 1918, vua Khải Định ra đạo dụ chính thức bãi bỏ khoa cử và năm 1919 là năm cuối mở khoa thi bằng chữ Hán ở Huế. Từ đó, chữ quốc ngữ trở thành văn tự sử dụng phổ biến trên cả nước Việt Nam, từng bước thay thế chữ Hán và chữ Nôm để trở thành văn tự chính thức của quốc gia. - Một số hoạt động của trí thức Việt Nam góp phần thúc đẩy sự phát triển của chữ quốc ngữ: Năm 1865, Trương Vĩnh Ký ra tờ Gia Định báo do ông làm chủ bút, là tờ báo đầu tiên viết bằng chữ quốc ngữ. Năm 1907, hoạt động của phong trào Đông Kinh nghĩa thục nhằm thực hiện cải cách xã hội Việt Nam trong bối cảnh nước ta vẫn còn bị thực dân Pháp cai trị cũng có ảnh hưởng đến việc khai mở dân trí và khuyến khích dân chúng dùng chữ quốc ngữ. - Năm 1945, Cách mạng tháng Tám thành công, tiếng Việt trở thành ngôn ngữ chính thức được sử dụng trong mọi lĩnh vực đời sống, trong đó có giáo dục, hành chính. Theo đó, chữ quốc ngữ cũng có vị thế là hệ thống chữ viết chính thức của quốc gia. b. HS cần chỉ ra điểm giống nhau và khác nhau cơ bản giữa chữ Nôm và chữ quốc ngữ: - Giống nhau: cùng là văn tự dùng để ghi âm tiếng Việt. - Khác nhau: Chữ Nôm dựa theo kí hiệu văn tự Hán, chữ viết không thể hiện cách phát âm, muốn đọc được chữ Nôm phải biết chữ Hán. Chữ quốc ngữ dùng chữ cái La-tinh
để ghi âm tiếng Việt, chữ viết và cách đọc có sự tương ứng; chỉ cần thuộc bảng chữ cái và nguyên tắc ghép vần là có thể đọc được. Bài tập 2 Một số hệ quả tích c
để ghi âm tiếng Việt, chữ viết và cách đọc có sự tương ứng; chỉ cần thuộc bảng chữ cái và nguyên tắc ghép vần là có thể đọc được.
Bài tập 2
Một số hệ quả tích cực và tiêu cực đối với đời sống văn hoá, xã hội của nước ta khi chuyển đổi từ chữ Nôm sang chữ quốc ngữ để ghi âm tiếng Việt:
Tác động tích cực: Chữ quốc ngữ có ưu thế lớn nhờ sử dụng kí tự La-tinh, có sự tương thích giữa chữ viết với cách đọc nên học đọc và viết chữ quốc ngữ nhanh và dễ dàng hơn so với chữ Nôm. Vì vậy, chữ quốc ngữ tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển ở mọi lĩnh vực văn hoá, kinh tế, xã hội của đất nước.
Tác động tiêu cực: Chữ Nôm là văn tự được các tác giả thời trung đại sử dụng để sáng tạo nên nhiều tác phẩm xuất sắc, xây dựng những thể loại văn học đặc sắc của dân tộc; có giá trị bảo tồn nhiều chứng tích của tiếng Việt cổ xưa. Vì vậy, việc chữ quốc ngữ thay thế hoàn toàn chữ Nôm cũng tạo ra "khoảng cách" giữa các thế hệ sau với di sản văn hoá của
cha ông.
Bài tập 3
HS dựa vào ý thứ hai trong phần Sơ giản về chữ quốc ngữ (SGK, trang 75) để thực hiện yêu cầu của bài tập 3. Ví dụ: âm /ɣ/ được ghi bằng chữ g hoặc gh; âm /ŋ/ được ghi bằng chữ ng hoặc ngh; âm /z/ được ghi bằng chữ d hoặc gi,…
Bài tập 4
GV yêu cầu HS nêu một số lỗi chính tả thường mắc phải khi viết bài; xác định lí do mắc lỗi và hướng dẫn sửa lỗi. GV hướng dẫn để HS phân biệt những lỗi chính tả do đặc điểm của chữ quốc ngữ (ví dụ, hiện tượng một âm được ghi bằng 2 con chữ dẫn đến việc nhầm lẫn như dây (dây chuyền, dây leo, dây dưa,…) với giây (giây phút, giây lát,…); dành (dành dụm, dành cho,…) với giành (tranh giành, giành giật,…);...); do đặc điểm phát âm của một phương ngữ (ví dụ người nói giọng Trung và giọng Nam thường không có nhiều khác biệt khi phát âm thanh hỏi và thanh ngã nên có thể viết sai các chữ có dấu thanh tương ứng như viết dễ dàng thành dể dàng, nhẫn nhịn thành nhẩn nhịn,…). Ngoài ra, có thể có những lỗi chính tả do bất cẩn, cẩu thả;… Mỗi loại lỗi chính tả như vậy cần có cách khắc phục riêng.
Trang 111
VIẾT VIẾT BÀI VĂN NGHỊ LUẬN VỀ MỘT VẤN ĐỀ CẦN GIẢI QUYẾT (TRONG ĐỜI SỐNG CỦA HỌC SINH HIỆN NAY) 1. Phân tích yêu cầu cần đạt HS nắm được yêu cầu của kiểu bài vă
VIẾT
VIẾT BÀI VĂN NGHỊ LUẬN VỀ MỘT VẤN ĐỀ CẦN GIẢI QUYẾT (TRONG ĐỜI SỐNG CỦA HỌC SINH HIỆN NAY)
1. Phân tích yêu cầu cần đạt
HS nắm được yêu cầu của kiểu bài văn nghị luận về một vấn đề cần giải quyết (trong đời sống của HS hiện nay). - HS viết được một bài văn nghị luận về một vấn đề cần giải quyết, trình bày được rõ luận đề, triển khai được hệ thống luận điểm chặt chẽ, lí lẽ thuyết phục, bằng chứng tiêu biểu và trình bày được giải pháp khả thi để giải quyết vấn đề.
2. Những lưu ý về yêu cầu đối với bài văn nghị luận về một vấn đề cần giải quyết
Về đề tài, HS cần lựa chọn được vấn đề thiết thực cần giải quyết trong đời sống của HS hiện nay. - Về trình tự triển khai bài viết, HS cần trình bày được ý kiến, quan điểm cá nhân và hình thành được hệ thống luận điểm chặt chẽ, kết hợp được lí lẽ và bằng chứng. Bài viết cũng cần nêu và phản bác được một số ý kiến trái chiều để nhấn mạnh tính đúng đắn của quan điểm mà người viết chứng minh; đồng thời đưa ra được một số giải pháp để giải quyết vấn đề. - Khi tổng kết lại vấn đề, cần khẳng định được ý nghĩa của việc nhận thức đúng và giải pháp hiệu quả được nêu ra.
3. Gợi ý tổ chức hoạt động dạy học Hoạt động 1 Giới thiệu kiểu bài GV có thể sử dụng gợi ý trong SGK để giới thiệu kiểu bài và dẫn dắt vào bài học. Ví dụ: Trong
3. Gợi ý tổ chức hoạt động dạy học
Hoạt động 1 Giới thiệu kiểu bài
GV có thể sử dụng gợi ý trong SGK để giới thiệu kiểu bài và dẫn dắt vào bài học. Ví dụ: Trong cuộc sống hằng ngày, mỗi người thường xuyên phải đối diện với những vấn đề cần giải quyết. Em quan tâm đến vấn đề gì? Em muốn trình bày ý kiến gì về vấn đề và đưa ra cách giải quyết như thế nào?
Hoạt động 2 Tìm hiểu yêu cầu đối với bài văn nghị luận về một vấn đề cần
giải quyết (trong đời sống của học sinh hiện nay)
GV hướng dẫn HS đọc kĩ và trình bày tóm tắt các yêu cầu của kiểu bài được nêu trong SGK. Có thể yêu cầu HS giải thích vì sao kiểu bài văn nghị luận đó lại có những yêu cầu như vậy. GV nên dành thời gian để HS nêu những điều các em chưa hiểu về những yêu cầu của kiểu bài để cùng trao đổi và làm rõ.
Hoạt động 3 Đọc và phân tích bài viết tham khảo
GV giới thiệu đề tài của bài viết tham khảo: đối diện và vượt qua nỗi buồn để trưởng thành. - GV hướng dẫn HS phân tích bài viết tham khảo để nắm vững các yêu cầu của kiểu bài và cách triển khai một bài viết đáp ứng những yêu cầu đó. Có thể sử dụng một số câu hỏi gợi dẫn như:
+ Vấn đề nghị luận ở đây là gì? Vấn đề đó được nêu khái quát trong câu văn nào? + Người viết đã đưa ra những ý kiến gì về vấn đề trưởng thành qua nỗi buồn? Hãy chỉ ra một số lí lẽ và bằng chứng được người viết sử dụng để chứng minh cho quan điểm của mình.
+ Người viết đã đề xuất những giải pháp nào có thể giúp con người vượt qua nỗi buồn? + Ý kiến trái chiều được nêu ra và phản bác là gì? Cách giải quyết vấn đề nào đã được nhấn mạnh?
+ Việc bàn luận về vấn đề trưởng thành qua nỗi buồn có ý nghĩa gì?
Hoạt động 4 Thực hành viết theo các bước
GV hướng dẫn HS xác định mục đích viết, người đọc và chọn đề tài. Về đề tài, ngoài những gợi ý trong SGK, các em có thể tự chọn vấn đề để bàn luận (lưu ý: cần phù hợp với lứa tuổi và có ý nghĩa thiết thực). GV có thể sử dụng một đề bài cụ thể để hướng dẫn HS thực hành viết theo các bước. Ví dụ: Viết bài văn trình bày suy nghĩ của em về cách giải quyết vấn đề khi có mâu thuẫn, xung đột với bạn học. - Hướng dẫn tìm ý: GV có thể thiết kế phiếu tìm ý hoặc đưa ra một số câu hỏi gợi dẫn giúp HS tìm ý. Ví dụ: Em có quan điểm như thế nào về cách giải quyết vấn đề khi nảy sinh mâu thuẫn, xung đột với bạn học? Em đề xuất những giải pháp gì để có thể giải quyết mâu thuẫn, xung đột đó? Em muốn phản biện quan điểm trái chiều nào? Những lí lẽ và bằng chứng nào
em định sử dụng để chứng minh cho quan điểm của mình? Việc tìm được cách giải quyết đúng đắn mâu thuẫn, xung đột với bạn học có ý nghĩa như thế nào? Hướng dẫn l
em định sử dụng để chứng minh cho quan điểm của mình? Việc tìm được cách giải quyết đúng đắn mâu thuẫn, xung đột với bạn học có ý nghĩa như thế nào?
Hướng dẫn lập dàn ý: Sau khi HS đã tìm được các ý cơ bản cho bài văn, GV hướng dẫn các em dựa vào yêu cầu của kiểu bài và mô hình của bài viết tham khảo để lập dàn ý. Ví dụ:
+ Mở bài: Giới thiệu và nêu quan điểm của em về vấn đề giải quyết mâu thuẫn, xung đột trong môi trường học đường.
+ Thân bài: Trình bày ý kiến của em về việc giải quyết mâu thuẫn, xung đột với bạn học (bình tĩnh, chủ động tìm nguyên nhân nảy sinh mâu thuẫn, xung đột; lựa chọn thời điểm, hình thức để trò chuyện, trao đổi nhằm cùng nhau giải quyết xung đột; sẵn sàng tha thứ hoặc xin lỗi; có thể tìm kiếm sự hỗ trợ của thầy cô, gia đình khi cần thiết,…); phản bác một số ý kiến trái chiều (ăn miếng trả miếng, dùng bạo lực; tuyệt giao hoặc im lặng chờ cho mâu thuẫn, xung đột tự trôi qua;…).
+ Kết bài: Khẳng định tầm quan trọng của việc nhận thức về mâu thuẫn, xung đột với
bạn học và có giải pháp đúng đắn để giải quyết vấn đề.
Hướng dẫn viết bài: GV lưu ý HS bám sát dàn ý; khi triển khai các luận điểm, cần có ý thức sử dụng lí lẽ và bằng chứng để thuyết phục người đọc; đảm bảo viết đúng chính tả, dùng từ, đặt câu chuẩn mực và đảm bảo sự mạch lạc, liên kết giữa các câu trong đoạn văn, giữa các đoạn văn trong bài.
TRẢ BÀI
Hoạt động 1 Nhắc lại, khắc sâu yêu cầu của kiểu bài
GV căn cứ vào yêu cầu đối với kiểu bài nghị luận về một vấn đề cần giải quyết (trong đời sống của học sinh hiện nay) để đưa ra tiêu chí nhận xét, đánh giá.
GV hướng dẫn HS dựa vào các yêu cầu của kiểu bài để rà soát bài viết của mình; nhắc các em lưu ý nhận xét, đánh giá cụ thể của thầy cô trong bài viết.
Hoạt động 2 Nhận xét về kết quả viết và chỉnh sửa bài viết
GV nhận xét chung về mức độ đáp ứng yêu cầu của kiểu bài; phân tích một số ưu điểm và hạn chế về: đề tài, cách trình bày ý kiến, cách sử dụng lí lẽ và bằng chứng, giải pháp để giải quyết vấn đề, cách phản bác ý kiến trái chiều, diễn đạt,…
GV yêu cầu HS rà soát và tự chỉnh sửa các lỗi trong bài viết của mình.
CỦNG CỐ, MỞ RỘNG Cuối tiết Đọc VB 3 hoặc tiết Nói và nghe, GV dành thời gian giao nhiệm vụ và hướng dẫn HS thực hiện các yêu cầu của phần Củng cố, mở rộng (phần
CỦNG CỐ, MỞ RỘNG
Cuối tiết Đọc VB 3 hoặc tiết Nói và nghe, GV dành thời gian giao nhiệm vụ và hướng dẫn HS thực hiện các yêu cầu của phần Củng cố, mở rộng (phần hướng dẫn Thực hành đọc có thể thực hiện sau khi đọc VB 2).
Bài tập 1 Bài tập 1 yêu cầu HS so sánh và nêu nhận xét về cách miêu tả nhân vật ở hai đoạn trích; từ đó thấy được mối quan hệ liên VB giữa Truyện Kiều (Nguyễn D
Bài tập 1
Bài tập 1 yêu cầu HS so sánh và nêu nhận xét về cách miêu tả nhân vật ở hai đoạn trích; từ đó thấy được mối quan hệ liên VB giữa Truyện Kiều (Nguyễn Du) với Kim Vân Kiều truyện (Thanh Tâm Tài Nhân) và sáng tạo độc đáo của Nguyễn Du.
GV có thể thiết kế phiếu học tập hoặc sử dụng các câu hỏi gợi ý để hướng dẫn HS thực hiện các yêu cầu của bài tập 1.
Gợi ý:
Những điểm giống nhau của hai đoạn trích: + Miêu tả vẻ đẹp của Thuý Kiều, Thuý Vân qua cái nhìn của Kim Trọng. + Miêu tả cảm xúc, suy nghĩ và tình trạng "khó xử" của Kim Trọng: Nhưng vì ngại có Vương Quan, không tiện đứng lâu, đành cùng nhau từ biệt (Kim Vân Kiều truyện); Rốn ngồi chẳng tiện, dứt về chỉn khôn (Truyện Kiều).
Những điểm khác nhau: + Đoạn trích trong Kim Vân Kiều truyện: miêu tả cụ thể, chi tiết ngoại hình của Thuý Kiều, Thuý Vân (gợi khoảng cách gần và sự quan sát tỉ mỉ, chăm chú của Kim Trọng); tập trung thể hiện cảm xúc, suy nghĩ của Kim Trọng, trong đó có mong ước "được hai nàng làm vợ"; kể sự việc (Vương ông sai người đem kiệu đến đón, hai nàng lên kiệu ra về).
Đoạn trích trong Truyện Kiều: miêu tả dáng vẻ của Thuý Kiều, Thuý Vân một cách khái quát (nhác thấy nẻo xa), sử dụng bút pháp ước lệ (xuân lan thu cúc) mà vẫn gợi được vẻ đẹp mặn mà, tươi trẻ; miêu tả cảm xúc, suy nghĩ của hai nhân vật Kim Trọng và Thuý Kiều (Người quốc sắc, kẻ thiên tài/ Tình trong như đã, mặt ngoài còn e) - thể hiện được "tình ý" họ dành cho nhau; sáng tạo ngôn ngữ miêu tả thiên nhiên, "tả cảnh ngụ tình",…
Bài tập 2. GV hướng dẫn HS kẻ bảng vào vở theo mẫu trong SGK và điền thông tin phù
hợp về các VB đọc trong bài học. Đối với yêu cầu nêu chủ đề và khái quát đặc sắc nghệ thuật, HS cần dựa vào kết quả của hoạt động khám phá VB ở từng VB.
Bài tập 3
GV có thể gợi ý cho HS một số đoạn trích tiêu biểu trong Truyện Kiều (Nguyễn Du) như: đoạn tả tài sắc chị em Thuý Kiều (từ câu 15 đến câu 30), đoạn tả cảnh ngày xuân (từ câu 39 đến câu 56), đoạn Kim Trọng tương tư Thuý Kiều (từ câu 245 đến câu 260), đoạn Kim Trọng trở lại vườn Thuý (từ câu 2741 đến câu 2754),… hoặc trong Truyện Lục Vân Tiên (Nguyễn Đình Chiểu) như: đoạn Kiều Nguyệt Nga tương tư Lục Vân Tiên (từ câu 271 đến câu 286), đoạn Lục Vân Tiên chém tướng giặc Ô Qua (từ câu 1781 đến câu 1800),…
GV hướng dẫn HS vận dụng kĩ năng đọc hiểu VB 1, VB 2 để tìm hiểu bố cục của đoạn trích; phân tích hình tượng thiên nhiên hoặc hình tượng con người; từ đó khái quát giá trị tư tưởng và nghệ thuật của đoạn trích.
Trang 117
Trang 118
Trang 119
Trang 120
GIỚI THIỆU BÀI HỌC VÀ TRI THỨC NGỮ VĂN Hoạt động 1 Tìm hiểu Giới thiệu bài học Phần Giới thiệu bài học gồm hai nội dung: giới thiệu về chủ đề bài học (Khám phá
GIỚI THIỆU BÀI HỌC VÀ TRI THỨC NGỮ VĂN
Hoạt động 1 Tìm hiểu Giới thiệu bài học
Phần Giới thiệu bài học gồm hai nội dung: giới thiệu về chủ đề bài học (Khám phá vẻ đẹp văn chương) và loại VB được học trong bài (VB nghị luận văn học). Việc đọc hiểu VB 1 và
VB 2 sẽ đem đến cho HS những hiểu biết về kiểu VB nghị luận văn học. VB 3 là VB kết nối về chủ đề, qua đó HS hiểu được rằng có nhiều cách tiếp cận khác nhau đối
VB 2 sẽ đem đến cho HS những hiểu biết về kiểu VB nghị luận văn học. VB 3 là VB kết nối về chủ đề, qua đó HS hiểu được rằng có nhiều cách tiếp cận khác nhau đối với một tác phẩm văn học - điều đó phụ thuộc vào sự hiểu biết, vốn sống, trải nghiệm của người tiếp nhận.
Trong hoạt động Giới thiệu bài học, GV giới thiệu cho HS cả chủ đề và loại VB. Về chủ đề, GV có thể khai thác trải nghiệm khám phá văn chương của HS, trải nghiệm đọc các VB nghiên cứu, phê bình văn học và nhận thức của các em về sự cần thiết của hoạt động khám phá vẻ đẹp văn học. Để khai thác trải nghiệm khám phá văn chương của HS, GV có thể thiết kế các trò chơi, đặt HS trong vai người khám phá, đưa dữ liệu để HS tìm ra các từ khoá then chốt liên quan đến một tác phẩm hay một vấn đề văn học. Để khai thác trải nghiệm đọc VB nghiên cứu, phê bình văn học và nhận thức của HS về sự cần thiết của hoạt động khám phá vẻ đẹp văn chương, GV có thể đặt ra các câu hỏi: Em đã đọc VB nghiên cứu, phê bình văn học nào? VB đó giúp em nhận ra điều gì? Theo em, việc khám phá vẻ đẹp văn chương có ý nghĩa gì?
Từ đó, gợi dẫn cho HS hiểu các VB nghiên cứu, phê bình văn chương giúp người đọc hiểu hơn về vẻ đẹp, giá trị, ý nghĩa của văn học, khơi gợi tình yêu văn chương, mài sắc cảm nhận văn học và cách sử dụng ngôn ngữ.
Về loại VB của bài, GV cần khơi gợi để HS nhớ lại kiến thức về VB nghị luận văn học đã học ở lớp 6, 7, 8 hoặc đặt ra các câu hỏi như: Ở các lớp trước, em đã được làm quen với VB nghị luận văn học nào? Hãy chia sẻ điều mà em thu nhận được từ việc đọc một trong những VB đó. GV cũng có thể kết nối với các bài viết tham khảo phân tích một nhân vật văn học, các bài văn phân tích một tác phẩm truyện hoặc thơ để giúp HS hiểu rằng khi viết một bài văn nêu cảm nhận, phân tích tác phẩm văn học cũng có nghĩa là em đang tạo lập một VB nghị luận văn học.
Hoạt động 2 Khám phá Tri thức ngữ văn
Bài học này yêu cầu HS nắm vững các tri thức ngữ văn sau: VB nghị luận viết về tác phẩm văn học; vai trò của người đọc và bối cảnh tiếp nhận đối với việc đọc hiểu VB; cách dẫn trực tiếp và cách dẫn gián tiếp; một số lưu ý về cách tham khảo, trích dẫn tài liệu. Để dạy học các nội dung này, GV hướng dẫn HS tự tìm hiểu trước ở nhà. Ở trên lớp, GV thiết kế phiếu học tập để dẫn dắt HS tiếp cận các vấn đề trên. GV có thể xuất phát từ các VB nghị luận viết về tác phẩm văn học trong các bài viết tham khảo mà HS đã học để hướng dẫn HS tìm ra đặc điểm của loại VB này.
Về vấn đề vai trò của người đọc và bối cảnh tiếp nhận đối với việc đọc hiểu VB, GV có thể vẽ sơ đồ tư duy, đồng thời diễn giải, đưa ra ví dụ cụ thể giúp HS hiểu hơn về vấn đề này.
Những khái niệm về cách dẫn trực tiếp, cách dẫn gián tiếp; một số lưu ý về cách tham khảo, trích dẫn tài liệu, GV hướng dẫn HS tìm hiểu trong tiết Thực hành tiếng Việt.
Tóm lại, ở hoạt động tìm hiểu tri thức ngữ văn, GV thông qua phương pháp nêu vấn đề, diễn giảng và đàm thoại để dẫn dắt HS từng bước khám phá các tri thức ở mục này.
Trang 123
Trang 124
Trang 125
Trang 126
Trang 127
Hoạt động 4 Viết kết nối với đọc Phần Viết kết nối với đọc yêu cầu HS viết đoạn văn trình bày quan điểm của mình đối với những phân tích của tác giả bài nghị lu
Hoạt động 4 Viết kết nối với đọc
Phần Viết kết nối với đọc yêu cầu HS viết đoạn văn trình bày quan điểm của mình đối với những phân tích của tác giả bài nghị luận về chi tiết chiếc bóng trên vách. Yêu cầu này giúp HS phát huy được sự chủ động trong việc nhìn nhận ý kiến đánh giá của nhà phê bình. HS có thể bày tỏ ý kiến đồng tình hay phản đối. Khi hướng dẫn HS viết, GV có thể đưa ra câu hỏi gợi ý theo các bước sau: - Nhà phê bình Nguyễn Đăng Na đã phân tích chi tiết chiếc bóng trên vách như thế nào? (Câu hỏi này giúp HS nhận diện cách phân tích của nhà phê bình). Gợi ý trả lời: Theo nhà phê bình, chiếc bóng trên vách là một trò đùa với con, trò đùa ấy thể hiện tình yêu, nỗi nhớ của người vợ với chồng, gửi gắm hàm ý vợ chồng quấn quýt như hình với bóng không rời. Tuy nhiên, đây lại là nguyên nhân gây nên cái chết oan nghiệt của Vũ Nương. - Em có đồng tình với những phân tích đó không? (Câu hỏi này giúp HS bộc lộ quan điểm
của mình). GV có thể đặt câu hỏi gợi ý để HS trình bày quan điểm của bản thân, chẳng hạn như: Phân tích của tác giả Nguyễn Đăng Na có bám sát VB không? Những suy luận của tác giả về mối quan hệ giữa hình với bóng, những liên tưởng về sự quấn quýt giữa hình với bóng và sự quấn quýt giữa vợ với chồng có hợp lí không? Ngoài những ý nghĩa của chi tiết được tác giả nêu lên trong quá trình phân tích, em còn phát hiện thêm ý nghĩa nào khác? GV cũng có thể gợi dẫn thêm cho HS: việc chỉ vào chiếc bóng của mình trên vách để nói đó là cha của Đản cho thấy Nguyễn Dữ nhấn mạnh nỗi cô đơn của Vũ Nương, nỗi thương nhớ chồng của nàng và mong ước của người phụ nữ về việc một người con cần có cha. Như thế, HS có thể nhận ra rằng, đây là một chi tiết hàm chứa nhiều ý nghĩa, người đọc có thể vừa đồng tình với phân tích của tác giả VB, đồng thời vừa có thể bổ sung những kiến giải của riêng mình.
GV hướng dẫn HS đảm bảo yêu cầu về hình thức đoạn văn.
CÁCH DẪN TRỰC TIẾP VÀ CÁCH DẪN GIÁN TIẾP
1. Phân tích yêu cầu cần đạt
HS nhận biết được sự khác nhau giữa cách dẫn trực tiếp và cách dẫn gián tiếp. - HS biết sử dụng cách dẫn trực tiếp và cách dẫn gián tiếp, trong đó có việc dùng dấu câu phù hợp.
2. Gợi ý tổ chức hoạt động dạy học
Hoạt động 1 Hình thành kiến thức mới
GV yêu cầu HS đọc lại phần Cách dẫn trực tiếp và cách dẫn gián tiếp trong Tri thức ngữ văn (SGK, trang 88) và khung Nhận biết cách dẫn trực tiếp và cách dẫn gián tiếp trong
SGK, trang 93 - 94. GV có thể nêu khái niệm cách dẫn trực tiếp và cách dẫn gián tiếp trước, sau đó phân tích ví dụ cụ thể trong SGK theo lối diễn dịch, hoặc phâ
SGK, trang 93 - 94. GV có thể nêu khái niệm cách dẫn trực tiếp và cách dẫn gián tiếp trước, sau đó phân tích ví dụ cụ thể trong SGK theo lối diễn dịch, hoặc phân tích ví dụ trước rồi rút ra khái niệm theo lối quy nạp.
Việc chuyển đổi từ cách dẫn trực tiếp sang cách dẫn gián tiếp đã được nêu rõ trong SGK, trang 94. GV cho HS đọc phần phân tích ví dụ trong khung nhận biết và lưu ý HS những điều cần làm khi chuyển từ cách dẫn trực tiếp sang cách dẫn gián tiếp.
GV lưu ý: Phân biệt cách dẫn trực tiếp với lời thoại của nhân vật. Lời thoại của các nhân vật trong truyện thường được đặt sau dấu hai chấm, xuống dòng, được viết tách thành dòng riêng và có dấu gạch đầu dòng ở đầu lời thoại.
Hoạt động 2 Luyện tập, vận dụng
Bài tập 1
Bài tập này yêu cầu HS xác định phần dẫn, cách trích dẫn và dấu hiệu nhận biết. GV yêu
cầu HS làm việc cá nhân, sau đó gọi một vài HS trình bày đáp án.
Gợi ý:
a. Phần dẫn: "Chàng đi chuyến này, thiếp chẳng dám mong đeo được ấn phong hầu […], chỉ xin ngày về mang theo được hai chữ bình yên, thế là đủ rồi". Phần trên được dẫn theo cách trực tiếp. Dấu hiệu: Phần dẫn được đặt sau dấu hai chấm và trong dấu ngoặc kép.
b. Phần dẫn: người La Mã xưa kia nuôi ong trong những cái tổ bằng đồng hình chiếc vại, có đục thủng nhiều hàng lỗ con vòng quanh miệng, quanh đáy. Phần dẫn trên được dẫn theo cách gián tiếp. Dấu hiệu: có lời chỉ dẫn "theo như lời thầy giáo của tôi bảo", phần dẫn không được đặt trong dấu ngoặc kép.
Bài tập 2
Bài tập này yêu cầu HS chuyển từ cách dẫn trực tiếp sang cách dẫn gián tiếp. GV lưu ý HS cách thức chuyển đổi đã được hướng dẫn trong khung "nhận biết".
Gợi ý:
a. Nỗi oan của Vũ Nương sẽ còn đeo đẳng mãi lấy nàng, nếu như không có một đêm tình cờ đứa bé nói cha của nó lại đến rồi.
b. Thủ lĩnh da đỏ Xi-át-tơn đã khẳng định rằng, đối với đồng bào của ông, mỗi tấc đất là thiêng liêng, mỗi lá thông óng ánh, mỗi bờ cát, mỗi hạt sương long lanh trong những cánh rừng rậm rạp, mỗi bãi đất hoang và tiếng thì thầm của côn trùng là những điều thiêng liêng trong kí ức và kinh nghiệm của đồng bào ông.
c. Trong "Thi nhân Việt Nam", Hoài Thanh đã bộc lộ thành thực tâm trạng của ông, đó là dầu có ưa thơ người này người khác, mỗi lúc buồn đến, ông lại trở về với Lưu Trọng Lư. Có những
VĂN BẢN 2. TỪ THẰNG QUỶ NHỎ CỦA NGUYỄN NHẬT ÁNH NGHĨ VỀ NHỮNG PHẨM CHẤT CỦA MỘT TÁC PHẨM VIẾT CHO THIẾU NHI (Trần Văn Toàn) VẬN DỤNG LÝ THUYẾT VỀ LOẠI VĂN NGHỊ
VĂN BẢN 2. TỪ THẰNG QUỶ NHỎ CỦA NGUYỄN NHẬT ÁNH NGHĨ VỀ NHỮNG PHẨM CHẤT CỦA MỘT TÁC PHẨM VIẾT CHO THIẾU NHI (Trần Văn Toàn)
VẬN DỤNG LÝ THUYẾT VỀ LOẠI VĂN NGHỊ LUẬN ĐỂ SUY NGHĨ VỀ NHỮNG PHẨM CHẤT CỦA MỘT TÁC PHẨM VIẾT CHO THIẾU NHI
(Trần Văn Toàn)
1. Phân tích yêu cầu cần đạt
HS xác định được luận đề, luận điểm, lí lẽ, bằng chứng trong VB; hiểu được cách tác giả huy động, tổ chức lí lẽ, bằng chứng để chứng minh cho luận điểm.
HS yêu thích việc khám phá vẻ đẹp văn chương, trân trọng lao động sáng tạo nghệ thuật của nhà văn.
2. Gợi ý tổ chức hoạt động dạy học
Hoạt động 1 Khởi động
Trong phần này, GV huy động trải nghiệm đọc của HS có liên quan đến những tác phẩm văn học viết về những con người có ngoại hình khác lạ. Những tác phẩm như vậy không ít trong kho tàng văn học từ cổ chí kim, như những nhân vật siêu nhiên có ngoại hình khác lạ hay những nhân vật đội lốt xấu xí trong truyện cổ tích như Sọ Dừa, Trương Chi, Quasimodo trong Nhà thờ Đức Bà Paris (Victor Hugo), Giáo sư Hagrid trong truyện Harry Potter (J.K.Rowling),… GV yêu cầu HS chia sẻ ngắn gọn cảm nhận về các tác phẩm ấy. Từ đó, dẫn dắt đến VB Thằng quỷ nhỏ - một tác phẩm viết về nhân vật có ngoại hình khác lạ và bài viết Từ "Thằng quỷ nhỏ" của Nguyễn Nhật Ánh nghĩ về những phẩm chất của một tác phẩm viết cho thiếu nhi của nhà nghiên cứu Trần Văn Toàn.
Hoạt động 2 Đọc văn bản
HS cần đọc VB trước khi đến lớp. VB tương đối dài, ở lớp, GV có thể đọc mẫu đoạn đầu,
sau đó yêu cầu một số HS đọc một vài đoạn tiêu biểu. Các thẻ chỉ dẫn theo dõi, chú ý, suy luận bám sát theo đặc trưng của loại VB nghị luận văn học, GV lưu ý để
sau đó yêu cầu một số HS đọc một vài đoạn tiêu biểu. Các thẻ chỉ dẫn theo dõi, chú ý, suy luận bám sát theo đặc trưng của loại VB nghị luận văn học, GV lưu ý để HS không bỏ qua các thẻ chỉ dẫn này.
Tác phẩm của Nguyễn Nhật Ánh không xuất hiện trong SGK, vì vậy, có thể nhiều HS chưa đọc. GV yêu cầu HS đọc chú thích (1) trong SGK, trang 95 để hiểu nội dung chính của tác phẩm này.
Hoạt động 3 Khám phá văn bản
Trên cơ sở bám sát yêu cầu cần đạt, GV tổ chức dạy học, hướng dẫn HS tìm hiểu, trả lời các câu hỏi sau khi đọc. Các câu hỏi sau khi đọc được thiết kế theo nhiều mức độ yêu cầu đọc hiểu: nhận biết (câu 1, 4); phân tích, suy luận (câu 2, 3, 5, 6); đánh giá, vận dụng (câu 7, 8).
Câu hỏi 1
Câu hỏi 1 gồm hai ý, ý thứ nhất nhằm mục đích hướng HS đến việc xác định luận đề
của VB, ý thứ hai định hướng HS nhận ra sự khác biệt của phạm vi nghị luận trong VB này so với VB "Người con gái Nam Xương" - một bi kịch của con người. Để giúp HS trả lời ý thứ nhất, GV hướng dẫn các em căn cứ vào nhan đề để nắm bắt luận đề. Để giúp HS trả lời ý thứ hai, GV lưu ý các em chú ý sự khác biệt trong cách đặt vấn đề thể hiện ở nhan đề của hai VB.
Gợi ý:
Luận đề của VB được hiển thị ngay ở nhan đề của bài nghị luận, đó là thông qua tác phẩm Thằng quỷ nhỏ của Nguyễn Nhật Ánh, suy ngẫm về những phẩm chất cần có của một tác phẩm văn học viết cho thiếu nhi. HS có thể gọi tên luận đề theo những cách khác nhau, nhưng cần thể hiện được nội dung trên.
Phạm vi của vấn đề bàn luận trong VB này rộng hơn so với VB "Người con gái Nam Xương" - một bi kịch của con người. Cụ thể, trong VB này, tác giả bài nghị luận phân tích truyện dài Thằng quỷ nhỏ như một điểm tựa, từ đó bàn luận và đặt ra vấn đề rộng hơn là những phẩm chất cần có đối với một tác phẩm văn học viết cho thiếu nhi nói chung. Những thành công của nhà văn Nguyễn Nhật Ánh thể hiện trong tác phẩm Thằng quỷ nhỏ đã khơi gợi cho tác giả bài nghị luận suy ngẫm về vấn đề rộng hơn tác phẩm mà ông phân tích. Trong khi đó, VB Người con gái Nam Xương - một bi kịch của con người chủ yếu bàn luận, phân tích về vấn đề bi kịch của con người trong tác phẩm Người con gái Nam Xương.
Câu hỏi 2
Câu hỏi này gồm hai ý, ý thứ nhất lưu ý HS xác định các luận điểm chính trong VB. Đây là yêu cầu cơ bản trong đọc hiểu VB nghị luận nói chung, VB nghị luận văn học nói riêng. Ý thứ hai nhằm giúp HS nhận thức được các luận điểm trong VB nghị luận không tách rời nhau, mà cần được tổ chức, sắp xếp theo một trình tự nhất định, phụ thuộc vào mục đích của tác giả.
GV có thể chia lớp thành ba nhóm, mỗi nhóm tìm hiểu ý chính của một phần đã được đánh số trong VB. GV gợi ý cho HS mỗi phần tương ứng với một luận điểm chính của bài;
cho HS làm việc nhóm, sau đó cử đại diện trình bày kết quả thảo luận nhóm của mình. GV nhắc HS chú ý các thẻ chiến lược đọc, đây là gợi ý để HS tìm ra luận điểm
cho HS làm việc nhóm, sau đó cử đại diện trình bày kết quả thảo luận nhóm của mình. GV nhắc HS chú ý các thẻ chiến lược đọc, đây là gợi ý để HS tìm ra luận điểm của mỗi đoạn. Cuối cùng, GV đánh giá các ý kiến thảo luận và tổng kết nội dung của các luận điểm.
Gợi ý:
Mỗi phần được đánh số trong VB thể hiện một luận điểm: Luận điểm 1: Nhân dạng khác biệt của Quỳnh và thái độ của mọi người đối với nhân dạng ấy.
Luận điểm 2: Nhân dạng con người là một tạo tác mang tính văn hoá. Luận điểm 3: Những phẩm chất cần có của một tác phẩm văn học viết cho thiếu nhi. - Sau khi HS xác định được hệ thống luận điểm, GV yêu cầu HS làm việc cặp đôi để tìm ra mối quan hệ giữa các luận điểm trong VB. GV đánh giá ý kiến trả lời của HS và chốt lại vấn đề:
Các luận điểm trong bài được sắp xếp theo trình tự từ cụ thể đến khái quát, trong đó
luận điểm 1 là sự thể hiện vấn đề nhân dạng con người trong một tác phẩm văn học cụ thể; ở luận điểm 2, tác giả đã sử dụng các tri thức về nhân học văn hoá để lí giải vấn đề nhân dạng con người, từ đó soi tỏ trở lại để cắt nghĩa, đem đến cái nhìn mới về vấn đề nhân dạng trong các tác phẩm văn học. Trên cơ sở nhận diện (luận điểm 1) và lí giải (luận điểm 2) ấy, tác giả đề xuất những phẩm chất cần có của một tác phẩm văn học viết cho thiếu nhi (luận điểm 3).
Khi tổng kết, GV có thể hướng dẫn HS trình bày mối quan hệ giữa các luận điểm trong VB bằng sơ đồ sau:
Luận điểm 1 Luận điểm 2
Luận điểm 3
Câu hỏi 3
Câu hỏi này yêu cầu HS xác định các lí lẽ và bằng chứng được tác giả sử dụng khi phân tích nhân dạng của Quỳnh; thái độ của các nhân vật khác đối với nhân dạng ấy và nhận xét về các lí lẽ, bằng chứng đã được sử dụng. GV thiết kế phiếu học tập, chia lớp thành hai nhóm, một nhóm thực hiện nội dung xác định lí lẽ và bằng chứng được tác giả sử dụng khi phân tích nhân dạng của Quỳnh, nhóm còn lại xác định lí lẽ và bằng chứng được tác giả sử dụng khi phân tích thái độ của các nhân vật khác đối với Quỳnh. Mỗi nhóm khi tìm được lí lẽ và
bằng chứng cho các ý trên thì đồng thời tự rút ra nhận xét. GV yêu cầu đại diện nhóm trình bày kết quả làm việc, sau đó tổng kết, chốt lại vấn đề. Gợi ý: GV có
bằng chứng cho các ý trên thì đồng thời tự rút ra nhận xét. GV yêu cầu đại diện nhóm trình bày kết quả làm việc, sau đó tổng kết, chốt lại vấn đề.
Gợi ý: GV có thể thiết kế phiếu học tập dựa theo gợi ý sau:
Lí lẽ
…………………………………… …………………………………… ……………………………………
…………………………………………………………………………………………… ……………………………………………………………………………………………
Phân tích thái độ của các nhân vật khác đối với Quỳnh
Lí lẽ
…………………………………… …………………………………… ……………………………………
…………………………………………………………………………………………… ……………………………………………………………………………………………
Phân tích nhân, dạng của Quỳnh
Bằng chứng …………………………………… …………………………………… ……………………………………
Nhận, xét Bằng chứng …………………………………… …………………………………… ……………………………………
Nhận, xét
Sau khi HS trình bày theo phiếu học tập, GV nhận xét, đánh giá và kết luận vấn đề. Có thể tham khảo gợi ý sau:
Phân tích nhân, dạng của Quỳnh Lí lẽ, Bằng chứng - Chữ "quỷ" trong nhan đề tác phẩm được sử dụng để chỉ sự kì dị trong nhân dạng. - Những nét kì dị gắn với gươn
Phân tích nhân, dạng của Quỳnh
Lí lẽ, Bằng chứng
- Chữ "quỷ" trong nhan đề tác phẩm được sử dụng để chỉ sự kì dị trong nhân dạng. - Những nét kì dị gắn với gương mặt của nhân vật nên trở thành khiếm khuyết không thể che giấu, trở thành dấu hiệu thường trực để nhận biết nhân vật. - Nhân dạng tuy chỉ là bề ngoài nhưng lại quyết định toàn bộ nhân cách và vị thế tồn tại của Quỳnh, khiến cậu phải chịu thân phận của một kẻ lạc loài., Hai vành tai to, mỗi khi Quỳnh có tâm trạng nó lại ve vẩy như cánh bướm, chiếc mũi to, đỏ ửng, lấm tấm mồ hôi.
Nhận Các lí lẽ và bằng chứng đưa ra đều giúp người và những hệ luỵ mà cậu phải hứng chịu từ trích dẫn theo lối gián tiếp., xét đọc nhận ra nhân dạng khác lạ của Quỳnh nhân dạng ấy. Bằng chứng được chọn lọc và
Phân tích thái độ của các nhân, vật khác đối với Quỳnh
Lí lẽ, Bằng chứng
- Trong mắt mọi người, Quỳnh chỉ là một thằng hề, để tiêu khiển, để mua vui cho đám đông hồn nhiên, vô tâm. - Chiếc bàn học chỉ có hai chỗ ngồi và khoảng trống ở giữa là một ngoại lệ. Ngoại lệ ấy có nguyên nhân từ sự dị thường trong ngoại hình của Quỳnh., Với Hạnh, cô lớp trưởng luôn đúng mực, người luôn đứng ra trấn áp những kẻ bày trò tai quái với Quỳnh thì giữa họ vẫn có một khoảng cách mênh mông: "Bàn có hai người, nhưng mỗi người ngồi tít một đầu, chừa khoảng trống ở giữa".
Mọi người không nhận ra những phẩm chất tốt đẹp của Quỳnh, ngoại trừ Nga., Nga nhận ra và chứng kiến những gì Quỳnh làm cho bạn bè, cho những đứa trẻ nghèo quanh nhà mình.
- Trong mắt bạn bè, những tình cảm của một con người bình thường nếu xuất hiện ở Quỳnh đều trở thành khác thường, kệch cỡm. - Không ai tin được bên trong cái dung mạo dị thường của Quỳnh lại tồn tại những tình cảm của một con người bình thường., - Tình cảm bạn bè của Quỳnh và Nga là đề tài cho mấy câu vè quái ác của Luận. - Thái độ của Nga và những trích dẫn về thái độ, phản ứng và cảm giác của Nga trước tình cảm của Quỳnh.
Nhận xét Lí lẽ và bằng chứng được sử dụng đều giúp người đọc nhận ra thái độ của những người xung quanh đối với Quỳnh. Bằng chứng và lí lẽ được trình bày xen kẽ
Nhận xét Lí lẽ và bằng chứng được sử dụng đều giúp người đọc nhận ra thái độ của những người xung quanh đối với Quỳnh. Bằng chứng và lí lẽ được trình bày xen kẽ, tác giả đưa ra lí lẽ và lựa chọn bằng chứng tương ứng. Bằng chứng được trích dẫn theo cả hai cách trực tiếp và gián tiếp, vừa có bằng chứng trực tiếp từ tác phẩm, vừa có bằng chứng mở rộng bên
ngoài tác phẩm (bằng chứng "Bàn có năm chỗ ngồi").
Từ việc xác định và nhận xét các lí lẽ và bằng chứng như trên, GV lưu ý HS khi sử dụng lí lẽ và bằng chứng trong văn nghị luận cần làm sáng tỏ ý chính được luận bàn. Cách trình bày lí lẽ và bằng chứng có thể linh hoạt, trình bày xong lí lẽ thì nêu bằng chứng, hoặc trình bày xen kẽ lí lẽ và bằng chứng. Bằng chứng có thể được trích dẫn theo lối trực tiếp hoặc gián tiếp, lựa chọn bằng chứng trong tác phẩm hoặc mở rộng ra phạm vi ngoài tác phẩm.
Câu hỏi 4
Câu hỏi gồm 2 ý: Ý 1 yêu cầu HS nhận ra quan điểm của tác giả về nhân dạng của con người; Ý 2 yêu cầu HS dẫn ra một vài lí lẽ và bằng chứng tiêu biểu giúp làm sáng tỏ quan điểm của tác giả. Câu hỏi này tương đối khó, tác giả không chỉ dùng kiến thức văn học mà còn dùng kiến thức thuộc lĩnh vực nhân học, xã hội học để lí giải quan điểm của mình. Bởi vậy, GV lưu ý HS đọc kĩ VB, chú ý những câu văn thể hiện trực tiếp, rõ nét quan điểm của người viết. Để hướng dẫn HS trả lời, GV có thể dùng phương pháp đàm thoại, phát vấn để HS phát hiện ra vấn đề, sau đó GV nhận xét, đánh giá.
Gợi ý:
Quan điểm của tác giả về nhân dạng con người: nhân dạng con người là một tạo tác mang tính văn hoá, được điều chỉnh bởi những quy chuẩn của nhân loại.
Các lí lẽ giúp làm sáng tỏ quan điểm đó: + Nhân dạng không phải chỉ là bề ngoài mà cũng được nhào nặn và xét đoán theo các chuẩn mực giá trị. + Nhân dạng là của riêng cá nhân nhưng lại được định giá bởi các chuẩn mực của cộng đồng. + Nhân dạng không chỉ thực hiện các chức năng sinh học mà còn được nhào trộn, định giá theo chuẩn mực, quy tắc thẩm mĩ của cộng đồng. + Nghiên cứu về nhân học cho thấy: trong bất kì xã hội nào, luôn tồn tại các quy chuẩn. Các quy chuẩn này đã gạt bỏ những gì lệch chuẩn. Từ đó, hình thành cặp nhị phân: bình thường và bất bình thường trong trí tuệ, giới tính, hành vi,… và cả nhân dạng. + Chuẩn mực có quyền lực và sức mạnh áp đặt, buộc cá nhân phải tuân thủ mà không có quyền phản biện. + Tiêu chuẩn về nhân dạng kì thực là một quyền lực loại trừ những gì thuộc về số ít, lệch chuẩn, dị thường.
Bằng chứng giúp làm sáng tỏ quan điểm của tác giả:
Trường hợp chú bé Quỳnh. + Trường hợp trút bỏ lốt ngoài kì dị của các nhân vật trong truyện cổ tích. Câu hỏi 5 Ý thứ nhất của câu hỏi 5 giúp HS lưu ý tư duy lí
Trường hợp chú bé Quỳnh. + Trường hợp trút bỏ lốt ngoài kì dị của các nhân vật trong truyện cổ tích.
Câu hỏi 5
Ý thứ nhất của câu hỏi 5 giúp HS lưu ý tư duy lí giải trong VB nghị luận văn học. Ý thứ hai của câu hỏi định hướng HS bên cạnh việc sử dụng bằng chứng từ tác phẩm mà VB trực tiếp đề cập, có thể mở rộng liên hệ, liên tưởng và sử dụng bằng chứng từ các tác phẩm khác.
Để giải quyết yêu cầu của câu hỏi này, GV yêu cầu HS: - Tìm các câu văn thể hiện lí giải của tác giả về cách ứng xử của số đông trước một nhân dạng đặc biệt.
Chỉ ra tác dụng của việc liên tưởng đến truyện cổ tích trong đoạn cuối của phần (2).
Gợi ý:
Lí giải của tác giả về cách ứng xử của chúng ta trước một nhân dạng đặc biệt: Do
"chúng ta" có những tiêu chuẩn về nhân dạng, những "tiêu chuẩn" ấy là một "quyền lực" loại trừ những gì thuộc về "số , "lệch chuẩn" và "dị thường".
Tác dụng của việc liên tưởng đến truyện cổ tích trong đoạn cuối: + Mở rộng bằng chứng (ngoài tác phẩm đang bàn luận). + Làm tăng sức thuyết phục cho vấn đề bàn luận.
Câu hỏi 6
GV yêu cầu HS tìm ra những phẩm chất cần có của một tác phẩm văn học thiếu nhi theo quan điểm của tác giả và những câu văn giúp người đọc nhận ra điều đó. Việc yêu cầu HS tìm các câu văn chứa đựng ý kiến của tác giả trong VB giúp HS khắc sâu yêu cầu quan trọng trong hoạt động đọc hiểu: bám sát VB.
Gợi ý:
Quan điểm của tác giả về những phẩm chất cần có của một tác phẩm văn học viết cho thiếu nhi, Câu văn giúp nhận ra quan điểm của tác giả
Một tác phẩm văn học viết cho thiếu nhi cần nhận diện đầy đủ về những gì bị đặt ra ngoài chuẩn mực, hình dung về chúng như những tồn tại khác, đánh thức và nuôi dưỡng tình yêu thương, sự trân trọng với những tồn tại ấy., - "Trước tiên, chúng ta vẫn thường nghĩ, một tác phẩm văn học thiếu nhi phải góp phần hình thành những chuẩn mực văn hoá của một cộng đồng trong tâm hồn của trẻ thơ. Điều này không sai, nhưng có lẽ là chưa đủ. Bởi lẽ, cũng cần nhận diện đầy đủ về những gì đã bị đặt ra ngoài chuẩn mực ấy." - "Chính từ đây mà tác phẩm sẽ là nơi đánh thức và nuôi dưỡng tình yêu thương, sự trân trọng một tồn tại khác với những nỗ lực để thấu hiểu và tôn trọng."
Không nên biến nhân vật trong tác phẩm văn học thiếu nhi trở thành những nhân vật hoàn hảo., "Thứ hai, không nên biến những nhân vật trong các tác phẩm văn học
Không nên biến nhân vật trong tác phẩm văn học thiếu nhi trở thành những nhân vật hoàn hảo., "Thứ hai, không nên biến những nhân vật trong các tác phẩm văn học thiếu nhi trở thành những nhân vật hoàn hảo."
Cần phải viết cho trẻ em từ cái nhìn của một người lớn sâu sắc và từng trải., "Cuối cùng, phải viết cho trẻ em từ cái nhìn của một người lớn sâu sắc và từng trải."
Câu hỏi 7
Câu hỏi 7 yêu cầu HS nêu suy nghĩ về một quan điểm của tác giả trong bài nghị luận. Để phát huy tính chủ động của HS, GV có thể yêu cầu các em làm việc cá nhân. GV gợi ý cho HS thể hiện suy nghĩ của mình theo các bước:
Giải thích quan điểm của tác giả; - Đánh giá về quan điểm của tác giả; - Phản biện quan điểm của tác giả và nêu quan điểm của bản thân (nếu có).
Gợi ý:
Quan điểm "phải viết cho trẻ em từ cái nhìn của một người lớn sâu sắc và từng trải" có nghĩa là từ góc nhìn của người lớn với chiều sâu trong tư duy và sự phong phú trong kinh nghiệm sống, trải nghiệm cảm xúc để viết cho thiếu nhi. - Ý kiến trên đối thoại với quan điểm người lớn cần dùng cái nhìn của trẻ thơ để viết cho trẻ thơ. Nhập thân vào trẻ thơ là điều cần thiết với những nhà văn viết cho thiếu nhi, nhưng đôi khi sẽ dẫn đến sự sống sượng, giả tạo trong cảm xúc, sự đơn giản trong nhận thức và cảm nhận về thế giới. Bởi vậy, quan điểm của tác giả có hạt nhân hợp lí, bởi những tác phẩm văn học viết cho thiếu nhi được viết từ cái nhìn của một người lớn sâu sắc và từng trải sẽ tạo nên chiều sâu cho tác phẩm, sẽ tạo ra một thế giới mà "tuổi thơ được phát hiện lại, được trục vớt từ trong những hoài niệm, được chiếu sáng từ những thao thức về giá trị". - Tuy nhiên, "viết cho trẻ em từ cái nhìn của một người lớn sâu sắc và từng trải" chỉ là một góc độ tiếp cận và kiến tạo thế giới tuổi thơ. Nhà văn cũng hoàn toàn có thể viết cho trẻ em từ cái nhìn hồn nhiên, hoá thân thành trẻ thơ để viết. Điều đó tuỳ thuộc vào sở trường, tài năng của nhà văn. Giới hạn thường gặp trong các sáng tác văn học viết cho thiếu nhi hoặc là xơ cứng giáo điều, hoặc là hồn nhiên giả tạo. Bởi vậy, dù dùng góc nhìn nào, nhà văn cũng cần vượt qua những giới hạn ấy để viết nên những tác phẩm thực sự làm rung động trái tim người đọc.
Câu hỏi 8
Câu hỏi 8 định hướng HS chú ý đến nghệ thuật viết văn nghị luận của tác giả. GV có thể thiết kế phiếu học tập theo các tiêu chí gợi ý trong câu hỏi: cách đặt vấn đề, tổ chức luận điểm, cách sử dụng lí lẽ và bằng chứng, ngôn ngữ,…, yêu cầu HS nêu nhận xét dựa trên các tiêu chí đó.
Gợi ý:
Cách đặt vấn đề sắc sảo: lựa chọn một tác phẩm cụ thể (Thằng quỷ nhỏ) - tác phẩm chứa đựng cái nhìn, góc độ tiếp cận mới mẻ và đầy nhân văn về một "tồn tại khác", từ đó đặt vấn đề về phẩm chất của một tác phẩm văn học viết cho thiếu nhi.
CÁCH SỬ DỤNG TÀI LIỆU THAM KHẢO VÀ TRÍCH DẪN TÀI LIỆU 1. Phân tích yêu cầu cần đạt HS biết cách sử dụng tài liệu tham khảo và trích dẫn tài liệu để tránh đạo vă
CÁCH SỬ DỤNG TÀI LIỆU THAM KHẢO VÀ TRÍCH DẪN TÀI LIỆU
1. Phân tích yêu cầu cần đạt
HS biết cách sử dụng tài liệu tham khảo và trích dẫn tài liệu để tránh đạo văn. - HS có hiểu biết và tôn trọng quyền sở hữu trí tuệ.
2. Gợi ý tổ chức hoạt động dạy học
Hoạt động 1 Hình thành kiến thức mới
GV yêu cầu HS đọc lại nội dung Một số lưu ý về cách tham khảo, trích dẫn tài liệu trong Tri thức ngữ văn (SGK, trang 88) và khung nhận biết Một số lưu ý về cách sử dụng tài liệu tham khảo và trích dẫn tài liệu trong SGK, trang 100 - 101.
GV có thể thiết kế phiếu học tập, yêu cầu HS điền các thông tin trên phiếu để HS khắc sâu hơn cách sử dụng tài liệu tham khảo và trích dẫn tài liệu. GV tham khảo các câu hỏi sau để thiết kế nội dung phiếu học tập: Vì sao khi viết, ta cần tham khảo tài liệu từ các nguồn khác nhau? Tài liệu tham khảo có thể được trích dẫn theo những cách nào? Khi trích dẫn tài liệu, cần lưu ý điều gì?
Hoạt động 2 Luyện tập, vận dụng Bài tập 1 Bài tập này giúp HS nhận biết cách trích dẫn tài liệu đúng quy định. GV yêu cầu HS xác định cách trích dẫn đúng quy đị
Hoạt động 2 Luyện tập, vận dụng
Bài tập 1
Bài tập này giúp HS nhận biết cách trích dẫn tài liệu đúng quy định. GV yêu cầu HS xác định cách trích dẫn đúng quy định và căn cứ để xác định.
Gợi ý:
a. Cách trích dẫn thứ hai là đúng quy định vì tác giả đã tuân thủ các quy định về cách dẫn trực tiếp: đặt phần dẫn trong dấu ngoặc kép và ghi chú tên tác giả.
b. Cách trích dẫn thứ nhất là đúng quy định vì tác giả đã tuân thủ các quy định về cách dẫn trực tiếp: đặt phần dẫn trong dấu ngoặc kép và ghi chú tên tác giả.
Bài tập 2
Bài tập này tiếp tục yêu cầu HS nhận biết các dấu hiệu cho thấy người viết tuân thủ quy định khi tham khảo tài liệu và trích dẫn. Qua đó, HS có thể rút ra bài học trong việc tham
khảo và trích dẫn tài liệu.
Gợi ý:
a. Dấu hiệu cho thấy tác giả đã tuân thủ quy định khi tham khảo và trích dẫn tài liệu là đặt phần dẫn trong dấu ngoặc kép.
b. Dấu hiệu cho thấy tác giả đã tuân thủ quy định khi trích dẫn tài liệu là ghi rõ nguồn của hai câu thơ: Những cô hàng xén răng đen/ Cười như mùa thu toả nắng (trong bài thơ Bên kia sông Đuống của tác giả Hoàng Cầm).
c. Dấu hiệu cho thấy tác giả đã tuân thủ quy định khi tham khảo và trích dẫn tài liệu là đặt phần dẫn trong dấu ngoặc kép, ghi rõ tên tác giả, tác phẩm trích dẫn trong dấu ngoặc đơn bên cạnh. Từ ba ví dụ trên, có thể rút ra bài học trong việc tham khảo và trích dẫn tài liệu: - Tuỳ vào mục đích viết và tính chất của VB, người viết có thể trích dẫn theo nhiều cách và nêu nguồn trích dẫn với các mức độ cụ thể khác nhau. - Nêu rõ tác giả và xuất xứ của nguồn tài liệu. - Truyền tải trung thực nội dung ý tưởng và thông tin được trích dẫn.
Bài tập 3
Bài tập này giúp HS phân biệt việc không dẫn nguồn tài liệu khi dùng lời hoặc ý của người khác và việc trích dẫn theo cách gián tiếp.
Trên cơ sở tri thức về cách dẫn gián tiếp và một số lưu ý khi tham khảo, trích dẫn tài liệu, GV hướng dẫn HS trả lời.
Gợi ý:
Việc không dẫn nguồn tài liệu khi dùng lời hoặc ý của người khác bị coi là đạo văn. Điều này khác với việc trích dẫn theo cách gián tiếp, vì khi trích dẫn gián tiếp, phần dẫn không được đặt trong dấu ngoặc kép nhưng người viết vẫn nêu rõ tên tác giả và xuất xứ của phần trích dẫn.
VĂN BẢN 3. NGÀY XƯA (Vũ Cao) 1. Phân tích yêu cầu cần đạt Ngày xưa là VB thơ trữ tình (VB văn học), không cùng loại với VB 1 và VB 2. Điều đặc biệt của VB này l
VĂN BẢN 3. NGÀY XƯA
(Vũ Cao)
1. Phân tích yêu cầu cần đạt
Ngày xưa là VB thơ trữ tình (VB văn học), không cùng loại với VB 1 và VB 2. Điều đặc biệt của VB này là thể hiện những suy nghĩ, cảm nhận khác nhau của các nhân vật về một tác phẩm - Truyện Kiều, vì thế nó kết nối với hai VB trước ở mạch chủ đề khám phá vẻ đẹp văn chương. Qua tìm hiểu VB, HS hiểu sâu sắc hơn về vẻ đẹp của Truyện Kiều, sức sống của Truyện Kiều trong lòng mai hậu, hiểu được có nhiều con đường để khám phá vẻ đẹp văn chương, có thể bằng những bài bình luận, phân tích, nhưng cũng có thể bằng những sáng tác nghệ thuật mang tính hình tượng.
2. Gợi ý tổ chức hoạt động dạy học
Hoạt động 1 Khởi động
Hoạt động khởi động ở VB 3 cần nhẹ nhàng, phù hợp với thời lượng đọc hiểu VB trong 1 tiết học. Với tiết học này, để tạo không khí, GV có thể cho HS nghe những đoạn ngâm Kiều, những đoạn hát ru bằng Truyện Kiều, mời HS chia sẻ cảm nhận khi nghe những đoạn ngâm, đoạn hát ru ấy, từ đó kết nối đến nội dung VB.
Hoạt động 2 Đọc văn bản
VB thơ không dài, GV có thể đọc mẫu một lượt rồi yêu cầu một vài HS đọc lại. GV lưu ý HS đọc với giọng trữ tình, nhẹ nhàng, có thể thay đổi giọng đọc ở các câu thơ thể hiện lời của nhân vật để tạo điểm nhấn.
Hoạt động 3 Khám phá văn bản
Thông qua hệ thống câu hỏi Sau khi đọc, GV hướng dẫn HS từng bước khám phá nội dung, ý nghĩa và vẻ đẹp nghệ thuật của VB. Tuỳ theo yêu cầu của từng câu hỏi, GV lựa chọn những hình thức dạy học phù hợp.
Câu hỏi 1
GV khơi gợi HS suy nghĩ về việc mặc dù cháu còn rất nhỏ, chưa thể hiểu được Truyện Kiều, nhưng bà vẫn dùng những câu Kiều để ru cháu ngủ.
Gợi ý:
Cháu không hiểu những câu Kiều nhưng bà vẫn ru, và kết quả là "Con tôi đôi má tròn đầy/ Lại ngon giấc ngủ thơ ngây chiều chiều". Như vậy, bà ru cháu bằng Truyện Kiều không phải vì nghĩ là cháu có thể hiểu được lời ru, mà chỉ là để đưa cháu vào giấc ngủ. Hiệu quả của mục đích này cho thấy Truyện Kiều đã phát huy giá trị về mặt giai điệu, nhạc tính. Ngoài việc ru cháu ngủ, đó còn là cách bà thưởng thức Truyện Kiều, đồng cảm với những điều được nói đến trong tác phẩm, và thậm chí là thông qua những câu Kiều đó để giãi bày một nét tâm trạng nào đó của mình.
Có thể thấy, trong cùng một hành động hát ru, người bà vừa có thể cảm nhận được ý nghĩa, thưởng thức cả nhạc tính của Truyện Kiều, vừa có thể ru cháu ngủ, từ đó
Có thể thấy, trong cùng một hành động hát ru, người bà vừa có thể cảm nhận được ý nghĩa, thưởng thức cả nhạc tính của Truyện Kiều, vừa có thể ru cháu ngủ, từ đó, em bé cảm nhận được phần nhạc của Truyện Kiều. Tất nhiên, những yếu tố nội dung có thể thấm dần vào trong em một cách vô thức. Trên thực tế, hát ru thường có mục đích song trùng: vừa đưa trẻ vào giấc ngủ, vừa thể hiện nỗi lòng của người ru; vừa có phần dành cho bé, vừa có phần dành cho người hát ru. Chẳng hạn: "Gió mùa thu, mẹ ru con ngủ…/ Hỡi chàng chàng ơi, hỡi người người ơi, em nhớ tới chàng…".
Câu hỏi 2
Câu hỏi này định hướng HS suy nghĩ về các cách tiếp nhận Truyện Kiều. GV gợi ý cho HS xác định các chủ thể tiếp nhận và cách tiếp nhận của từng chủ thể. GV cho HS trao đổi theo nhóm đôi, chia sẻ suy nghĩ của mình, sau đó mời một số HS trình bày suy nghĩ trước
lớp. GV có thể giải thích thêm và thống nhất với HS câu trả lời.
Gợi ý:
Trong một bài thơ ngắn, nhưng đã có ba chủ thể - những người tiếp nhận Truyện Kiều. - Đối với "mẹ tôi", Truyện Kiều khơi gợi niềm đồng cảm, xót thương: "Nghĩ mà thương phận cô Kiều ngày xưa". Trước lời nói của người con, tuy bà "chẳng trả lời", nhưng qua việc hát ru, có thể thấy với bà, Truyện Kiều có thể đưa em bé vào giấc ngủ. - Đối với "tôi", Truyện Kiều vô cùng sâu sắc. Những câu thơ trong Truyện Kiều đã có từ xưa, có một khoảng cách rất xa so với đứa trẻ, nên trẻ con không thể hiểu được. - Đối với em bé, qua lời ru của bà, em bé đã tiếp nhận một cách vô thức giai điệu của Truyện Kiều. Điều thú vị trong bài thơ này là có ba người tiếp nhận, ba thế hệ với những trải nghiệm khác nhau về Truyện Kiều.
Câu hỏi 3
Câu hỏi lưu ý HS về sức sống của Truyện Kiều trong lòng người dân Việt Nam. Đây là câu hỏi mở, tuy câu trả lời có được gợi lên từ VB. GV cho HS làm việc nhóm để trao đổi ý kiến, đại diện một số nhóm trình bày. Các HS khác góp ý, bổ sung, sau đó GV và HS thống nhất những điểm chính.
Gợi ý:
Truyện Kiều đã đi vào đời sống của người dân Việt Nam thông qua nhiều hoạt động phong phú, trong đó có việc hát ru. Việc trở thành những câu hát ru khiến Truyện Kiều có một đời sống khác so với những tác phẩm văn học thông thường: vừa mang lại cho trẻ những giai điệu êm đềm, vừa giúp trẻ thẩm thấu được ngôn từ một cách tự nhiên. Đặc biệt, người bà ru cháu bằng Truyện Kiều với tất cả nỗi niềm yêu thương, đồng cảm với thân phận của nàng Kiều cho thấy tác phẩm của đại thi hào Nguyễn Du đã trở thành một phần
VIẾT VIẾT BÀI VĂN NGHỊ LUẬN PHÂN TÍCH MỘT TÁC PHẨM VĂN HỌC (TRUYỆN) 1. Phân tích yêu cầu cần đạt HS viết được bài văn phân tích một tác phẩm truyện: - Phân tích
VIẾT
VIẾT BÀI VĂN NGHỊ LUẬN PHÂN TÍCH MỘT TÁC PHẨM VĂN HỌC (TRUYỆN)
1. Phân tích yêu cầu cần đạt
HS viết được bài văn phân tích một tác phẩm truyện: - Phân tích được nội dung chủ đề của tác phẩm. - Phân tích được những nét đặc sắc về hình thức nghệ thuật của tác phẩm, tập trung vào một số yếu tố nghệ thuật nổi bật.
2. Những lưu ý về yêu cầu đối với bài văn nghị luận phân tích một tác phẩm văn học
(truyện)
SGK (trang 103) đã nêu rõ yêu cầu đối với bài văn nghị luận phân tích một tác phẩm truyện. Ở các lớp trước, HS cũng đã được thực hành kiểu bài viết này (bài 6, bài 8 trong SGK Ngữ văn 8). Bài học này tiếp tục giúp HS rèn luyện và củng cố kĩ năng viết bài văn phân tích tác phẩm truyện. HS cần ý thức được: phân tích tác phẩm truyện không phải là kể lại nội dung hay diễn xuôi tác phẩm theo ý hiểu của mình, mà cần nêu được luận đề, biết cách tạo lập luận điểm hướng vào trọng tâm, thể hiện đúng và trúng vấn đề bàn luận, triển khai luận điểm bằng các lí lẽ và bằng chứng hợp lí, thuyết phục, biết cách mài sắc các lí lẽ và tinh lọc bằng chứng để bài văn nghị luận đạt chất lượng tốt.
Bên cạnh việc tuân thủ đặc trưng của kiểu VB, bài văn nghị luận phân tích tác phẩm truyện còn cần đảm bảo yêu cầu bám sát đặc trưng của thể loại truyện. GV cần hướng dẫn
HS nắm vững các yếu tố của truyện nói chung như cốt truyện, nhân vật, không gian, thời gian,… và cả đặc trưng của từng thể loại truyện cụ thể, chẳng hạn, khi ph
HS nắm vững các yếu tố của truyện nói chung như cốt truyện, nhân vật, không gian, thời gian,… và cả đặc trưng của từng thể loại truyện cụ thể, chẳng hạn, khi phân tích truyện truyền kì thì không thể bỏ qua yếu tố hiện thực hoà quyện, đan xen cùng yếu tố kì ảo, khi phân tích truyện hiện đại thì không thể bỏ qua những cách tân về ngôi kể, ngôn ngữ, giọng điệu, cách tiếp cận hiện thực mang đặc trưng của thời hiện đại,...
3. Gợi ý tổ chức hoạt động dạy học
Hoạt động 1 Giới thiệu kiểu bài
Việc rèn luyện kĩ năng viết cho HS là một quá trình bền bỉ, vừa có sự củng cố, vừa phát triển qua từng lớp học, từng bài học. Ở lớp 8, HS đã được học cách viết VB nghị luận về tác phẩm truyện, ở lớp 9, các em tiếp tục được củng cố, nâng cao kĩ năng viết bài văn nghị luận về thể loại này.
GV cho HS ôn luyện kiến thức, kĩ năng đã học từ lớp 8, nhưng nâng cao hơn về mức độ: HS có kĩ năng xác định rõ luận đề, triển khai hệ thống luận điểm chặt chẽ hơn, lựa chọn bằng chứng đa dạng và tinh tế hơn. GV tiếp tục lưu ý HS khi phân tích cần tập trung vào một số yếu tố nghệ thuật nổi bật nhất trong tác phẩm để bài viết tránh được sự dàn trải, thiếu chiều sâu.
Hoạt động 2 Tìm hiểu yêu cầu đối với bài văn nghị luận phân tích một tác
phẩm văn học (truyện)
SGK đã nêu 5 yêu cầu chính của kiểu bài viết. GV có thể thiết kế phiếu học tập theo hướng điền khuyết, bỏ trống các từ khoá và giao nhiệm vụ cho HS căn cứ vào yêu cầu của kiểu bài trong SGK để điền khuyết các từ khoá, từ đó khắc sâu yêu cầu của kiểu bài. GV cũng có thể nêu câu hỏi phát vấn về yêu cầu của kiểu bài, trên cơ sở câu trả lời của HS, GV chốt lại những nội dung chính.
Hoạt động 3 Đọc và phân tích bài viết tham khảo
GV yêu cầu HS đọc bài viết tham khảo, lưu ý HS chú ý các thẻ chỉ dẫn. - GV hướng dẫn HS phân tích bài viết tham khảo bằng cách đặt ra các câu hỏi hoặc nêu yêu cầu gợi dẫn theo gợi ý sau: + Xác định phần Mở bài của bài viết. Trong phần Mở bài, bài viết tham khảo đã giới thiệu điều gì? + Đoạn nào trong bài viết tham khảo phân tích nội dung chủ đề của truyện "Lặng lẽ Sa Pa"? Qua phần phân tích ấy, em nhận ra nội dung chủ đề của truyện là gì? + Xác định đoạn phân tích các yếu tố đặc sắc về hình thức nghệ thuật của truyện. Các yếu tố hình thức nghệ thuật nào được lựa chọn khai thác?
+ Em có nhận xét gì về cách tổ chức luận điểm trong bài viết tham khảo? Đó có phải là cách tổ chức luận điểm duy nhất cho vấn đề đặt ra trong bài viết này không
+ Em có nhận xét gì về cách tổ chức luận điểm trong bài viết tham khảo? Đó có phải là cách tổ chức luận điểm duy nhất cho vấn đề đặt ra trong bài viết này không? Hãy thử đề xuất một cách triển khai luận điểm khác cho bài viết tham khảo này.
+ Em có nhận xét gì về cách sử dụng lí lẽ và cách lựa chọn, trình bày bằng chứng của bài viết tham khảo?
+ Xác định phần Kết bài của bài viết. Phần Kết bài có vai trò gì? - GV có thể cho HS làm việc theo nhóm hoặc trao đổi cặp đôi khi phân tích bài viết tham khảo.
Hoạt động 4 Thực hành viết theo các bước
Hướng dẫn xác định mục đích viết và người đọc: GV cho HS đọc phần Mục đích viết và Người đọc trong SGK để nắm được mục đích viết và xác định được người đọc mà bài viết hướng đến.
Hướng dẫn lựa chọn đề tài: + Lựa chọn tác phẩm phân tích: HS có thể lựa chọn viết về tác phẩm đã được học trong SGK hoặc tác phẩm ngoài SGK mà em tâm đắc và yêu thích.
Lựa chọn vấn đề phân tích: Sau khi lựa chọn được tác phẩm truyện, GV hướng dẫn HS lựa chọn vấn đề để phân tích trong tác phẩm ấy. SGK đưa ra các gợi ý về lựa chọn đề tài, trên cơ sở đó GV giao đề bài cho HS hoặc để HS tự lựa chọn. HS có thể phân tích tác phẩm, hoặc có thể chỉ đi sâu vào một hoặc một vài khía cạnh của tác phẩm để phân tích.
Hướng dẫn tìm ý: GV hướng dẫn HS tìm ý theo gợi ý trong SGK trang 106 - 107. HS có thể làm việc cá nhân hoặc theo nhóm để tìm ý cho bài viết của mình.
Hướng dẫn lập dàn ý: GV hướng dẫn HS lập dàn ý cho bài viết theo gợi ý trong SGK trang 107.
Hướng dẫn viết bài: GV cho HS viết bài tại lớp hoặc ở nhà.
TRẢ BÀI
Hoạt động 1 Nhắc lại, khắc sâu yêu cầu của kiểu bài
GV cho HS nhắc lại yêu cầu của kiểu bài phân tích một tác phẩm truyện và một vài lưu ý khi viết kiểu bài này.
Hoạt động 2 Nhận xét về kết quả viết và chỉnh sửa bài viết
GV nhận xét chung về bài viết của HS dựa theo các tiêu chí trong yêu cầu cần đạt. - GV xây dựng bảng kiểm để HS tự kiểm tra, đánh giá bài viết của mình. - GV trả bài cho HS, yêu cầu HS chỉnh sửa theo hướng dẫn trong SGK. GV có thể tổ chức cho HS làm việc cá nhân hoặc theo cặp, theo nhóm.
Trang 145
CỦNG CỐ, MỞ RỘNG Mục đích của phần này là giúp HS củng cố về loại VB nghị luận văn học, nắm vững các kiến thức, kĩ năng đã học trong bài, bao gồm cả kiến thức đ
CỦNG CỐ, MỞ RỘNG
Mục đích của phần này là giúp HS củng cố về loại VB nghị luận văn học, nắm vững các kiến thức, kĩ năng đã học trong bài, bao gồm cả kiến thức đọc hiểu, thực hành tiếng Việt và kĩ năng viết VB nghị luận phân tích tác phẩm truyện.
Để giải quyết bài tập 1, GV yêu cầu HS xem lại nội dung bài học về VB 1 và VB 2, từ đó vẽ sơ đồ tư duy thể hiện hệ thống luận đề, luận điểm, những lí lẽ và bằng chứng tiêu biểu của hai VB đã cho. Sơ đồ tư duy có thể phong phú về hình thức biểu hiện, nhưng dù trình bày dưới hình thức nào cũng cần đảm bảo quan hệ phân tầng giữa luận đề, luận điểm, lí lẽ và bằng chứng cũng như thể hiện được quan hệ lô-gíc giữa các ý.
Mục đích của bài tập 2 là giúp HS nhận thức được có nhiều con đường, cách thức để khám phá, giải mã tác phẩm văn chương. Hai VB nghị luận văn học HS được học trong bài là tiêu biểu cho hai cách khám phá khác nhau.
Gợi ý:
Sự tương đồng của hai VB: VB 1 và VB 2 đều thuộc loại VB nghị luận văn học, do đó
cách đặt vấn đề và tổ chức luận điểm đều đảm bảo những nguyên tắc chung của loại VB này. Trong cách đặt vấn đề, cả hai VB đều giới thiệu trực tiếp tác phẩm, tác giả và vấn đề cần bàn luận. Trong cách tổ chức luận điểm, cả hai VB đều tổ chức luận điểm để làm nổi bật các khía cạnh của luận đề.
Sự khác biệt của hai VB: Nếu VB 1 đặt ra và giải quyết một vấn đề thuộc VB Người con gái Nam Xương thì VB 2 lại sử dụng tác phẩm Thằng quỷ nhỏ như một nghiên cứu về một trường hợp tiêu biểu để từ đó đặt ra vấn đề rộng lớn hơn liên quan đến phẩm chất của một tác phẩm văn học viết cho thiếu nhi. Nói cách khác, nếu VB 1 là bàn luận trong phạm vi tác phẩm thì VB 2 hướng tới bàn luận những vấn đề rộng lớn hơn được gợi ra từ tác phẩm.
Nếu VB 1 chủ yếu dùng các tri thức văn học để làm sáng tỏ vấn đề thì VB 2 bên cạnh tri thức văn học (vẫn là vùng tri thức chủ yếu), còn sử dụng cả những tri thức về nhân học, văn hoá để giải quyết, bước đầu giúp HS ý thức được có thể sử dụng tri thức liên ngành trong nghiên cứu văn học.
Vì khác biệt trong cách đặt vấn đề nên cách tổ chức luận điểm của hai VB cũng khác biệt. VB 1 tổ chức luận điểm theo hướng bám sát diễn biến câu chuyện bi kịch của Vũ Nương với lô-gíc: nhận diện bi kịch - lí giải bi kịch - hoá giải bi kịch; VB 2 tổ chức luận điểm theo hướng quy nạp: từ phân tích, lí giải trường hợp tác phẩm Thằng quỷ nhỏ, tác giả nêu lên những suy ngẫm về phẩm chất của một tác phẩm văn học viết cho thiếu nhi.
Bài tập 3 giúp HS củng cố, rèn luyện kĩ năng viết đoạn văn trong bài văn phân tích một tác phẩm truyện. HS cần nắm chắc đặc trưng thể loại của truyện thơ Nôm và truyện truyền kì, nắm chắc yêu cầu của kiểu bài nghị luận văn học phân tích một tác phẩm truyện và yêu cầu viết đoạn để thực hiện nhiệm vụ. Trong đoạn văn cần sử dụng cách dẫn trực tiếp hoặc cách dẫn gián tiếp. GV có thể xây dựng bảng kiểm để HS tự đánh giá kết quả viết đoạn của mình.
VB "Hoàng Hạc lâu tống Mạnh Hạo Nhiên chi Quảng Lăng", một bài thơ tiễn biệt tiêu biểu trong thơ Đường của nhà nghiên cứu Nguyễn Khắc Phi là VB thực hành đọc giúp HS củng cố, phát triển kĩ năng đọc VB nghị luận văn học. GV nhắc nhở HS chú ý các vấn đề đã được nêu trong SGK, trang 111 khi thực hiện nhiệm vụ thực hành đọc.
Trang 147
Trang 148
Trang 149
VĂN BẢN 1. RÔ-MÊ-Ô VÀ GIU-LI-ÉT (Trích, Uy-li-am Sếch-xpia) 1. Phân tích yêu cầu cần đạt HS nhận biết và phân tích được xung đột, hành động kịch, cốt truyện, nh
VĂN BẢN 1. RÔ-MÊ-Ô VÀ GIU-LI-ÉT
(Trích, Uy-li-am Sếch-xpia)
1. Phân tích yêu cầu cần đạt
HS nhận biết và phân tích được xung đột, hành động kịch, cốt truyện, nhân vật, lời thoại trong bi kịch. Trích đoạn kịch này thể hiện một hành động kịch, đó là sự gặp gỡ của hai nhân vật chính (trong sơ đồ cốt truyện thì sự việc này có chức năng thắt nút, tạo mối quan hệ
cho các nhân vật). Hành động kịch này gợi ra những xung đột chính của vở kịch: sự bất hoà giữa hai dòng họ Môn-ta-ghiu và Ca-piu-lét, hoặc nhìn một cách bao quá
cho các nhân vật). Hành động kịch này gợi ra những xung đột chính của vở kịch: sự bất hoà giữa hai dòng họ Môn-ta-ghiu và Ca-piu-lét, hoặc nhìn một cách bao quát hơn thì đó là xung đột giữa con người và hoàn cảnh. Hành động gặp gỡ, bày tỏ tình yêu của đôi trai gái mở đầu cho chuỗi những hành động tiếp theo trong toàn bộ cốt truyện của vở kịch. Hai nhân vật chính Rô-mê-ô và Giu-li-ét là những con người đẹp đẽ, có tình yêu trong sáng, nhưng sự lựa chọn hành động của họ trong hoàn cảnh ngặt nghèo đã dẫn đến một kết cục bi thảm. Về lời thoại, đoạn trích tiêu biểu cho tính chất lời thoại của bi kịch: trau chuốt, hoa mĩ.
Tiếp cận tác phẩm bi kịch, đối diện với những nỗi đau của con người, HS nhận biết được những giá trị nhân văn của cuộc sống. Ở trích đoạn này chưa thấy có những điều bi thảm, nhưng đặt nó trong diễn biến cốt truyện kịch sẽ thấy tình yêu của hai nhân vật Rô-mê-ô và Giu-li-ét sẽ bị "nghiền nát" bởi hoàn cảnh như thế nào. Đoạn trích chủ yếu gợi lên cảm xúc đẹp đẽ về tình yêu, về khát vọng yêu đương của con người. Đoạn trích nói riêng và vở kịch nói chung thể hiện rõ tư tưởng nhân văn thời đại Phục hưng.
2. Gợi ý tổ chức hoạt động dạy học
Hoạt động 1 Khởi động
HS trao đổi nhóm về nội dung trước khi đọc được nêu trong SGK: chia sẻ suy nghĩ về một tác phẩm viết về đề tài tình yêu.
GV yêu cầu đại diện một số nhóm trình bày kết quả trao đổi, các nhóm khác góp ý, nhận xét. GV đánh giá kết quả trao đổi giữa các nhóm và dẫn dắt vào hoạt động đọc VB.
Hoạt động 2 Đọc văn bản
HS đã đọc VB trước khi đến lớp. GV lưu ý HS nội dung của các thẻ chiến lược đọc ở bên phải VB trong SGK. Các thẻ chiến lược đọc giúp HS chú ý theo dõi những chi tiết quan trọng, dấu ấn đặc biệt trong lời thoại, suy luận để giải thích những hành động của nhân vật,... GV phân vai để HS lần lượt đọc lời thoại của các nhân vật trong đoạn trích (ở tiết học này, GV hoàn toàn có thể tổ chức cho HS đóng vai các nhân vật với sự hoá trang, điệu bộ, lời nói phù hợp).
Hoạt động 3 Khám phá văn bản
GV lưu ý HS những thông tin về vở kịch Rô-mê-ô và Giu-li-ét và tác giả Sếch-xpia ở khung đặt sau VB.
GV gợi ý cho HS tìm hiểu về thời đại Phục hưng, có thể giới thiệu một số đặc điểm của chủ nghĩa nhân văn thời đại này (trân trọng và đề cao con người, ca ngợi quyền sống tự nhiên, quyền tự do cá nhân, giải phóng con người khỏi xiềng xích của tư tưởng phong kiến trung cổ,…).
Hệ thống câu hỏi sau khi đọc được chia theo các nhóm như sau: nhận biết (câu 1); phân tích, suy luận (câu 2, 3, 4, 5) và đánh giá, vận dụng (câu 6, 7). GV có thể kết hợp các câu hỏi này hoặc gia giảm phạm vi, độ khó để tạo thành những câu hỏi mới tuỳ theo đối tượng HS và diễn biến cụ thể của giờ học.
Câu hỏi 1 Câu hỏi này yêu cầu HS nhận biết tình thế của cuộc gặp gỡ giữa Rô-mê-ô và Giu-li-ét. GV nên có những câu hỏi gợi dẫn để HS chỉ ra được tình thế gặp gỡ
Câu hỏi 1
Câu hỏi này yêu cầu HS nhận biết tình thế của cuộc gặp gỡ giữa Rô-mê-ô và Giu-li-ét. GV nên có những câu hỏi gợi dẫn để HS chỉ ra được tình thế gặp gỡ này (Đôi trai gái gặp nhau ở địa điểm nào? Có điều gì khác thường khi họ nhắc đến tên họ của nhau?...). Họ gặp nhau trong vườn nhà của họ Ca-piu-lét. Rô-mê-ô là người của dòng họ Môn-ta-ghiu. Chàng biết rõ gia đình và dòng họ mình vốn có mối thâm thù với nhà Ca-piu-lét nhưng vẫn không quản ngại, vượt tường đến đứng dưới ban công phòng Giu-li-ét mong gặp được người mình yêu. Ở Hồi thứ nhất, Giu-li-ét cũng đã dự cảm được tình thế ngay trong đêm dạ hội khi biết danh tính Rô-mê-ô: "Một mối thù sinh một mối tình/ Vội chi sớm gặp, biết đành muộn sao!/ Tình đâu trắc trở gian lao/ Hận thù mà hoá khát khao ân tình". Nhận biết được tình thế éo le này, HS sẽ suy đoán những sự việc tiếp theo có thể xảy ra.
Câu hỏi 2
GV hướng dẫn HS chỉ ra cách thức bày tỏ tình yêu của hai nhân vật: lối nói hoa mĩ, giàu hình ảnh, nhiều thán từ, nhiều so sánh ví von. GV có thể gợi ý để HS liên tưởng những cách bày tỏ tình cảm trong thực tế đời sống và phim ảnh. Từ đó, GV chỉ ra cho HS thấy được phần nào sự điêu luyện trong nghệ thuật sử dụng ngôn từ của Sếch-xpia (qua bản dịch) cũng như tính chất mĩ lệ, kiểu cách của ngôn từ bi kịch.
Câu hỏi 3
Trong kịch nói chung, các hình thức thoại chính bao gồm: đối thoại, độc thoại. Đoạn trích sử dụng hai hình thức thoại này. GV giúp HS nhận diện đối thoại (nhân vật nói với nhau), độc thoại (nhân vật nói một mình) trong đoạn trích. Có những đoạn độc thoại chỉ một mình nhân vật biết, cũng có những đoạn độc thoại mà người khác (nhân vật khác) cũng nghe được. HS cần nhận thấy vai trò của từng loại độc thoại. Ví dụ, đoạn độc thoại của Rô-mê-ô đầu đoạn trích thể hiện nỗi ngây ngất, đắm say của chàng khi nhìn thấy Giu-li-ét xuất hiện trên cửa sổ. Lời độc thoại này cũng cho ta hình dung được vẻ kiều diễm của nàng Giu-li-ét. Đoạn độc thoại của Giu-li-ét thể hiện tình yêu cháy bỏng, ý thức vượt lên mối thù dòng họ của cô gái trẻ. Đoạn đối thoại (Đúng là từ miệng nàng nói ra… liều mình vì báu vật) của hai nhân vật cho thấy lòng quyết tâm đến với tình yêu, sẵn sàng từ bỏ dòng họ vì tình yêu.
Câu hỏi 4
Đoạn trích có các chỉ báo giúp HS nhận ra những xung đột của vở kịch. Dựa vào lời thoại của các nhân vật, HS chỉ ra xung đột giữa hai gia tộc, đồng thời nhận thấy xung đột giữa tình yêu và hoàn cảnh. Đây là hai xung đột chính của toàn bộ vở kịch. Bản thân đoạn trích chưa phải là đỉnh điểm của xung đột, song, hoàn cảnh gặp gỡ, những mong muốn, những mối lo sợ của nhân vật khi bày tỏ tình yêu đã mách bảo xung đột sẽ tiến triển đến mức khốc liệt. Ngoài ra, HS còn có thể phát hiện xung đột lễ giáo phong kiến và quyền tự do yêu đương qua đoạn trích. Giu-li-ét được mẹ giới thiệu chàng Pa-rít, nhưng trong đêm dạ hội, nàng đã yêu chàng thanh niên chưa biết mặt biết tên, khi chàng xuất hiện dưới ban công,
nàng đã bày tỏ tình yêu một cách nồng nhiệt. GV cần cho HS thấy màu sắc riêng của xung đột trong bi kịch: khó dung hoà, không thể giải quyết một cách êm đẹp. Câ
nàng đã bày tỏ tình yêu một cách nồng nhiệt. GV cần cho HS thấy màu sắc riêng của xung đột trong bi kịch: khó dung hoà, không thể giải quyết một cách êm đẹp.
Câu hỏi 5
Câu hỏi này giúp HS nhận thức được sự vận động của cốt truyện kịch. Ở vở kịch này, cốt truyện vận động theo nguyên tắc nhân quả. Sự kiện Rô-mê-ô gặp Giu-li-ét trong vườn nhà Ca-piu-lét, hai người bày tỏ tình yêu mặc dù biết hai gia đình có mối thâm thù, sẽ dẫn đến những sự kiện khác như: bí mật làm lễ thành hôn, Giu-li-ét chấp nhận uống thuốc ngủ giả chết để cưỡng lại sự sắp đặt hôn nhân của gia đình và chờ đợi Rô-mê-ô trở về, Rô-mê-ô bí mật trở về, tưởng Giu-li-ét chết thật nên tự sát, Giu-li-ét tự sát khi thấy Rô-mê-ô chết. GV giúp HS xác định được vị trí và vai trò của đoạn trích đối với toàn bộ vở kịch. Kết cục của vở kịch là do nhân vật tự chọn hành động để bảo vệ tình yêu. GV có thể nêu câu hỏi phụ để kết nối nội dung vở kịch với thực tiễn cuộc sống (ví dụ: Em đánh giá như thế nào về cách bày
tỏ tình yêu và cách bảo vệ tình yêu của hai nhân vật? Có thể có những cách giải quyết khác không?...). Giữa người đọc (người xem) và câu chuyện kịch cần có độ gián cách nhất định, người đọc (người xem) không chỉ "sống" cùng nhân vật mà cần có sự đánh giá, phán xét về nhân vật.
Câu hỏi 6
Qua nội dung tóm tắt vở kịch, HS biết được kết cục của hai nhân vật chính. GV lưu ý HS kết nối câu trả lời với mục Tri thức ngữ văn (kết thúc bi thảm của nhân vật có ý nghĩa thức tỉnh, dự báo một cái gì tốt đẹp hơn sẽ nảy sinh trong cuộc sống và trong mỗi con người). Vở kịch kết thúc bằng cái chết của đôi uyên ương, nhưng cái chết của họ khẳng định một chân lí cao đẹp: không gì có thể ngăn cản được tình yêu. Tình yêu và sự quên thân của họ khiến cho hai dòng họ tỉnh ngộ và đi đến hoà giải. Bức tượng vàng mà hai dòng họ sẽ dựng lên để tưởng nhớ họ cũng là sự ghi dấu một mối tình trong sáng, bất tử. Cái chết của Rô-mê-ô và Giu-li-ét khích lệ con người tin tưởng vào sức mạnh của tình yêu, khẳng định cuộc sống không nên hận thù. Bi kịch gieo vào tâm trí người đọc (người xem) sự khiếp sợ, thương cảm, từ đó giúp người đọc (người xem) biết căm ghét những điều ác, hướng đến những điều tốt lành, cao thượng. Hiệu ứng thanh lọc của bi kịch sẽ được nhấn mạnh hơn ở bài học về bi kịch ở cấp Trung học phổ thông.
Câu hỏi 7
Câu hỏi này giúp HS nhận thức được tầm ảnh hưởng của vở bi kịch đối với đời sống tinh thần của con người nói chung và đời sống văn học - nghệ thuật ở châu Âu cũng như toàn thế giới. Mặt khác, HS cũng nhận ra mối tương quan giữa văn học và các loại hình nghệ thuật gần gũi. Văn học trở thành đề tài, chất liệu cho nhiều sáng tác nghệ thuật khác. Câu hỏi này cũng gợi mở để HS có thể tiếp tục tìm hiểu các vấn đề về tác phẩm nghệ thuật và chuyển thể văn học ở cấp Trung học phổ thông.
HS có thể tìm các bộ phim chuyển thể hoặc được gợi cảm hứng sáng tác từ vở kịch Rô-mê-ô và Giu-li-ét, cùng với đó là các bài hát trong phim (ví dụ như bài hát n
HS có thể tìm các bộ phim chuyển thể hoặc được gợi cảm hứng sáng tác từ vở kịch Rô-mê-ô và Giu-li-ét, cùng với đó là các bài hát trong phim (ví dụ như bài hát nổi tiếng A time for us của Nino Rota). HS cần tìm ra nét tương đồng (nhân vật, sự kiện, thông điệp) của tác phẩm tìm được với vở kịch Rô-mê-ô và Giu-li-ét.
Hoạt động 4 Viết kết nối với đọc
GV hướng dẫn HS tìm ý để viết đoạn văn (khoảng 7 - 9 câu) trình bày suy nghĩ về khát vọng tình yêu của con người. HS có thể tìm ý bằng cách trả lời các câu hỏi: Em quan niệm như thế nào là tình yêu? Yêu và được yêu có phải là khát vọng chính đáng của con người không? Em biết những câu chuyện nào về việc con người vượt qua những trở ngại trong tình yêu? Cuộc sống sẽ ra sao nếu không có tình yêu? GV lưu ý HS những yêu cầu khi viết đoạn văn: lựa chọn hình thức tổ chức đoạn văn
(diễn dịch, quy nạp, song song, phối hợp) và đảm bảo liên kết các câu trong đoạn.
Trang 155
VĂN BẢN 2. LƠ XÍT (Trích, Coóc-nây) 1. Phân tích yêu cầu cần đạt HS vận dụng được kiến thức và kĩ năng đã học để nhận biết và phân tích xung đột, hành động kịch
VĂN BẢN 2. LƠ XÍT
(Trích, Coóc-nây)
1. Phân tích yêu cầu cần đạt
HS vận dụng được kiến thức và kĩ năng đã học để nhận biết và phân tích xung đột, hành động kịch, cốt truyện, nhân vật, lời thoại trong thể loại bi kịch thể hiện qua đoạn trích vở Lơ Xít.
HS biết coi trọng những giá trị nhân văn cao đẹp.
2. Gợi ý tổ chức hoạt động dạy học
Hoạt động 1 Khởi động
HS trao đổi nhóm để chia sẻ trải nghiệm cá nhân trong những tình huống kiềm chế
cảm xúc, hành động theo lí trí. GV có thể gợi ý một số tình huống. Ví dụ: cơn giận bột phát, bị khiêu khích, bạn rủ làm một việc có vẻ thú vị nhưng em cho là không phù hợp,…
GV có thể mời một số HS chia sẻ trải nghiệm của mình.
Hoạt động 2 Đọc văn bản
HS đã đọc VB trước khi đến lớp. GV lưu ý HS nội dung các thẻ gợi ý chiến lược đọc ở bên phải VB trong SGK. GV hướng dẫn HS ngữ điệu đọc phù hợp với lời thoại trong đoạn trích, có thể hướng dẫn HS đọc theo lối phân vai.
Hoạt động 3 Khám phá văn bản
GV hướng dẫn HS tìm hiểu thông tin về tác giả, tác phẩm ở khung đặt sau VB, lưu ý HS về bối cảnh ra đời của vở kịch, tính chất duy lí trong kịch của Coóc-nây.
GV cần nắm được các vấn đề liên quan đến toàn bộ vở kịch, từ đó có cách định hướng đúng cho HS trả lời câu hỏi sau khi đọc. Cốt truyện vở kịch Lơ Xít được xây dựng dựa trên biến cố và nhân vật lịch sử có thật thời trung cổ ở Tây Ban Nha (có tài liệu cho rằng Coóc-nây đã phát triển cốt truyện từ vở kịch Thiếu thời của Xít của nhà soạn kịch Tây Ban Nha Ghi-len đơ Ca-xtrô(1) (Ghilén de Castro). Câu chuyện kịch xảy ra ở thành Xê-vin (Sevín) xứ Ca-xti (Caxti) của Tây Ban Nha vào thế kỉ XI. Mô phỏng đề tài các tác phẩm quá khứ được coi như một nguyên lí sáng tác mà nhiều nhà văn cổ điển chủ nghĩa tuân theo. Như đã nêu ở phần Tri thức ngữ văn cho GV, đề tài của bi kịch thường bắt nguồn từ thần thoại, truyền thuyết, huyền thoại, lịch sử tôn giáo, lịch sử cổ đại hay những câu chuyện từ những xứ sở xa xôi,… Ở Lơ Xít, Coóc-nây khai thác đề tài về người anh hùng Tây Ban Nha, nhưng chủ yếu xoáy sâu vào cuộc đấu tranh tinh thần của nhân vật. Lơ Xít là vở kịch đặc sắc, có nhiều khác biệt so với những vở bi kịch khác cùng thời. Vở kịch không tuân thủ theo lối "sân khấu trắng" (các nhân vật chính bị chết hoặc hoá điên, bỏ đi biệt xứ,…), mà kết thúc bằng sự hoà hợp
(1) Nhiều tác giả, Bi kịch cổ điển Pháp, NXB Văn hoá, Hà Nội, 1978, tr. 59.
của hai nhân vật chính. Không tuân thủ luật tam duy nhất(1), vở kịch tạo một cốt truyện phức tạp, nhiều tình tiết, nhiều bước ngoặt. Như vậy, tính chất bi kịch
của hai nhân vật chính. Không tuân thủ luật tam duy nhất(1), vở kịch tạo một cốt truyện phức tạp, nhiều tình tiết, nhiều bước ngoặt. Như vậy, tính chất bi kịch của vở kịch chủ yếu tập trung ở sự giằng xé nội tâm và những mâu thuẫn quyết liệt khó bề giải quyết cho vẹn toàn. Trích đoạn kịch này thể hiện sự kiện Rô-đri-gơ đến nạp mình cho Si-men sau khi đã giết cha nàng trong cuộc đấu kiếm. Đây là dịp để Rô-đri-gơ và Si-men bày tỏ cả tình yêu và lí trí mạnh mẽ cũng như sự đau đớn, dằn vặt của những con người mẫu mực thời kì cổ điển thế kỉ XVII. Đoạn trích góp phần thể hiện xung đột chính của vở kịch, đó là xung đột giữa danh dự, nghĩa vụ và tình cảm cá nhân. Về lời thoại, vở Lơ Xít (cũng như các bi kịch khác của thời đại này) được viết bằng thơ, bản dịch cố gắng diễn tả bằng hình thức thơ, do vậy, lời thoại có nhịp điệu. Ngôn từ trang nghiêm, phù hợp để diễn tả những điều hệ trọng, thiêng liêng, nên cũng thiếu tính khẩu ngữ (khác với hài kịch).
GV có thể lưu ý HS, ở vở Rô-mê-ô và Giu-li-ét các nhân vật hành động theo tiếng gọi của tình yêu, còn vở Lơ Xít thì nhân vật hành động theo lí trí, bổn phận. Cần giải thích sự
khác nhau này có nguyên do từ sự khác nhau giữa quan niệm nhân văn thời Phục hưng và quan niệm của chủ nghĩa duy lí thế kỉ XVII.
Hệ thống câu hỏi sau khi đọc được chia theo các nhóm như sau: nhận biết (câu 1, 2, 3); phân tích, suy luận (câu 4) và đánh giá, vận dụng (câu 5, 6). Tuy nhiên, ở một số câu nhận biết cũng có thể có yêu cầu suy luận.
Câu hỏi 1
Để trả lời câu hỏi này, GV yêu cầu HS đọc tóm tắt vở kịch, theo dõi diễn biến câu chuyện dẫn đến hành động Rô-đri-gơ đến gặp Si-men và xin được chết dưới tay nàng. Rô-đri-gơ đã thực hiện bổn phận của mình là bảo vệ danh dự cho cha và dòng họ. Chàng đến gặp Si-men, cũng là con gái của người mình vừa giết, để xin nàng giết mình. Hành động đó chứng tỏ sự chính trực của Rô-đri-gơ. Khi đến gặp Si-men, chàng bày tỏ những giằng xé nội tâm của mình, khẳng định tình yêu dành cho nàng, đồng thời thể hiện sự đồng cảm sâu sắc với nỗi đau của Si-men cũng như đứng về phía nàng để thôi thúc nàng hành động trả thù cho cha. GV có thể hỏi câu hỏi phụ để HS đưa ra những suy nghĩ riêng trước tình huống này (ví dụ: Theo em, Rô-đri-gơ có nên xuất hiện trước mặt Si-men sau khi đã giết cha nàng không? Có thể thú nhận với Si-men theo cách nào? Việc Rô-đri-gơ đến gặp Si-men sau khi giết cha của nàng cho thấy Rô-đri-gơ là người như thế nào?...).
Câu hỏi 2
GV hướng dẫn HS tìm hiểu lời trần tình của Rô-đri-gơ với Si-men. Đây là đoạn thoại khá dài, diễn tả nỗi niềm của Rô-đri-gơ sau quyết định khó khăn trong tình cảnh ngang trái là thách đấu và giết bá tước Đông Goóc-ma-xờ. GV gợi ý để HS tìm các câu nhân vật tự đánh giá về hành động của mình (ví dụ: Sự hối hận đê hèn về hành động đúng vừa qua!/…trả thù danh dự, thù cha cùng một lúc/ Và sẽ còn làm vậy nữa nếu như cần!/ Nghĩa trước trả đầy…). Chàng khẳng định mình hành động đúng, không hối hận, nếu phải làm lại thì vẫn
(1) Luật tam duy nhất: duy nhất về thời gian, địa điểm, hành động (một sự việc xảy ra trong vòng 24 giờ
ở một địa điểm).
làm như vậy. Đối với Rô-đri-gơ, nếu mất danh dự là mất hết, sẽ không còn phẩm giá, không có tư cách để yêu một người cao quý như Si-men. Chính vì vậy, chàng đã
làm như vậy. Đối với Rô-đri-gơ, nếu mất danh dự là mất hết, sẽ không còn phẩm giá, không có tư cách để yêu một người cao quý như Si-men. Chính vì vậy, chàng đã không đặt tình yêu đôi lứa lên trên danh dự, không nghe theo tiếng gọi con tim. GV lưu ý HS: vở kịch này viết về những quý tộc cung đình Tây Ban Nha (chữ "Đông" - "Don" trước tên gọi là để chỉ nhà quý tộc), mà đối với người quý tộc, danh dự lớn hơn tất cả.
Câu hỏi 3
GV gợi ý để HS thấy được tâm trạng của Si-men khi chứng kiến cảnh người yêu đến gặp sau khi chàng giết cha của nàng. Ban đầu Si-men vô cùng kinh ngạc, không tin là Rô-đri-gơ lại đến gặp mình sau hành động tày trời như thế. Sau đó là nỗi đau đớn cực độ mà nàng phải chịu đựng, nó khiến nàng không muốn sống. Nỗi đau càng được khoét sâu khi nàng nhìn thấy thanh kiếm đã kết liễu cha mình. Sau khi nghe Rô-đri-gơ giãi bày, nàng vừa đau đớn vừa dứt khoát quyết định sẽ giết Rô-đri-gơ để trả thù cho cha. Rô-đri-gơ đã thuyết phục
được người yêu giết mình. Đoạn trích diễn tả tâm trạng của Si-men từ mong muốn được chết đi vì quá đau khổ đến ý chí trả thù. Diễn biến tâm lí nhân vật phức tạp nhưng hợp lô-gíc.
Câu hỏi 4
Câu hỏi này giúp HS nhận ra xung đột nội tâm của nhân vật trong đoạn trích. Xung đột nội tâm nhân vật biểu hiện xung đột chính của toàn bộ vở kịch. Tình thế buộc Rô-đri-gơ đứng trước bi kịch của sự lựa chọn: nghe theo tiếng gọi tình yêu hay phục tùng lí trí. Chàng đã dằn vặt, đau đớn trong cuộc va chạm giữa tình yêu nồng nhiệt của mình và danh dự gia đình. Trước đoạn trích này, ở Hồi I, Lớp VI, Rô-đri-gơ có đoạn độc thoại diễn tả những giằng xé nội tâm trước khi quyết định thách đấu với cha của Si-men để bảo toàn danh dự gia đình (Hận lòng đôi ngả đấu tranh/ Nửa là danh dự, nửa tình khó theo; Não nề đứng giữ hai đường/ Sống đời ô nhục? Phũ phàng tơ duyên?). Có lúc chàng đã định "một thác là yên", tìm đến cái chết. Cuối cùng thì lí trí đã thắng, chàng quyết định "Nhanh chân lên! Đi lấy máu rửa thù!". Khi đến gặp Si-men để xin được chết, chàng đã bày tỏ những suy nghĩ dứt khoát của mình. Có thể nói, tác giả kịch bản đã biến cuộc đấu tranh nội tâm từ màn độc thoại của Rô-đri-gơ (Hồi I) với nhiều do dự, hoài nghi thành màn đối thoại của chàng với người yêu (Hồi III) khi đã tìm điểm tựa lí trí cho các quyết định của mình. Chàng hiệp sĩ quý tộc trẻ tuổi đã hi sinh tình yêu để làm tròn nghĩa vụ của một người con. Chàng đã giãi bày chân thật lòng mình và mong muốn được chết bởi tay người mình yêu như là được hưởng niềm hạnh phúc cuối cùng. GV gợi ý để HS tìm trong đoạn trích những chi tiết diễn tả tình yêu nồng nhiệt của Rô-đri-gơ với Si-men, kết hợp với nội dung trả lời câu hỏi 2, từ đó chỉ ra xung đột dữ dội trong con người Rô-đri-gơ và niềm tin của chàng vào quyết định tuân theo lí trí.
Về phần Si-men, nàng cũng giằng xé giữa tình yêu và bổn phận. Khi biết tin cha chết dưới tay Rô-đri-gơ, nàng đã xin nhà vua trừng trị chàng (Cha con chết, con đòi trả oán; Hãy lấy mạng trả thù, lấy máu đền nợ máu; kẻ sát nhân phải chịu tử hình). Nhưng khi tâm sự với En-vi-a, người chăm sóc Si-men, thì nàng lại bộc bạch nỗi niềm riêng của mình (Khi nghĩa vụ
đòi ta rửa hận/ Mà lòng lại vẫn yêu người gây oán; Tình đắm say chống lại lòng căm phẫn/ Trong kẻ thù bắt gặp kẻ ta yêu; Ta đòi được đầu chàng, lại sợ đầu chàng
đòi ta rửa hận/ Mà lòng lại vẫn yêu người gây oán; Tình đắm say chống lại lòng căm phẫn/ Trong kẻ thù bắt gặp kẻ ta yêu; Ta đòi được đầu chàng, lại sợ đầu chàng rơi xuống). Si-men cũng đi đến quyết định cuối cùng là "Ta phải kiện chàng, giết chàng và sau đó chết theo!". Ở nhân vật này, lí trí cũng chiến thắng. GV gợi ý để HS tìm trong đoạn trích chi tiết diễn tả tình yêu say đắm của Si-men dành cho Rô-đri-gơ, kết hợp với nội dung trả lời ở câu 3, từ đó chỉ ra những giằng xé trong tâm hồn cô gái trẻ. Nàng rất yêu Rô-đri-gơ, sẵn sàng chết theo chàng, nhưng cũng rất phân minh khi giải quyết mối quan hệ cá nhân và gia đình, gác tình riêng để làm tròn bổn phận với gia đình. Câu thoại "Giết cha em, chàng chứng tỏ cùng em xứng đáng/ Để xứng chàng, em cũng phải đòi chàng thế mạng" cho thấy Si-men rất hiểu Rô-đri-gơ và nàng cũng theo cách của người yêu, bảo vệ danh dự của mình. HS chỉ ra điểm giống nhau ở hai nhân vật này. Sự song trùng ở hai nhân vật khắc hoạ sâu sắc quan niệm của tác giả cũng như quan niệm của thời đại ông: tôn sùng lí trí, đề cao nghĩa vụ, bổn phận, để lí trí chiến thắng cảm xúc. Lí trí soi sáng mọi hành động của hai nhân vật.
Đoạn trích đã thể hiện xung đột xuyên suốt tác phẩm: xung đột giữa dục vọng và danh dự, giữa tình yêu và bổn phận. Coóc-nây còn đẩy xung đột đến mức cao hơn, đó là xung đột giữa thù riêng và nghĩa vụ với Tổ quốc. Rô-đri-gơ ra trận, đánh đuổi kẻ thù, thực hiện bổn phận với đất nước, là bổn phận cao nhất của mỗi con người. Si-men đồng ý tác hợp cùng Rô-đri-gơ cũng có nghĩa là thực hiện nghĩa vụ với mệnh lệnh của nhà vua - nàng là phần thưởng cho người anh hùng chiến thắng giặc Mô. Về lô-gíc, các nhân vật vẫn nhất quán trong tính cách đề cao bổn phận, và chính điều này dẫn đến sự hoá giải xung đột, làm cho vở kịch kết thúc có hậu. Thực ra, Lơ Xít có thể hoàn toàn đi theo hướng kết thúc nghiệt ngã của hầu hết các vở bi kịch, nghĩa là theo kịch bản Si-men đã dự định: vua sẽ trừng phạt Rô-đri-gơ và Si-men chết theo người yêu. Song, để tô đậm tính lô-gíc của tính cách và xây dựng hình tượng đẹp về người hiệp sĩ anh hùng thời trung cổ, tác giả kịch bản đã tạo khúc ngoặt trong cốt truyện, khiến xung đột được hoá giải.
Câu hỏi 5
Nhân vật bi kịch, nhất là trong các vở kịch có tính chất anh hùng ca như Lơ Xít, thường là những con người phi thường, siêu phàm, cao cả. Ở vở kịch Lơ Xít, hai nhân vật Rô-đri-gơ và Si-men đều là những con người đề cao nghĩa vụ thiêng liêng với gia đình và Tổ quốc. Họ là những con người cao thượng, có ý chí mãnh liệt, có tình cảm nồng nhiệt. Riêng nhân vật Rô-đri-gơ, tác giả chú trọng xây dựng nhân vật có tính cách anh hùng, hào hiệp (GV lưu ý HS ý nghĩa nhan đề vở kịch). Chàng tự ý thức về phẩm chất của mình (hồn cao thượng bẩm sinh). Chính Đông Goóc-ma-xờ cũng nhận định Rô-đri-gơ là con người có "lòng hào hiệp", "khí phách kiên cường", "hồn cao thượng", "trang hào hoa hiệp , "trọn đạo trọn tình". Trong đoạn trích, ta thấy rõ ở chàng sự thẳng thắn, quả cảm, tình cảm và ý chí đều mãnh liệt, vừa trọng tình cảm vừa trọng nghĩa vụ, trong đau thương vẫn rất hào hùng. Đó là con người xuất chúng, đẹp đẽ, mẫu mực - con người lí tưởng của thời đại.
Câu hỏi 6 Đây là câu hỏi kết nối tác phẩm văn học với suy luận và trải nghiệm cá nhân của HS khi đặt tình huống kịch ra ngoài thời đại của nó. Sự lựa chọn hành
Câu hỏi 6
Đây là câu hỏi kết nối tác phẩm văn học với suy luận và trải nghiệm cá nhân của HS khi đặt tình huống kịch ra ngoài thời đại của nó. Sự lựa chọn hành động của nhân vật bị trói buộc bởi những lề luật, phép tắc, phụ thuộc vào quan niệm đạo đức xã hội và thế giới quan của nhà văn. Nó có thể chỉ phù hợp ở một thời điểm nhất định. Ở thời đại mà nghĩa vụ và bổn phận được coi là thước đo cao nhất của giá trị con người thì việc hành động theo nghĩa vụ và bổn phận sẽ được miễn trừ phán xét khi người ta có thể gây oan trái cho người khác. Đặt tình huống hai ông bố có xích mích, xúc phạm nhau vào cuộc sống hiện nay, những người con có thể có cách giải quyết khác. HS có thể đưa ra những khả năng khác để giải quyết tình huống. Qua đây, GV có thể biết năng lực nắm bắt đời sống, giải quyết tình huống và lí tưởng sống của HS.
Hoạt động 4 Viết kết nối với đọc
GV hướng dẫn HS viết đoạn văn (khoảng 7 - 9 câu) về một chi tiết mà các em thấy hứng thú trong đoạn trích vở kịch Lơ Xít. GV gợi ý một số câu hỏi để HS có thể tìm ý:
- Em thích chi tiết nào nhất trong đoạn trích? - Chi tiết đó nói lên điều gì về tình thế của nhân vật? - Chi tiết đó thể hiện điều gì về tâm trạng, suy nghĩ của nhân vật? - Chi tiết đó có vai trò như thế nào trong toàn bộ đoạn trích? - Chi tiết đó thể hiện đặc điểm gì của bi kịch?
Trang 161
THỰC HÀNH TIẾNG VIỆT CÂU ĐẶC BIỆT 1. Phân tích yêu cầu cần đạt HS nhận biết được câu đặc biệt và tác dụng của việc sử dụng câu đặc biệt trong những ngữ cảnh cụ
THỰC HÀNH TIẾNG VIỆT CÂU ĐẶC BIỆT
1. Phân tích yêu cầu cần đạt
HS nhận biết được câu đặc biệt và tác dụng của việc sử dụng câu đặc biệt trong những ngữ cảnh cụ thể.
HS biết vận dụng kiến thức về câu đặc biệt để đọc, viết, nói và nghe một cách hiệu quả.
2. Gợi ý tổ chức hoạt động dạy học
Hoạt động 1 Hình thành kiến thức mới
GV hình thành kiến thức mới cho HS bằng một trong hai cách: - Sử dụng phương pháp phân tích ngôn ngữ: GV dẫn ví dụ trong khung Nhận biết câu đặc biệt hoặc lấy ví dụ ngoài SGK về câu đặc biệt, cho HS nhận diện những câu đặc biệt, so sánh với những câu thông thường (lưu ý ngữ cảnh), từ đó GV chỉ ra đặc điểm, tính chất, tác dụng của câu đặc biệt.
Sử dụng phương pháp thông báo, giải thích: GV nêu định nghĩa về câu đặc biệt, dẫn các ví dụ về câu đặc biệt, đặt câu đặc biệt trong những ngữ cảnh cụ thể, khẳng định đặc điểm, tính chất, tác dụng của câu đặc biệt. Có thể sử dụng các chỉ dẫn trong khung Nhận biết câu đặc biệt.
Hoạt động 2 Luyện tập, vận dụng
Ở hoạt động này, GV có thể hướng dẫn HS làm việc cá nhân hoặc theo cặp, nhóm để hoàn thành bài tập. GV căn cứ vào thời gian của tiết học để hướng dẫn HS làm bài.
Bài tập 1
HS đọc kĩ các đoạn văn và lời thoại kịch đã cho, từ đó xác định các câu đặc biệt. HS cần dựa vào ngữ cảnh, tìm ra những trường hợp dùng câu đặc biệt. Ví dụ câu "Rầm rầm." được cấu tạo bằng một từ láy tượng thanh, có tác dụng mô tả âm thanh. Câu đặc biệt này được lặp lại ba lần, gợi ra tiếng mưa rơi mau và nặng trên mái tôn.
VIẾT VIẾT BÀI VĂN NGHỊ LUẬN PHÂN TÍCH MỘT TÁC PHẨM VĂN HỌC (KỊCH) 1. Phân tích yêu cầu cần đạt HS nắm được cách thức tạo lập VB nghị luận phân tích một tác phẩm
VIẾT
VIẾT BÀI VĂN NGHỊ LUẬN PHÂN TÍCH MỘT TÁC PHẨM VĂN HỌC (KỊCH)
1. Phân tích yêu cầu cần đạt
HS nắm được cách thức tạo lập VB nghị luận phân tích một tác phẩm kịch. - HS biết viết bài văn nghị luận phân tích tác phẩm kịch; làm rõ được nội dung chủ đề, những nét đặc sắc về hình thức nghệ thuật và hiệu quả thẩm mĩ của chúng.
2. Những lưu ý về yêu cầu đối với bài văn nghị luận phân tích một tác phẩm
văn học (kịch)
Kiểu bài văn nghị luận văn học đòi hỏi những yêu cầu chung như giới thiệu được một cách khái quát về tác phẩm (tên tác phẩm, tên tác giả, thể loại, nhận định chung về tác phẩm...); làm rõ được nội dung chủ đề của tác phẩm; phân tích được một số nét đặc sắc về hình thức nghệ thuật của tác phẩm; triển khai được hệ thống luận điểm chặt chẽ, sử dụng lí lẽ, bằng chứng xác đáng từ tác phẩm để làm sáng tỏ ý kiến nêu trong bài viết; nêu được ý nghĩa và giá trị của tác phẩm;… Ở bài học này, kiểu bài văn nghị luận văn học hướng đến việc phân tích một tác phẩm kịch. HS có thể chọn một vở kịch bất kì để phân tích, không giới hạn ở hài kịch hay bi kịch. HS cần nắm được đặc trưng thể loại của vở kịch cần phân tích,
chú ý tính chất của xung đột, đặc trưng về cốt truyện kịch, kiểu nhân vật kịch, nét đặc sắc về lời thoại,… Trong bài viết của mình, HS có thể phân tích tất cả c
chú ý tính chất của xung đột, đặc trưng về cốt truyện kịch, kiểu nhân vật kịch, nét đặc sắc về lời thoại,… Trong bài viết của mình, HS có thể phân tích tất cả các yếu tố trong kịch bản, cũng có thể chỉ đi sâu một vài khía cạnh nổi bật. HS cũng có thể chỉ chọn để phân tích một đoạn trích, không nhất thiết phải phân tích một vở kịch trọn vẹn.
3. Gợi ý tổ chức hoạt động dạy học
Hoạt động 1 Giới thiệu kiểu bài
Ở các lớp dưới và bài 2, bài 4 của lớp 9, HS đã luyện tập viết bài văn nghị luận văn học. Ở bài học này, điểm khác biệt đáng chú ý là HS thực hành viết bài văn phân tích một tác phẩm kịch. Đây là bài viết đầu tiên HS phân tích tác phẩm văn học thuộc thể loại này. Chắc hẳn HS sẽ gặp những khó khăn như: sưu tầm và đọc toàn bộ kịch bản (dung lượng lớn), đọc kịch bản cần hình dung khả năng hướng đến diễn xuất của nó. GV có thể hướng dẫn HS đọc
trọn vẹn những kịch bản được học hoặc giúp HS sưu tầm các kịch bản khác ngoài SGK, có dung lượng và độ khó phù hợp với khả năng tiếp nhận và phân tích của HS, nghĩa là cần quan tâm đến tính vừa sức. Chú ý những thao tác phân tích cơ bản, nhận định đúng hướng tác phẩm, tránh suy diễn vô căn cứ.
Hoạt động 2 Tìm hiểu yêu cầu đối với bài văn nghị luận phân tích một tác phẩm kịch
GV cho HS đọc các yêu cầu đối với kiểu bài văn nghị luận phân tích một tác phẩm kịch. GV có thể đặt các câu hỏi để HS chú ý đặc điểm chung và đặc điểm riêng của bài văn nghị luận phân tích tác phẩm kịch so với bài văn nghị luận phân tích tác phẩm văn học nói chung: Bài văn phân tích tác phẩm kịch có những điểm gì giống với bài văn phân tích tác phẩm thơ, truyện? Bài văn phân tích tác phẩm kịch cần chú ý yếu tố nổi bật nào trong đặc trưng thể loại?...
Hoạt động 3 Đọc và phân tích bài viết tham khảo
GV yêu cầu HS đọc kĩ bài viết tham khảo để nắm được cách triển khai một bài văn nghị luận phân tích một tác phẩm kịch. GV có thể đưa ra các câu hỏi gợi ý để HS phân tích bài viết tham khảo:
- Bài viết nêu lên chủ đề gì của vở kịch? Bài viết nêu chủ đề về sự xung đột giữa các giá trị ngang bằng nhau: tình chồng vợ, cha con và khát vọng lập công; thân thể, tình tri kỉ và ý chí phụng sự minh chủ.
- Bài viết xác định các phương diện đặc trưng của thể loại kịch như thế nào? + Nhân vật bi kịch. + Xung đột nội tâm của nhân vật. + Kết cục bi kịch. - Bài viết phân tích phương diện nổi bật nào của vở kịch?
Động cơ hành động của nhân vật. + Mâu thuẫn nội tâm của nhân vật. + Tính lô-gíc của hành động kịch. - Bài viết xác định ý nghĩa, giá trị của vở kịch như thế nào
Động cơ hành động của nhân vật. + Mâu thuẫn nội tâm của nhân vật. + Tính lô-gíc của hành động kịch. - Bài viết xác định ý nghĩa, giá trị của vở kịch như thế nào? Qua nỗi khiếp sợ và xót thương, vở kịch khiến cho người đọc hướng đến những giá trị nhân văn.
Hoạt động 4 Thực hành viết theo các bước
HS cần xác định rõ mục đích viết (làm rõ một số nét đặc sắc về nội dung và nghệ thuật của kịch bản văn học) và xác định được người đọc (những người quan tâm tới thể loại văn học kịch và có nhu cầu tìm hiểu sâu về tác phẩm được phân tích).
Hướng dẫn chọn đề tài: GV gợi ý cho HS tìm ngữ liệu để phân tích.
Hướng dẫn tìm ý: GV hướng dẫn HS tìm ý dựa vào những gợi ý trong SGK. Cần thiết lập các mô hình bài viết để HS có thể tìm ý một cách thuận lợi. Có thể thể hiện mô hình qua phiếu tìm ý.
PHIẾU TÌM Ý
Họ và tên: ........................................................... Lớp: .......................................
Nhiệm vụ: Tìm ý cho bài văn nghị luận phân tích một tác phẩm văn học (kịch).
Thông tin về kịch bản được chọn phân tích (nhan đề, thể loại, tác giả)., ......................................................................
Nội dung chủ đề của vở kịch., ......................................................................
Một số nét đặc sắc của vở kịch (xung đột, nhân vật, cốt truyện, hành động, lời thoại,…)., ......................................................................
Ý nghĩa, giá trị của vở kịch., ......................................................................
Hướng dẫn lập dàn ý và viết bài: Sau khi tìm ý, HS cần sắp xếp các ý thành dàn ý cho phù hợp và viết bài.
TRẢ BÀI Hoạt động 1 Nhắc lại, khắc sâu yêu cầu của kiểu bài GV cho HS nhắc lại các yêu cầu của kiểu bài viết. HS tự đối chiếu bài viết của mình với các yêu cầu
TRẢ BÀI
Hoạt động 1 Nhắc lại, khắc sâu yêu cầu của kiểu bài
GV cho HS nhắc lại các yêu cầu của kiểu bài viết. HS tự đối chiếu bài viết của mình với các yêu cầu đó để tự đánh giá mức độ đáp ứng yêu cầu của bài làm.
Hoạt động 2 Nhận xét về kết quả viết và chỉnh sửa bài viết
GV nhận xét chung về mức độ đáp ứng yêu cầu cần đạt ở các bài viết của HS, chọn phân tích một số bài viết thuộc các mức độ khác nhau để HS rút ra những kinh nghiệm cần thiết.
GV trả bài cho HS. HS chỉnh sửa theo hướng dẫn trong SGK và theo những điều GV đã phân tích, bổ sung.
CỦNG CỐ, MỞ RỘNG GV cho HS tự hoàn thành các nội dung Củng cố, mở rộng và thực hiện các hướng dẫn đọc VB Thực hành đọc ở nhà. GV cũng có thể sử dụng một số câu
CỦNG CỐ, MỞ RỘNG
GV cho HS tự hoàn thành các nội dung Củng cố, mở rộng và thực hiện các hướng dẫn đọc VB Thực hành đọc ở nhà. GV cũng có thể sử dụng một số câu hỏi, bài tập trong phần này để thiết kế các đề kiểm tra, đánh giá thường xuyên trong năm học.
Bài tập 1. GV yêu cầu HS ôn lại kiến thức đã học từ các VB Rô-mê-ô và Giu-li-ét, Lơ Xít,
liệt kê đầy đủ các nội dung liên quan đến nguồn gốc đề tài, xung đột, phẩm chất của nhân vật chính, hành động chính trong đoạn trích, tính chất lời thoại được sử dụng trong các VB này.
Bài tập 2. GV gợi ý cho HS tìm đọc một số vở bi kịch. HS có thể lập bảng để ghi lại
thông tin về tác phẩm được yêu thích nhất.
Tên tác phẩm, Phẩm chất của Xung đột chính Chi tiết thú vị nhất tác giả nhân vật chính
Bài tập 3
GV hướng dẫn HS viết đoạn văn (khoảng 10 - 12 câu) với câu chủ đề "Nhân vật bi kịch vừa có tội lại vừa không có tội". - Trước hết, GV gợi ý để HS có thể hiểu đúng và giải thích được câu trên. Nhân vật bi kịch, đứng từ một góc nhìn nào đó, sẽ là những người gây ra tội lỗi (ví dụ Rô-mê-ô giết người, Rô-đri-gơ thách đấu và giết cha của người yêu). Nhưng từ phía khác, ta lại thấy nhân vật bi kịch là những người cao thượng, hành động của họ đem lại những cảm xúc mạnh mẽ, hướng đến những điều tốt đẹp. Cả Rô-mê-ô và Rô-đri-gơ đều là những con người có tình cảm mãnh liệt, biết hành động để bảo vệ tình yêu cao đẹp hoặc bảo vệ danh dự. Trước những lựa chọn của cuộc đời, họ không bao giờ là kẻ yếu hèn, dối trá. Họ dám đương đầu với những thử thách, cho dù phải trả giá bằng tính mạng. - Bằng những hiểu biết về nhân vật bi kịch trong các vở kịch đã học và đã đọc, HS cần đưa các minh chứng để làm rõ câu chủ đề, đồng thời đưa ra được những nhận định về nhân vật bi kịch.
Trang 168
Trang 169
Trang 170
Trang 171
Trang 172
Trang 173
Trang 174
Trang 175
Trang 176
Trang 177
Trang 178
Trang 179
Trang 180
cover-last