SGV - Ngữ văn 12 - Tập 2
0/0
minus
100%
plus
Ghi chú
setting
share
Nền
Đọc offline

Lưu sách trên máy

Đang kiểm tra...

list Mục lục
list Mục lục
6. HỒ CHÍ MINH - “VĂN HÓA PHẢI SOI ĐƯỜNG CHO QUỐC DÂN ĐI”
Tri thức Ngữ văn
Tác gia Hồ Chí Minh
Đọc: Tuyên ngôn độc lập (Hồ Chí Minh)
Đọc: Nguyên tiêu (Rằm tháng Giêng - Hồ Chí Minh)
Đọc: Những trò lố hay là Va-ren và Phan Bội Châu (Nguyễn Ái Quốc)
Thực hành tiếng Việt: Một số biện pháp làm tăng tính khẳng định, phủ định trong văn bản nghị luận
Viết báo cáo kết quả của bài tập dự án
Củng cố, mở rộng
7. SỰ THẬT TRONG TÁC PHẨM KÍ
Tri thức Ngữ văn
Đọc: Nghệ thuật băm thịt gà
Đọc: Bước vào đời
Thực hành tiếng Việt: Ngôn ngữ trang trọng và ngôn ngữ thân mật
Viết bài văn nghị luận bàn về một vấn đề liên quan đến tuổi trẻ (Cách ứng xử trong các mối quan hệ gia đình, xã hội)
Củng cố, mở rộng
8. DỮ LIỆU TRONG VĂN BẢN THÔNG TIN
Tri thức Ngữ văn
Đọc: Pa-ra-na (Parana) - Trích Nhiệt đới buồn - Cờ-lốt Lê-vi-Xtơ-rốt (Claude Lévi-Strauss)
Đọc: Giáo dục khai phóng ở Việt Nam nhìn từ Đông Kinh Nghĩa Thục (Nguyễn Nam)
Đọc: Đời muối (Trích từ Đời muối: Lịch sử thế giới) - Mác Kơ-len-xki (Mark Kurlansky)
Thực hành tiếng Việt: Tôn trọng và bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ
Viết thư trao đổi về công việc hoặc một vấn đề đáng quan tâm
Củng cố, mở rộng
9. VĂN HỌC VÀ CUỘC ĐỜI
Tri thức Ngữ văn
Đọc: Vội vàng (Xuân Diệu)
Đọc: Trở về (Trích Ông già và biển cả - Ơ-nít Hê-minh-uê - Ernest Hemingway)
Đọc: Hồn Trương Ba, da hàng thịt (Trích - Lưu Quang Vũ)
Thực hành tiếng Việt: Giữ gìn và phát triển tiếng Việt
Viết bài phát biểu trong lễ phát động một phong trào hoặc một hoạt động xã hội
Củng cố, mở rộng
ÔN TẬP HỌC KÌ II
Hệ thống hoá kiến thức
Luyện tập và vận dụng
Học liệu
Đang xem trang 0 Học liệu dưới đây tương ứng với nội dung bạn đang đọc
empty Không có học liệu bổ trợ
cover-first
page-1
Trang 1
Trang 2
Trang 3
Trang 4
Trang 5
Trang 6
Trang 7
ĐỌC Văn bản 1 Tác gia Hồ Chí Minh 1. Phân tích yêu cầu cần đạt – HS nhận biết được sự thống nhất cao độ giữa cuộc đời hoạt động cách mạng của Hồ Chí Minh với nộ
ĐỌC
Văn bản 1
Tác gia Hồ Chí Minh
1. Phân tích yêu cầu cần đạt
– HS nhận biết được sự thống nhất cao độ giữa cuộc đời hoạt động cách mạng của Hồ Chí Minh với nội dung các tác phẩm mà Người đã viết.
– HS nhận biết được sự chi phối của quan niệm sáng tác hướng về đại chúng, hướng về cách mạng tới toàn bộ tác phẩm của tác giả, nhất là các tác phẩm xác định rõ mục đích vận động, tuyên truyền.
HS nhận biết được tính chất đa dạng của di sản văn học Hồ Chí Minh cùng những nét nổi bật trong phong cách nghệ thuật của tác giả. HS biết học tập tấm gương đạo
HS nhận biết được tính chất đa dạng của di sản văn học Hồ Chí Minh cùng những nét nổi bật trong phong cách nghệ thuật của tác giả.
HS biết học tập tấm gương đạo đức và tinh thần hi sinh cho đất nước, dân tộc của lãnh tụ Hồ Chí Minh.
2. Gợi ý tổ chức hoạt động dạy học
Hoạt động 1 Khởi động
SGK gợi ý hai câu hỏi, một câu gợi cho HS nhớ lại những tác phẩm văn học nghệ thuật viết về Hồ Chí Minh mà các em đã biết; câu còn lại yêu cầu nhắc tên những tác phẩm thơ văn Hồ Chí Minh đã được học ở cấp Tiểu học và THCS. GV có thể dựa vào hai câu hỏi này để khởi động giờ học, cũng có thể chọn một hình thức khác như cho HS xem đoạn phim ngắn về Hồ Chí Minh hay nghe một bài hát ca ngợi Người.
Dù hình thức khởi động đa dạng thế nào thì GV cũng phải xác định rõ mục tiêu: gợi lên
được trong HS nhu cầu tìm hiểu một con người đã trở thành huyền thoại, thành biểu tượng của dân tộc trong thời đại ngày nay và có những tác phẩm đã in sâu trong tâm khảm bao con người Việt Nam thuộc nhiều thế hệ.
Hoạt động 2 Đọc văn bản
GV gọi khoảng 4 HS lần lượt đọc to trước lớp từng phần của văn bản, nhắc các em chú ý những chỉ dẫn có trong các thẻ đọc ở bên phải văn bản.
GV lưu ý HS việc ngắt, ngừng giọng hợp lí khi gặp những câu văn dài (GV có thể đọc mẫu một câu văn cụ thể).
GV gợi ý một hoạt động mà những HS khác cần kết hợp thực hiện khi đọc thầm văn bản và theo dõi việc đọc của các bạn được chỉ định: ghi vào giấy nháp các mốc thời gian (năm) quan trọng trong cuộc đời hoạt động của Hồ Chí Minh, tên những tác phẩm tiêu biểu của Người được nhắc đến trong văn bản,… Các nội dung ghi chép đó sẽ giúp các em có được ý niệm ban đầu về con người cũng như sự nghiệp cách mạng, sự nghiệp văn học của Hồ Chí Minh, tạo điều kiện cho việc phân tích nội dung văn bản được tiến hành sau đó đạt kết quả tốt.
Hoạt động 3 Khám phá văn bản
Văn bản có bố cục rõ ràng, chặt chẽ với hệ thống mục lớn, mục nhỏ kết nối logic. Cách phân tích hợp lí là tiến hành lần lượt theo từng phần đã được phân định sẵn. Nên dành phần lớn thời gian của giờ học để tìm hiểu các thông tin về sự nghiệp văn học của Hồ Chí Minh.
Có thể nêu câu hỏi gợi cho HS cái nhìn bao quát về văn bản: Cách tổ chức văn bản này có điểm gì chung và điểm gì khác biệt so với cách tổ chức hai văn bản đầu tiên ở các bài học về tác gia trong SGK Ngữ văn 10, tập hai và Ngữ văn 11, tập hai?
Khi phân tích từng phần của văn bản, GV cần chọn câu hỏi phù hợp trong số 7 câu hỏi được SGK gợi ý để nêu cho HS trao đổi, thảo luận. Điều này sẽ tạo nên sự kết nối tốt với những gì đã được HS chuẩn bị ở nhà. GV có thể tách câu hỏi có sẵn thành nhiều câu hỏi nhỏ hoặc đặt thêm những câu hỏi có nội dung mới. Sau đây là một số gợi ý về việc sử dụng các câu hỏi trong SGK:
Câu hỏi 1 Câu hỏi không yêu cầu tóm lược thông tin về tiểu sử Hồ Chí Minh đã được nêu trong SGK, tuy vậy, GV vẫn cần cho HS nhắc lại một số mốc quan trọng trong
Câu hỏi 1
Câu hỏi không yêu cầu tóm lược thông tin về tiểu sử Hồ Chí Minh đã được nêu trong SGK, tuy vậy, GV vẫn cần cho HS nhắc lại một số mốc quan trọng trong cuộc đời của Người trước khi các em bộc lộ những cảm xúc, suy nghĩ cá nhân về nội dung trình bày ở phần I của văn bản. - GV không nên áp đặt ý kiến chủ quan của mình nhưng vẫn cần có một số gợi ý cần thiết, vì ở đây không chỉ có vấn đề nội dung phải trả lời mà còn có vấn đề cách trả lời, cách phát biểu cảm xúc, suy nghĩ. Các câu hỏi có thể nêu: Em hiểu như thế nào về mục đích cuộc đời của Bác? Bác thực hiện mục đích đó trong hoàn cảnh lịch sử nào? Điều gì ở con người Hồ Chí Minh gây được ấn tượng sâu đậm nhất đối với em? Theo em, từ ngữ nào nên được dùng để khái quát về tính chất cuộc đời hoạt động cách mạng của Hồ Chí Minh? Vì sao nhân dân ta và nhân dân thế giới đã dành cho Bác những tình cảm đặc biệt? Công lao lớn nhất của Bác đối với dân tộc Việt Nam là gì? Những câu thơ hoặc lời ca khúc nào có thể nói hộ được cảm xúc, suy nghĩ của em về Bác?
Câu hỏi 2
Câu hỏi này muốn HS có cái nhìn tổng hợp về các thông tin được trình bày ở cả hai phần chính của văn bản. Nó có thể được nêu lên vào thời điểm cuối giờ học hoặc sau khi GV hướng dẫn HS tìm hiểu xong nội dung tiểu mục Thành tựu sáng tác. - GV có thể cho HS trao đổi nhóm trước khi trao đổi chung ở quy mô toàn lớp học về câu hỏi này. Một số điểm cần đạt được sự thống nhất: + Sự nghiệp cách mạng và sự nghiệp văn học của Hồ Chí Minh không tách rời nhau. Đây là hiện tượng "hai trong một". + Hồ Chí Minh sáng tác văn học để phục vụ cho hoạt động cách mạng; có thể xem sáng tác văn học cũng là một nội dung hoạt động cách mạng cụ thể. + Sự nghiệp cách mạng của Hồ Chí Minh rất vĩ đại và do vậy, sự nghiệp văn học cũng đạt được một tầm vóc lớn tương xứng, xét từ đặc điểm loại hình của nó. + Cuộc đời hoạt động cách mạng phong phú của Hồ Chí Minh đã cung cấp chất liệu dồi dào cho những sáng tác của Người, khiến những sáng tác đó cũng có được sự đa dạng và sức hấp dẫn đặc biệt.
Câu hỏi 3
Câu hỏi có hai ý. Với ý đầu, GV nhắc HS đọc lại đoạn văn cuối trong SGK Ngữ văn 12, tập hai, tr. 8 để xác định câu trả lời. GV có thể phân tích thêm: Xét toàn bộ lịch sử văn học, có thể thấy, mỗi khi văn học chuyển giai đoạn (để thích ứng với sự vận động không ngừng của đời sống xã hội), người ta thường bắt gặp nhiều tác phẩm (hay ít nhất là những câu thơ, câu văn, lời nói) mang tính tuyên ngôn, vạch lộ trình phía trước cho sáng tác, báo hiệu một xu hướng tìm tòi mới hay sự ra đời của một dòng văn học mới. Có thể xem đây là một hiện tượng mang tính quy luật. Việc Hồ Chí Minh nhiều lần nêu công khai quan điểm sáng tác của mình cho thấy chủ trương "đưa nghệ thuật vào chính trị" có ý nghĩa lớn như thế nào trong cuộc cách mạng giải phóng dân tộc, giai cấp, mà khi đó, việc vận động quần chúng được xác định là nhiệm vụ trung tâm. Khi nêu quan điểm sáng tác như vậy, Hồ Chí Minh đã nhìn thấy trước sự ra đời và phát triển của một xã hội mới, mà trong xã hội đó, văn học
nghệ thuật phải đảm nhiệm những sứ mệnh khác hơn để đóng góp được nhiều nhất, trực tiếp nhất cho cuộc cách mạng đang diễn ra. - Ý sau của câu hỏi tương đối khó,
nghệ thuật phải đảm nhiệm những sứ mệnh khác hơn để đóng góp được nhiều nhất, trực tiếp nhất cho cuộc cách mạng đang diễn ra. - Ý sau của câu hỏi tương đối khó, cần được dành thời gian thích đáng để trao đổi, thảo luận. GV cần hướng HS tới các nhận thức cơ bản sau: + Quan điểm sáng tác của Hồ Chí Minh vừa có ý nghĩa soi tỏ bản chất cách mạng của những tác phẩm được Người viết ra, vừa có ý nghĩa định hướng phát triển cho cả một nền văn học phục vụ sự nghiệp xây dựng xã hội mới. + Trong thực tế, quan điểm sáng tác của Hồ Chí Minh đã được đồng nhất với quan điểm sáng tác chung của cả nền văn nghệ cách mạng. Nhiều nhà thơ, nhà văn đã nhắc lại nội dung quan điểm sáng tác đó theo những hình thức khác nhau, tạo nên nền tảng tư tưởng - nhận thức vững chắc cho toàn bộ sáng tác hướng về cách mạng.
Câu hỏi 4
Câu hỏi này muốn HS có được cái nhìn bao quát về sự nghiệp văn học của Hồ Chí Minh,
từ số lượng tác phẩm, sự đa dạng về thể loại đến tầm cao tư tưởng và phẩm chất nghệ thuật. - Để giúp HS trả lời được ý hỏi thứ nhất, GV có thể gợi ý: Theo em, một di sản văn học được đánh giá là "lớn" phải đảm bảo những tiêu chí gì? Tầm vóc lớn lao của di sản văn học Hồ Chí Minh được biểu hiện ở những khía cạnh nào? - Với ý hỏi thứ hai và thứ ba, GV nhắc HS tìm trong văn bản những câu văn sát với nội dung câu hỏi. Các ý trả lời cần có:
Trong di sản văn học Hồ Chí Minh, bộ phận văn chính luận chiếm ưu thế về số lượng. + Sự vượt trội về số lượng của văn chính luận cho thấy hoạt động sáng tác của Hồ Chí Minh luôn nhằm tới mục đích phục vụ công cuộc cách mạng, đáp ứng những nhu cầu bức thiết của đời sống. Để làm nghệ thuật "thuần tuý", người ta cần có nhiều thời gian và điều kiện, do vậy, trước những tình huống gai góc, căng thẳng, đặc biệt của cuộc đấu tranh cách mạng, việc Hồ Chí Minh dùng văn chính luận để ứng chiến kịp thời là một sự lựa chọn tự nhiên, tất yếu. Các sự kiện càng diễn ra dồn dập thì số lượng tác phẩm cũng theo đó mà tăng lên.
Câu hỏi 5
Với câu hỏi này, HS phải huy động những hiểu biết trực tiếp hoặc gián tiếp về đời sống để có được câu trả lời phù hợp. - Do vốn sống của HS còn mỏng nên GV cần khơi gợi: Em hãy kể tên một số tác phẩm tiêu biểu nhất của Hồ Chí Minh và cho biết những tác phẩm đó được viết ra trong hoàn cảnh nào, khi công bố đã được nhân dân mong chờ, đón nhận ra sao. (Một số tác phẩm cần được kể đến: Tuyên ngôn Độc lập, Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến, Không có gì quý hơn độc lập, tự do, Nhật kí trong tù, các bài thơ chúc Tết,…)
Câu hỏi 6
Câu này đòi hỏi HS phải bám sát văn bản (tiểu mục Phong cách nghệ thuật) để tìm được những câu văn có nội dung lí giải tính đa dạng của phong cách nghệ thuật Hồ Chí Minh.
GV cho HS làm việc cặp đôi để phát hiện những câu văn phù hợp.
GV cần phân tích thêm: + Sự đa dạng của phong cách nghệ thuật có mối liên hệ tất yếu với tài năng nghệ thuật bẩm sinh của tác giả - một con người nhạy cảm với c
GV cần phân tích thêm: + Sự đa dạng của phong cách nghệ thuật có mối liên hệ tất yếu với tài năng nghệ thuật bẩm sinh của tác giả - một con người nhạy cảm với cái đẹp và với các vấn đề của đời sống, hiểu sâu sắc tính đặc thù của nghệ thuật, có khả năng làm chủ các ngôn ngữ được sử dụng (tiếng Việt, tiếng Hoa - chữ Hán, tiếng Pháp), nắm vững đặc trưng của nhiều thể loại văn học,… + Sự đa dạng của phong cách nghệ thuật một phần lớn phụ thuộc vào quan điểm sáng tác vốn quan tâm đặc biệt đến mục đích viết và đối tượng tiếp nhận (tuỳ từng mục đích viết và đối tượng tiếp nhận cụ thể mà chọn nội dung viết và cách viết phù hợp, từ đó cho ra đời những tác phẩm mang phong cách rất khác nhau). + Sự đa dạng của phong cách nghệ thuật còn bị quy định bởi mức độ từng trải trong cuộc đời hoạt động cách mạng của tác giả (chính trải nghiệm cuộc đời phong phú đã cung cấp chất liệu dồi dào cho sáng tác, khiến các tác phẩm được viết ra luôn tươi mới, chứa đựng
những vẻ đẹp không lặp lại).
Câu hỏi 7
Câu này có mối quan hệ tiếp nối với câu trên, muốn xác định khả năng tác động, gây ảnh hưởng của văn học cách mạng, cụ thể là của thơ văn Hồ Chí Minh đối với thế hệ trẻ ngày nay. - GV cần lưu ý tới yêu cầu cần đạt sau đây của bài học để định hướng cách nghĩ cho HS: "biết đặt tác phẩm trong bối cảnh sáng tác và bối cảnh hiện tại để có đánh giá phù hợp". Sau khi cho HS tự do phát biểu cảm nhận và đánh giá của mình, GV có thể phân tích thêm: + Tài năng văn học là một sự thật khách quan, được thể hiện qua phẩm chất nghệ thuật cao của tác phẩm. Hồ Chí Minh đã có những tác phẩm đạt đến trình độ mẫu mực của nghệ thuật truyện ngắn, nghệ thuật thơ. Nhiều tác phẩm văn chính luận tiêu biểu của Người (không phải văn chương thuần tuý) cũng cho thấy một trình độ bậc thầy về cách sử dụng ngôn ngữ nói chung, tiếng Việt nói riêng. + Phẩm chất nghệ sĩ của Hồ Chí Minh không có điều kiện bộc lộ đầy đủ do sự nghiệp chính của Người là sự nghiệp cách mạng. Tuy nhiên, qua những bài thơ trữ tình và truyện ngắn tiêu biểu của Người, hoàn toàn có thể nói Hồ Chí Minh là một nghệ sĩ đích thực (khả năng hội hoạ của Người cũng là một điều đáng chú ý nhưng hiện chưa được nhiều người nghiên cứu).
Hoạt động 4 Kết nối đọc - viết
GV dành thời gian (khoảng 10 phút) cuối giờ học cho HS viết đoạn văn. Có thể nêu một đề tài khác, tuỳ thuộc vào tình hình thực tế. - Nếu vẫn chọn đề tài mà SGK đã gợi ý, GV nhắc HS cần trình bày điều thu hoạch được (có kèm việc giải thích lí do) bằng những ý mang tính khái quát, tránh liệt kê dài dòng các thông tin cụ thể.
GV có thể đọc nhanh và nêu nhận xét về một số đoạn văn đã được HS kịp thời hoàn thành ngay trên lớp.
Tuyên ngôn Độc lập (Hồ Chí Minh) Hồ Chí Minh 1. Phân tích yêu cầu cần đạt – HS nhận biết và đánh giá được giá trị lịch sử, văn hoá to lớn của Tuyên ngôn Độc lập
Tuyên ngôn Độc lập (Hồ Chí Minh)
Hồ Chí Minh
1. Phân tích yêu cầu cần đạt
– HS nhận biết và đánh giá được giá trị lịch sử, văn hoá to lớn của Tuyên ngôn Độc lập.
– HS nhận biết và phân tích được những đặc sắc nghệ thuật của văn bản.
– HS biết trân trọng, bảo vệ, giữ gìn nền độc lập của nước Việt Nam – một thành quả vĩ đại mà nhiều thế hệ người Việt Nam đã đổ bao xương máu mới giành lại được.
2. Gợi ý tổ chức hoạt động dạy học
Hoạt động 1 Khởi động
– SGK gợi ý hai câu mà GV có thể sử dụng để khởi động giờ học. Câu thứ nhất đòi hỏi HS kết nối văn bản sắp học với các văn bản đã học xoay quanh chủ đề “tuyên ngôn độc lập”. Câu thứ hai yêu cầu HS huy động kiến thức về lịch sử (đã học) để có thể lĩnh hội tốt hơn những điều sẽ phân tích về giá trị lịch sử – văn hoá của Tuyên ngôn Độc lập. Như vậy, cả hai câu đều giúp GV thực hiện tốt việc khởi động theo đúng tính chất và chức năng của hoạt động này.
– GV hoàn toàn có thể chọn một hình thức khởi động khác nhưng không nên làm loãng sự chú ý của HS về đối tượng sẽ được tập trung tìm hiểu trong giờ học. Chẳng hạn, việc gây ấn tượng chung chung về tác giả là ít phù hợp, không tạo được sự khác biệt với hoạt động khởi động khi học văn bản 1.
Hoạt động 2 Đọc văn bản
– GV có thể cho HS nghe băng ghi âm giọng đọc Tuyên ngôn Độc lập của Hồ Chí Minh trước khi mời 1 – 2 em “thể hiện” văn bản này.
– Cần lưu ý về giọng đọc: trang nghiêm, rành rẽ, dứt khoát, hùng hồn; nhấn giọng ở các điệp từ, điệp ngữ và ở phần cuối những câu thể hiện thái độ khẳng định đanh thép.
– GV lưu ý HS cần đọc đúng (trên cơ sở hiểu đúng) một số cụm từ như: Lâm thời Chính phủ (tên chính phủ được gọi theo cú pháp Hán ngữ), Chính phủ Lâm thời (tên chính phủ được gọi theo cú pháp tiếng Việt), nước Việt Nam Cộng hoà Dân chủ (không phải quốc hiệu chính thức mà là tên nước quen thuộc kết hợp với hai từ chỉ tính chất của nhà nước mới), nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà (quốc hiệu của nước Việt Nam mới sau ngày Cách mạng tháng Tám thành công).
Hoạt động 3 Khám phá văn bản
– GV dành thời gian (khoảng 5 – 7 phút) để HS tìm hiểu infographic biểu thị hoàn cảnh ra đời của Tuyên ngôn Độc lập và đọc đoạn đánh giá khái quát về văn kiện lịch sử đặc biệt này
trong SGK. Nhắc các em chú ý các thông tin đề cập những thách thức phía trước đối với nước Việt Nam mới, làm cơ sở cho việc khám phá nét đặc thù trong cách tổ c
trong SGK. Nhắc các em chú ý các thông tin đề cập những thách thức phía trước đối với nước Việt Nam mới, làm cơ sở cho việc khám phá nét đặc thù trong cách tổ chức văn bản và triển khai lập luận của tác giả. - Nếu có điều kiện, GV có thể cung cấp thông tin về một số điểm khác biệt nhỏ giữa các văn bản Tuyên ngôn Độc lập đang được lưu hành (về nhan đề, chính tả và một số từ ngữ, kể cả sự xuất hiện hay không xuất hiện của hô ngữ"Hỡi đồng bào cả nước",…). Văn bản chọn đưa vào SGK dẫn từ cuốn Hồ Chí Minh toàn tập, tập 4 (1945 - 1946), NXB Chính trị Quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, tr. 1 - 3, mà nguồn của nó là bản in trên báo Cứu quốc - Cơ quan tuyên truyền, tranh đấu của Việt Minh, số 36, ra ngày 5/9/1945 (đây là tờ báo đầu tiên đăng Tuyên ngôn Độc lập của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà trong những ngày sôi động của lịch sử đất nước). Trong bản in trên báo Cứu quốc và cuốn Hồ Chí Minh toàn tập, tập 4 nói trên, cuối văn bản còn có phần kí tên, ghi đủ danh tính các thành viên trong Lâm thời Chính phủ của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, gồm: Hồ Chí Minh - Chủ tịch, Trần Huy Liệu, Võ Nguyên Giáp, Chu Văn Tấn, Dương Đức Hiền, Nguyễn Văn Tố, Nguyễn Mạnh Hà, Cù Huy Cận, Phạm Ngọc Thạch,
Nguyễn Văn Xuân, Vũ Trọng Khánh, Phạm Văn Đồng, Đào Trọng Kim, Vũ Đình Hoè, Lê Văn Hiến. - SGK nêu 8 câu hỏi để định hướng hoạt động tìm hiểu, khám phá văn bản của GV và HS. Số lượng câu hỏi tuy nhiều nhưng đây là lựa chọn hợp lí do tính chất đặc biệt quan trọng của văn bản. Khi hướng dẫn dạy học, tuỳ theo tình hình thực tế và theo cảm quan, ý đồ sư phạm riêng, GV có thể thay đổi trật tự của một số câu hỏi, triển khai câu hỏi chính thành nhiều câu hỏi phụ hoặc tách, ghép các ý hỏi trong từng câu nhằm giúp HS đọc hiểu văn bản thuận lợi hơn. Lưu ý: GV có thể hướng dẫn HS phân tích văn bản dựa theo bố cục hoặc theo từng vấn đề (có gợi ý ở sau). Dù theo cách nào thì cũng không nên bỏ qua những câu hỏi được nêu trong SGK.
Câu hỏi 1
Đây là câu hỏi cơ bản của hoạt động phân tích một văn bản đọc trong SGK, càng cần thiết phải đặt ra với những văn bản thuộc loại tuyên ngôn vốn có cách tổ chức đặc thù, chuẩn mực. Toàn bộ nội dung hoạt động xoay quanh câu hỏi này có thể được đặt tiêu đề: Tìm hiểu bố cục của văn bản. - Sau khi cho HS trả lời, GV cần phân tích sâu thêm một số điểm cần thiết để đi đến thống nhất ý kiến về bố cục văn bản: + Phần 1 (từ đầu đến "không ai chối cãi được."): Trích dẫn một số luận điểm then chốt về quyền con người từ hai bản tuyên ngôn quan trọng bậc nhất trong lịch sử thế giới cận đại để làm chỗ dựa pháp lí cho bản Tuyên ngôn Độc lập của nước Việt Nam mới. + Phần 2 (từ "Thế mà hơn tám mươi năm nay" đến "vô cùng tàn nhẫn."): Tố cáo những hành động tội ác của thực dân Pháp đối với nhân dân và đất nước Việt Nam - những hành động "trái hẳn với nhân đạo và chính nghĩa". + Phần 3 (từ "Mùa thu năm 1940" đến "tự tay Pháp."): Vạch trần vai trò tệ hại của thực dân Pháp trong việc "bảo hộ" đất nước Việt Nam. + Phần 4 (từ "Pháp chạy" đến "Dân tộc đó phải được độc lập!"): Tuyên bố thoát li hẳn quan hệ thực dân với Pháp và kêu gọi thế giới công nhận quyền độc lập của nước Việt Nam.
Phần 5 (từ "Vì những lẽ trên" đến hết): Tuyên bố quyền hưởng tự do, độc lập của nhân dân, đất nước Việt Nam và thể hiện ý chí của toàn dân tộc quyết tâm bảo vệ
Phần 5 (từ "Vì những lẽ trên" đến hết): Tuyên bố quyền hưởng tự do, độc lập của nhân dân, đất nước Việt Nam và thể hiện ý chí của toàn dân tộc quyết tâm bảo vệ quyền tự do, độc lập vừa giành được.
Lưu ý: Có thể gộp phần 2 và phần 3, phần 4 và phần 5 lại với nhau.
Câu hỏi 2
Phần đầu câu hỏi mang tính chất gợi ý và định hướng. Để trả lời ý hỏi sau, HS cần bám sát phần 1 của văn bản, vừa phải nêu được các luận điểm mà tác giả rút ra từ hai bản tuyên ngôn, vừa phải phân tích cách tác giả diễn giải, mở rộng các luận điểm đó. Nội dung phân tích văn bản gắn với việc trả lời câu hỏi này có thể được đặt tiêu đề: Cơ sở pháp lí - đạo lí của "Tuyên ngôn Độc lập".
Để HS nhận thức được sâu sắc về vấn đề câu hỏi nêu lên, GV cần gợi cho các em nhớ lại phần đầu của các tác phẩm Nam quốc sơn hà, Bình Ngô đại cáo (đã học). Ở đó, luôn có sự tuyên bố chỗ dựa pháp lí của những nội dung sẽ được trình bày, triển khai trong văn bản.
GV có thể nêu một số câu hỏi gợi mở: Việc chọn trích dẫn hai bản tuyên ngôn của nước Mỹ và của Cách mạng Pháp có ý nghĩa như thế nào? Tinh thần cốt lõi của hai đoạn văn được tác giả trích dẫn là gì? Nó có mối liên hệ ra sao với với nội dung bản "Tuyên ngôn Độc lập"do Hồ Chí Minh soạn thảo? Tác giả đã diễn giải về các luận điểm trong hai đoạn trích dẫn như thế nào để chúng có thể được nhìn nhận là cơ sở pháp lí của "Tuyên ngôn Độc lập"?
Từ những ý kiến phát biểu, trao đổi của HS, GV cần giúp các em thấy được: + Ngay từ phần đầu bản Tuyên ngôn Độc lập, Hồ Chí Minh đã viện dẫn những "lẽ phải không ai chối cãi" được nêu trong hai văn kiện có tầm vóc lớn trong lịch sử nhân loại. Điều này cho thấy những nội dung sẽ được tác giả đề cập sau đó có chỗ dựa pháp lí và đạo lí vững chắc, khi cách mạng Việt Nam đang trở thành một phần tất yếu của cách mạng và lịch sử thế giới, đang phát triển theo con đường tiến bộ mà cả nhân loại hướng về.
Theo suy luận logic, tác giả đã "suy rộng" nội dung luận điểm có trong Tuyên ngôn Độc lập năm 1776 của nước Mỹ, từ đó, kết nối hai vấn đề: quyền sống của mọi con người cá nhân và "quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do"của mọi dân tộc. Nếu đã thừa nhận quyền sống của mọi con người cá nhân thì ắt phải thừa nhận quyền tự quyết của mọi dân tộc, không thể có ngoại lệ.
Như vậy, ở phần đầu bản Tuyên ngôn Độc lập, Hồ Chí Minh đã triển khai một nội dung cực kì hệ trọng làm nền tảng tư tưởng cho toàn bộ lập luận phía sau. Điều này khiến tác phẩm có được một cấu trúc chuẩn mực, gần gũi với những tác phẩm mang tính tuyên ngôn khác trong lịch sử Việt Nam và lịch sử thế giới.
Câu hỏi 3
Câu hỏi không chỉ yêu cầu HS nêu hoàn cảnh ra đời của văn bản mà còn đòi hỏi các em đánh giá được tầm bao quát của tác giả về đối tượng tiếp nhận bản Tuyên ngôn Độc lập, nắm được tình thế của đất nước ta khi Cách mạng tháng Tám vừa thành công. Để trả lời đúng câu hỏi, HS phải nhớ lại nội dung đã học về quan điểm sáng tác của Hồ Chí Minh, đọc lại phần giới thiệu tác phẩm trong SGK, tích cực huy động những kiến thức lịch sử đã học về cách mạng
Việt Nam trong giai đoạn Tổng khởi nghĩa giành chính quyền và đối phó với thù trong giặc ngoài. Sự ý thức của tác giả về các đối tượng tiếp nhận bản "Tuyên ngôn
Việt Nam trong giai đoạn Tổng khởi nghĩa giành chính quyền và đối phó với thù trong giặc ngoài. Sự ý thức của tác giả về các đối tượng tiếp nhận bản "Tuyên ngôn Độc lập" là tiêu đề có thể đặt cho toàn bộ nội dung phân tích có liên quan đến việc trả lời câu hỏi này. - GV cho HS thảo luận về đối tượng tiếp nhận Tuyên ngôn Độc lập. Một số câu hỏi gợi mở có thể nêu lên: Đối tượng tiếp nhận chính mà bản "Tuyên ngôn Độc lập" hướng tới là ai? Em căn cứ vào đâu mà xác định như vậy? Ngoài đối tượng tiếp nhận chính đó, văn bản còn nhằm vào đối tượng nào khác? Việc nghĩ tới đối tượng này đã chi phối cách tác giả triển khai các luận điểm như thế nào? - GV cho HS trao đổi, phân tích về tình thế lịch sử của đất nước ta đúng vào thời điểm Tuyên ngôn Độc lập được công bố cũng như sự ý thức sâu sắc của tác giả về điều này. - Do vấn đề câu hỏi đưa ra tương đối khó nên GV cần định hướng việc trao đổi, thảo luận, sau đó nêu một số ý khái quát: + Đối tượng tiếp nhận bản Tuyên ngôn Độc lập không chỉ là "đồng bào cả nước" mà còn
là nhân dân thế giới ("… chúng tôi… trịnh trọng tuyên bố với thế giới rằng"). Bên cạnh đó, cần phải nói tới các nước thuộc phe Đồng minh chống phát xít, nói tới các thế lực thực dân, đế quốc không muốn thừa nhận quyền độc lập của nước Việt Nam và đang âm mưu hỗ trợ thực dân Pháp quay lại "chiếm nước ta một lần nữa"(Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến, 1946). + Vào thời điểm bản Tuyên ngôn Độc lập ra đời, cách mạng Việt Nam tuy đạt được những thắng lợi to lớn nhưng cũng phải đối mặt với rất nhiều khó khăn: thù trong giặc ngoài câu kết với nhau hòng tiêu diệt lực lượng Việt Minh và đất nước đang đứng trước nguy cơ bị thực dân Pháp xâm lược lần nữa. + Nhìn chung, khi viết Tuyên ngôn Độc lập, tác giả đã nhìn ra rất nhiều tương quan, thấu suốt tình hình hiện tại của cuộc cách mạng, hình dung rõ rệt về những biến cố có thể xảy ra với đất nước trong tương lai gần. Chính điều này khiến tác phẩm ngoài việc tuyên bố nền độc lập của Việt Nam còn có việc chuẩn bị tinh thần cho toàn dân tộc sẵn sàng đương đầu với những thử thách lớn ở phía trước.
Câu hỏi 4
Giữa câu này và câu 2 có mối liên hệ tiếp nối. Nếu sử dụng, GV có thể tách nội dung đầu tiên của nó để ghép với câu 2.
Với phần sau của câu hỏi, GV cần lưu ý HS một số điểm quan trọng: + Tác giả Tuyên ngôn Độc lập có kiến văn sâu rộng, am hiểu lịch sử thế giới, không hề tỏ thái độ định kiến đối với các nền văn hoá khác mà ngược lại, biết chắt lọc để tiếp thu những gì tinh tuý của văn hoá nhân loại. + Tác giả thấu hiểu sự tiến bộ của một số tư tưởng lớn đang chi phối lịch sử thế giới trong thời hiện đại và khẳng định sức hút hiển nhiên của lí tưởng nhân quyền vốn được thể hiện trong hai bản tuyên ngôn nổi tiếng mà Người trích dẫn. + Thông qua việc trích dẫn hai bản tuyên ngôn, tác giả đã trực tiếp chứng minh cho thế giới thấy tính chính nghĩa của cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc mà nhân dân ta đang thực hiện. Bên cạnh đó, tác giả cũng gián tiếp bày tỏ thái độ thân thiện với nước Mỹ (Có nhiều tư liệu
lịch sử cho biết vào thời điểm trước và sau khi nhân dân ta giành được chính quyền, Hồ Chí Minh và những người lãnh đạo Việt Minh đã thiết lập được mối quan hệ
lịch sử cho biết vào thời điểm trước và sau khi nhân dân ta giành được chính quyền, Hồ Chí Minh và những người lãnh đạo Việt Minh đã thiết lập được mối quan hệ khá tốt đẹp, ủng hộ lẫn nhau với nước Mỹ; trước khi viết Tuyên ngôn Độc lập của nước Việt Nam mới, Người đã đề nghị một người bạn Mỹ gửi cho mình bản Tuyên ngôn Độc lập năm 1776 của nước Mỹ để tham khảo).
Câu hỏi 5
Câu hỏi này muốn HS phân tích mở rộng một số ý đã tìm được khi thực hiện yêu cầu của câu 1. Toàn bộ kết quả phân tích ở đây có thể được đặt dưới tiêu đề: Nội dung tố cáo thực dân Pháp trong "Tuyên ngôn Độc lập" và nghệ thuật thể hiện nội dung đó. - GV cho HS làm việc nhóm để thảo luận về các vấn đề được câu hỏi nêu lên. Có thể chia nội dung câu hỏi ra thành từng phần nhỏ để tạo nên những chủ đề thảo luận không trùng lặp cho các nhóm. - Sau khi cho đại diện các nhóm trình bày kết quả thảo luận, GV hướng các em tới các
ý chính:
Tác giả đã vạch trần sự xảo trá trong luận điệu "khai hoá" mà thực dân Pháp thường rêu rao, thông qua việc nêu những bằng chứng cụ thể về tội ác của chúng trên mọi lĩnh vực quan trọng của đời sống xã hội: chính trị, kinh tế, văn hoá. Sự kết hợp giữa cụ thể và khái quát như vậy đã khiến cho lí lẽ của bản tuyên ngôn ở phần này có tính thuyết phục rất cao. + Khi lật tẩy thực chất của vai trò "bảo hộ" mà thực dân Pháp tự nhận, tác giả đã đưa ra hai chứng cứ điển hình: Pháp"quỳ gối" trước Nhật, mở cửa cho Nhật vào nước ta từ mùa thu năm 1940 và sau đó "bỏ chạy" khi Nhật quyết định đảo chính vào ngày 9/3/1945. Không chỉ thế, đứng trên lập trường nhân đạo, tác giả đã làm nổi bật sự đối lập như nước với lửa giữa lực lượng Việt Minh và thực dân Pháp (trong khi Việt Minh cứu giúp nhiều người Pháp lúc họ bị quân Nhật truy đuổi thì thực dân Pháp, lúc bỏ chạy, đã nhẫn tâm giết số đông tù chính trị của ta ở Yên Bái, Cao Bằng). + Từ những lí lẽ và dẫn chứng mang tính chất bóc trần, tố cáo đã phân tích ở trên, tác giả cho thấy việc Lâm thời Chính phủ của nước Việt Nam mới "tuyên bố thoát li hẳn quan hệ thực dân với Pháp, xoá bỏ hết những hiệp ước mà Pháp đã kí về nước Việt Nam, xoá bỏ tất cả mọi đặc quyền của Pháp trên đất nước Việt Nam" là điều có tính tất yếu. Rõ ràng, tác giả đã lập luận hết sức chặt chẽ. + Khi tố cáo tội ác của thực dân Pháp và vạch rõ sự đê hèn của chúng, tác giả đã sử dụng lời văn đầy tính biểu cảm: đại từ"chúng" chỉ thực dân Pháp được sử dụng nhiều lần thể hiện thái độ căm phẫn và khinh ghét cao độ; những hình ảnh như "tắm các cuộc khởi nghĩa của ta trong những bể máu", "bọn thực dân Pháp quỳ gối đầu hàng", "chúng đã"bán" nước ta hai lần cho Nhật",… đã làm cho những hành động tàn bạo cũng như sự bạc nhược của kẻ thù hiện hình rõ nét, sống động; điệp ngữ "sự thực" khiến cho câu văn tràn đầy khí lực, gây ấn tượng sâu đậm cho người nghe, người đọc;… Nhìn chung, sự xuất hiện khá dày của các yếu tố biểu cảm không làm lấn át tính duy lí của hệ thống luận điểm, ngược lại, càng làm cho hệ thống luận điểm trở nên rõ nét hơn để có thể tác động mạnh mẽ vào cả cảm xúc và lí trí của người tiếp nhận.
Câu hỏi 6 Câu hỏi bám sát một yêu cầu cần đạt của bài học đối với hoạt động thực hành tiếng Việt, mà nội dung của hoạt động thực hành này không thể bỏ qua việc
Câu hỏi 6
Câu hỏi bám sát một yêu cầu cần đạt của bài học đối với hoạt động thực hành tiếng Việt, mà nội dung của hoạt động thực hành này không thể bỏ qua việc khai thác ngữ liệu từ văn bản Tuyên ngôn Độc lập. - GV cho HS đọc lại đoạn giới thuyết về tính khẳng định, phủ định trong văn bản nghị luận ở phần Tri thức ngữ văn, sau đó trao đổi nhóm về các yêu cầu của câu hỏi (chỉ ra các biện pháp; phân tích mối tương quan giữa các nội dung khẳng định và phủ định). - Khi soạn kế hoạch bài dạy, GV cần xem trước khung "nhận biết" của phần Thực hành tiếng Việt để nắm được một số biện pháp làm tăng tính khẳng định, phủ định trong văn bản nghị luận, từ đó, soi chiếu các kiến thức này vào văn bản Tuyên ngôn Độc lập để hình thành những ý cần nêu được theo yêu cầu của câu hỏi. Lưu ý: GV có thể cho HS lướt nhanh qua câu hỏi này vì các bài tập trong phần Thực hành tiếng Việt cũng khai thác nhiều ngữ liệu từ văn bản Tuyên ngôn Độc lập.
Câu hỏi 7
Câu này đòi hỏi HS phát hiện những thông điệp ngầm ẩn của văn bản, bên cạnh những thông điệp được tuyên bố rõ ràng trên bề mặt ngôn từ. - Gắn với câu hỏi này, có thể đặt tiêu đề cho nội dung phân tích là Việc thể hiện ý chí, sức mạnh Việt Nam trong "Tuyên ngôn Độc lập". - GV gợi cho HS nhớ đến những sự kiện lịch sử đã xảy ra sau ngày nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà tuyên bố quyền độc lập; đối chiếu những sự kiện đó với những gì được trình bày trong văn bản nhằm phát hiện các nội dung mang tính chất cảnh báo một số thế lực đen tối (thực dân, đế quốc) đang âm mưu tước đoạt thành quả của Cách mạng tháng Tám. - GV nhắc HS tìm những câu văn tiêu biểu thể hiện nội dung cảnh báo để phân tích, hướng tới các ý khái quát sau: + Sự cảnh báo toát lên qua việc triển khai lập luận về vai trò "bảo hộ" của thực dân Pháp đối với nước Việt Nam. Khi đã chứng minh được "Sự thực là dân ta đã lấy lại nước Việt Nam tự tay Nhật, chứ không phải tự tay Pháp.", tác giả ngầm nói rằng thực dân Pháp tuyệt đối không còn đủ tư cách để quay lại Việt Nam, đòi thống trị Việt Nam như trước. + Sự cảnh báo còn toát lên qua đoạn cuối của văn bản, khi tác giả khẳng định ý chí và sức mạnh của toàn thể nhân dân Việt Nam "quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mệnh và của cải" để bảo vệ quyền tự do và độc lập vừa giành được. + Để tác động vào cách nhìn của cộng đồng quốc tế về nước Việt Nam mới, dẫn đến việc "công nhận quyền độc lập của dân Việt Nam", tác giả đã đưa ra những bằng chứng hiển nhiên về sự sát cánh của lực lượng Việt Minh bên quân đội Đồng minh trên mặt trận chống chủ nghĩa phát xít, về thực lực của tổ chức Việt Minh khi lãnh đạo nhân dân vùng lên "đánh đổ các xiềng xích thực dân", "đánh đổ chế độ quân chủ" để"lập nên chế độ Dân chủ Cộng hoà".
Câu hỏi 8
Câu này đòi hỏi HS phải thể hiện được khả năng đưa ra cái nhìn tổng quan về văn bản đọc; biết tổng hợp các tư liệu phân tích phong phú bằng những câu văn ngắn gọn, súc tích;
đặc biệt, biết đặt văn bản vào bối cảnh rộng lớn của lịch sử, văn hoá dân tộc để có thể đánh giá được giá trị của nó một cách thuyết phục. – Cùng với việc hướng
đặc biệt, biết đặt văn bản vào bối cảnh rộng lớn của lịch sử, văn hoá dân tộc để có thể đánh giá được giá trị của nó một cách thuyết phục.
– Cùng với việc hướng dẫn trả lời câu hỏi này, GV có thể ghi lên bảng tiêu đề: Khái quát về những giá trị nổi bật của “Tuyên ngôn Độc lập”.
– GV nhắc HS chú ý đến ba từ khoá của câu hỏi (vị thế, trí tuệ, tình cảm) để có thể nêu được các ý đánh giá một cách rành mạch.
Hoạt động 4 Kết nối đọc – viết
– GV dành thời gian (khoảng 10 phút) cuối giờ học cho HS viết đoạn văn theo đề tài đã gợi ý.
– Nhắc HS tránh cách viết công thức, mòn sáo và biết tổ chức đoạn văn theo những gì đã học trước đó.
– GV có thể đọc và chấm nhanh một số đoạn văn đã được HS hoàn thành ngay tại lớp.
Văn bản 3, 4
Mộ
(Chiều tối)
Nguyên tiêu
(Rằm tháng Giêng)
Hồ Chí Minh
1. Phân tích yêu cầu cần đạt
– HS vận dụng được những hiểu biết về cuộc đời của Hồ Chí Minh và phong cách thơ ca của tác giả để đọc hiểu các tác phẩm thơ chữ Hán của Người.
– HS nhận diện, phân tích, đánh giá được một số yếu tố trong thơ trữ tình viết bằng chữ Hán của Hồ Chí Minh: hoàn cảnh và cảm hứng sáng tác, cấu tứ, biện pháp tu từ,…
– HS trân trọng tài năng, đồng cảm với vẻ đẹp tâm hồn của nhà thơ đồng thời là người chiến sĩ.
2. Gợi ý tổ chức hoạt động dạy học
Hoạt động 1 Khởi động
– GV dựa vào những câu hỏi gợi ý trong SGK để khởi động giờ học. Cũng có thể lựa chọn những hình thức khác nhằm định hướng cho HS hiểu được phong cách, đời sống tâm hồn phong phú của nhà thơ được thể hiện trong tác phẩm. Lựa chọn một vài gợi ý dưới đây để tổ chức cho HS thực hiện hoạt động:
Hãy chia sẻ những hiểu biết của em về các sáng tác thơ ca viết bằng chữ Hán của Hồ Chí Minh và việc Người sáng tác thơ ca bằng chữ Hán. + Trong lịch sử Việt Nam
Hãy chia sẻ những hiểu biết của em về các sáng tác thơ ca viết bằng chữ Hán của Hồ Chí Minh và việc Người sáng tác thơ ca bằng chữ Hán. + Trong lịch sử Việt Nam thời kì chống thực dân Pháp, có nhiều chiến sĩ cách mạng đồng thời là nhà thơ bị bắt bớ, giam cầm. Hãy kể tên một vài nhà thơ - chiến sĩ đó và chia sẻ về một trong số các sáng tác thơ ca trong tù của họ. - Mục đích chính của phần khởi động, dẫu theo cách thức nào, là tạo ấn tượng và tâm thế tích cực để giúp HS đi vào tìm hiểu các tác phẩm thơ ca chữ Hán tiêu biểu của Hồ Chí Minh được sáng tác trong những hoàn cảnh khác nhau.
Hoạt động 2 Đọc văn bản
GV đọc hoặc cho một HS đọc phần giới thiệu về từng bài thơ trong SGK. Ghi nhớ các ý chính. - GV chỉ định HS đọc thành tiếng từng bài thơ (cả nguyên văn và bản dịch). Trong khi
đọc, chú ý các cước chú và nội dung thẻ chỉ dẫn. Có nhiều khả năng một số câu, một số từ ngữ dễ bị HS đọc không chuẩn do chưa hiểu nghĩa, do vậy cần phối hợp việc đọc, hướng dẫn đọc kết hợp với giải thích từ ngữ. Gợi ý: Hai bài thơ đã được nhiều nghệ sĩ thể hiện, GV có thể giới thiệu để HS tự thưởng thức qua tư liệu khai thác từ internet.
Hoạt động 3 Khám phá văn bản
GV hướng dẫn HS đọc kĩ các cước chú về từng văn bản trong SGK, đặc biệt lưu ý các chú thích về từ ngữ, thi liệu,… vốn có liên quan trực tiếp tới việc lí giải, cảm thụ tác phẩm. Ví dụ: Nét nghĩa gốc vốn chỉ tâm trạng, tâm thế của con người của từ quyện, từ cô trong bài Mộ; những hình ảnh gợi liên hệ về mặt thi liệu từ thơ cổ như hình ảnh yên ba thâm xứ trong bài Nguyên tiêu,… - GV nhắc HS đọc lại những tri thức liên quan về thơ luật nói chung, thể tứ tuyệt nói riêng đã được trang bị ở các lớp dưới. Yêu cầu vận dụng được những tri thức này vào việc khám phá nội dung và nghệ thuật của văn bản.
Về văn bản và một vài điểm lưu ý khi tiếp nhận, đọc hiểu tác phẩm: + Bài Mộ (Chiều tối) Trong nguyên văn chữ Hán tập Ngục trung nhật kí (được khẳng định là thủ bút của Hồ Chí Minh, hiện được lưu trữ tại Bảo tàng Lịch sử Quốc gia), bài thơ Mộ được đánh số thứ tự 30, nhưng nếu tính cả bài "đề từ" ở đầu tập thì đây là bài thứ 31. Tác phẩm được viết vào khoảng những tháng đầu trong thời gian Hồ Chí Minh bị chính quyền Tưởng Giới Thạch (Trung Quốc) cầm tù, lúc phải chuyển lao từ Tĩnh Tây đến Thiên Bảo.
Câu 3 và câu 4 có sử dụng một thủ pháp đối mà HS chưa quen: "đối vòng" hay "liên miên đối" (những từ ngữ ở cuối câu trên được lặp lại ở đầu câu sau). Thủ pháp đối đã tạo được hiệu quả đặc biệt trong việc miêu tả vòng xoay của động tác xay ngô cũng như sự dịch chuyển thời gian đều đặn (đến khi ngô xay xong, lò lửa đã bừng cháy).
Trong một số lần tập Ngục trung nhật kí được xuất bản có in kèm chữ Hán, chữ hồng trong nguyên văn (có nghĩa là đốt, thắp, làm cho cháy rực) bị in nhầm thành ch
Trong một số lần tập Ngục trung nhật kí được xuất bản có in kèm chữ Hán, chữ hồng trong nguyên văn (có nghĩa là đốt, thắp, làm cho cháy rực) bị in nhầm thành chữ hồng (có nghĩa là màu hồng), một tính từ chỉ màu sắc; điều đó đã dẫn đến một số bình luận, phân tích chưa thực sự chuẩn xác về ý thơ mà tác giả muốn biểu đạt.
Bài Nguyên tiêu (Rằm tháng Giêng) Tác phẩm được sáng tác năm 1948, trong hoàn cảnh gian khổ, khó khăn của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp tại chiến khu Việt Bắc. Văn bản bài thơ được báo Cứu quốc in lần đầu kèm theo bản dịch thơ của Xuân Thuỷ. Nguyên văn chữ Hán không có dị bản, nhưng bản dịch thơ nói trên thì có chút ít khác biệt giữa lần xuất bản đầu tiên và những lần xuất bản sau, có thể do chính dịch giả hiệu chỉnh. Bản dịch được giới thiệu trong SGK là bản dịch có diện mạo được định hình sau này.
Một số từ ngữ - hình ảnh trong bài thơ (yên ba thâm xứ, nguyệt mãn thuyền) có mối liên hệ với các hình ảnh trong cổ thi (xem các cước chú có liên quan trong SGK), hiện tượng này
xuất hiện phổ biến trong lịch sử văn học. Có thể coi đó là hình thức vay mượn, chịu ảnh hưởng,… hay sử dụng thi văn liệu (sử dụng chất liệu thơ văn có trước). Trong nhiều trường hợp, thi văn liệu có thể là một điển cố.
Tuy còn có những ý kiến khác nhau về cách hiểu một số từ ngữ, hình ảnh,… trong mỗi văn bản, nhưng đa số các nhà nghiên cứu, phê bình văn học đều nhận định đây là hai trong số những tác phẩm thơ chữ Hán đặc sắc của Hồ Chí Minh. Mỗi tác phẩm được viết trong những hoàn cảnh và với cảm hứng sáng tác khác nhau nhưng đều thể hiện được vẻ đẹp tâm hồn phong phú, sâu sắc của nhà thơ. Dưới đây là phần gợi ý trả lời câu hỏi và thực hiện các yêu cầu sau khi đọc văn bản trong SGK:
Câu hỏi 1
Tuy câu hỏi chỉ yêu cầu nêu nhận xét về nghệ thuật miêu tả thiên nhiên,… nhưng để tránh nhận xét chung chung, trước hết cần chỉ ra (có thể kết hợp với giải thích, phân tích) được những biểu hiện cụ thể về cách lựa chọn hình ảnh, đặc điểm không gian và thời gian, các biện pháp tu từ,… đã được tác giả sử dụng trong hai câu đầu của mỗi bài thơ.
Để có thể gợi dẫn, giúp HS nhận xét được nghệ thuật miêu tả thiên nhiên trong hai câu đầu bài thơ Mộ, GV có thể tham khảo một vài gợi ý sau:
Hình ảnh một cánh chim mỏi mệt bay về tổ, gợi thời gian chiều tối, gợi nhịp điệu của cuộc sống tự nhiên ngầm đối lập với hình ảnh người tù bị giải đi trên con đường vô tận, không biết đâu là điểm dừng. Hình ảnh chòm mây cô lẻ chầm chậm trôi qua bầu trời rộng lớn lúc trời chiều gợi cảm giác xa vắng, bâng khuâng.
Từ ngữ đặc tả tâm trạng, gợi lên cái hồn của sự vật: dùng những từ vốn chỉ trạng thái thể chất, tinh thần của con người (quyện, cô,…) để miêu tả thiên nhiên.
Bút pháp chấm phá, tạo hình: đối ứng và nối tiếp giữa cái hữu hình và cái vô hình, cái hữu hạn và cái vô hạn (cánh chim, chòm mây với thời gian và không gian,…).
Để có thể gợi dẫn, giúp HS nhận xét được nghệ thuật miêu tả thiên nhiên trong hai câu đầu bài thơ Nguyên tiêu, có thể tham khảo một vài gợi ý sau:
Sự tinh tế, nhạy cảm của tác giả khi "nắm bắt"vẻ đẹp của vầng trăng đúng vào thời điểm đêm rằm tháng Giêng: Vẻ đẹp, sức sống viên mãn của vầng trăng được nhìn t
Sự tinh tế, nhạy cảm của tác giả khi "nắm bắt"vẻ đẹp của vầng trăng đúng vào thời điểm đêm rằm tháng Giêng: Vẻ đẹp, sức sống viên mãn của vầng trăng được nhìn theo sự vận động nội tại của nó chứ không phải theo vẻ ngoài thuần tuý. Sông xuân, nước xuân, trời xuân mở rộng không gian trong chiều vận động từ cận cảnh (mặt đất) đến viễn cảnh (bầu trời),…
Từ ngữ chắt lọc, biện pháp tu từ điệp ngữ: tạo ấn tượng về sự vận động và sức sống căng tràn, biểu thị tâm hồn tự do, phóng khoáng.
Nghệ thuật miêu tả, bút pháp tạo hình: câu 1 nói sự vận động trong thời gian (của vầng trăng, "hành trình" đến độ tròn đầy); câu 2 nói sự vận động trong không gian, theo tầng bậc, tiếp nối (vẻ xuân của sông, sắc xuân của nước, khí xuân của trời), tạo ấn tượng về sức sống mùa xuân bao trùm vũ trụ.
Câu hỏi 2
Câu hỏi này nhắc HS lưu ý mối liên hệ giữa hoàn cảnh sáng tác (thời gian khách quan) với tâm thế của nhân vật trữ tình (trong trường hợp này là tác giả); từ đó, có thể suy luận,
cảm nhận về cảm xúc - tâm trạng của nhà thơ. Với đối tượng HS giỏi, GV có thể gợi mở, giúp HS phân biệt hoàn cảnh sáng tác của tác phẩm (gắn với bối cảnh cụ thể - xác thực về địa điểm không gian, thời gian) và hiện thực tâm lí (gắn với tâm trạng, cảm xúc của nhân vật trữ tình trong bối cảnh không - thời gian nghệ thuật của tác phẩm).
Với hai bài thơ Mộ và Nguyên tiêu, có thể tham khảo gợi ý sau đây: + Trong cảm thức chung của mỗi chúng ta, "chiều tối"(mộ) là sự đồng hiện khó phân tách giữa ý niệm về khung cảnh không gian và thời gian cuối ngày. Theo "nhịp điệu" của sự sống, đó là thời khắc mà mọi sinh linh đều cần nghỉ ngơi; theo "chiều kích"của tầm mắt, là giới hạn dần khép lại - tĩnh tại - ngưng lặng của bóng đêm. "Chim về tổ" - "người về nhà", đó là một logic thông thường, đúng quy luật. Nhưng ở đây có một sự bất thường: nhân vật trữ tình/ nhà thơ - kẻ chịu gông xiềng/ người chiến sĩ đang phải đối diện với một hành trình không có điểm dừng, bị mất tự do. Trong hoàn cảnh ấy, con người dễ rơi vào tâm trạng bi quan, bế tắc, cô đơn. Nhưng hiện diện trong khung cảnh núi rừng chiều tối này lại là hình ảnh tự tại của một con người có tâm hồn rộng mở, phóng khoáng, mạnh mẽ,…
Rằm tháng Giêng, đêm trăng tròn đầu tiên của một năm (theo lịch âm dương của nhiều quốc gia phương Đông) là thời điểm đặc biệt, gắn với ý niệm khởi đầu tốt lành của một vận hội mới. Sinh khí đất trời hoà điệu với tâm hồn và khát vọng của con người. Người cách mạng bận bịu với việc quân, việc nước trong bối cảnh gian nguy của cuộc kháng chiến, theo lẽ thường, sẽ không còn tâm trạng thưởng ngoạn vẻ đẹp của thiên nhiên; nhưng ngược lại, tâm hồn thanh khiết, phóng túng của nhà thơ - chiến sĩ luôn rộng mở đón nhận những thanh âm tươi mới của một mùa xuân tràn đầy sức sống.
Câu hỏi 3
Loại câu hỏi này hướng HS chú ý nhận biết - phân tích hình tượng không gian và thời gian nghệ thuật, gắn với các hình ảnh cụ thể. Từ đó, HS dễ dàng cảm nhận được cách tư duy và cảm xúc của nhà thơ. Câu hỏi này còn muốn HS chú ý đến sự vận động của thời gian, của hình tượng thơ; từ đó nêu được cảm nhận về cách nhìn của tác giả đối với chiều hướng phát triển của sự vật. Hiểu rõ yêu cầu cụ thể này, HS sẽ tránh được cách trả lời chung chung.
Với bài thơ Mộ, tiếp nối các nội dung liên quan đã được đề cập ở câu hỏi 1 và 2, có thể tham khảo thêm một số gợi ý sau: + Thời gian khách quan vận động từ chiề
Với bài thơ Mộ, tiếp nối các nội dung liên quan đã được đề cập ở câu hỏi 1 và 2, có thể tham khảo thêm một số gợi ý sau: + Thời gian khách quan vận động từ chiều tối (qua hình ảnh chim về tổ) đến khi màn đêm buông xuống và kết thúc ở hình ảnh lò lửa; thời gian tâm trạng lại có chiều hướng khác: từ bóng tối vắng lặng (của xóm núi sơn cước) đến ánh sáng (lò lửa cháy rực) của hình ảnh cuộc sống con người rất gần gũi, thân thương,… + Hình tượng thơ vận động từ không gian thiên nhiên (cánh chim, chòm mây ở hai câu thơ đầu) đến khung cảnh sinh hoạt của con người (thiếu nữ xay ngô, lò lửa cháy rực ở hai câu sau). + Cách nhìn của tác giả đối với chiều hướng phát triển của sự vật: từ thiên nhiên đến con người, từ viễn cảnh đến cận cảnh, từ ngoại cảnh đến tâm cảnh. Thế giới tâm hồn của con người thể hiện rõ qua việc nhà thơ luôn hướng về ánh sáng, về cuộc sống, dẫu là trong những hoàn cảnh gian khổ nhất của thân phận.
Với bài thơ Nguyên tiêu, tiếp nối các nội dung liên quan đã được đề cập ở câu hỏi 1 và 2, có thể tham khảo một số gợi ý sau: + Thời gian khách quan vận động từ buổi tối (đêm trăng rằm tháng Giêng ở câu 1) đến đêm khuya (người chiến sĩ trở về lúc nửa đêm ở câu 4); thời gian tâm trạng hoà nhịp với "hành trình" vận động của tự nhiên (vầng trăng của thiên nhiên hướng về con thuyền bàn việc quân). + Hình tượng thơ vận động từ không gian chỉ có sự hiện diện của thiên nhiên (trăng rằm, sông nước, bầu trời tràn đầy khí xuân ở hai câu đầu) đến khung cảnh hoà điệu giữa thiên nhiên với con người (khói sóng vắng lặng, thuyền về chở đầy trăng ngập tràn sức xuân ở hai câu kết). + Cách nhìn của tác giả đối với chiều hướng phát triển của sự vật: chủ động nắm bắt những biến chuyển cụ thể, vi tế của đời sống tạo vật; từ thiên nhiên đến con người; từ ngoại cảnh đến tâm cảnh. Tâm hồn thi nhân và phong thái người chiến sĩ được thể hiện hài hoà, tinh tế.
Câu hỏi 4
GV có thể cân nhắc chuyển câu hỏi này thành các yêu cầu cụ thể để HS tự rút ra nhận xét về bút pháp hội hoạ được thể hiện trong hai tác phẩm. Sau đây là một vài gợi ý cần thiết: - Thơ ca, đặc biệt là thơ ca cổ điển phương Đông, có mối quan hệ mật thiết với các loại hình nghệ thuật khác, đặc biệt là với âm nhạc và hội hoạ. Nhà thơ dùng ngôn từ làm chất liệu nhưng bản thân chất liệu ngôn từ trong thơ ca đã có sẵn tính nhạc (thể hiện qua vần, nhịp, các biện pháp tu từ,…). Phương thức tư duy, ý niệm triết học về vũ trụ và con người của thi nhân đã xác lập một mô hình cấu trúc đặc biệt, khiến ngôn từ (thông qua các hình ảnh, hình tượng và mối quan hệ giữa chúng) có thể biểu đạt theo cách riêng để chiếm lĩnh các chiều kích không gian, hình ảnh, màu sắc,… vốn là thủ pháp cơ bản của hội hoạ. "Thi trung hữu nhạc" (trong thơ có nhạc), "thi trung hữu hoạ" (trong thơ có hoạ) là những nhận định về bút pháp thơ ca thường thấy của các nhà phê bình đối với thơ ca cổ điển phương Đông, đặc biệt là thơ ca theo/ chịu ảnh hưởng của bút pháp Đường thi.
Trên cơ sở hướng dẫn HS nhận biết và phân tích các biểu hiện của bút pháp hội hoạ trong hai bài thơ, GV cần để cho HS trình bày quan điểm riêng cũng như lí do (
Trên cơ sở hướng dẫn HS nhận biết và phân tích các biểu hiện của bút pháp hội hoạ trong hai bài thơ, GV cần để cho HS trình bày quan điểm riêng cũng như lí do (thực chất là các chứng cứ xác thực trong văn bản tác phẩm) đưa ra quan điểm đó. Trong trường hợp có những ý kiến không thống nhất, cũng có thể cho HS tổ chức thảo luận để đi đến những nhận định, đánh giá có tính khách quan về vấn đề mà câu hỏi nêu lên. Sau đây là một số gợi ý cụ thể về bút pháp hội hoạ trong hai bài thơ: + Ở bài thơ Mộ, cần chú ý thủ pháp đối lập giữa cái (hình ảnh) hữu hạn và vô hạn (cánh chim đơn lẻ và khung cảnh trời chiều, chòm mây cô đơn và không gian rộng lớn); thủ pháp "điểm nhãn" thể hiện qua việc tô đậm hình ảnh thiếu nữ và lò than cháy rực trong khung cảnh đêm tối miền sơn cước;… + Ở bài thơ Nguyên tiêu, cần chú ý bút pháp tạo hình trong miêu tả bức tranh thiên nhiên (thiên nhiên mùa xuân được nhìn từ cận cảnh đến viễn cảnh, có tầng bậc ở câu thơ thứ hai); thủ pháp "hư - thực" thể hiện qua cặp hình ảnh khói sóng hư ảo và con thuyền bàn việc
quân ở câu thơ thứ ba; nghệ thuật đặc tả hình ảnh ánh trăng tràn đầy con thuyền ở câu thơ thứ tư;…
Câu hỏi 5
Tiếp nối yêu cầu tương tự khi học các tác phẩm thơ ca chữ Hán ở các lớp trước, nội dung câu hỏi này tiếp tục rèn luyện kĩ năng đối sánh bản dịch thơ với nguyên văn. GV cần lưu ý một số điểm sau đây: + Bản dịch thơ là hình thức bản dịch văn học, đòi hỏi có sự trau chuốt về ngôn từ, vì thế có thể không chuyển tải hết nội dung hoặc không giữ được đặc điểm, bút pháp nghệ thuật,… của nguyên văn. + Tác phẩm thơ ca cổ điển hoặc chịu ảnh hưởng của phong cách cổ điển viết bằng chữ Hán thường hết sức cô đọng, súc tích, đa nghĩa; vì thế khó có thể đòi hỏi một bản dịch thơ chuyển tải hết được các phương diện giá trị cũng như đặc điểm của nguyên văn. + Khi so sánh bản dịch thơ với nguyên văn, cần có thái độ trân trọng tất cả các bản dịch; việc nhận xét về sự khác biệt (nếu có, ở các phương diện và mức độ) là để hướng đến tiếp nhận văn bản một cách trọn vẹn nhất.
Về bản dịch bài thơ Mộ trong SGK, có hai điểm cần đặc biệt lưu ý: + Các cụm từ chim mỏi và chòm mây chưa lột tả được ý nghĩa của các từ ngữ đặc tả quyện, cô trong nguyên văn, vốn là các từ biểu đạt rất sâu sắc trạng thái tâm lí của con người. + Từ hồng trong bản dịch thường được hiểu là màu hồng - một tính từ chỉ màu sắc; trong khi từ hồng trong nguyên văn có nghĩa là đốt cháy, thắp lên, làm cho cháy rực lên,…
Về bản dịch bài thơ Nguyên tiêu trong SGK, có thể lưu ý một vài điểm sau đây: + Câu 1: Nguyên văn nhấn mạnh "thời điểm" và hình ảnh vầng trăng đạt đến độ tròn đầy (chính: vừa đúng, vừa khớp; viên: tròn trịa, viên mãn). Bản dịch tuy đảm bảo được yêu cầu "nhã", nhưng chỉ nhấn mạnh vẻ đẹp của ánh sáng, màu sắc bên ngoài.
Câu 2: Nguyên văn lặp lại từ xuân ba lần, với dụng ý nhấn mạnh vẻ xuân - sắc xuân - sức xuân của sông - nước - bầu trời; từ tiếp biểu thị sự vận động nối liền -
Câu 2: Nguyên văn lặp lại từ xuân ba lần, với dụng ý nhấn mạnh vẻ xuân - sắc xuân - sức xuân của sông - nước - bầu trời; từ tiếp biểu thị sự vận động nối liền - từ cận cảnh đến viễn cảnh. Bản dịch chưa thể hiện rõ điều này.
Câu 3: Cụm từ giữa dòng chưa biểu đạt được ý nghĩa của cụm từ yên ba thâm xứ (nơi khói sóng heo hút tĩnh lặng) trong nguyên văn.
Câu 4: Nguyên văn nhấn mạnh động thái trăng tràn xuống làm đầy ăm ắp con thuyền bàn việc quân; còn bản dịch nhấn mạnh vẻ đẹp đầy tính nhạc (trăng ngân) vốn không có trong nguyên văn.
Câu hỏi 6
Câu hỏi có hai yêu cầu nối tiếp nhau: từ việc cảm nhận về bức tranh cuộc sống con người, nêu cảm nhận về tâm hồn của người tù - nhà thơ.
Bức tranh về cuộc sống con người được gợi lên từ những hình ảnh hết sức cụ thể, chân thực, thân thương: thiếu nữ mải miết với công việc xay ngô, lò lửa cháy rực giữa đêm tối.
Người tù trên đường bị áp giải, mệt mỏi, mất tự do nhưng không ta thán, bi luỵ; toàn bộ thế giới tinh thần dường như hướng hẳn về những cảnh tượng, hình ảnh cuộc sống xung quanh, với tình cảm ấm áp, gần gũi.
Trong cảnh ngộ bất thường, người tù cách mạng có tâm hồn thi nhân vẫn thung dung, tự tại; nhạy cảm nhận ra những gì vốn nhỏ bé, dễ khuất lấp trong hiện thực. Điều đó chứng tỏ nhà thơ - chiến sĩ Hồ Chí Minh là con người không chỉ có bản lĩnh mà còn có đời sống tâm hồn hết sức phong phú.
Câu hỏi 7
Với câu hỏi này, GV cần gợi nhắc hoặc lưu ý HS ôn lại những tri thức đã biết về nhân vật trữ tình trong thơ trữ tình. Nhân vật trữ tình trong bài thơ này là hiện thân đồng thời của hai tư cách trong một hình tượng: người chiến sĩ bàn việc quân, với vị thế là lãnh tụ của cuộc kháng chiến; người nghệ sĩ thưởng ngoạn vẻ đẹp của thiên nhiên trong tư cách một nhà thơ. Hình ảnh ánh trăng trong cả bài và đặc biệt ở hai câu kết có ý nghĩa kết nối, đồng nhất hai tư cách trên.
Câu thơ thứ ba không xuất hiện hình ảnh ánh trăng, nhưng xác nhận tư cách người chiến sĩ bàn việc quân, việc nước; công việc mà trên thực tế, khó có thể làm xuất hiện cảm hứng thi ca. Trong khung cảnh sông nước khói sóng (ở đây, gợi liên tưởng về một không gian bí mật), "con thuyền quân sự" ở câu thơ thứ ba đã được ẩn đi để rồi đột ngột xuất hiện ở câu thơ thứ tư với một sự chuyển hoá bất ngờ. Câu thơ thứ tư, khi việc quân tạm dứt, con thuyền trở về, ánh trăng như một nhân vật thứ ba tràn xuống làm đầy thuyền. Chính ánh trăng đã biến con thuyền quân sự thành "con thuyền thơ", và đương nhiên, người chiến sĩ trở thành nhà thơ. Tứ thơ bất ngờ loé sáng trong sự giao hoà giữa con người và thiên nhiên.
Mối tương quan hài hoà, sự"chuyển hoá" giữa hình ảnh người chiến sĩ và người nghệ sĩ ở nhân vật trữ tình được thể hiện chân thực, tự nhiên, không có sự khiên cưỡng. Bên trong con người chiến sĩ luôn thường trực một tâm hồn nhạy cảm, trong sáng của thi nhân. Điều này cũng tự nó lí giải cho khát vọng độc lập dân tộc và khát vọng tự do trong tâm hồn con người luôn đồng nhất, song hành.
Câu hỏi 8 Câu hỏi này liên hệ với các tri thức mà HS đã được tiếp nhận qua các bài học về thơ cổ điển (Việt Nam, Trung Hoa,…) và kết nối với một số câu hỏi ở tr
Câu hỏi 8
Câu hỏi này liên hệ với các tri thức mà HS đã được tiếp nhận qua các bài học về thơ cổ điển (Việt Nam, Trung Hoa,…) và kết nối với một số câu hỏi ở trên. "Phong cách cổ điển" trong phạm vi câu hỏi này nhấn mạnh đến các yếu tố thuộc về ngôn ngữ, hình ảnh, bút pháp, cấu tứ,… trong một tác phẩm hiện đại. Cần lưu ý, thơ chữ Hán của Hồ Chí Minh thuộc văn học hiện đại, tuy nhiên do tác giả nhận ảnh hưởng sâu sắc của truyền thống văn hoá, tư duy, đặc trưng thơ ca cổ cho nên nhiều sáng tác của Người mang đậm dấu ấn phong cách cổ điển.
Gợi ý:
Với bài thơ Mộ, dấu ấn phong cách cổ điển biểu hiện rõ nét qua: thể thơ tứ tuyệt Đường luật, ngôn ngữ cô đọng, hàm súc; thi liệu, hình ảnh - không gian - thời gian ít nhiều có yếu tố ước lệ (không - thời gian trời chiều, hình ảnh chim bay về núi,…); bút pháp đối lập (cái hữu hạn và cái vô hạn, cái hữu hình và cái vô hình,…), đặc tả nội tâm (dùng từ ngữ chỉ
tâm thế tồn tại của con người để miêu tả thế giới tự nhiên);…
Với bài thơ Nguyên tiêu, ngoài các phương diện chung về thể thơ và ngôn ngữ như trên, có thể nhận thấy dấu ấn cổ điển qua: thi liệu, hình ảnh có tính chất ước lệ (vầng trăng, mùa xuân, sông nước, khói sóng,…), có những hình ảnh có thể quan niệm là điển cố (yên ba thâm xứ); bút pháp đồng nhất hình ảnh con người và vũ trụ; nghệ thuật chấm phá, đặc tả của hội hoạ phương Đông;…
Đối với đối tượng HS khá - giỏi, GV có thể mở rộng phạm vi và yêu cầu của câu hỏi, hướng HS tìm hiểu sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa bút pháp cổ điển và hiện đại, trọng tâm là đặc trưng cổ điển mà hiện đại trong phong cách thơ chữ Hán của Hồ Chí Minh. Cổ điển trong ngôn ngữ, hình ảnh, thi liệu,… kết hợp với sự sáng tạo mới lạ, độc đáo trong biểu đạt những cảm xúc tươi mới; chân dung tâm hồn một bậc hiền triết phương Đông với tinh thần, khí phách của một người chiến sĩ cách mạng;…
Hoạt động 4 Kết nối đọc - viết
Yêu cầu kết nối đọc - viết ở đây có dụng ý khơi gợi cho HS phát triển năng lực phát hiện, phân tích, cảm thụ về các chi tiết, hình ảnh đặc sắc trong thơ trữ tình. Gợi ý chung và các yêu cầu cần thực hiện:
Cần đảm bảo yêu cầu về hình thức, cấu trúc đoạn văn. Đoạn văn có thể tổ chức thành một luận điểm, bao gồm một số ý nhỏ. Có thể kết hợp việc phân tích với bình luận, đánh giá. Cần lưu ý đặt hình ảnh lò than rực hồng/ trăng đầy thuyền trong chỉnh thể văn bản và logic cấu tứ của tác phẩm.
Hình ảnh lò than rực hồng: dịch chữ hồng trong nguyên văn. Trong nguyên văn, từ hồng là một động từ, nghĩa là đốt, cháy rực,…; nối tiếp với động từ ma (xay) ở vế đầu câu thơ, biểu đạt sự vận động, tiếp nối. Từ này thường được hiểu không chính xác là màu hồng (tính từ).
Hình ảnh trăng đầy thuyền: dịch cụm từ nguyệt mãn thuyền trong nguyên văn. Từ mãn vốn là tính từ (đầy, tràn đầy) nhưng ở đây được dùng theo phương thức "hoạt dụng"
Những trò lố hay là Va-ren và Phan Bội Châu Nguyễn Ái Quốc 1. Phân tích yêu cầu cần đạt – HS vận dụng được những hiểu biết về tác gia Hồ Chí Minh để đọc hiểu mộ
Những trò lố hay là Va-ren và Phan Bội Châu
Nguyễn Ái Quốc
1. Phân tích yêu cầu cần đạt
– HS vận dụng được những hiểu biết về tác gia Hồ Chí Minh để đọc hiểu một truyện ngắn của Người; nhận biết và phân tích được quan điểm nghệ thuật của tác giả và những giá trị lịch sử văn hoá thể hiện trong tác phẩm.
– HS vận dụng được kinh nghiệm đọc, trải nghiệm cuộc sống và tri thức văn học để đánh giá, phê bình, thể hiện cảm xúc, suy nghĩ của cá nhân về một truyện ngắn hiện đại.
– HS biết nhận xét nội dung bao quát của văn bản, phân tích được các chi tiết tiêu biểu; biết đặt tác phẩm trong bối cảnh sáng tác và bối cảnh hiện tại để có đánh giá phù hợp.
– HS có lòng ngưỡng mộ, học tập những con người biết xả thân vì đất nước, dân tộc.
2. Gợi ý tổ chức hoạt động dạy học
Hoạt động 1 Khởi động
– GV có thể sử dụng các câu hỏi gợi ý trong SGK để khởi động giờ học. Với câu thứ nhất, GV cần cho HS tìm những từ đồng nghĩa với từ "lố" và nêu một số tình huống sử dụng chúng. Với câu thứ hai, GV nhắc các em huy động kiến thức lịch sử đã học để trình bày một cách khái quát về con người và sự nghiệp cách mạng của Phan Bội Châu.
– GV có thể khởi động giờ học bằng hình thức khác, tuỳ theo tình hình thực tế của lớp học.
Hoạt động 2 Đọc văn bản
– Vì văn bản không quá dài, lại được chia thành các phần rõ ràng (phân cách nhau bằng dấu hoa thị) nên GV có thể gọi 3 – 4 HS đọc nối tiếp nhau. Có thể yêu cầu mỗi HS sau khi đọc xong phần được chỉ định thì tóm tắt luôn nội dung của phần ấy.
– Trước khi cho HS đọc, GV nên chọn một đoạn (hoặc một vài câu) để đọc mẫu, chú ý đọc diễn cảm để HS thấy rõ nét đặc sắc của giọng điệu trần thuật, giọng điệu nhân vật.
– GV nhắc HS đọc kĩ các chú thích ở chân trang. Trong quá trình đọc, GV có thể yêu cầu HS dừng lại giải thích ý nghĩa của cả câu (đoạn) có chú thích để kiểm tra và trợ giúp việc đọc hiểu.
Hoạt động 3 Khám phá văn bản Trong kế hoạch bài dạy, GV định hướng cách khám phá văn bản cho HS theo phương án riêng của mình, nhưng nhất thiết phải bám sát yêu
Hoạt động 3 Khám phá văn bản
Trong kế hoạch bài dạy, GV định hướng cách khám phá văn bản cho HS theo phương án riêng của mình, nhưng nhất thiết phải bám sát yêu cầu cần đạt. Hệ thống câu hỏi sau khi đọc trong SGK là những gợi ý cụ thể về việc khám phá văn bản để GV tham khảo. Sau đây là một số gợi ý trả lời các câu hỏi đó:
Câu hỏi 1
GV cho HS đọc phần giới thiệu tác phẩm trong SGK. Có thể kết hợp trình chiếu hình ảnh tác giả Nguyễn Ái Quốc, báo Người cùng khổ, bản tiếng Pháp kèm theo hình minh hoạ của tác phẩm Những trò lố hay là Va-ren và Phan Bội Châu, bản tiếng Việt của truyện ngắn này trong sách Hồ Chí Minh toàn tập (tập 2).
GV cho HS trao đổi, thảo luận về hoàn cảnh ra đời của tác phẩm. GV gợi dẫn để HS lưu ý những sự kiện chính trị liên quan đến hai nhân vật lịch sử trong tác phẩm cũng như hình dung được bối cảnh xuất bản tác phẩm (năm 1925, ở thủ đô nước Pháp, bằng tiếng Pháp) và hoạt
động của tác giả Nguyễn Ái Quốc.
Năm 1925, ở Việt Nam, phong trào yêu nước chống thực dân Pháp có những hoạt động sôi nổi. Phan Bội Châu, một chí sĩ yêu nước bị chính quyền thực dân Pháp bắt cóc ngày 30/6/1925 tại Thượng Hải (Trung Quốc) rồi giải về Việt Nam để kết án tử hình. Sự kiện này đã làm dấy lên phong trào đấu tranh đòi thả Phan Bội Châu phát triển trong cả nước Việt Nam, gây sức ép lớn cho chính quyền thực dân Pháp ở Đông Dương. Va-ren từng là đảng viên Đảng Xã hội Pháp nhưng bị cho là đã phản bội quyền lợi của giai cấp công nhân để leo lên những chức vụ cao. Khi Toàn quyền Méc-lanh (Merlin) bị nhà yêu nước Phạm Hồng Thái giết hụt ở Sa Diện, Quảng Đông (Trung Quốc) thì Chính phủ Pháp cử Va-ren đảm nhiệm chức vụ Toàn quyền Đông Dương nhằm xoa dịu tình hình.
Lúc này, Nguyễn Ái Quốc cùng một số nhà cách mạng của các nước thuộc địa đang tích cực tuyên truyền chống chủ nghĩa thực dân trên các diễn đàn công khai, ngay tại Pa-ri (Paris). Ra đời từ tháng 4/1922, báo Người cùng khổ (Le Paria), ra hằng tháng, mỗi số in hàng nghìn bản, là "diễn đàn của nhân dân các nước thuộc địa", đăng tải những bài viết tố cáo tội ác của chủ nghĩa thực dân và kêu gọi nhân dân các nước thuộc địa đoàn kết đấu tranh. Là một trong những người sáng lập, kiêm chủ nhiệm và chủ bút, Nguyễn Ái Quốc đã đăng khoảng 40 bài trên tờ báo tiếng Pháp này.
Trước những sự kiện quan trọng của phong trào cách mạng Việt Nam khi ấy, Nguyễn Ái Quốc đã kể một câu chuyện đậm chất trào lộng, "bằng đôi cánh của trí tưởng tượng", để góp tiếng nói từ thủ đô nước Pháp ủng hộ phong trào đấu tranh đòi thả Phan Bội Châu ở Việt Nam.
Câu hỏi 2
Tuỳ theo việc lựa chọn mạch sự kiện, nhân vật, chủ đề,… mà HS có thể khái quát nội dung từng phần bằng những cụm từ khác nhau. GV nên tổ chức cho HS trao đổi trước khi chọn một phương án phù hợp nhất. Có thể tham khảo các phương án sau đây:
Phương án 1 (bám vào nội dung sự việc cụ thể được thuật kể tuần tự qua từng đoạn văn bản):
Phần 1 (Từ đầu đến "giam trong tù."): Mở đầu. + Phần 2 (Từ "Đến Sài Gòn" đến "vẫn nằm tù."): Trò lố 1(Va-ren tuần du Sài Gòn).
Phần 3 (Từ "Từ Sài Gòn" đến "vẫn nằm tù."): Trò lố 2 (Triều đình Huế nghênh tiếp Va-ren). + Phần 4 (Từ "Nhưng chúng ta" đến "hiểu Phan Bội Châu."): Trò lố 3 (Va
Phần 3 (Từ "Từ Sài Gòn" đến "vẫn nằm tù."): Trò lố 2 (Triều đình Huế nghênh tiếp Va-ren). + Phần 4 (Từ "Nhưng chúng ta" đến "hiểu Phan Bội Châu."): Trò lố 3 (Va-ren vào nhà lao thuyết phục Phan Bội Châu hợp tác).
Phần 5 (Từ "Cuộc gặp gỡ" đến hết): Kết thúc. - Phương án 2 (nhấn mạnh mối quan hệ giữa nhân vật chính với các đối tượng khác): + Phần 1 (Từ đầu đến "giam trong tù."): Mở đầu. + Phần 2 (Từ "Đến Sài Gòn" đến "vẫn nằm tù."): Toàn quyền Va-ren và dân chúng. + Phần 3 (Từ "Từ Sài Gòn" đến "vẫn nằm tù."): Toàn quyền Va-ren và triều đình An Nam. + Phần 4 (Từ "Nhưng chúng ta" đến "hiểu Phan Bội Châu."): Toàn quyền Va-ren và Phan Bội Châu.
Phần 5 (Từ "Cuộc gặp gỡ" đến hết): Lời kể của nhân chứng.
Câu hỏi 3
GV cho HS trao đổi về khái niệm cảm hứng trào lộng trước khi chỉ ra sự thể hiện của nó ở một số phương diện cơ bản trong truyện ngắn Những trò lố hay là Va-ren và Phan Bội Châu. Về khái niệm nêu trên, cần cho HS thấy được:
Cảm hứng trào lộng gắn với sự thôi thúc bên trong của người viết muốn bóc trần thực chất của sự vật, sự việc trên một phương diện nào đó bằng tiếng cười gồm nhiều sắc thái.
Cảm hứng trào lộng cho thấy vị thế đứng cao hơn đối tượng của chủ thể tiếng cười. + Cảm hứng trào lộng được thể hiện khác nhau tuỳ theo phong cách nghệ thuật của từng nhà văn và tuỳ theo thể loại được chọn sử dụng.
Trên cơ sở hiểu về khái niệm cảm hứng trào lộng như trên, GV cho HS trao đổi ở quy mô cả lớp về các phương diện cho thấy rõ nhất cảm hứng trào lộng của tác phẩm (cần gọi tên được các phương diện ấy), sau đó cho từng nhóm trao đổi về cảm hứng trào lộng ở từng phương diện đã được chỉ ra. Kết quả cần hướng tới:
Cảm hứng trào lộng thể hiện ở nhan đề: hạ bệ một sự kiện chính trị thành "những trò lố" nực cười.
Cảm hứng trào lộng thể hiện qua việc xây dựng tình huống: tưởng tượng về cuộc gặp gỡ giữa hai bên, hai lực lượng đối địch.
Cảm hứng trào lộng thể hiện qua việc xây dựng nhân vật: dựng một chân dung hí hoạ về quan Toàn quyền Đông Dương.
Cảm hứng trào lộng thể hiện qua ngôn ngữ, giọng điệu: châm biếm, giễu nhại.
Câu hỏi 4
Sự tương phản giữa Va-ren và Phan Bội Châu được thể hiện tập trung nhất ở đoạn 2 của phần 4. Chính người kể chuyện đã chỉ ra những nét trái ngược giữa hai nhân vật này. Nhưng GV cần gợi dẫn để HS tìm thêm những chi tiết khác cho phong phú hơn đồng thời luyện tập kĩ năng phân tích nhân vật. Có thể tham khảo bảng sau:
Va-ren, Phan Bội Châu Địa vị, Toàn quyền Đông Dương, Tù nhân Tiểu sử/ Lai lịch, Đảng viên Đảng Xã hội Pháp, Chí sĩ yêu nước chống thực dân Pháp Hành vi, – Hứa “
Va-ren, Phan Bội Châu
Địa vị, Toàn quyền Đông Dương, Tù nhân
Tiểu sử/ Lai lịch, Đảng viên Đảng Xã hội Pháp, Chí sĩ yêu nước chống thực dân Pháp
Hành vi, – Hứa “sẽ chăm sóc vụ Phan Bội Châu”. – Tuần du Sài Gòn. – Dự yến, nhận tưởng lệ. – Vào xà lim “tay phải giơ ra bắt tay Phan Bội Châu, còn tay trái thì nâng cái gông to kệch đang xiết chặt Phan Bội Châu”., Nằm tù
Lời nói, – Dài dòng “Tôi đem… Toàn quyền…!”. – Lập luận nguỵ biện xảo trá, trơ trẽn., Im lặng
Thái độ, Kẻ cả, ngạo nghễ: “tôi biết rõ”, “ông nghe tôi”, “ông hãy nhìn tôi”,..., – Dững dưng – Khinh bỉ (nhếch mép, nhổ vào mặt)
Câu hỏi 5
– Câu chuyện được kể từ nhiều điểm nhìn khác nhau: điểm nhìn của người kể chuyện, điểm nhìn của nhân vật (Va-ren, dân chúng, anh lính dõng, nhân chứng thứ hai). GV có thể hướng dẫn HS làm rõ điểm nhìn ở từng đoạn qua việc nhận biết những dấu hiệu của ngôi kể, vị trí, giọng điệu:
Phần 1: Ngôi kể vô nhân xưng kết hợp với ngôi kể “chúng ta” thể hiện điểm nhìn của tác giả và những người cùng chí hướng đang hoạt động ở Pa-ri.
Phần 2: Câu chuyện được tiếp nối với nhiều điểm nhìn: điểm nhìn của Va-ren (lần đầu tiên được thấy một thành phố Đông Dương); điểm nhìn của người quan sát và kể chuyện (“Bỗng dung tất cả dừng lại…”); điểm nhìn của đám đông dân chúng (“Gì thế nhỉ?...”); điểm nhìn của chú bé con, chị con gái, anh sinh viên, bác cu li xe, nhà Nho.
Phần 3: Ngôi thứ 3 (vô nhân xưng) – điểm nhìn của người kể chuyện.
Phần 4: Ngôi thứ nhất (“chúng ta”) – điểm nhìn của tác giả.
Phần 5: Điểm nhìn của người kể chuyện; điểm nhìn của anh lính dõng; điểm nhìn của “nhân chứng thứ hai”.
– Việc tạo ra sự đa dạng về điểm nhìn làm cho câu chuyện được kể một cách tự nhiên, sinh động, gợi ra nhiều tầng nghĩa. Ví dụ: Từ điểm nhìn của Va-ren, xứ thuộc địa hiện diện toàn những cảnh “nhốn nháo”, mông muội. Nhưng từ điểm nhìn của những người dân Việt Nam thì Va-ren mang tướng mạo bất lương, trang phục kì dị,... Qua đó, tình trạng xung đột giữa các lực lượng xã hội hiện ra cụ thể và khách quan hơn là chỉ tường thuật từ điểm nhìn của người kể chuyện.
Câu hỏi 6 Ở bản Việt ngữ trong SGK, lời văn châm biếm đã góp phần làm nên màu sắc trào lộng độc đáo của tác phẩm. GV gợi dẫn HS chỉ ra những dấu hiệu ngôn từ và
Câu hỏi 6
Ở bản Việt ngữ trong SGK, lời văn châm biếm đã góp phần làm nên màu sắc trào lộng độc đáo của tác phẩm. GV gợi dẫn HS chỉ ra những dấu hiệu ngôn từ và cách thức tổ chức lời văn trào lộng trong văn bản. Một số thủ pháp đáng chú ý:
Nhại: "sẽ chăm sóc vụ Phan Bội Châu". - Ngôn ngữ miêu tả mang sắc thái châm biếm: "hai con mắt của ông Va-ren được thấy hiển hiện cái huyền diệu của một thành phố Đông Dương"; "đôi bàn chân trần giẫm lạch bạch trên mặt đường nóng bỏng"; "những quả dưa hấu bổ phanh đỏ lòm lòm"; "những xâu lạp xường lủng lẳng dưới mái hiên".
Nói mỉa: "ông Va-ren đã nửa chính thức hứa". - Trùng điệp: "vẫn bị giam trong tù", "vẫn nằm tù",… - Nghịch ngữ: "Ông hứa thế; giả thử cứ cho rằng một vị Toàn quyền Đông Dương mà lại
biết giữ lời hứa đi chăng nữa, thì chúng ta vẫn được phép tự hỏi".
Chơi chữ: "Những vị ấy, ngày nay lừng danh cả, đều đã lần lượt đốt cháy những cái mà mình đã tôn thờ và đang tôn thờ những cái mà mình đã đốt cháy",…
Câu hỏi 7
Phần kết thúc của câu chuyện đáng chú ý về nhiều phương diện: - Lạ: Hiển thị trên văn bản thành một đoạn riêng biệt rồi lại được nối dài thêm bằng đoạn "T.B. - Một nhân chứng thứ hai…". T.B. = tái bút/ viết thêm, tưởng như không quan trọng, thường chỉ thấy trong thư từ trao đổi cá nhân.
Mở: Gia tăng nhân vật trần thuật và điểm nhìn (anh lính dõng và nhân chứng thứ hai). Với cách làm này, người viết có thể tiếp tục tăng thêm nhân vật trần thuật (nhân chứng thứ ba, thứ tư,…) để mở thêm những điểm nhìn và những tình huống khác giúp cho việc diễn tả chủ đề sâu sắc và thú vị hơn. Phần kết thúc có thể mở rộng như vậy là vì ở phần trên, tác giả đã lưu ý về"đôi cánh của trí tưởng tượng", chuẩn bị tâm thế cho việc trình bày những chi tiết hư cấu, bất ngờ.
Bất ngờ: Những chi tiết ở phần kết đã tiếp nối với đoạn trên để diễn tả phản ứng của Phan Bội Châu đối với Va-ren thành một chuỗi tăng tiến (im lặng, dửng dưng - nhếch mép, cười ruồi - nhổ vào mặt) mà đỉnh điểm là một hành động thể hiện sự khinh bỉ, căm phẫn cao độ. Hành động này cho thấy khí phách phi phàm của Phan Bội Châu trước Toàn quyền Đông Dương, diễn tả sinh động xung đột quyết liệt giữa những người yêu nước ở xứ thuộc địa và chính quyền thực dân.
Câu hỏi 8
GV gợi dẫn để HS chia sẻ cảm nhận, suy nghĩ cá nhân trước tài năng viết truyện ngắn xuất sắc của Nguyễn Ái Quốc thể hiện ở một số phương diện như: viết bằng ngoại ngữ, tư duy nghệ thuật hiện đại, bút pháp biến hoá linh hoạt (sáng tạo tình huống truyện độc đáo, trần thuật từ nhiều điểm nhìn, tạo dựng tình tiết đặc sắc,…).
Thực hành tiếng Việt
Thực hành tiếng Việt
Trang 33
VIẾT Viết báo cáo kết quả của bài tập dự án 1. Phân tích yêu cầu cần đạt – HS hiểu được các yêu cầu cơ bản của việc viết báo cáo kết quả bài tập dự án. – HS viế
VIẾT
Viết báo cáo kết quả của bài tập dự án
1. Phân tích yêu cầu cần đạt
– HS hiểu được các yêu cầu cơ bản của việc viết báo cáo kết quả bài tập dự án.
– HS viết được báo cáo kết quả bài tập dự án đảm bảo tôn trọng những quy cách phổ biến của kiểu văn bản.
– HS biết chủ động đề xuất ý tưởng làm dự án và thực hiện dự án thành công để phục vụ cho hoạt động học tập cũng như cho nhu cầu khám phá, hiểu biết, sáng tạo của bản thân.
2. Những lưu ý về yêu cầu đối với kiểu bài
Đến lớp 12, HS mới được thực hành kiểu bài viết báo cáo kết quả của bài tập dự án. Kiểu bài này có một số điểm tương đồng với kiểu bài viết báo cáo kết quả nghiên cứu mà HS đã từng thực hiện từ lớp 10 (khi chuẩn bị cho bài nói sẽ được trình bày trong tiết Nói và nghe$^{(1)}$). Có thể theo dõi sơ đồ đơn giản sau để nhận ra những điểm tương đồng ấy:
• Thực hiện việc nghiên cứu → Kết quả → Viết báo cáo kết quả đã đạt được
• Thực hiện bài tập dự án → Kết quả → Viết báo cáo kết quả đã đạt được
Điểm khác biệt giữa hai kiểu bài chủ yếu do đối tượng được đề cập trong bài viết báo cáo quy định. Một bên là kết quả thực hiện bài tập dự án, một bên là kết quả nghiên cứu về một vấn đề. Khi thực hiện bài tập dự án, HS có thể và cần phải “nghiên cứu”, nhưng yêu cầu của bài tập dự án thường nghiêng về tính chất thực hành và bao gồm nhiều mặt hơn. Trong khi đó, với công việc nghiên cứu, sự đòi hỏi về tính khoa học của quy trình thực hiện và sản phẩm cuối cùng được đặc biệt chú trọng.
$^{(1)}$ Trong các cuốn SGK Ngữ văn của cấp THPT (từ lớp 10 đến lớp 12 – bộ sách Kết nối tri thức với cuộc sống), người biên soạn chú ý phân biệt hai khái niệm: viết báo cáo nghiên cứu và viết báo cáo kết quả nghiên cứu. Viết báo cáo nghiên cứu là hoạt động thuộc phần Viết mà sản phẩm là một bài viết hoàn chỉnh, có nội dung nghiên cứu về một vấn đề nào đó (phù hợp với HS), được trình bày theo quy cách khoa học chặt chẽ. Trong khi đó, viết báo cáo kết quả nghiên cứu là hoạt động thuộc phần Nói và nghe mà sản phẩm là một văn bản mang tính chất đề cương, tóm lược kết quả nghiên cứu đã có, làm chỗ dựa cho việc thuyết trình (trong văn bản này thường có thêm thông tin về quá trình nghiên cứu). Theo đó, có thể hiểu: trong sự so sánh với văn bản báo cáo nghiên cứu thì văn bản báo cáo kết quả nghiên cứu thuộc loại văn bản thứ cấp, xuất hiện sau.
3. Gợi ý tổ chức hoạt động dạy học Hoạt động 1 Tìm hiểu yêu cầu của kiểu bài GV cho HS đọc kĩ phần lời dẫn và yêu cầu để nắm được đặc điểm của kiểu bài cũng như
3. Gợi ý tổ chức hoạt động dạy học
Hoạt động 1 Tìm hiểu yêu cầu của kiểu bài
GV cho HS đọc kĩ phần lời dẫn và yêu cầu để nắm được đặc điểm của kiểu bài cũng như những đòi hỏi cụ thể đối với người viết, bài viết.
GV có thể nêu một số câu hỏi nhỏ giúp HS hiểu rõ nội dung của từng yêu cầu, ví dụ: Một trong những việc đầu tiên khi bắt tay vào viết báo cáo là phải xác định rõ nội dung của dự án và mục đích thực hiện dự án. Vì sao phải như vậy? Theo em, các ý trình bày về những yếu tố chính chi phối thành công của việc thực hiện bài tập dự án nên được đưa vào phần nào của bài viết? Nội dung miêu tả những kết quả nổi bật của bài tập dự án (kèm theo sự tự đánh giá) chiếm vị trí như thế nào trong bài viết?
Hoạt động 2 Đọc và phân tích bài viết tham khảo
GV cho HS đọc bài viết tham khảo theo nhóm học tập trong khoảng thời gian 10 phút. Yêu cầu các nhóm trả lời những câu hỏi đặt sau bài viết và nêu ý kiến nhận xét về cấu trúc, cách triển khai bài viết.
Trên cơ sở theo dõi hoạt động của các nhóm, GV nêu một số vấn đề mà nhiều HS chưa hiểu rõ để cả lớp cùng trao đổi, thống nhất ý kiến.
Lưu ý: Khi gợi ý cho HS trả lời ý sau của câu hỏi 1, GV cần nhận thức rõ rằng: kiểu cấu trúc mà bài viết tham khảo đã lựa chọn không thuộc loại thể thức cố định, mặc dù nó có thể được áp dụng trong phần lớn trường hợp viết báo cáo kết quả của bài tập dự án.
Hoạt động 3 Thực hành viết theo các bước
GV cho HS tự nghiên cứu (theo nhóm) phần Thực hành viết gồm bốn bước lớn trong SGK. Sau đó, mỗi nhóm nêu các vấn đề còn thắc mắc để trao đổi chung.
Khi hướng dẫn HS lựa chọn đề tài, GV cần nói rõ: Có thể tuỳ chọn viết báo cáo về kết quả của một trong nhiều dự án mà các em đã từng thực hiện suốt quá trình học tập, từ lớp 10 đến lớp 12 (không nhất thiết phải gắn với môn Ngữ văn). Lưu ý: Phần Chuẩn bị viết trong SGK chỉ nêu gợi ý về đề tài bài tập dự án chứ không phải đề tài bài viết báo cáo kết quả của bài tập dự án. Nếu sự thực HS chưa hề làm bài tập dự án nào theo các đề tài đã được gợi ý thì không thể viết báo cáo kết quả về chúng, vì khi đó, "báo cáo" chỉ là sản phẩm thuần tuý tưởng tượng về một đối tượng không có thật.
Thông thường, có nhiều người cùng tham gia thực hiện một bài tập dự án. Vì vậy, bài báo cáo kết quả có thể là công trình tập thể do một người chấp bút. Nhưng viết báo cáo kết quả của bài tập dự án vẫn có thể là việc của từng cá nhân, do mỗi cá nhân có quyền đưa ra quan sát riêng về một hoạt động tập thể mà mình có tham gia.
TRẢ BÀI Hoạt động 1 Nhắc lại, khắc sâu yêu cầu của kiểu bài GV cho HS nhắc lại yêu cầu chung của kiểu bài, đặc biệt lưu ý các em về tính chất "phi hư cấu" của b
TRẢ BÀI
Hoạt động 1 Nhắc lại, khắc sâu yêu cầu của kiểu bài
GV cho HS nhắc lại yêu cầu chung của kiểu bài, đặc biệt lưu ý các em về tính chất "phi hư cấu" của bản báo cáo kết quả thực hiện bài tập dự án.
Hoạt động 2 Nhận xét về kết quả viết và yêu cầu HS chỉnh sửa bài viết
– GV nhận xét chung về mức độ đáp ứng yêu cầu ở các bài viết của HS. Qua việc chỉ ra những ưu điểm hay nhược điểm của các bài viết, GV có thể nêu một vài đánh giá về những bài tập dự án mà HS đã thực hiện, tức là đánh giá về chính hoạt động đã cung cấp nguồn dữ liệu, vật liệu cho HS viết bài.
– Trả bài cho HS, yêu cầu các em sửa chữa theo hướng dẫn trong SGK và theo những góp ý, nhận xét đã ghi trong bài hoặc vừa nêu trước lớp.
Củng cố, mở rộng Có 7 câu hỏi, yêu cầu được nêu trong phần này của SGK. GV yêu cầu HS trả lời – thực hiện nghiêm túc. Yêu cầu 6, 7 cần thực hiện theo nhóm. Các
Củng cố, mở rộng
Có 7 câu hỏi, yêu cầu được nêu trong phần này của SGK. GV yêu cầu HS trả lời – thực hiện nghiêm túc. Yêu cầu 6, 7 cần thực hiện theo nhóm. Các câu hỏi, yêu cầu còn lại có thể được từng cá nhân hoặc nhóm trả lời – thực hiện, tuỳ vào điều kiện học tập cụ thể. Có những câu hỏi, yêu cầu cần được định hướng rõ hơn về cách trả lời, cách làm:
– Với câu 2, cần lưu ý các em rằng sự đa dạng của phong cách văn chương cần được xem xét thông qua cả cụm văn bản chứ không phải chỉ qua một văn bản cụ thể.
– Với các câu 3, 4, 5, GV cần giới thiệu cho HS những địa chỉ có thể mua hoặc mượn sách.
– Với câu 6, GV cần bố trí một khoảng thời gian thích hợp cho HS trình bày ý tưởng và tiếp nhận những góp ý, bởi việc tổ chức, sắp xếp tư liệu tìm được về một đối tượng nào đó có ý nghĩa lâu dài trong việc giúp mỗi HS tạo được tác phong học tập – làm việc khoa học.
– Với câu 7, GV cần khuyến khích HS hiện thực hoá ý tưởng thực hiện dự án chứ không dừng lại ở việc thảo luận.
Với hai bài thơ của Hồ Chí Minh được đưa vào phần Thực hành đọc, GV cần yêu cầu các em học thuộc (với bài thơ chữ Hán, nên học thuộc cả bản phiên âm).
Trang 38
Trang 39
Tìm hiểu tri thức ngữ văn Phần Tri thức ngữ văn của Bài 7 không quá khó trong việc tiếp nhận nên GV có thể hướng dẫn để HS tự đọc ở nhà: Đọc kĩ định nghĩa để nắ
Tìm hiểu tri thức ngữ văn
Phần Tri thức ngữ văn của Bài 7 không quá khó trong việc tiếp nhận nên GV có thể hướng dẫn để HS tự đọc ở nhà:
Đọc kĩ định nghĩa để nắm được đặc điểm của các thể loại phóng sự và hồi kí. Đối chiếu với những văn bản đã học, đã đọc để nắm vững các khái niệm và đặc điểm đó.
Ghi lại những điểm chưa rõ để trao đổi với các bạn và GV.
Tuỳ đối tượng HS, GV có thể giới thiệu thêm một số tài liệu tham khảo cho các em đọc mở rộng.
ĐỌC Văn bản 1 Nghệ thuật băm thịt gà (Trích Việc làng) Ngô Tất Tố 1. Phân tích yêu cầu cần đạt – HS nhận biết được một số đặc điểm của thể loại phóng sự thể hiệ
ĐỌC
Văn bản 1
Nghệ thuật băm thịt gà
(Trích Việc làng)
Ngô Tất Tố
1. Phân tích yêu cầu cần đạt
– HS nhận biết được một số đặc điểm của thể loại phóng sự thể hiện trong văn bản Nghệ thuật băm thịt gà.
– HS phân tích được giá trị nội dung và đặc sắc nghệ thuật của tác phẩm; qua đó rèn luyện năng lực đọc hiểu một văn bản phóng sự.
– HS có cách nhìn nhận, đánh giá đúng đắn về bản chất của các hiện tượng đời sống diễn ra xung quanh.
2. Gợi ý tổ chức hoạt động dạy học
Hoạt động 1 Khởi động
– GV gọi một vài HS trình bày ý kiến theo yêu cầu của một hoặc cả hai câu hỏi ở phần khởi động; cũng có thể tự chọn một hình thức khởi động khác.
Với câu hỏi thứ nhất, HS có thể nêu ví dụ về những hoạt động được gọi là “nghệ thuật” và những con người được gọi là “nghệ sĩ” (chẳng hạn, nghệ thuật gấp giấy, nghệ thuật cắm hoa, nghệ thuật chơi diều,...; nghệ sĩ cắm hoa, nghệ sĩ thưởng trà, nghệ sĩ nấu ăn,...).
Với câu hỏi thứ hai, GV hướng dẫn HS phân biệt những tập tục lành mạnh với hủ tục. Tập tục là từ dùng để chỉ chung các phong tục, tập quán được tạo lập, ổn định qua nhiều thế hệ, bao gồm những tập tục lành mạnh và những hủ tục. Trong khi những tập tục lành mạnh cần được giữ gìn, phát huy thì hủ tục là những phong tục, tập quán lỗi thời, lạc hậu cần được xoá bỏ.
– GV nêu nhận xét và kết nối với văn bản Nghệ thuật băm thịt gà.
Hoạt động 2 Đọc văn bản
GV dành thời gian hướng dẫn HS đọc, nhắc các em chú ý sử dụng thẻ chỉ dẫn ở bên phải văn bản, đọc kĩ chú thích và nêu câu hỏi về những từ ngữ chưa hiểu.
Hoạt động 3 Khám phá văn bản
– GV cho HS tự đọc phần giới thiệu chung về tác giả Ngô Tất Tố và thiên phóng sự Việc làng. Lưu ý các em về bối cảnh văn hoá, xã hội đương thời.
– Khi hướng dẫn HS tìm hiểu sâu về văn bản, GV dựa vào hệ thống câu hỏi và yêu cầu trong SGK, có thể thay đổi trật tự câu hỏi, chi tiết hoá câu hỏi nhưng cần chú ý mục tiêu của bài học và tôn trọng tính tầng bậc trong hoạt động tư duy.
Khi hướng dẫn HS thực hiện các yêu cầu và trả lời những câu hỏi ở phần sau khi đọc (mỗi câu gắn với một phần phân tích cụ thể nào đó), cần tham khảo các gợi ý s
Khi hướng dẫn HS thực hiện các yêu cầu và trả lời những câu hỏi ở phần sau khi đọc (mỗi câu gắn với một phần phân tích cụ thể nào đó), cần tham khảo các gợi ý sau:
Câu hỏi 1
GV hướng dẫn HS vận dụng tri thức đã được học ở các lớp dưới để nhận biết mối liên hệ giữa nhan đề và nội dung của văn bản. Từ đó, yêu cầu HS dựa vào nhan đề Nghệ thuật băm thịt gà để suy luận, phán đoán về nội dung được đề cập trong bài phóng sự. Có thể sử dụng một số câu hỏi gợi ý: Từ "nghệ thuật" thường gắn với những đối tượng, hoạt động nào? Sự việc được nêu trong nhan đề là gì? Sự việc đó có thuộc lĩnh vực nghệ thuật không? Như vậy, bài phóng sự sẽ kể lại một sự việc bình thường hay đặc biệt?
Câu hỏi 2
Câu hỏi kết hợp các yêu cầu nhận biết và phân tích, nhận xét. GV yêu cầu HS đọc lướt văn bản, theo dõi các thẻ đọc để hình dung khái quát về trình tự các sự việc chính được thuật lại trong văn bản.
Gợi ý:
Các sự việc trong văn bản được thuật lại theo trình tự thời gian, với các sự việc chính như sau: + Câu chuyện của tác giả và người bạn Lăng Vân lúc đêm khuya và gần sáng: bối cảnh và tình huống của sự kiện "chứa hàng xóm".
Cảnh mọi người kéo đến nhà Lăng Vân dự lệ làng khi "trời đã sáng rõ". + Cảnh anh mõ chia cỗ và băm thịt gà sau khi "hàng xóm đã đến đông đủ". - Nhận xét về cách quan sát, ghi chép hiện thực của tác giả: quan sát và ghi chép tại chỗ, chi tiết, chân thực toàn bộ câu chuyện về cảnh "chứa hàng xóm", có bối cảnh, tình huống, diễn biến (lúc thì "chùng chình, chờ đợi", lúc thì gấp gáp, khẩn trương). Đặc biệt, người kể chuyện đã không bỏ qua bất cứ một chi tiết nhỏ nào trong chuỗi hành động băm thịt gà của anh Mới. Cách miêu tả này đã tạo nên sự hấp dẫn và kịch tính cho câu chuyện.
Câu hỏi 3
GV hướng dẫn HS tìm các chi tiết miêu tả cảnh băm thịt gà của anh mõ làng, lưu ý các chi tiết: chia lễ thành hai mươi ba phần cỗ, hỏi ý kiến các cụ về việc pha cái sỏ gà thành mấy phần, băm con gà thành chín mươi hai miếng, cách tác giả nhận xét: "Trông những miếng thịt gà của hắn bốc ra góc mâm, mới đẹp làm sao! Không giập, không nát, không bong da, nó giống như tập cánh con bươm bướm. Nếu để trước môi mà thổi, có thể bay được mười thước.". Cách miêu tả cho thấy hiện thực chia phần ở nông thôn Việt Nam xưa theo kiểu "một miếng giữa làng" thật quái gở. Cái cách băm thịt gà đã thành "nghệ thuật" của anh mõ làng là minh chứng cho việc lệ làng chính là một tệ nạn, do những kẻ có chức sắc bày đặt ra, vì miếng ăn, vì cái sự chia phần nhiêu khê ấy mà nhiều người dân nghèo phải khổ sở chạy vạy, vay mượn cho những cuộc "chứa hàng xóm", vậy mà người ta vẫn cứ hô hào, cổ vũ. Cảnh chia cỗ này cùng với những câu chuyện khác trong tập phóng sự Việc làng đã được tác giả xâu chuỗi theo một chủ đề chung, nhằm ghi lại, phân tích và phơi bày những hủ tục nhiêu khê, quái gở đang duy trì ở nông thôn; những hủ tục ấy đã đẩy người dân quê vào cảnh cùng quẫn và tạo cơ hội để bọn cường hào, địa chủ nhũng nhiễu dân lành.
Câu hỏi 4 GV yêu cầu HS vận dụng những tri thức ngữ văn phù hợp để nhận biết và nêu nhận xét về tác dụng của ngôi kể thứ nhất trong thiên phóng sự. Có thể sử dụ
Câu hỏi 4
GV yêu cầu HS vận dụng những tri thức ngữ văn phù hợp để nhận biết và nêu nhận xét về tác dụng của ngôi kể thứ nhất trong thiên phóng sự. Có thể sử dụng một số câu hỏi gợi dẫn: Người kể lại sự việc trong bài phóng sự là ai? Do đâu người ấy có điều kiện quan sát và kể lại các sự việc đó? Thời gian, không gian gắn liền với ngôi kể có tác dụng như thế nào?
Gợi ý:
Bài phóng sự là lời kể của nhân vật "tôi". Nhân chuyến về thăm một người bạn cũ ở nông thôn, đúng vào ngày đến lượt nhà anh bạn đảm nhiệm việc "chứa hàng xóm". Vì vậy, nhân vật "tôi" có cơ hội tận mắt chứng kiến "nghệ thuật băm thịt gà" của anh mõ làng.
Việc sử dụng ngôi kể thứ nhất (người trực tiếp quan sát, kể lại sự việc) đáp ứng yêu cầu cốt lõi của thể loại phóng sự, đó là tính chân thực - sự xác thực và độ tin cậy của thông tin. Người kể chuyện đã dùng lối ghi chép tại chỗ để tái hiện chi tiết toàn bộ chuỗi hành động băm thịt gà của anh Mới.
Mặc dù không trực tiếp thể hiện thái độ, nhưng qua giọng điệu, lời nhận xét và cách miêu tả rất chi tiết việc băm thịt gà của anh Mới, người kể chuyện đã thể hiện thái độ phê phán của mình đối với một "việc làng" đầy phiền toái.
Câu hỏi 5
GV hướng dẫn HS nhận biết, phân tích một số yếu tố tạo nên giọng điệu hài hước, châm biếm, phê phán sâu cay của bài phóng sự như cách kể, cách miêu tả, lời trữ tình ngoại đề,… Đó cũng chính là những yếu tố tạo nên nét đặc sắc về nghệ thuật của thiên phóng sự.
Gợi ý:
Cách tiếp cận, phản ánh hiện thực bằng lối quan sát, ghi chép tỉ mỉ, chân thực toàn bộ quá trình và kết quả của việc "băm thịt gà", qua đó khái quát, châm biếm một hiện tượng điển hình của đời sống xã hội nông thôn Việt Nam xưa ở cả chiều rộng và chiều sâu.
Cách miêu tả và xây dựng nhân vật: Nhân vật anh mõ làng thuần thục, điêu luyện trong việc băm thịt gà, điển hình cho tệ nạn chia phần khủng khiếp ở nông thôn Việt Nam trước Cách mạng tháng Tám, được miêu tả bằng cái nhìn khách quan nhưng có ý nghĩa phê phán sâu sắc.
Cách sử dụng ngôn ngữ: Ngôn ngữ miêu tả cùng với những lời trữ tình ngoại đề đầy thán phục ("Trông những miếng thịt của hắn bốc ra góc mâm, mới đẹp làm sao!"; "Tôi chịu lắm. Và tôi muốn dâng cho ông Mới ấy cái chức nghệ sĩ.";…) nhưng không phải là lời ngợi ca tài năng và nghệ thuật mà là lời châm biếm về hủ tục chia phần khủng khiếp ở làng quê này.
Câu hỏi 6
GV hướng dẫn HS tìm hiểu về bối cảnh ra đời của văn bản và liên hệ với thực tiễn ở nông thôn hiện nay để trả lời câu hỏi. Trên thực tế, một số hủ tục quá lạc hậu và quái gở như cảnh "chứa hàng xóm" hiện nay hầu như đã không còn tồn tại ở nông thôn Việt Nam, nhưng có thể vẫn còn một số "lệ làng" như: thói chia phần cỗ đám cưới, thói khoe khoang (xây nhà mình phải to hơn nhà hàng xóm), nạn chè chén mỗi dịp ma chay,… Do vậy, văn bản Nghệ thuật băm thịt gà, với lối viết châm biếm nhẹ nhàng mà thâm thuý, sâu cay vẫn như một lời nhắc nhở chúng ta
cần nhận ra và thể hiện thái độ, hành vi đúng đắn với những hủ tục ở nông thôn, để bộ mặt nông thôn mới ngày càng phát triển, không còn những “nghệ sĩ” và “nghệ
cần nhận ra và thể hiện thái độ, hành vi đúng đắn với những hủ tục ở nông thôn, để bộ mặt nông thôn mới ngày càng phát triển, không còn những “nghệ sĩ” và “nghệ thuật” phi lí, phản cảm như thiên phóng sự đã phơi bày.
Câu hỏi 7
– Câu hỏi yêu cầu HS khái quát đặc điểm cơ bản của thể loại phóng sự qua văn bản Nghệ thuật băm thịt gà.
– Một số đặc điểm của phóng sự:
Tính thời sự: Tác giả đã tái hiện một hiện tượng đang hằng ngày diễn ra trong đời sống nông thôn Việt Nam lúc bấy giờ, qua đó thể hiện thái độ châm biếm, phê phán, tác động đến nhận thức của con người trong xã hội đương thời.
Tính xác thực: Sự chính xác của phóng sự thể hiện qua việc ghi chép chân thực những chi tiết, thời gian, địa điểm,... đặc biệt là việc ghi chép tại chỗ cảnh băm thịt gà.
Tính thẩm mĩ: Thể hiện dấu ấn phong cách cá nhân tác giả trong việc miêu tả sự việc và nhân vật; sử dụng ngôn ngữ và những lời trữ tình ngoại đề giàu hình ảnh, cảm xúc,... tạo hứng thú cho người đọc.
Hoạt động 4 Kết nối đọc – viết
HS có thể chọn một khía cạnh nội dung (câu chuyện về lệ làng, cảnh băm thịt gà,...) hoặc nghệ thuật (cách quan sát, ghi chép tại chỗ; nghệ thuật miêu tả nhân vật; giọng điệu hài hước, châm biếm;...) để triển khai đoạn văn. Tham khảo gợi ý sau:
– Giới thiệu khía cạnh được lựa chọn làm đề tài cho đoạn văn.
– Phân tích được ý nghĩa của khía cạnh đó trong việc làm nên giá trị nội dung hoặc nghệ thuật của bài phóng sự.
– Thể hiện được cảm nhận của cá nhân đối với khía cạnh nội dung hoặc nghệ thuật của tác phẩm.
Văn bản 2
Bước vào đời
(Trích Nhớ nghĩ chiều hôm)
Đào Duy Anh
1. Phân tích yêu cầu cần đạt
– HS nhận biết được một số yếu tố của hồi kí như: tính phi hư cấu và một số thủ pháp nghệ thuật (miêu tả, trần thuật); sự kết hợp của các chi tiết, sự kiện hiện thực với trải nghiệm, thái độ và đánh giá của người viết;... được thể hiện trong văn bản Bước vào đời của tác giả Đào Duy Anh. Qua đó nhận thức được bối cảnh chính trị, xã hội Việt Nam giữa thập niên hai mươi của thế kỉ XX và hoài bão của tầng lớp thanh niên trên hành trình đi tìm con đường sự nghiệp của cá nhân.
HS rèn luyện kĩ năng phân tích tác phẩm hồi kí (tính phi hư cấu, điểm nhìn của người viết, hiện thực được phản ánh, ý nghĩa của văn bản và bài học với người tiế
HS rèn luyện kĩ năng phân tích tác phẩm hồi kí (tính phi hư cấu, điểm nhìn của người viết, hiện thực được phản ánh, ý nghĩa của văn bản và bài học với người tiếp nhận,…). - HS vận dụng được kinh nghiệm đọc, trải nghiệm về cuộc sống để phân tích và đánh giá được khả năng tác động của tác phẩm kí đối với người đọc và tiến bộ xã hội.
2. Gợi ý tổ chức hoạt động dạy học
Hoạt động 1 Khởi động
Văn bản Bước vào đời là đoạn trích thuộc phần đầu của cuốn hồi kí Nhớ nghĩ chiều hôm của học giả Đào Duy Anh. Đúng như đoạn mở đầu văn bản:"Đến buổi xế chiều của cuộc đời, những đêm khó ngủ, tôi thường nhớ lại những ngày mình mới vào đời, không thể không nhớ đến cái sự kiện có thể nói là đã định hướng cho cả cuộc đời của tôi từ trước đến sau", nội dung của văn bản vừa là hồi ức về một thời điểm khó quên trong cuộc đời của tác giả, vừa tái hiện lại một giai đoạn lịch sử của xã hội Việt Nam và cách sống của tầng lớp thanh niên
lúc bấy giờ. Những nội dung được đề cập trong văn bản khá phù hợp với lứa tuổi HS lớp 12 nên có thể khơi gợi nhiều thông điệp, bài học có ý nghĩa đối với người đọc trong việc xác định nghề nghiệp của bản thân. Câu hỏi khởi động gợi ý HS liên hệ tới việc định hướng tương lai của mỗi cá nhân và những yếu tố tác động đến việc định hướng này, tạo tâm thế tích cực, khơi gợi sự trải nghiệm của HS để kết nối vào nội dung của bài học.
GV có thể tổ chức hoạt động này một cách linh hoạt theo một số hình thức sau: - Yêu cầu HS chuẩn bị theo câu hỏi trong SGK và trả lời trước lớp. - Tổ chức thảo luận nhóm tại lớp. - Trình chiếu video clip về những kí ức lựa chọn nghề nghiệp của một số nhân vật nổi tiếng. Hoặc GV có thể gợi ý để HS nhớ lại một số văn bản đọc ở Bài 9 (SGK Ngữ văn 10, tập hai và Ngữ văn 1 1, tập hai) liên quan đến việc lựa chọn nghề nghiệp để khơi gợi trải nghiệm của HS. Qua nội dung trình bày của HS, GV gợi ý: Một số yếu tố tác động đến sự lựa chọn hướng đi tương lai của mỗi người thường là đam mê và hoài bão của cá nhân, xu hướng xã hội, những tấm gương thành công,…
Hoạt động 2 Đọc văn bản
GV lưu ý HS cách đọc văn bản hồi kí, chú ý các thẻ chỉ dẫn đọc ở bên phải văn bản để xác định bối cảnh, những sự kiện, nhân vật chính được đề cập. - Cho HS đọc nội dung giới thiệu về tác giả, tác phẩm và các chú thích ở chân trang để có những cảm nhận chung về văn bản. - HS cần đọc trước văn bản ở nhà, đồng thời hoạt động đọc văn bản cần được tổ chức trên lớp để tạo không khí cho HS trước khi tìm hiểu chi tiết về văn bản.
Hoạt động 3 Khám phá văn bản Đây là hoạt động trọng tâm, giúp HS tiếp nhận các tri thức và rèn luyện kĩ năng đọc hiểu văn bản theo yêu cầu cần đạt. Trước khi tì
Hoạt động 3 Khám phá văn bản
Đây là hoạt động trọng tâm, giúp HS tiếp nhận các tri thức và rèn luyện kĩ năng đọc hiểu văn bản theo yêu cầu cần đạt. Trước khi tìm hiểu văn bản theo các câu hỏi sau khi đọc, GV có thể cho HS tìm hiểu nội dung giới thiệu về hồi kí được trình bày ở phần Tri thức ngữ văn của bài học để có những kiến thức lí luận cần thiết. Trong kế hoạch bài dạy, GV có thể định hướng cách khám phá văn bản cho HS theo phương án riêng của mình, nhưng nhất thiết phải bám sát yêu cầu cần đạt và cần khai thác hiệu quả hệ thống câu hỏi sau khi đọc của SGK. Dưới đây là gợi ý cụ thể cách giải quyết các yêu cầu được đặt ra từ hệ thống câu hỏi:
Câu hỏi 1
Câu hỏi này hướng đến việc tìm hiểu nội dung khái quát của văn bản. Để trả lời câu
hỏi, GV hướng dẫn HS đọc lướt lại văn bản, quan sát các thẻ chỉ dẫn đọc tương ứng với mỗi phần của văn bản, từ đó xác định sự kiện chính và phát hiện điểm nhìn của tác giả khi kể câu chuyện.
GV định hướng: + Sự kiện chính được đề cập trong văn bản: kí ức về giai đoạn "bước vào đời" của tác giả. + Điểm nhìn của tác giả khi kể câu chuyện: Tác giả không chỉ xuất phát từ điểm nhìn cá nhân mà còn từ điểm nhìn thời đại; theo đó, ngoài việc nói về sự lựa chọn của cá nhân, đoạn trích còn đề cập sự lựa chọn của tầng lớp thanh niên trí thức lúc bấy giờ, với sức ảnh hưởng lớn từ những nhà yêu nước, cách mạng.
Câu hỏi 2
Câu hỏi hướng HS tiếp nhận văn bản từ góc độ thể loại. Trong hồi kí, tính phi hư cấu chi phối việc nhà văn làm sống lại những kí ức chân thật về một đoạn đời của mình hoặc của lịch sử đất nước, dân tộc. Tính phi hư cấu là một đặc điểm tạo nên sự hấp dẫn và giá trị riêng của hồi kí. Tuy nhiên, để tăng sức hấp dẫn, tác giả hồi kí có thể sắp xếp, bố trí các sự kiện theo mạch kể và điểm nhìn riêng. - Để trả lời câu hỏi, GV có thể cho HS đọc lại văn bản, tìm những sự kiện, chi tiết tái hiện bối cảnh lịch sử, nhân vật mang dấu ấn lịch sử, câu chuyện được kể lại, mốc thời gian,… và nhận xét về tính chân thực của những sự kiện, chi tiết đó.
Câu hỏi 3
Với câu hỏi này, GV có thể tổ chức cho HS trao đổi theo cặp đôi, tìm và đánh dấu những sự việc, chi tiết thể hiện hoài bão "bước vào đời" của nhân vật "tôi". - Theo mạch hồi kí, có thể thấy tác giả đã tái hiện những kí ức về thời điểm"bước vào đời" của mình như sau: + Xuất phát điểm của nhân vật "tôi": dạy ở trường tiểu học tỉnh lị Quảng Bình, trong bầu không khí"êm đềm uể oải"; mong muốn một nơi có sinh hoạt văn hoá rộng rãi hơn.
Việc tiếp xúc với báo chí, với những tin tức về các sự kiện lớn liên quan đến các nhân vật lịch sử (Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh) đem đến một luồng suy nghĩ m
Việc tiếp xúc với báo chí, với những tin tức về các sự kiện lớn liên quan đến các nhân vật lịch sử (Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh) đem đến một luồng suy nghĩ mới cho tác giả.
Cuộc gặp gỡ với Phan Bội Châu và những ấn tượng, cảm xúc từ bài phát biểu của cụ Phan dẫn đến quyết định thay đổi cuộc đời của nhân vật "tôi": "quyết định đi Sài Gòn để viết báo".
Ảnh hưởng từ lễ tang Phan Châu Trinh và những lời ca tụng trong bài văn tế càng thúc giục tác giả làm những điều cao cả theo tấm gương của các nhà cách mạng tiền bối.
Như vậy, bản thân tác giả đã mang trong mình hoài bão làm những việc lớn lao, lại được sống trong một thời đại có nhiều sự kiện tác động đến đời sống chính trị lúc bấy giờ, đó là động lực dẫn đến những quyết định trọng đại trong cuộc đời của tác giả.
Câu hỏi 4
Câu hỏi nhằm hướng dẫn HS khái quát về bối cảnh được tái hiện trong văn bản. HS có thể thảo luận nhóm hoặc trao đổi chung cả lớp.
Đoạn trích đã thuật lại một giai đoạn lịch sử của dân tộc. Do các phương tiện truyền thông chưa phổ biến như bây giờ, tin tức chỉ được biết đến qua một số tờ báo. Trong bối cảnh đời sống chính trị ở các tỉnh lị thường là "êm đềm uể oải", tin tức được chuyển tải từ các tờ báo ở những nơi trung tâm văn hoá chính trị như Hà Nội, Sài Gòn đã tác động đến đời sống chính trị của những địa phương khác và tác động sâu sắc đến giới thanh niên trí thức.
Qua những sự kiện, câu chuyện được tái hiện trong văn bản, có thể thấy sự gắn bó giữa cá nhân và cộng đồng xã hội là một trong những tác nhân dẫn đến sự lựa chọn định hướng tương lai của tầng lớp thanh niên trí thức đương thời.
Câu hỏi 5
Câu hỏi 4 và 5 đều có mục đích hướng dẫn HS tiếp nhận và khái quát được những yếu tố về bối cảnh thời đại được miêu tả trong văn bản. Câu hỏi này hướng HS tìm hiểu cụ thể hơn về những gì đã tạo nên động lực để lớp thanh niên như tác giả quyết định con đường phía trước và hành động theo những gì mình lựa chọn. Do vậy, GV có thể thiết kế phiếu học tập và cho HS thảo luận nhóm nội dung cả hai câu hỏi này.
Đoạn trích đã nhắc đến các nhân vật có tầm ảnh hưởng lớn đối với một giai đoạn lịch sử của dân tộc là Phan Châu Trinh và Phan Bội Châu, đặc biệt là sự xuất hiện của Phan Bội Châu tại trụ sở Hội Quảng tri. Những sự kiện gắn với hai nhân vật lịch sử này đã có tác động sâu rộng đến suy nghĩ, sự lựa chọn và hành động của đông đảo tầng lớp thanh niên giàu tinh thần dân tộc, trong đó có Đào Duy Anh.
Việc dựng lại bối cảnh chính trị xã hội Việt Nam giữa thập niên hai mươi của thế kỉ XX và những câu chuyện về các nhân vật lịch sử cũng là yếu tố tạo nên giá trị của văn bản.
Câu hỏi 6
Sức hấp dẫn của văn bản không chỉ đến từ những sự kiện được tác giả thuật lại một cách chân thật mà còn từ cách kể chuyện và những cảm xúc của tác giả gửi vào câu chuyện được kể.
GV hướng dẫn HS tìm những yếu tố miêu tả, biểu cảm trong văn bản, qua đó nhận xét về tác dụng của mỗi yếu tố trong việc tái hiện kí ức của tác giả. Gợi ý: + Biể
GV hướng dẫn HS tìm những yếu tố miêu tả, biểu cảm trong văn bản, qua đó nhận xét về tác dụng của mỗi yếu tố trong việc tái hiện kí ức của tác giả.
Gợi ý: + Biểu hiện: Yếu tố miêu tả: nói về cảnh sinh hoạt tại trụ sở Hội Quảng tri ở phần đầu văn bản; thể hiện tập trung ở đoạn văn nói về sự kiện Phan Bội Châu đến dự cuộc tiếp đón tại địa điểm nêu trên. Yếu tố biểu cảm: kết hợp với yếu tố miêu tả về Phan Bội Châu; đoạn văn cuối nói về cảm xúc của tác giả khi nghe những câu văn trong bài văn tế Phan Châu Trinh.
Tác dụng: tạo ấn tượng về các sự việc, nhân vật; tạo chất văn cho những hồi ức được kể lại; đem đến cảm xúc và sức hấp dẫn cho người đọc khi tiếp xúc với văn bản.
Câu hỏi 7
Văn bản Bước vào đời có thể gợi ra nhiều suy nghĩ cho người đọc, nhất là những người đọc trẻ tuổi về việc lựa chọn hướng đi của cá nhân trước ngưỡng cửa cuộc đời. Đối tượng lựa chọn không chỉ đơn giản là một nghề nghiệp, một công việc mà còn là một lí tưởng, một hướng đi đúng đắn. Điều này thể hiện ý thức của một cá nhân trong cộng đồng, trách nhiệm của một công dân với dân tộc, lịch sử.
Lựa chọn hướng đi, do vậy, không đơn giản là việc của mỗi cá nhân, mà còn là việc của cả một thế hệ thanh niên giàu bản lĩnh, có hoài bão lớn.
GV gợi dẫn: Với tư cách là một thanh niên thế hệ mới, mỗi người cần suy nghĩ đến con đường mình sẽ đi để có những cống hiến cho đất nước.
Hoạt động 4 Kết nối đọc - viết
Yêu cầu viết kết nối với đọc hướng đến việc HS trình bày suy nghĩ về khát vọng của tuổi trẻ từ những cảm nhận, liên tưởng qua việc tìm hiểu văn bản Bước vào đời. GV dành thời gian phù hợp để tổ chức hoạt động kết nối đọc - viết cho HS. GV định hướng để HS viết được đoạn văn phù hợp về nội dung và hình thức.
Gợi ý nội dung đoạn văn: + Cảm nhận về những khát khao của tầng lớp thanh niên được đề cập trong văn bản. + Cảm nhận về bối cảnh mới và những đòi hỏi của thời đại đối với tầng lớp thanh niên hiện nay.
Nêu những thông điệp và bài học đối với cá nhân về việc lựa chọn hướng đi, lựa chọn lí tưởng sống.
GV có thể cho một số HS trình bày trước lớp đoạn văn mà các em đã viết và dành thời gian để nhận xét, đánh giá kết quả viết của HS.
Thực hành tiếng Việt
Thực hành tiếng Việt
Trang 50
VIẾT Viết bài văn nghị luận về một vấn đề liên quan đến tuổi trẻ (Cách ứng xử trong các mối quan hệ gia đình, xã hội) 1. Phân tích yêu cầu cần đạt – HS nhận biế
VIẾT
Viết bài văn nghị luận về một vấn đề liên quan đến tuổi trẻ
(Cách ứng xử trong các mối quan hệ gia đình, xã hội)
1. Phân tích yêu cầu cần đạt
– HS nhận biết được đặc điểm, yêu cầu của kiểu bài nghị luận về một vấn đề liên quan đến tuổi trẻ; có ý thức rèn luyện các kĩ năng, thao tác cần thiết để viết bài nghị luận xã hội và biết cách trình bày ý kiến, quan điểm của cá nhân.
– HS biết thực hành viết bài văn nghị luận về một vấn đề mình quan tâm, đáp ứng được các yêu cầu đối với kiểu bài.
2. Những lưu ý về yêu cầu đối với kiểu bài HS đã được thực hành viết kiểu bài nghị luận về một vấn đề liên quan đến tuổi trẻ (những hoài bão, ước mơ) ở Bài 3, S
2. Những lưu ý về yêu cầu đối với kiểu bài
HS đã được thực hành viết kiểu bài nghị luận về một vấn đề liên quan đến tuổi trẻ (những hoài bão, ước mơ) ở Bài 3, SGK Ngữ văn 12, tập một. Vì vậy, GV cần hướng dẫn HS vận dụng các thao tác, kĩ năng đã được hình thành, rèn luyện để bàn luận về vấn đề cách ứng xử trong các mối quan hệ gia đình, xã hội. - Khi hướng dẫn HS tìm đề tài, cần lưu ý đến đặc điểm tâm lí lứa tuổi và môi trường học đường để có định hướng phù hợp. HS có thể sử dụng những đề tài được gợi ý trong SGK hoặc các em tự lựa chọn vấn đề mình quan tâm.
3. Gợi ý tổ chức hoạt động dạy học
Hoạt động 1 Tìm hiểu yêu cầu của kiểu bài
GV hướng dẫn HS đọc và tóm tắt các yêu cầu của kiểu bài được trình bày ở khung mở
đầu phần Viết. - GV cho HS đối chiếu yêu cầu của kiểu bài ở Bài 3 và Bài 7; chỉ ra những điểm giống nhau và khác nhau. Từ đó, HS sẽ biết vận dụng các thao tác, kĩ năng đã được thực hành để đáp ứng những yêu cầu riêng của bài viết này.
Hoạt động 2 Đọc và phân tích bài viết tham khảo
GV hướng dẫn HS đọc bài viết tham khảo; lưu ý các thẻ chỉ dẫn. - Để nắm vững mô hình kiểu bài và các thao tác, HS cần trả lời đầy đủ những câu hỏi được nêu dưới bài viết tham khảo: + Câu 1 yêu cầu xác định vấn đề được bàn luận trong bài viết (cách ứng xử trong tình yêu đôi lứa). + Câu 2 yêu cầu chỉ ra các luận điểm được trình bày trong bài viết (tuổi trẻ và tình yêu trong xã hội hiện đại; những cách ứng xử tiêu cực, những cách ứng xử đúng đắn trong tình yêu của một số bạn trẻ;…). + Câu 3 yêu cầu chỉ ra các loại lí lẽ và bằng chứng được người viết sử dụng trong bài viết (bằng chứng lấy từ tác phẩm văn học: Tôi yêu em của Pu-skin, Tây Tiến của Quang Dũng, Hôn của Phùng Quán,…; bằng chứng lấy từ đời sống thực tế: những cách ứng xử tiêu cực trong tình yêu,…). + Câu 4 lưu ý HS về những ý kiến trái chiều bị phản bác trong bài viết (những cách ứng xử tiêu cực trong tình yêu) và những lí lẽ, bằng chứng được người viết dùng để phản biện. Qua đó, HS nhận thức được tầm quan trọng của các yếu tố này và có ý thức vận dụng vào việc viết kiểu bài tương tự.
Hoạt động 3 Thực hành viết theo các bước Hoạt động thực hành viết đã được hướng dẫn cụ thể, tường minh trong SGK theo các bước: Chuẩn bị viết; Tìm ý, lập dàn ý;
Hoạt động 3 Thực hành viết theo các bước
Hoạt động thực hành viết đã được hướng dẫn cụ thể, tường minh trong SGK theo các bước: Chuẩn bị viết; Tìm ý, lập dàn ý; Viết; Chỉnh sửa, hoàn thiện. GV yêu cầu HS tự đọc và thực hiện từng bước:
- Chuẩn bị viết: Trong hoạt động viết của Bài 3, HS đã được thực hành qua việc đề xuất,
thảo luận và chốt đề tài theo nhóm. Ở đây, GV có thể tiếp tục sử dụng hình thức hoạt động này hoặc định hướng cho các em lựa chọn đề tài trên cơ sở các vấn đề được gợi ý trong SGK.
Tìm ý, lập dàn ý: HS lớp 12 đã khá quen thuộc với các thao tác này nên GV nhắc các em vận dụng kinh nghiệm viết kiểu bài nghị luận xã hội nói chung và cách viết kiểu bài nghị luận về một vấn đề liên quan đến tuổi trẻ (đã thực hành ở Bài 3) để xây dựng dàn ý cho bài viết. GV cũng có thể chọn một đề tài cụ thể để hướng dẫn HS thực hành lập dàn ý và nhận xét, góp ý. Trên cơ sở nắm vững mô hình chung của kiểu bài, mỗi HS sẽ tự triển khai bài viết
với đề tài của nhóm mình.
Viết: GV nhắc HS chú ý các yêu cầu được nhấn mạnh ở từng phần Mở bài, Thân bài và Kết bài; đồng thời khuyến khích các em thể hiện quan điểm cá nhân và cách nhìn nhận đa chiều về vấn đề được bàn luận.
Chỉnh sửa, hoàn thiện: GV hướng dẫn HS bám sát các yêu cầu của kiểu bài và dàn ý để chỉnh sửa bài viết; lưu ý các lỗi chính tả, từ ngữ, ngữ pháp.
Tuỳ theo kế hoạch của tổ chuyên môn, GV yêu cầu HS thực hành viết bài ở lớp hay ở nhà. Nếu Bài 3 cho phép HS viết ở nhà thì bài này, GV có thể yêu cầu viết tại lớp.
TRẢ BÀI
Hoạt động 1 Nhắc lại, khắc sâu yêu cầu của kiểu bài
GV gọi một HS nhắc lại yêu cầu của kiểu bài nghị luận về một vấn đề liên quan đến tuổi trẻ; chỉ ra những đặc điểm riêng của kiểu bài này.
GV nhận xét, bổ sung, nhấn mạnh các yêu cầu và đặc điểm riêng của kiểu bài.
Hoạt động 2 Nhận xét về kết quả viết và yêu cầu HS chỉnh sửa bài viết
GV đọc lại đề bài, phân tích các yêu cầu cơ bản; nhận xét về những ưu điểm và nhược điểm chung trong bài làm của HS. Có thể nêu một số ví dụ cụ thể từ bài viết để HS nhận biết rõ ưu điểm nên học tập, phát huy và nhược điểm cần khắc phục.
GV gọi HS nhắc lại yêu cầu của kiểu bài nói chung và của đề bài cụ thể (nếu chọn đề tài theo nhóm thì gọi đại diện các nhóm trình bày); hướng dẫn HS đối chiếu bài viết với yêu cầu của kiểu bài để chỉnh sửa.
Yêu cầu HS dựa vào nhận xét của GV và nội dung đã chỉnh sửa để viết lại bài mới ở nhà.
Trang 54
Củng cố, mở rộng Phần Củng cố, mở rộng của Bài 7 gồm bốn yêu cầu. Câu 1 yêu cầu HS so sánh đặc điểm “ghi chép sự thật” của phóng sự và hồi kí, qua đó củng cố ki
Củng cố, mở rộng
Phần Củng cố, mở rộng của Bài 7 gồm bốn yêu cầu. Câu 1 yêu cầu HS so sánh đặc điểm “ghi chép sự thật” của phóng sự và hồi kí, qua đó củng cố kiến thức, kĩ năng đọc hiểu các thể loại này. HS cần vận dụng tri thức ngữ văn và sử dụng kết quả đọc hiểu văn bản 1, 2 để thực hiện. Với yêu cầu 2, GV hướng dẫn HS tìm đọc một số phóng sự tiêu biểu của Việt Nam trong những năm gần đây (ví dụ: phóng sự trong cuộc thi Nét đẹp lao động của báo Người lao động năm 2019 – 2020, cuộc thi Người tốt – Việc tốt của báo Sài Gòn Giải Phóng năm 2020 – 2022, giải thưởng Báo chí tài nguyên và môi trường của Bộ Tài nguyên và Môi trường năm 2022,…); một số hồi kí như: Cô bé nhìn mưa (Đặng Thị Hạnh), Hồi ức chiến tranh Vị Xuyên (Nguyễn Đức Huy),…
Yêu cầu 3, 4 nhằm mục đích rèn luyện kĩ năng viết, nói và nghe cho HS. GV hướng dẫn HS căn cứ vào yêu cầu của kiểu bài nghị luận về một vấn đề liên quan đến tuổi trẻ và đề bài cụ thể để lập dàn ý, viết đoạn văn. Đối với yêu cầu lập dàn ý, có thể phân công nhiệm vụ theo nhóm; sau đó mỗi HS tự chọn một ý để triển khai đoạn văn. HS căn cứ vào yêu cầu của kiểu bài trình bày quan điểm về một vấn đề liên quan đến tuổi trẻ và đề bài để chuẩn bị nội dung, tổ chức thuyết trình theo nhóm.
Trang 56
Trang 57
Tìm hiểu tri thức ngữ văn – GV yêu cầu HS đọc trước phần Tri thức ngữ văn trong SGK Ngữ văn 12, tập hai, tr. 63 – 64, đối chiếu với những thông tin đã học trong
Tìm hiểu tri thức ngữ văn
– GV yêu cầu HS đọc trước phần Tri thức ngữ văn trong SGK Ngữ văn 12, tập hai, tr. 63 – 64, đối chiếu với những thông tin đã học trong SGK Ngữ văn 10, tập hai, SGK Ngữ văn 11, tập hai về văn bản thông tin và chú ý đến những thông tin mới ở bài học này.
– GV có thể cho HS thực hành đánh giá tính cập nhật, độ tin cậy của dữ liệu qua một số ví dụ cụ thể (các ảnh chụp, số liệu, video clip, audio,…), sau đó rút ra những cách thức đánh giá dữ liệu (có đối chiếu với các tri thức ngữ văn được trình bày trong SGK) và ghi lại những thông tin quan trọng cần ghi nhớ trước khi đọc văn bản.
ĐỌC Văn bản 1 Văn bản 1 Pa-ra-na (Parana) (Trích Nhiệt đới buồn – Cờ-lốt Lê-vi-Xtơ-rốt) (Trích Nhiệt đới buồn) Cờ-lốt Lê-vi-Xtơ-rốt 1. Phân tích yêu cầu cần đạt
ĐỌC
Văn bản 1
Văn bản 1
Pa-ra-na (Parana) (Trích Nhiệt đới buồn – Cờ-lốt Lê-vi-Xtơ-rốt)
(Trích Nhiệt đới buồn)
Cờ-lốt Lê-vi-Xtơ-rốt
1. Phân tích yêu cầu cần đạt
– HS phân tích và đánh giá được đề tài, thông tin cơ bản của văn bản; đánh giá được thái độ, quan điểm của người viết và nội dung của văn bản dựa trên trải nghiệm, quan điểm của người đọc.
– HS nhận biết được bố cục, mạch lạc của văn bản.
– HS biết phân tích mối liên hệ giữa các chi tiết, dữ liệu và vai trò của chúng trong việc thể hiện thông tin; đánh giá được cách chọn lọc, sắp xếp thông tin; phân biệt được dữ liệu sơ cấp và thứ cấp; nhận biết và đánh giá được tính mới mẻ, độ tin cậy của dữ liệu trong văn bản.
– HS biết trân trọng và có ứng xử bình đẳng với những nền văn hoá khác biệt.
2. Gợi ý tổ chức hoạt động
Hoạt động 1 Khởi động
– GV giao nhiệm vụ cho HS tìm hiểu trước ở nhà về lịch sử và văn hoá của người Anh điêng ở châu Mỹ. Mỗi nhóm có thể thực hiện một nhiệm vụ, ví dụ:
Xem một bộ phim về người thổ dân ở châu Mỹ, ví dụ: Người Mô-hi-can (Mohican) cuối cùng, Kị sĩ cô độc, Khiêu vũ với bầy sói,...
Đọc một tác phẩm văn học hoặc một cuốn sách, một văn bản lịch sử trong đó có hình tượng người thổ dân ở châu Mỹ, ví dụ: tiểu thuyết Không nhà của Tôm-mi O-ran-giơ (Tommy Orange), Sinh ra để chạy của Crít-tô-phơ Mác-đô-gan (Christopher McDougall),...
Sưu tập các tranh, ảnh về lịch sử, văn hoá, phong tục của người thổ dân ở châu Mỹ.
Tìm hiểu về lịch sử hình thành châu Mỹ, đặc biệt là phát kiến địa lí của Cô-lôm-bô (Colombo) và cuộc xâm lược thuộc địa của người châu Âu.
– HS có thể chia sẻ những thông tin mà mình tìm hiểu được dưới dạng video clip, audio, một bài thuyết trình ngắn hoặc một văn bản vào đầu giờ học. GV nhận xét, tổng kết lại những thông tin quan trọng, nhấn mạnh những tri thức nền cần thiết để đọc hiểu văn bản.
Hoạt động 2 Đọc văn bản
GV hướng dẫn HS đọc to văn bản, đặc biệt chú ý đến những thể chỉ dẫn ở bên phải văn bản.
Hoạt động 3 Khám phá văn bản Pa-ra-na được trích trong cuốn sách nổi tiếng Nhiệt đới buồn của Cờ-lốt Lê-vi-Xtơ-rốt. Cuốn sách này ra đời trong bối cảnh nhân loạ
Hoạt động 3 Khám phá văn bản
Pa-ra-na được trích trong cuốn sách nổi tiếng Nhiệt đới buồn của Cờ-lốt Lê-vi-Xtơ-rốt. Cuốn sách này ra đời trong bối cảnh nhân loại chứng kiến sự bành trướng của chủ nghĩa thực dân, sự phổ biến của những quan niệm "dĩ Âu vi trung" (lấy châu Âu làm trung tâm) trong nghiên cứu dân tộc học và nhân chủng học, trong đó, những bộ tộc thiểu số thường được miêu tả trong trạng thái man rợ, bán khai, kém văn minh, nhằm tô đậm vị thế thượng đẳng của văn minh phương Tây. Khoảng giữa thế kỉ XX cũng là giai đoạn mà thế giới vừa trải qua thảm hoạ chiến tranh và nhân loại đang cần nhìn nhận lại về mối nguy hiểm của vấn nạn phân biệt chủng tộc. Đời sống hoang dã, những truyền thống cổ xưa và các cộng đồng thiểu số trên thế giới đều bị đe doạ nghiêm trọng bởi sự bành trướng của văn minh công nghiệp. Nhiệt đới buồn của Cờ-lốt Lê-vi-Xtơ-rốt, cũng như rất nhiều nghiên cứu khác của ông, là sự chất vấn những tư tưởng học thuật đương thời và thể hiện một cái nhìn sâu sắc về văn hoá nhân loại cũng như về môi trường sinh thái. Ông cất lên tiếng nói để bảo vệ
cho sự đa dạng văn hoá, giá trị của đời sống hoang dã cũng như khẳng định vẻ đẹp và sức sống bền bỉ của những nền văn hoá cổ xưa.
Cờ-lốt Lê-vi-Xtơ-rốt là nhà nghiên cứu thực địa, nhưng cũng được coi là nhà nhân học cấu trúc. Ông đã sử dụng phương pháp nghiên cứu cấu trúc để quan sát, phân tích các hiện tượng văn hoá. Phương pháp này giúp ông nhìn ra những bản chất, quy luật, cấu trúc bề sâu và đặc biệt là những tương quan quyền lực ẩn bên dưới những hiện tượng văn hoá tưởng chừng rời rạc, ngẫu nhiên, tạm thời trong đời sống thường nhật. Sự kết hợp giữa cái nhìn mang tính chất thực chứng của một nhà thực địa và tư duy sâu sắc của một nhà nghiên cứu cấu trúc đã khiến cho những tác phẩm của ông vừa đầy ắp sự chân thật của đời sống, vừa sâu sắc và giàu suy tư.
Tác phẩm Nhiệt đới buồn còn hấp dẫn người đọc bởi văn phong tinh tế, bay bổng và phóng khoáng, vừa mang dáng dấp của một cuốn du kí, vừa là một khảo luận về triết học, dân tộc học, nhân chủng học, vừa rất giàu chất thơ. Vì thế, GV nên khuyến khích HS tìm đọc trọn vẹn nội dung cuốn sách.
Các câu hỏi trong SGK nhằm hướng dẫn HS hiểu được cấu trúc văn bản, nắm bắt những nội dung quan trọng nhất của văn bản, thực hành các kĩ năng đọc hiểu văn bản thông tin. Với những câu hỏi khó như câu 4, câu 7, GV có thể đặt thêm những câu hỏi phụ, hoặc đưa ra những gợi ý để HS tự tìm được câu trả lời. Ngoài những câu hỏi trong SGK, GV có thể đặt thêm những câu hỏi khác nhằm giúp HS khai thác sâu văn bản. Có thể tham khảo các câu hỏi trong sách Bài tập Ngữ văn 12, tập hai.
GV có thể tham khảo gợi ý sau đây để hướng dẫn HS trả lời các câu hỏi trong SGK:
Câu hỏi 1
GV hướng dẫn HS đọc kĩ đoạn 2 của văn bản, tìm các từ khoá, đặc biệt chú ý các mốc thời gian và sự kiện lịch sử cho thấy số phận của người Anh điêng ở khu vực nam Bra-xin (Brasil), từ đó phân biệt các ý chính, ý phụ. HS có thể sử dụng sơ đồ, bảng biểu để trực quan hoá các thông tin trong đoạn văn này. Tham khảo sơ đồ gợi ý sau:
SỐ PHẬN CỦA NGƯỜI BẢN ĐỊA TRONG LỊCH SỬ Trước thời kì thuộc địa Người Giê (Gé) sống ở toàn bộ khu vực nam Bra-xin. Vài thế kỉ trước Người Tu-pi chiếm vùng biển
SỐ PHẬN CỦA NGƯỜI BẢN ĐỊA TRONG LỊCH SỬ
Trước thời kì thuộc địa
Người Giê (Gé) sống ở toàn bộ khu vực nam Bra-xin.
Vài thế kỉ trước
Người Tu-pi chiếm vùng biển và bị xoá sổ bởi thực dân. Người Giê rút lui vào vùng hẻo lánh.
1914
Phần lớn người Giê bị ép phải định cư để khai hoá văn minh.
Sau đó
Chính quyền để họ tự sống theo cách của mình. Người Giê quay lại với lối sống cổ xưa.
– GV yêu cầu HS nêu nhận xét về số phận của người Anh điêng (Gợi ý: Có thể thấy, từ sau khi bị người châu Âu xâm lược, người Giê bản địa ở khu vực nam Bra-xin đã bị dồn đuổi, phải sống lẩn trốn, bị cưỡng bức định cư, bị áp đặt bởi văn hoá của người da trắng và sau đó bị bỏ mặc. Những thông tin này cho thấy tình thế ngặt nghèo của họ. Từ một tộc người bản địa chiếm đa số và là chủ nhân của mảnh đất, họ trở thành kẻ bị xua đuổi, trấn áp và trở thành một cộng đồng thiểu số bị mất tiếng nói, bị đồng hoá và lãng quên. Đây cũng là số phận của một số cộng đồng thiểu số ở châu Mỹ nói riêng cũng như trên toàn thế giới nói chung, dưới sức ép cuộc bành trướng thuộc địa của người phương Tây da trắng).
Câu hỏi 2
– GV yêu cầu HS tìm các chi tiết miêu tả cuộc sống của người Giê dưới chế độ thực dân trong đoạn 3 (chú ý đến những dữ liệu miêu tả các chính sách và hoạt động của chính quyền cũng như những phản ứng của người bản xứ, những tập tục cư trú, sinh hoạt, ăn uống, lao động, phục sức, mưu sinh,... của họ). GV có thể yêu cầu HS điền các thông tin vào phiếu học tập như gợi ý dưới đây:
Chính quyền thực dân, Người bản xứ
Ép người bản xứ phải định cư trong các ngôi làng, quy họ vào đối tượng cần được khai hoá văn minh., Vẫn sống du cư.
Gửi đến rìu, dao, đinh, chày gỗ; quần áo, chăn màn., Không dùng đến, vẫn sử dụng những công cụ và kĩ thuật cổ xưa.
Xây nhà, cấp giường., Vẫn ở ngoài trời, phá giường làm củi đun.
Gửi đến những đàn bò., Để mặc chúng đi lang thang, từ chối sữa và thịt.
– GV có thể hướng dẫn HS so sánh và rút ra nhận xét về mối quan hệ giữa chính quyền thực dân và người Anh điêng bản xứ.
Gợi ý: Những dữ liệu mà tác giả cung cấp về cuộc sống của người Giê cho thấy sự xung đột quyền lực giữa một bên là những nỗ lực trấn áp, đồng hoá, khai hoá văn minh của người da trắng và một bên là sự kháng cự của thổ dân da đỏ. Họ đã từ chối văn minh, quay trở lại với đời sống hoang dã, với những kĩ thuật và tập tục cổ xưa. Kết quả là dấu vết của văn minh chỉ nằm ở lớp vỏ hời hợt bề ngoài, công cuộc đồng hoá thất bại, cán cân quyền lực thay đổi khi văn hoá nguyên thuỷ, văn hoá bản địa cất lên tiếng nói. Sự thay đổi của vị thế quyền lực này cho thấy sức sống, vẻ đẹp, sự bền vững của các giá trị truyền thống bản địa trước sự trấn áp của văn minh phương Tây.
Câu hỏi 3 GV hướng dẫn HS tìm các chi tiết nói đến người trần thuật xưng "tôi" trong văn bản. - GV đặt câu hỏi: Từ những chi tiết đó, em nhận ra vai trò gì của
Câu hỏi 3
GV hướng dẫn HS tìm các chi tiết nói đến người trần thuật xưng "tôi" trong văn bản. - GV đặt câu hỏi: Từ những chi tiết đó, em nhận ra vai trò gì của người trần thuật xưng "tôi"? (Gợi ý: Người trần thuật xưng "tôi" vừa có vai trò quan sát, khảo cứu, thu thập dữ liệu, ghi chép và mô tả lại những thông tin về lịch sử, cuộc sống của người Anh điêng; vừa suy ngẫm, phân tích, tìm ra cấu trúc, bản chất, quy luật, xung đột quyền lực chìm bên dưới những dữ liệu bề mặt. Với vai trò thứ nhất, người trần thuật xưng "tôi" cung cấp cho người đọc những thông tin xác thực, mới mẻ, sinh động về người Anh điêng, từ số phận của họ trong lịch sử đến tập quán, lối sống, hành vi, cách cư trú, ăn mặc, săn bắn, lao động,… của họ. Với vai trò thứ hai, người trần thuật xưng "tôi" đưa ra các nhận xét, đúc kết: "Người thổ dân chỉ giữ lại của trải nghiệm văn minh ngắn ngủi những bộ quần áo Bra-xin, cái rìu, con dao và chiếc kim khâu"; "người Anh điêng ở Ti-ba-gi vừa không hoàn toàn là "người Anh điêng thực thụ", vừa, nhất là, không phải là "người hoang dã"; "Nền văn hoá của họ, một mặt được tạo thành bởi những truyền thống lâu đời đã kháng cự lại ảnh hưởng của người da trắng"; "Những lối
sống cổ xưa, những kĩ thuật truyền thống tái xuất hiện, nảy sinh từ một quá khứ mà ta sẽ sai lầm khi quên mất sự gần gũi sống động";… Sự kết hợp giữa hai lối tư duy cụ thể và trừu tượng, thực tiễn và suy lí này đã khiến cho tác phẩm vừa sinh động, thú vị, nhưng cũng vừa sâu sắc, giàu triết lí).
Câu hỏi 4
GV hướng dẫn HS đọc kĩ lại phần Tri thức ngữ văn về dữ liệu sơ cấp và dữ liệu thứ cấp trong SGK Ngữ văn 12, tập hai, tr. 64 và đặt câu hỏi: Các dữ liệu trong văn bản được tác giả thu thập bằng cách trực tiếp hay gián tiếp? Dựa vào đâu em nhận ra điều đó? Dữ liệu nào là dữ liệu thứ cấp? Dữ liệu nào là dữ liệu sơ cấp? Giá trị của các dữ liệu đó có khác nhau không? Vì sao?
Gợi ý: Các dữ liệu về cuộc sống của người Anh điêng trong văn bản được tác giả thu thập trực tiếp bằng con đường thực nghiệm, điền dã, khảo sát. Có thể nhận ra điều này khi đọc đoạn mở đầu của văn bản: "lần đầu tiên tôi đã tiếp xúc với những người hoang dã, trong khi đi theo một trưởng chi nhánh của cơ quan bảo vệ người Anh điêng trong chuyến đi kiểm tra của ông ta",… Ngoài ra, căn cứ vào những thông tin trong phần giới thiệu về tác giả, tác phẩm, ta biết Nhiệt đới buồn là ghi chép dân tộc học, được viết sau hai mươi năm đi khảo sát thực địa của Cờ-lốt Lê-vi-Xtơ-rốt ở Bra-xin. Các dữ liệu sơ cấp gần như được công bố lần đầu tiên này khiến cho văn bản thú vị, mới mẻ, gây tò mò, thậm chí bất ngờ, chấn động, giúp người đọc hình dung ra một cách cụ thể, sống động bức tranh cuộc sống của người Anh điêng ở một vùng đất gần như chưa được biết tới trong các thư tịch thời bấy giờ, phá bỏ những định kiến vốn có trong hình dung của người phương Tây về những cộng đồng thiểu số trên thế giới thường được cho là man rợ, thấp kém.
Mặt khác, các dữ liệu về lịch sử của người Anh điêng được thu thập một cách gián tiếp, tuy tác giả không nêu rõ nguồn tài liệu cũng như ghi chép một cách chính xác các mốc thời gian và sự kiện lịch sử. Các dữ liệu này giúp người đọc mường tượng ra được toàn bộ số phận éo le cũng như tình thế lịch sử ngang trái mà người Anh điêng phải đối mặt, gợi liên tưởng tới những tri thức về lịch sử châu Mỹ. Tuy nhiên, người đọc có thể chất vấn về tính khả tín và chính xác của các thông tin mà tác giả cung cấp.
Câu hỏi 5 GV hướng dẫn HS tìm các chi tiết thể hiện lập trường, quan điểm, thái độ của tác giả (ví dụ: cách miêu tả đối tượng, những từ ngữ, cách diễn đạt biểu
Câu hỏi 5
GV hướng dẫn HS tìm các chi tiết thể hiện lập trường, quan điểm, thái độ của tác giả (ví dụ: cách miêu tả đối tượng, những từ ngữ, cách diễn đạt biểu đạt một cách trực tiếp hoặc gián tiếp cảm xúc, thái độ,…).
Từ những chi tiết vừa tìm được, GV yêu cầu HS nhận xét về lập trường, quan điểm, thái độ của tác giả. GV có thể đặt các câu hỏi: Tác giả đứng ở vị trí nào để quan sát và miêu tả cuộc sống của người Anh điêng? Tác giả đánh giá như thế nào về họ, những "kẻ khác"? Liệu có thái độ khinh thường, miệt thị trong cách miêu tả, đánh giá đó không? Vì sao?
Gợi ý: Tác giả quan sát cuộc sống của người Anh điêng bằng cách thâm nhập thực tế, quan sát, tìm hiểu một cách hết sức cặn kẽ, chú ý đến từng chi tiết rất nhỏ như chiếc chày đá được mài nhẵn tuyệt đẹp, chiếc khung máy khâu,…; đồng thời đào sâu vào quá khứ lịch sử để hiểu thấu đáo thân phận của họ, suy ngẫm và phân tích để gạt bỏ những lớp vỏ hời hợt bề ngoài, tìm thấy những nguyên tắc chìm phía dưới. Tất cả những hoạt động này
thể hiện thái độ nghiên cứu hết sức nghiêm cẩn, trách nhiệm, khách quan, nhưng cũng đầy đồng cảm và thấu hiểu. Tác giả không chỉ đứng ở vị trí người quan sát bên ngoài, mà còn nhìn nền văn hoá bản địa từ cái nhìn bên trong để hiểu được nguyên lí, gốc rễ của nền văn hoá ấy; đồng thời kết hợp cái nhìn đồng đại và lịch đại, cụ thể và trừu tượng. Việc quan sát đối tượng từ cái nhìn đa chiều đó đã giúp gỡ bỏ những thiên kiến, sự đối lập giữa "tôi" và "họ", "mình" và "kẻ khác", mang lại sự hiểu biết rộng rãi, phong phú nhưng sâu sắc; một tầm nhìn rộng lớn về đối tượng. Mặt khác, có thể nhận thấy thiện cảm, thậm chí có thể nói là niềm ngưỡng mộ không che giấu của tác giả trước vẻ đẹp, sức sống, sự tinh tế của nền văn hoá bản địa qua những cách diễn đạt đầy cảm xúc, ví dụ: "Ở đâu ra vậy những chiếc chày đá được mài nhẵn tuyệt đẹp tôi đã tìm thấy, trong nhà của người Anh điêng", "Thất vọng lớn cho tôi", "họ đã cho tôi một bài học về sự thận trọng và tính khách quan",… Lập trường và thái độ này của tác giả làm nổi bật quan điểm chất vấn tư tưởng "dĩ Âu vi trung", tư tưởng thực dân, những định kiến cố hữu trong xã hội phương Tây về văn minh và tiến bộ; khẳng định sự bình đẳng và đa dạng văn hoá, bênh vực cho những tiếng nói thiểu số, kêu gọi trở về với tự nhiên. Quan điểm này đã khiến cho Cờ-lốt Lê-vi-Xtơ-rốt không chỉ là một nhà nhân chủng học tiên phong, mà còn là một trong những nhà tư tưởng vĩ đại nhất của thế kỉ XX.
Câu hỏi 6
Đây là một câu hỏi mở, HS được tự do trình bày quan điểm của mình. GV có thể cung cấp thêm cho HS những hiểu biết về bối cảnh ra đời của văn bản (tham khảo nội dung đã trình bày ở phần Khám phá văn bản) để nắm được thông điệp mà văn bản muốn chuyển tải.
Gợi ý: Văn bản gửi tới người đọc thông điệp về hoà bình, sự tôn trọng những khác biệt văn hoá, chống lại tư tưởng thực dân và bá quyền văn hoá, giúp con người có thể chung sống với nhau một cách hài hoà, tốt đẹp,… Xét trong bối cảnh ra đời, văn bản đặt ra những chất vấn đối với chế độ thực dân, chủ nghĩa phân biệt chủng tộc; hàm chứa sự phê phán đối với nền học thuật đầy định kiến của người phương Tây; gợi ra những âu lo về nguy cơ biến mất của những nền văn hoá thiểu số; đồng thời cũng dấy lên niềm hi vọng về sức sống và sự trường tồn của văn hoá cổ xưa.
Văn bản 2 Giáo dục khai phóng ở Việt Nam nhìn từ Đông Kinh Nghĩa Thục (Nguyễn Nam) Nguyễn Nam 1. Phân tích yêu cầu cần đạt – HS phân tích được thông tin cơ bản
Văn bản 2
Giáo dục khai phóng ở Việt Nam nhìn từ Đông Kinh Nghĩa Thục (Nguyễn Nam)
Nguyễn Nam
1. Phân tích yêu cầu cần đạt
– HS phân tích được thông tin cơ bản của văn bản, đánh giá được thái độ, quan điểm của người viết.
– HS nhận biết được bố cục và mạch lạc của văn bản.
– HS phân biệt được dữ liệu sơ cấp và dữ liệu thứ cấp, phân tích được vai trò của dữ liệu trong việc thể hiện thông tin, đánh giá được tính mới mẻ, độ tin cậy của dữ liệu trong văn bản.
– HS so sánh được hiệu quả biểu đạt của văn bản thông tin chỉ dùng ngôn ngữ và văn bản thông tin có kết hợp các yếu tố phi ngôn ngữ.
– HS có thái độ trân trọng đối với những di sản của quá khứ.
2. Gợi ý tổ chức hoạt động dạy học
Hoạt động 1 Khởi động
– Đây là một văn bản mang tính chất lịch sử, vì vậy đòi hỏi HS phải có những hiểu biết nhất định về bối cảnh lịch sử, xã hội của Việt Nam cũng như khu vực Đông Á đầu thế kỉ XX, đặc biệt là phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục. GV có thể yêu cầu HS tự thu thập, tóm tắt các thông tin trước ở nhà, cụ thể:
Tìm hiểu về phong trào Tân thư ở Trung Quốc, Nhật Bản và ảnh hưởng của phong trào đó tới Việt Nam.
Cả lớp có thể cùng thực hiện một dự án, chẳng hạn: thiết kế tạp chí, tổ chức cuộc triển lãm ảnh về trường học Đông Kinh Nghĩa Thục, dựng lại mô hình kiến trúc t
Cả lớp có thể cùng thực hiện một dự án, chẳng hạn: thiết kế tạp chí, tổ chức cuộc triển lãm ảnh về trường học Đông Kinh Nghĩa Thục, dựng lại mô hình kiến trúc trường học Đông Kinh Nghĩa Thục, làm infographic tóm tắt những sự kiện chính trong phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục,… - Trên lớp, GV có thể yêu cầu HS chia sẻ những hiểu biết của mình về phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục, dựa trên những gì đã tự tìm hiểu ở nhà.
Hoạt động 2 Đọc văn bản
Đây là một văn bản dài và có rất nhiều thông tin, đặc biệt là các mốc thời gian, sự kiện, trích dẫn, nên việc đọc to toàn bộ văn bản trước lớp không dễ dàng. GV có thể yêu cầu HS đọc kĩ văn bản ở nhà, ở trên lớp, GV gọi một số HS đọc to những đoạn quan trọng. Mặt khác, đây là một văn bản đa phương thức, trong đó các hình ảnh, số liệu,… có vai trò rất quan trọng, HS cần kết hợp đọc với quan sát, phân tích ý nghĩa của các phương tiện phi ngôn ngữ trong văn bản; đồng thời cũng cần đọc kĩ phần chú thích để có thêm hiểu biết về lịch sử;
từ đó mới có thể hiểu sâu văn bản.
Hoạt động 3 Khám phá văn bản
Giáo dục khai phóng ở Việt Nam nhìn từ Đông Kinh Nghĩa Thục là một văn bản mang tính chất khảo cứu lịch sử, sử dụng nhiều dữ liệu thứ cấp, được trích dẫn từ những nguồn tư liệu quý hiếm và có giá trị. Vì thế, HS cần đặc biệt chú ý nguồn của dữ liệu, thẩm định mức độ thuyết phục và tính khả tín của dữ liệu mà tác giả sử dụng. Nếu văn bản Pa-ra-na của Cờ-lốt Lê-vi-Xtơ-rốt là một ghi chép dân tộc học, với ngôn ngữ giàu chất thơ và cái nhìn mang đậm tính chủ quan của người viết, thì văn bản này lại tương đối khách quan, sử dụng ngôn ngữ chính xác, mang tính chất khoa học, trong đó tác giả rất hạn chế việc bộc lộ thái độ, quan điểm của mình. Trong quá trình dạy học, GV có thể hướng dẫn HS so sánh hai văn bản để rút ra những cách thức đọc hiểu; phân tích, đánh giá cách chọn lọc, sử dụng dữ liệu trong văn bản thông tin.
Câu hỏi 1
GV yêu cầu HS đọc kĩ mục Bối cảnh lịch sử, tìm các câu chủ đề, từ khoá và xác định các ý chính, ý phụ trong mục này. - Gợi ý: Đông Kinh Nghĩa Thục ra đời dưới tác động của những biến động chính trị, kinh tế, xã hội và quân sự lớn ở khu vực Đông Á cuối thế kỉ XIX, đầu thế kỉ XX: + Sự truyền bá tư tưởng chính trị, triết học phương Tây tới Đông Á qua hình thức "tân thư". + Những thành tựu của Nhật Bản về quân sự và chính trị, kinh tế, giáo dục, xã hội. + Việc nhận thức được sức mạnh của giáo dục và ảnh hưởng của mô hình giáo dục Nhật Bản. - GV đặt câu hỏi: Vì sao tác giả lại cho rằng Đông Kinh Nghĩa Thục là một mô hình giáo dục khai phóng? Để hướng dẫn HS trả lời câu hỏi này, GV có thể đặt câu hỏi phụ: Ở phần đầu văn bản, tác giả định nghĩa như thế nào về giáo dục khai phóng?
Câu hỏi 2
GV hướng dẫn HS đọc kĩ mục Điểm nhấn then chốt trong lịch sử giáo dục Việt Nam, tìm các từ khoá, câu chủ đề, phân biệt ý chính, ý phụ, các chi tiết trong mục này.
- Gợi ý: + Những điểm nhấn then chốt của Đông Kinh Nghĩa Thục: được tiến hành từ dưới lên, bắt nguồn từ dân chúng; theo định hướng độc lập dân tộc; mong cầu tiế
- Gợi ý: + Những điểm nhấn then chốt của Đông Kinh Nghĩa Thục: được tiến hành từ dưới lên, bắt nguồn từ dân chúng; theo định hướng độc lập dân tộc; mong cầu tiến bộ về tri thức, tư duy và dân chủ.
Tác giả đã sử dụng các dữ liệu chính: Sách Đông Kinh Nghĩa Thục của Đào Trinh Nhất: bị cấm trên toàn cõi An Nam từ năm 1937. Các bài viết của Hoa Bằng rải rác trên báo chí. Cuốn sách Đông Kinh Nghĩa Thục chưa được in chính thức của Hoa Bằng. - Những dữ liệu này cho thấy các thư tịch, khảo cứu về Đông Kinh Nghĩa Thục rất ít ỏi, bị chính quyền kiểm duyệt chặt chẽ, phần nào cho thấy sự trấn áp của chính quyền thực dân đối với phong trào này, đồng thời thể hiện những nỗ lực của giới học giả đầu thế kỉ nhằm bảo vệ, khẳng định đóng góp của Đông Kinh Nghĩa Thục. Qua các dữ liệu đó, tác giả làm nổi
bật mối quan hệ đối kháng giữa sự thống trị của quyền lực thực dân và sự kháng cự của giới trí thức Việt Nam, trong bối cảnh xã hội thuộc địa. Điều này làm nổi bật tính chất dân chủ, tinh thần yêu nước ẩn chứa trong các hoạt động, phong trào.
Câu hỏi 3
GV yêu cầu HS đọc lại định nghĩa của tác giả ở phần đầu văn bản về giáo dục khai phóng và đọc kĩ mục Giáo dục khai phóng của Đông Kinh Nghĩa Thục, tóm tắt các ý chính, ý phụ, chi tiết, đặc biệt chú ý đến các dữ liệu được tác giả lựa chọn trong văn bản. - GV có thể đặt câu hỏi hướng dẫn HS tư duy sâu hơn về văn bản, ví dụ: Tác giả đã sử dụng những dữ liệu nào để chứng minh cho tinh thần khai phóng của Đông Kinh Nghĩa Thục? Những dữ liệu đó có đáng tin cậy không? Vì sao? Từ những dữ liệu đó, tác giả đã rút ra kết luận gì?
Gợi ý: + Tác giả đã sử dụng hai dữ liệu chính: Nhận định của Giám học Nguyễn Quyền về Đông Kinh Nghĩa Thục, tác phẩm khuyết danh Văn minh tân học sách. Dữ liệu thứ nhất là dữ liệu thứ cấp, là thông tin được trích dẫn trong cuốn sách Đông Kinh Nghĩa Thục của Đào Trinh Nhất. Dữ liệu này thể hiện cái nhìn, sự đánh giá mang tính chất cá nhân của người đương thời về Đông Kinh Nghĩa Thục. Dữ liệu thứ hai cũng là dữ liệu thứ cấp, là một cương lĩnh giáo dục, thể hiện chủ trương, đường lối, nguyên tắc hoạt động của Đông Kinh Nghĩa Thục. Hai dữ liệu này cho thấy tinh thần khai phóng hiện đại của Đông Kinh Nghĩa Thục toát lên từ mọi hoạt động, phương diện của trường: sự đa dạng trong cách sử dụng văn tự, sự bình đẳng giới, tinh thần thực tiễn, tính chất trách nhiệm, tinh thần sáng tạo, tự do và cởi mở,… Việc kết hợp hai dữ liệu, từ hai điểm nhìn khác nhau tạo nên sự tương hỗ và cái nhìn đa chiều, khách quan về một hiện tượng lịch sử. + Từ các dữ liệu này, tác giả rút ra kết luận: Tinh thần khai phóng của Đông Kinh Nghĩa Thục được thể hiện ở dũng khí dám từ bỏ lối học từ chương, cho phép người học tự do học thuật, hướng tới thực học, thúc đẩy tinh thần phản biện, giúp hoà nhập với thế giới hiện đại.
Câu hỏi 4
GV hướng dẫn HS đọc kĩ các đề mục, tóm tắt các thông tin chính trong từng mục, tìm ra mối liên hệ giữa các mục.
GV nhắc HS nhớ lại cách trình bày dữ liệu trong văn bản thông tin đã học ở SGK Ngữ văn 11, tập hai và chỉ ra mô hình tổ chức thông tin trong văn bản (Gợi ý: Các
GV nhắc HS nhớ lại cách trình bày dữ liệu trong văn bản thông tin đã học ở SGK Ngữ văn 11, tập hai và chỉ ra mô hình tổ chức thông tin trong văn bản (Gợi ý: Các thông tin trong văn bản được sắp xếp theo tầm quan trọng của vấn đề).
Câu hỏi 5
GV hướng dẫn HS quan sát các hình ảnh được sử dụng trong văn bản bằng cách đặt câu hỏi và cho HS thảo luận: Hình ảnh thứ nhất về căn nhà riêng của cụ Lương Văn Can và căn nhà từng là cơ sở dạy học của Đông Kinh Nghĩa Thục được sử dụng nhằm mục đích gì? Em đặc biệt chú ý những chi tiết nào trong bức ảnh này? Bức ảnh giúp em hình dung ra sao về xã hội Việt Nam đầu thế kỉ XX, đặc biệt là không khí của trường học Đông Kinh Nghĩa Thục (kiến trúc nhà cửa, phố phường, phục trang, phương tiện giao thông,…)? Bức ảnh cho thấy Lương Văn Can có vai trò như thế nào đối với Đông Kinh Nghĩa Thục? Đọc chú thích về nguồn của bức ảnh, em biết thêm những thông tin gì? GV có thể phân tích mẫu một hình ảnh, để hướng dẫn HS cách phân tích các hình ảnh còn lại.
Tương tự, khi phân tích bức ảnh thứ hai chụp bìa sách Đông Kinh Nghĩa Thục của Đào Trinh Nhất, GV có thể đặt các câu hỏi: Em quan sát được những hình ảnh, chi tiết nào trong bức ảnh? Em biết gì về nhân vật được đề cập ở trang bìa? Qua bìa sách, em biết thêm điều gì về ngành xuất bản Việt Nam thời bấy giờ? Khi phân tích bức ảnh thứ ba chụp quyết định cấm hai tác phẩm Đông Kinh Nghĩa Thục và Đời cách mệnh Phan Bội Châu, GV có thể đặt các câu hỏi: Quyết định cấm các tác phẩm về Đông Kinh Nghĩa Thục cho em thấy điều gì về không khí chính trị, xã hội thời kì đầu thế kỉ XX, về mối quan hệ giữa chính quyền thực dân với các phong trào văn hoá bản địa? Em biết gì về chế độ kiểm duyệt thời Pháp thuộc? Em đánh giá như thế nào về những nguồn tư liệu này? Đây là những câu hỏi thúc đẩy tư duy bậc cao, đòi hỏi HS có vốn hiểu biết nhất định về văn hoá, lịch sử và bởi vậy, phù hợp hơn với đối tượng HS khá, giỏi.
Thông qua việc thảo luận của HS, GV có thể củng cố cho HS cách "đọc hiểu" các phương tiện phi ngôn ngữ đã được học từ lớp 10, đồng thời tổng kết, giải thích cho HS về giá trị lịch sử của những hình ảnh được sử dụng trong văn bản, mối quan hệ của các phương tiện ngôn ngữ và phi ngôn ngữ trong văn bản.
GV hướng dẫn HS thảo luận, so sánh tác dụng biểu đạt của các phương tiện phi ngôn ngữ với các phương tiện ngôn ngữ trong văn bản.
Gợi ý: Các phương tiện phi ngôn ngữ không đơn thuần chỉ là minh hoạ, làm rõ các thông tin được biểu đạt bằng các phương tiện ngôn ngữ, mà nó có "tiếng nói" riêng, có thể cung cấp nhiều thông tin quan trọng mà các phương tiện ngôn ngữ không thể biểu đạt, giúp trực quan hoá thông tin, từ đó người đọc nắm bắt thông tin một cách đầy đủ, đa chiều hơn.
Câu hỏi 6
GV yêu cầu HS tìm các chi tiết chứa đựng nhận xét, đánh giá của tác giả, ví dụ:"Đông Kinh Nghĩa Thục là sự tích hợp những thành tựu cải cách giáo dục Đông - Tây", "thời gian tồn tại ngắn ngủi của Đông Kinh Nghĩa Thục […] tỉ lệ nghịch cực đại với ảnh hưởng sâu rộng của ngôi trường này".
GV đặt câu hỏi: Những nhận xét, đánh giá đó của tác giả có được chứng minh, làm rõ bằng các dữ liệu khách quan, đáng tin cậy và lập luận logic hay không? Chỉ ra logic lập luận của tác giả.
(Gợi ý: Những nhận xét, đánh giá đó đã được làm rõ bằng những dữ liệu khách quan, ví dụ: dữ liệu thứ cấp có được từ những nguồn tài liệu đáng tin cậy, các dữ li
(Gợi ý: Những nhận xét, đánh giá đó đã được làm rõ bằng những dữ liệu khách quan, ví dụ: dữ liệu thứ cấp có được từ những nguồn tài liệu đáng tin cậy, các dữ liệu đều được chú thích rõ nguồn gốc. Ngoài các thông tin dưới dạng văn bản, tác giả còn cung cấp các thông tin dưới dạng ảnh chụp, làm gia tăng độ tin cậy của thông tin, các trích dẫn đều được chú thích rõ ràng về nguồn gốc,…)
GV đặt thêm câu hỏi: Liệu văn bản có hoàn toàn khách quan không? Vì sao? (Gợi ý: Câu hỏi mở này nhằm thúc đẩy khả năng tư duy phản biện, tư duy độc lập của HS. GV có thể định hướng: Đây là một văn bản thông tin khách quan, mang tính chất khảo cứu lịch sử. Tuy nhiên, người đọc hoàn toàn có thể nhận ra thái độ, lập trường của tác giả, qua nội dung các nhận định, đánh giá thể hiện sự đề cao vị trí và đóng góp của Đông Kinh Nghĩa Thục trong lịch sử, tiếp đó là qua góc nhìn, cách tiếp cận vấn đề. Giáo dục khai phóng là một mô hình giáo dục hiện đại, thường được cho là khởi nguồn từ phương Tây thời kì Khai sáng và thịnh hành ở Mỹ. Tuy nhiên, việc khẳng định Đông Kinh Nghĩa Thục là một mô hình tiêu biểu cho giáo dục khai phóng đã nhấn mạnh tính chất hiện đại, thậm chí đi trước thời đại của Đông Kinh
Nghĩa Thục, cho thấy khả năng bắt nhịp với thế giới của giáo dục Việt Nam vào đầu thế kỉ XX, đồng thời cũng khẳng định giáo dục khai phóng Việt Nam thời đương đại đã bắt rễ trong truyền thống lịch sử. Tác giả đã thể hiện một cách gián tiếp thái độ ủng hộ đối với giáo dục khai phóng. Đây chỉ là gợi ý, HS có thể có cách trả lời khác về câu hỏi này.)
Câu hỏi 7
Đây là câu hỏi nhằm mục đích kết nối văn bản với đời sống và cá nhân. Để hướng dẫn HS trả lời câu hỏi này, GV có thể yêu cầu HS xem lại toàn bộ nội dung văn bản và suy ngẫm về câu hỏi: Đông Kinh Nghĩa Thục có tác động như thế nào đến văn hoá, xã hội, chính trị Việt Nam thời bấy giờ? Phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục ở Việt Nam có mối liên hệ gì với các phong trào văn hoá xã hội của các quốc gia khác và có ảnh hưởng ra sao tới các thời đại sau?
GV đặt thêm câu hỏi: Từ những thông tin về ảnh hưởng, tác động của Đông Kinh Nghĩa Thục được trình bày trong văn bản, em nhận ra điều gì về tác động, ảnh hưởng của giáo dục đối với đời sống văn hoá, xã hội và tương lai của đất nước? Giáo dục khai phóng khác với mô hình giáo dục truyền thống ở chỗ nào? Liệu giáo dục khai phóng có thực sự tiến bộ, ưu việt và phù hợp với thời đại? Đây là những câu hỏi mở, cho phép HS trình bày quan điểm riêng của mình.
Hoạt động 4 Kết nối đọc - viết
Nhiệm vụ học tập này giúp HS củng cố lại các tri thức ngữ văn về dữ liệu trong văn bản thông tin, đồng thời nhớ lại những dữ liệu quan trọng trong văn bản. HS có thể tự lựa chọn một dữ liệu mà mình thực sự ấn tượng.
GV lưu ý HS đây là một đoạn văn nghị luận, thể hiện những phân tích, đánh giá của người viết về một yếu tố trong văn bản. Để viết tốt kiểu đoạn văn này, HS cần biết chọn lọc các dẫn chứng, chi tiết, sử dụng một cách thuần thục các thao tác phân tích, bình luận, so sánh,…; trích dẫn đúng quy cách và ghi rõ nguồn trích dẫn.
GV có thể chấm, chữa một số bài viết của HS ngay tại lớp hoặc HS có thể đọc và nhận xét cho nhau.
Văn bản 3 Đời muối (Trích Đời muối: Lịch sử thế giới – Mác Kơ-len-xki) (Trích Đời muối: Lịch sử thế giới) Mác Kơ-len-xki 1. Phân tích yêu cầu cần đạt – HS vận d
Văn bản 3
Đời muối (Trích Đời muối: Lịch sử thế giới – Mác Kơ-len-xki)
(Trích Đời muối: Lịch sử thế giới)
Mác Kơ-len-xki
1. Phân tích yêu cầu cần đạt
– HS vận dụng các kĩ năng đã có được từ việc đọc hai văn bản thông tin trước đó để tự phân tích được thông tin cơ bản của văn bản, đánh giá được thái độ, quan điểm của người viết, nhận biết được bố cục và mạch lạc của văn bản, phân biệt được dữ liệu sơ cấp và dữ liệu thứ cấp, phân tích được vai trò của dữ liệu trong việc thể hiện thông tin, đánh giá được tính mới mẻ, độ tin cậy của dữ liệu trong văn bản.
– HS so sánh được hiệu quả biểu đạt của văn bản thông tin chỉ dùng ngôn ngữ và văn bản thông tin có kết hợp các yếu tố phi ngôn ngữ.
– HS có cái nhìn đa chiều, sâu sắc về lịch sử.
2. Gợi ý tổ chức hoạt động dạy học
Hoạt động 1 Khởi động
GV có thể có nhiều phương án tổ chức hoạt động khởi động. Dưới đây là một số gợi ý:
– Tổ chức lớp học dưới dạng một cuộc đối thoại với các sử gia đương đại. Trong đó, mỗi HS được giao nhiệm vụ suy nghĩ và chuẩn bị kĩ lưỡng về câu hỏi khởi động ở nhà, trên lớp, GV hướng dẫn HS tổ chức buổi đối thoại về ý nghĩa của lịch sử trong đời sống đương đại, cách phân tích, đánh giá, quan sát các sự kiện đang diễn ra trong đời sống.
– Cho HS đọc và so sánh một đoạn văn bản trong cuốn sách Đời muối: Lịch sử thế giới của Mác Kơ-len-xki với một đoạn văn bản lịch sử trong SGK môn Lịch sử, chỉ ra điểm khác biệt trong cách tiếp cận lịch sử của các tác giả.
Hoạt động 2 Đọc văn bản
GV cùng HS đọc to văn bản, cảm nhận giọng điệu kể chuyện chậm rãi, thông dong của tác giả trong văn bản. Trong quá trình đọc, GV lưu ý HS về các nhiệm vụ học tập theo hướng dẫn của các thẻ chỉ dẫn đọc ở bên phải văn bản.
Hoạt động 3 Khám phá văn bản
– Văn bản Đời muối được trích trong cuốn sách Đời muối: Lịch sử thế giới của Mác Kơ-len-xki. Bằng việc lần theo các dữ kiện về sự tham gia của muối vào tiến trình lịch sử nhân loại, trên tất cả các phương diện từ nông nghiệp, kĩ thuật công nghiệp, giao thông, thương mại đến thể chế chính trị,... tác giả đã khiến cho một yếu tố tưởng chừng vô hình và chìm khuất trong đời sống – muối, trở thành một nhân vật đóng vai trò quan trọng trong sân khấu lịch sử. Muối có một số phận, và số phận của muối đã gắn bó mật thiết với những thăng trầm của nhân loại. Từ lịch sử của muối, ta có thể nhận ra những bài học quan trọng với thế giới
đương đại. Cuốn sách nằm trong một xu hướng khá nổi bật trong sử học đương đại: viết lại lịch sử nhân loại theo hướng quan tâm đến những "tiểu lịch sử", "vi hìn
đương đại. Cuốn sách nằm trong một xu hướng khá nổi bật trong sử học đương đại: viết lại lịch sử nhân loại theo hướng quan tâm đến những "tiểu lịch sử", "vi hình lịch sử" - những mảng lịch sử đã bị chìm khuất trong các thư tịch chính thống và mang lại một góc nhìn thú vị, mới mẻ về lịch sử nhân loại. Có thể tham khảo thêm những cuốn sách khác về lịch sử đã xuất bản của Mác Kơ-len-xki để hiểu thêm về xu hướng này. GV cũng có thể hướng dẫn HS tìm đọc thêm những cuốn sách theo hướng tương tự của tác giả Việt Nam như Chuyện trà - Lịch sử một thức uống lâu đời của người Việt, Ngàn năm áo mũ của Trần Quang Đức,… - Đây là văn bản thứ ba trong bài học. Vì thế, GV không nhất thiết phải dạy mà nên hướng dẫn HS tự học, dựa trên những kĩ năng đã được rèn luyện và xây dựng qua việc đọc hai văn bản trước đó. GV có thể thiết kế phiếu học tập để hướng dẫn HS tự học, hoặc HS có thể tự trả lời những câu hỏi trong SGK. Ở trên lớp, GV hướng dẫn HS thảo luận hoặc tự thuyết trình về những nội dung mình thu thập được khi đọc văn bản.
Câu hỏi 1
GV yêu cầu HS đọc kĩ văn bản, chú ý những mốc thời gian và các sự kiện chính được đề cập trong văn bản, có thể sử dụng sơ đồ thời gian để trực quan hoá các thông tin. - Gợi ý: Tác giả đã chia lịch sử của loài người thành hai giai đoạn, dựa trên vai trò của muối đối với đời sống con người: + Trước khi muối trở thành một nhu cầu thiết yếu của đời sống: Lịch sử nhân loại tiến triển một cách chậm chạp, gắn với sự hình thành một cách dần dần của việc thuần hoá động vật hoang dã, trồng trọt và chăn nuôi. + Sau khi muối trở thành một nhu cầu thiết yếu của đời sống: Việc tìm kiếm, sản xuất, buôn bán muối đã thúc đẩy công nghiệp, thương mại, giao thông, địa chất học, hoá học phát triển, tạo nên những thay đổi lớn trong các thiết chế chính trị,… - Từ cách tóm lược lịch sử này, có thể thấy tác giả đã khẳng định vai trò rất quan trọng của muối, cho rằng việc tìm kiếm, sản xuất, buôn bán muối là một trong những động lực vô cùng quan trọng thúc đẩy sự phát triển của nhân loại, tác động mạnh mẽ đến tất cả các phương diện trong đời sống của con người.
Câu hỏi 2
GV yêu cầu HS tìm các dữ liệu trong văn bản (chú ý các mốc thời gian, sự kiện lịch sử, tên nhân vật, địa danh, trích dẫn) và phân loại các dữ liệu đó thành dữ liệu sơ cấp, dữ liệu thứ cấp. - GV hướng dẫn HS đánh giá mức độ khả tín của dữ liệu bằng cách tra cứu, đối sánh với những nguồn thông tin khác ngoài văn bản, đặc biệt là các nguồn sử liệu có uy tín, ví dụ: sự kiện Kỉ Băng Hà kết thúc vào khoảng năm 11 000 trước Công nguyên, sự kiện phụ nữ vùng Cận Đông bắt đầu gieo trồng ngũ cốc vào khoảng năm 8 000 trước Công nguyên,… - GV yêu cầu HS đánh giá về nguồn dữ liệu bằng cách đặt câu hỏi: Tác giả có ghi chú một cách cụ thể, chính xác các nguồn dữ liệu hay không? Em đánh giá thế nào về thái độ của tác giả đối với các nguồn dữ liệu? (Gợi ý: Có thể thấy rất nhiều dữ liệu mà tác giả sử dụng là dữ liệu thứ cấp, tuy nhiên lại không ghi rõ nguồn, hoặc ghi nhưng chưa thực sự đầy đủ, điều này có thể làm giảm đi tính khả tín của văn bản.)
Câu hỏi 3 GV có thể hướng dẫn HS cùng đọc kĩ một hoặc vài đoạn, phân tích cách trình bày các dữ liệu lịch sử của tác giả. GV nhắc HS chú ý các mốc thời gian, sự
Câu hỏi 3
GV có thể hướng dẫn HS cùng đọc kĩ một hoặc vài đoạn, phân tích cách trình bày các dữ liệu lịch sử của tác giả. GV nhắc HS chú ý các mốc thời gian, sự kiện chính trong đoạn văn, trình tự sắp xếp thông tin, cách diễn đạt của tác giả và từ đó, nêu nhận xét về cách trình bày dữ liệu lịch sử của người viết.
Gợi ý: Các dữ liệu được sắp xếp theo trật tự thời gian, dưới dạng một câu chuyện. Tác giả thường mở đầu các đoạn văn bằng việc miêu tả bối cảnh: "khi các dòng sông băng tan chảy"; "sau khi Kỉ Băng Hà kết thúc";… Các nhân vật lần lượt hiện lên trong câu chuyện, ví dụ: "trong khoảng thời gian này"; "sói A-xi-a-tích (Asiatic) […] dần dần bị con người kiểm soát"; "những cánh đồng ngũ cốc hoang dã rộng lớn dần xuất hiện";… Các sự kiện cũng được sắp xếp theo chuỗi nhân quả, với những đoạn diễn tiến, thắt nút, mở nút, những tình tiết bất ngờ, ví dụ: "Và thế là, một kẻ thù nguy hiểm đã hoá thành một phụ tá trung thành và tận tâm - loài chó". Lời kể chậm rãi, như lời kể trong các câu chuyện thần thoại, truyền thuyết: "Khoảng năm 11 000 trước Công nguyên, sau khi Kỉ Băng Hà kết thúc, những
tảng băng khổng lồ bao phủ phần lớn thế giới […] bắt đầu thu hẹp lại và dần dần tan biến"; "Nhưng chẳng bao lâu sau, các bộ lạc sinh sống gần những cánh đồng này nhận ra rằng"; "Mãi cho đến khoảng năm 6 000 trước Công nguyên";… Cách sắp xếp các dữ liệu lịch sử theo mô hình truyện kể (thần thoại và truyền thuyết) này tạo nên sức hấp dẫn, sinh động cho văn bản, kích thích trí tưởng tượng của người đọc, khiến toàn bộ lịch sử nhân loại lần lượt hiện lên như trong một bộ phim, đồng thời cũng giúp người đọc dễ dàng nắm bắt và ghi nhớ những thông tin chính trong văn bản.
Câu hỏi 4
GV hướng dẫn HS nhớ lại những văn bản lịch sử mình đã từng đọc, đặc biệt trong môn Lịch sử. GV đặt câu hỏi: Trong các văn bản lịch sử đã đọc, em nhận thấy các sử gia thường tập trung ghi chép về những loại sự kiện nào? Dựa vào đâu họ phân chia các thời kì lịch sử? (Gợi ý: Các văn bản lịch sử thường ghi chép lại các sự kiện liên quan đến những bước ngoặt lớn của nhân loại: chiến tranh, cách mạng, phát kiến địa lí, thành tựu khoa học,… Đây cũng thường được coi là những dấu mốc quan trọng để phân kì lịch sử.)
GV đặt câu hỏi: So với những cách ghi chép và diễn giải lịch sử đó, cách diễn giải lịch sử của tác giả trong văn bản có gì độc đáo? (Gợi ý: Tác giả đã nhìn toàn bộ lịch sử của nhân loại qua lịch sử của muối, một yếu tố thường được coi là không có ý nghĩa, giá trị gì trong dòng chảy lịch sử của nhân loại. Khi quan sát lịch sử của nhân loại qua những thăng trầm trong số phận của muối, tác giả đã tạo ra một cách phân kì lịch sử khác, nhìn lịch sử nhân loại từ một góc độ khác, nhìn ra những quy luật khác của lịch sử và đặt ra những chất vấn rất khác. Ví dụ: Khi nhìn nguyên nhân của các cuộc chiến tranh, khởi nghĩa, cách mạng và sự hình thành các triều đại mới là do sự tranh giành gắt gao muối, thứ sản vật vốn "tồn tại đầy trong các đại dương, nổi bong bóng trong các con suối, lắng cặn dưới lòng hồ, hoặc là một thành phần lớn trong tầng khoáng vật gần với bề mặt vỏ Trái Đất", tác giả nhận ra sự phù phiếm của chiến tranh, bạo lực, xung đột và chất vấn những hình thái chính trị đương đại, khi nhận ra cuộc tranh giành dầu mỏ của các quốc gia đương đại cũng vô nghĩa chẳng khác nào cuộc tranh giành muối trong lịch sử nhân loại.)
Câu hỏi 5 GV yêu cầu HS đọc kĩ ba đoạn cuối của văn bản, đánh dấu những câu văn, cách diễn đạt thể hiện rõ quan điểm, tư tưởng của tác giả, đồng thời đọc lại mộ
Câu hỏi 5
GV yêu cầu HS đọc kĩ ba đoạn cuối của văn bản, đánh dấu những câu văn, cách diễn đạt thể hiện rõ quan điểm, tư tưởng của tác giả, đồng thời đọc lại một lần toàn bộ văn bản, nắm được các thông tin chính, thông tin phụ và cách lập luận của người viết. GV gợi ý bằng một số câu hỏi cụ thể hơn, ví dụ: Ở đoạn cuối văn bản, tác giả cho rằng: "Khao khát tình yêu và khao khát làm giàu luôn là hai đề tài hấp dẫn nhất đối với con người. Tuy nhiên, trong khi đề tài tình yêu vẫn bền vững theo năm tháng, thì những câu chuyện về truy cầu tiền tài vật chất, đến một lúc nào đó, đều trở thành nỗi ám ảnh theo đuổi một ảo ảnh không có thực". Em có suy nghĩ gì về nhận định này của tác giả? - GV nên khuyến khích HS trình bày quan điểm riêng của mình và góp ý cho HS cách lập luận để bảo vệ quan điểm.
Câu hỏi 6
Đây là một câu hỏi mở, không có đáp án duy nhất. Tuy nhiên, để phát huy sự sáng tạo
của HS, GV cần có sự hướng dẫn: + Trước hết, GV yêu cầu HS tóm tắt các ý chính, ý phụ và nắm được cấu trúc của văn bản. Từ đó, có thể nêu được chủ đề, nội dung chính của văn bản. + Yêu cầu HS liệt kê nhan đề các văn bản thông tin đã được học trong bộ SGK Ngữ văn THPT (từ lớp 10 đến lớp 12) cũng như các văn bản khác mà HS đã đọc, sau đó rút ra nhận xét về cách đặt nhan đề. + Giải thích cho HS ý nghĩa của nhan đề trong văn bản thông tin, sự tương hợp giữa nhan đề và nội dung văn bản, các cách đặt nhan đề cho văn bản thông tin (Gợi ý: Nhan đề của văn bản thông tin thường nêu rõ thông tin chính sẽ được cung cấp trong văn bản, hé lộ thái độ, quan điểm, cách tiếp cận vấn đề của người viết. Thông thường, nhan đề có thể được diễn đạt dưới dạng một từ, như văn bản Pa-ra-na, một cụm từ như văn bản Giáo dục khai phóng ở Việt Nam nhìn từ Đông Kinh Nghĩa Thục, có thể dưới dạng một câu, ví dụ: Pa-ra-lim-pích (Paralympic) - Lịch sử chữa lành những vết thương,… Nhan đề cần ngắn gọn, cô đọng, nhưng gây ấn tượng mạnh mẽ và ngay lập tức với người đọc. Có thể sử dụng các biện pháp tu từ như ẩn dụ, so sánh, nhân hoá để nhan đề trở nên đa nghĩa, gợi mở trí tưởng tượng của người đọc, ví dụ nhan đề bài báo Nghe tiếng hành tinh thầm thì,…). - GV có thể tổ chức một cuộc thi nhanh tại lớp cho những nhan đề sáng tạo, độc đáo, thú vị nhất.
Hoạt động 4 Kết nối đọc - viết
Đây là một nhiệm vụ học tập nhằm mở rộng suy tưởng sau khi đọc văn bản, kết nối với những vấn đề thời sự trong thế giới đương đại, giúp HS biết cách quan sát, phân tích, đánh giá, bày tỏ chủ kiến về các sự kiện, hiện tượng lịch sử. Nhiệm vụ này cũng là sự chuẩn bị cho hoạt động viết thư trao đổi công việc hoặc một vấn đề đáng quan tâm ở những tiết học sau. GV có thể cho HS quan sát một số hình ảnh liên quan đến các cuộc chiến tranh và xung đột trong thế giới hiện đại, hướng dẫn HS cùng thảo luận, chia sẻ quan điểm của mình trước khi viết.
Thực hành tiếng Việt
Thực hành tiếng Việt
Trang 74
Trang 75
VIẾT Viết thư trao đổi về công việc hoặc một vấn đề đáng quan tâm 1. Phân tích yêu cầu cần đạt – HS biết viết một văn bản dưới hình thức bức thư trao đổi về côn
VIẾT
Viết thư trao đổi về công việc hoặc một vấn đề đáng quan tâm
1. Phân tích yêu cầu cần đạt
– HS biết viết một văn bản dưới hình thức bức thư trao đổi về công việc hoặc một vấn đề đáng quan tâm đáp ứng được các yêu cầu của kiểu bài.
– HS chọn được đề tài phù hợp với hình thức văn bản thư mà các em cần viết. Đề tài của bức thư thu hút được sự quan tâm của nhiều người, giúp cho bài viết có được sức hấp dẫn đối với người đọc.
2. Những lưu ý về yêu cầu đối với kiểu bài
Kiểu bài viết này lần đầu tiên và cũng là lần duy nhất HS được thực hành trong CT môn Ngữ văn 2018. Cần lưu ý, thư không phải là một kiểu văn bản mà chỉ là hình thức văn bản. Thư có thể nhắm đến nhiều mục đích giao tiếp khác nhau, tương ứng với những kiểu văn bản khác nhau: kể chuyện (văn bản tự sự), thể hiện tình cảm (văn bản biểu cảm), thuyết phục (văn bản nghị luận), cung cấp thông tin (văn bản thông tin). Bài viết mà HS cần hoàn thành được định hướng từ yêu cầu của CT là trao đổi về công việc hoặc một vấn đề đáng quan tâm, vì vậy, mục đích giao tiếp sẽ là thuyết phục hoặc cung cấp thông tin, chứ không nhằm kể chuyện hay thể hiện tình cảm.
3. Gợi ý tổ chức hoạt động dạy học
Hoạt động 1 Tìm hiểu yêu cầu của kiểu bài
– Sau khi nêu ý nghĩa và sự cần thiết của việc thực hành kiểu bài viết mà bài học đã xác định, GV cần cho HS tự đọc và trao đổi với nhau về yêu cầu của kiểu bài đã được trình bày trong SGK.
– GV có thể nêu một số câu hỏi giúp HS hiểu rõ hơn mục tiêu của hoạt động này: Trong các yêu cầu được trình bày ở SGK, yêu cầu nào thể hiện tính đặc thù của kiểu bài mà em cần viết? Vì sao SGK đặt ra yêu cầu đó đối với kiểu bài viết này? Với em, yêu cầu nào là thách thức lớn nhất? Vì sao?
Hoạt động 2 Đọc và phân tích bài viết tham khảo
– GV cho HS đọc bài viết tham khảo và nhắc các em chú ý các thẻ chỉ dẫn đọc. Đọc xong mỗi đoạn, cần dừng lại để phân tích nội dung thể hiện trong đó và những thao tác được người viết sử dụng (không cần đi sâu tìm hiểu nội dung cụ thể của từng phần mà quan tâm đến vai trò của mỗi phần đối với việc triển khai nội dung thư, đáp ứng yêu cầu của kiểu bài).
GV hướng dẫn HS trả lời các câu hỏi sau khi đọc bài viết tham khảo. Một số lưu ý: + Câu hỏi thứ nhất yêu cầu HS chỉ ra mối quan hệ giữa người viết thư và người
GV hướng dẫn HS trả lời các câu hỏi sau khi đọc bài viết tham khảo. Một số lưu ý: + Câu hỏi thứ nhất yêu cầu HS chỉ ra mối quan hệ giữa người viết thư và người nhận thư thể hiện qua ngôn ngữ được dùng trong thư và đặc điểm của người nhận thư. Đây là những nhân tố quan trọng có ảnh hưởng đến cách mà người viết thể hiện nội dung cần đề cập.
Câu hỏi thứ hai yêu cầu HS nắm bắt mục đích của việc viết thư và nội dung trao đổi, bàn luận trong thư. Hai yếu tố có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, trong đó mục đích viết thư có vai trò chi phối nội dung mà thư thể hiện.
Câu hỏi thứ ba lưu ý HS về trình tự triển khai các nội dung trong thư, từ đó học hỏi cách sắp xếp các ý tưởng, thông tin trong bức thư mà các em cần viết.
Câu hỏi thứ tư tập trung vào những yếu tố bổ trợ vốn có vai trò khá quan trọng trong bất kì kiểu văn bản nào. Bức thư tham khảo có mục đích chính là thuyết phục nhưng người viết dùng khá nhiều yếu tố tự sự, biểu cảm và những yếu tố này đã thực sự phát huy được
tác dụng đối với mục đích chính.
Câu hỏi cuối tạo cơ hội cho HS được chia sẻ một cách tự do về kinh nghiệm mà các em thu nhận được từ bức thư. Tuy được chia sẻ tự do nhưng HS cần tập trung vào những kinh nghiệm liên quan thực sự đến cách viết kiểu bài phù hợp với hình thức văn bản thư.
Hoạt động 3 Thực hành viết theo các bước
Trước hết, GV cho HS tự nghiên cứu (theo nhóm) phần Thực hành viết gồm bốn bước lớn trong SGK. Sau đó, mỗi nhóm nêu các vấn đề còn thắc mắc để trao đổi chung, mục đích là để tất cả đều có nhận thức thông suốt về quy trình viết.
GV hướng dẫn HS tìm, lựa chọn được đề tài viết thích hợp dựa vào những gợi ý trong SGK. GV có thể cho mỗi HS hoặc mỗi nhóm chọn một đề tài. Khác với nhiều bài viết HS đã thực hành, đề tài của bài viết này rất mở, tuỳ thuộc vào vốn sống, trải nghiệm, mối quan tâm của HS đối với những vấn đề của đời sống. GV có thể đặt ra một số câu hỏi gợi ý, chẳng hạn: Có vấn đề gì em muốn chia sẻ suy nghĩ với người khác mà không gặp trực tiếp được? Người mà em muốn chia sẻ là ai? Trong đời sống hằng ngày, có việc gì mà em cần viết thư mới giải quyết được?
GV cho mỗi HS hoặc nhóm HS lựa chọn cùng một đề tài làm việc cá nhân hoặc theo nhóm để xác định mục đích của việc viết thư: cung cấp thông tin hay thuyết phục người đọc về một vấn đề nào đó. Mục đích này sẽ quyết định cách thức triển khai nội dung bức thư.
Khi HS đề xuất đề tài viết cho cá nhân hoặc cho nhóm, GV cần sơ duyệt (góp ý, điều chỉnh về nội dung và hình thức diễn đạt) trước khi cho các em triển khai các bước tiếp theo. Ngoài ra, GV còn cần hướng dẫn HS chọn hình thức thư thông thường hay thư điện tử. Tuỳ vào hình thức thư được lựa chọn mà thông tin ở đầu thư và cuối thư được trình bày theo đúng thể thức chung.
– Tuỳ sự phân phối số tiết cho từng hoạt động theo kế hoạch dạy học đã được nhà trường thông qua, GV cho HS làm bài tại lớp hoặc ở nhà. Tuy nhiên, hình thức văn
– Tuỳ sự phân phối số tiết cho từng hoạt động theo kế hoạch dạy học đã được nhà trường thông qua, GV cho HS làm bài tại lớp hoặc ở nhà. Tuy nhiên, hình thức văn bản thư thì nên ưu tiên phương án cho HS làm bài ở nhà.
TRẢ BÀI
Hoạt động 1 Nhắc lại, khắc sâu yêu cầu của kiểu bài
– GV cho HS nhắc lại yêu cầu chung của kiểu bài viết và xác định những điểm then chốt. HS cần xác định rõ bức thư mình viết nhằm mục đích gì và nội dung triển khai có phù hợp với mục đích đặt ra hay không. Ngôn ngữ được dùng trong thư, nhất là từ ngữ xưng hô, cần phù hợp không chỉ với mục đích viết thư mà còn với vai giao tiếp của người viết và người nhận thư.
– Ngoài yêu cầu của kiểu bài đã nêu trong SGK, GV cần lưu ý HS: Thư là hình thức văn bản đặc thù, khi viết cần chú ý cách trình bày đáp ứng quy cách của một văn bản thư.
Hoạt động 2 Nhận xét về kết quả viết và yêu cầu HS chỉnh sửa bài viết
– GV nhận xét chung về mức độ đáp ứng yêu cầu ở các bài viết của HS, chọn đọc và phân tích một số bài viết đáp ứng yêu cầu của kiểu bài ở những mức độ khác nhau.
– Trả bài cho HS, yêu cầu các em đọc lại bài viết của mình và đọc bài của HS khác để góp ý cho bạn. Trên cơ sở nhận xét của GV, gợi ý chỉnh sửa bài viết trong SGK, góp ý của bạn và đánh giá của bản thân, mỗi HS tự chỉnh sửa bài viết của mình.
Trang 79
Củng cố, mở rộng Phần Củng cố, mở rộng giúp HS ôn lại các kiến thức về văn bản thông tin, rèn luyện kĩ năng đọc hiểu văn bản thông tin, đặc biệt là biết cách nh
Củng cố, mở rộng
Phần Củng cố, mở rộng giúp HS ôn lại các kiến thức về văn bản thông tin, rèn luyện kĩ năng đọc hiểu văn bản thông tin, đặc biệt là biết cách nhận biết, phân loại, đánh giá độ tin cậy, tính chính xác, khách quan của các dữ liệu được sử dụng; kiến thức về quyền sở hữu trí tuệ nói chung và quyền tác giả nói riêng; kiến thức về kiểu bài viết thư trao đổi về công việc hoặc một vấn đề đáng quan tâm; kiến thức về hoạt động tranh biện.
GV hướng dẫn HS hoàn thành các bài tập ở phần này trong SGK. Tuỳ vào điều kiện thời gian, HS có thể thực hiện hoàn toàn ở nhà hoặc một phần ở lớp.
HS điền các thông tin vào bảng được thiết kế theo gợi ý. Các em cũng có thể lựa chọn cách tổng hợp thông tin bằng sơ đồ tư duy.
HS đọc mở rộng các văn bản khác trong hai cuốn sách mà SGK gợi ý và tóm tắt nội dung những văn bản đã đọc dưới hình thức văn bản thông thường, bảng hoặc sơ đồ tư duy. Để tạo động lực đọc cho HS, GV có thể giao cho HS thực hiện các nhiệm vụ hoặc dự án vừa sức, thú vị, ví dụ:
– Thiết kế một cuộc triển lãm về văn hoá của các tộc người Anh điêng ở miền Nam châu Mỹ sau khi đọc Nhiệt đới buồn của Cờ-lốt Lê-vi–Xtơ-rốt.
– Vẽ một sơ đồ về hành trình của muối trong lịch sử nhân loại sau khi đọc Đời muối: Lịch sử thế giới của Mác Kơ-len-xki.
HS tìm đọc thông tin về những vụ vi phạm quyền sở hữu trí tuệ, đặc biệt là quyền tác giả ở trong nước và trên thế giới. Lưu ý các em tìm hiểu bản chất của những vụ vi phạm này và hậu quả mà người vi phạm phải gánh chịu.
Để thực hiện bài tập 4 và 5, GV có thể lập diễn đàn để HS viết thư trao đổi về những vấn đề thời sự nổi cộm trong xã hội đương đại và tạo diễn đàn tranh biện về một vấn đề đời sống.
Trang 81
Tìm hiểu tri thức ngữ văn Các tri thức ngữ văn như giá trị của tác phẩm văn học, chủ đề, tư tưởng và cảm hứng của tác phẩm văn học cần được tìm hiểu trước khi H
Tìm hiểu tri thức ngữ văn
Các tri thức ngữ văn như giá trị của tác phẩm văn học, chủ đề, tư tưởng và cảm hứng của tác phẩm văn học cần được tìm hiểu trước khi HS đọc các văn bản. Trong khi đó, phần tri thức tiếng Việt (Giữ gìn và phát triển tiếng Việt) cần được tìm hiểu ở tiết Thực hành tiếng Việt.
GV có nhiều cách để hướng dẫn HS tìm hiểu các tri thức văn học, ví dụ:
– GV yêu cầu HS đọc và tóm tắt các thông tin trong phần Tri thức ngữ văn, nêu nhận xét, bình luận, thậm chí phản biện của mình về các thông tin đó. GV đặt các câu hỏi, ví dụ:
ĐỌC Văn bản 1 Văn bản 1 Vội vàng (Xuân Diệu) 1. Phân tích yêu cầu cần đạt – HS phân tích và đánh giá được chủ đề, tư tưởng, cảm hứng, thông điệp mà văn bản muốn
ĐỌC
Văn bản 1
Văn bản 1
Vội vàng (Xuân Diệu)
1. Phân tích yêu cầu cần đạt
– HS phân tích và đánh giá được chủ đề, tư tưởng, cảm hứng, thông điệp mà văn bản muốn gửi đến người đọc.
– HS hiểu được các cách tân nghệ thuật đặc sắc của Xuân Diệu trong bài thơ.
– HS phân tích và đánh giá được giá trị nhận thức, giáo dục và thẩm mĩ của văn học được thể hiện trong tác phẩm.
– HS biết sống chủ động, tích cực, lạc quan, có niềm tin vào cuộc sống.
2. Gợi ý tổ chức hoạt động dạy học
Hoạt động 1 Khởi động
– GV có thể bắt đầu giờ học bằng cách hướng dẫn HS thảo luận về các câu hỏi trong phần Trước khi đọc ở SGK: Cảm nhận của mỗi cá nhân về thời gian là giống nhau hay khác nhau? Vì sao? Theo em, ý niệm về thời gian có ảnh hưởng như thế nào đến thái độ sống, lí tưởng sống của con người?
GV cũng có thể yêu cầu HS thảo luận để nhận ra quan niệm về thời gian được biểu đạt trong một số tác phẩm hoặc trích đoạn tác phẩm văn, thơ cụ thể, ví dụ bài th
GV cũng có thể yêu cầu HS thảo luận để nhận ra quan niệm về thời gian được biểu đạt trong một số tác phẩm hoặc trích đoạn tác phẩm văn, thơ cụ thể, ví dụ bài thơ Cáo tật thị chúng của Mãn Giác thiền sư.
Hoạt động 2 Đọc văn bản
GV yêu cầu HS đọc thầm để nắm bắt nhịp điệu, tiết tấu, sự vận động của mạch cảm xúc, bố cục của bài thơ. HS vừa đọc vừa chú ý các thẻ chỉ dẫn ở bên phải văn bản. GV hướng dẫn HS thảo luận về giọng điệu phù hợp để đọc văn bản, sau đó, GV chỉ định HS đọc diễn cảm văn bản.
GV yêu cầu HS đọc và tóm tắt phần giới thiệu tác giả Xuân Diệu trong SGK. GV cũng có thể đặt các câu hỏi để hướng dẫn HS tìm hiểu thêm những thông tin khác, ví dụ: Em biết thêm những thông tin gì khác về nhà thơ Xuân Diệu? Ngoài bài thơ "Vội vàng" được giới thiệu trong SGK, em còn biết tác phẩm nào của ông? Qua những tác phẩm của Xuân Diệu đã đọc, em có nhận xét gì về tư tưởng và phong cách nghệ thuật của tác giả?
Hoạt động 3 Khám phá văn bản
Vội vàng là một tác phẩm thuộc thể loại thơ trữ tình, vì thế, để giúp HS đọc hiểu tác phẩm này, cần dựa trên những yếu tố đặc trưng của thơ trữ tình như nhạc tính (được tạo nên bởi vần, nhịp, tiết tấu, sự phối hợp giữa các thanh điệu), hình ảnh, biểu tượng, nhân vật trữ tình, sự vận động của mạch cảm xúc, tứ thơ,… Đây cũng là một trong những bài thơ rất tiêu biểu của Thơ mới lãng mạn, với tinh thần đề cao cái tôi cá nhân, thể hiện một cách thành thực những cung bậc cảm xúc, hướng tới một thế giới lí tưởng, ca ngợi tình yêu và cái đẹp. Song Vội vàng cũng thể hiện quan niệm riêng của Xuân Diệu về thời gian, về cuộc sống và tuổi trẻ cũng như phong cách nghệ thuật của nhà thơ.
Văn bản được sử dụng trong SGK dựa trên bản in lần thứ nhất trong tập Thơ thơ, xuất bản vào năm 1938. Trong quá trình hướng dẫn đọc văn bản, GV có thể nhắc HS đọc kĩ phần chú thích, so sánh các ấn bản và nêu lên bình luận, đánh giá của mình về các ấn bản khác nhau.
Câu hỏi 1
GV yêu cầu HS đọc diễn cảm một lần nữa bài thơ Vội vàng, cố gắng cảm nhận và diễn tả nhịp điệu bài thơ. GV có thể đặt câu hỏi: Nhịp điệu là gì? Nhịp điệu bài thơ nhanh hay chậm? Dựa vào đâu em có cảm nhận như vậy? Nhịp điệu thay đổi ra sao trong suốt bài thơ? Qua sự thay đổi của nhịp điệu, em cảm nhận được điều gì về tâm trạng, cảm xúc của nhân vật trữ tình, về nhịp điệu cuộc sống được diễn tả trong bài thơ?
GV hướng dẫn HS thảo luận về các câu hỏi và thống nhất câu trả lời: Nhịp điệu là thuật ngữ chỉ sự phối hợp về trường độ của âm thanh trong âm nhạc (độ dài ngắn, nhanh chậm của âm thanh). Trong thơ ca, nhịp điệu là yếu tố tạo nên nhạc tính, góp phần bộc lộ cảm xúc cũng như thể hiện nhịp điệu cuộc sống trong cảm nhận của nhà thơ. Nhịp điệu bao trùm trong bài thơ Vội vàng là nhịp điệu nhanh, mạnh, gấp gáp, thể hiện cảm xúc sôi nổi, rạo rực của nhân vật trữ tình và bức tranh cuộc sống vui tươi, náo nhiệt, tràn đầy thanh sắc. Nhịp điệu này được tạo nên bởi cách sử dụng các điệp từ, điệp ngữ, điệp cấu trúc ("Của ong bướm này đây tuần tháng mật;/ Này đây hoa của đồng nội xanh rì;",…), bởi cách ngắt nhịp đột ngột ("Tôi sung sướng. Nhưng vội vàng một nửa:"), bởi các câu khiến đầy giục giã
("Mau đi thôi! Mùa chưa ngả chiều hôm,", "- Hỡi xuân hồng, ta muốn cắn vào ngươi!",…). Tuy nhiên, nhịp điệu dường như chùng lại, chậm hơn ở giữa bài thơ ("Chẳng
("Mau đi thôi! Mùa chưa ngả chiều hôm,", "- Hỡi xuân hồng, ta muốn cắn vào ngươi!",…). Tuy nhiên, nhịp điệu dường như chùng lại, chậm hơn ở giữa bài thơ ("Chẳng bao giờ, ôi! Chẳng bao giờ nữa…"), thể hiện nỗi tiếc nuối, tuyệt vọng của nhân vật trữ tình trước sự chảy trôi không thể dừng lại của thời gian. - GV lưu ý HS về cách lắng nghe nhịp điệu của một bài thơ: Để cảm nhận nhịp điệu của một bài thơ, có thể đọc to để cảm nhận nhịp nhanh chậm, đều đặn, khoan thai hay gấp gáp của âm thanh, đặc biệt chú ý đến cách ngắt nhịp, nhấn mạnh các điệp từ, điệp ngữ, điệp cấu trúc, từ đó cảm nhận mạch vận động của cảm xúc cũng như hơi thở cuộc sống được thể hiện trong bài thơ.
Câu hỏi 2
Để trả lời được câu hỏi này, GV yêu cầu HS đọc kĩ bài thơ, chú ý đến lớp ngôn từ trong văn bản, nêu nhận xét về cách sử dụng từ ngữ, cấu trúc ngữ pháp, cách ngắt nhịp, cách diễn đạt mới mẻ, độc đáo của Xuân Diệu trong bài thơ (ví dụ "tắt nắng", "buộc gió", "khúc tình ,
"tuần tháng mật", "Tháng Giêng ngon như một cặp môi gần;", "vị chia phôi",…). - GV hướng dẫn HS phân tích các thủ pháp sáng tạo ngôn từ của Xuân Diệu và tác dụng của những thủ pháp nghệ thuật đó.
Gợi ý: + Thủ pháp ẩn dụ chuyển đổi cảm giác được thể hiện qua các cách diễn đạt "mùi tháng năm", "vị chia phôi", "Tháng Giêng ngon như một cặp môi gần;", "- Hỡi xuân hồng, ta muốn cắn vào ngươi!" làm hiện lên một chủ thể trữ tình vô cùng nhạy bén, tinh tế, muốn căng mọi giác quan ra để cảm nhận cuộc sống và đồng thời mỗi giác quan của chủ thể đều có sự tương ứng, tương thông. + Thủ pháp tương phản được sử dụng gần như xuyên suốt bài thơ "Tôi sung sướng. Nhưng vội vàng một nửa:", "Xuân đương tới, nghĩa là xuân đương qua,", "Lòng tôi rộng, nhưng lượng trời cứ chật,",… thể hiện sự đối lập sâu sắc giữa cá nhân và toàn bộ tồn tại, giữa những cảm xúc trái ngược bên trong chủ thể, tạo nên giọng điệu băn khoăn, chất vấn, hoài nghi trong bài thơ. + Cách so sánh độc đáo "Tháng Giêng ngon như một cặp môi gần;" thể hiện cảm nhận riêng của Xuân Diệu về thế giới, trong đó thế giới hiện lên trong con mắt của một chủ thể say đắm, muốn nếm trải, chiếm lĩnh cả thế giới một cách trọn vẹn, tham lam. Hình thức câu thơ vắt dòng: "Tôi muốn tắt nắng đi/ Cho màu đừng nhạt mất;"; "Ta muốn ôm/ Cả sự sống mới bắt đầu mơn mởn;";… phá vỡ khuôn khổ gò bó, trang nghiêm của câu thơ truyền thống, làm nổi bật giọng nói vội vã, hối hả, đầy say mê, khiến cho dòng chảy cảm xúc dường như tràn trên trang giấy. + Cách sử dụng các động từ mạnh, thể hiện ham muốn mãnh liệt muốn tận hưởng tất cả thanh sắc của cuộc đời. Tóm lại, bằng một loạt cách tân nghệ thuật, Xuân Diệu đã làm mới ngôn từ, phá bỏ những công thức ước lệ quen thuộc, những quy tắc ngữ pháp và khuôn khổ gò bó của thơ ca truyền thống, để biểu đạt một cách thành thực, nồng nhiệt dòng cảm xúc của tâm hồn, tạo nên cảm giác mới mẻ cho người đọc.
Trên cơ sở những phân tích trên, GV hướng dẫn HS bày tỏ ý kiến về nhận định: Xuân Diệu được coi là người có nhiều cách tân trong việc sử dụng ngôn từ. HS có thể
Trên cơ sở những phân tích trên, GV hướng dẫn HS bày tỏ ý kiến về nhận định: Xuân Diệu được coi là người có nhiều cách tân trong việc sử dụng ngôn từ. HS có thể phản biện lại nhận định, miễn là có căn cứ và lập luận thuyết phục.
Câu hỏi 3
GV hướng dẫn HS đọc kĩ đoạn thơ thứ hai, tìm ra những chi tiết miêu tả bức tranh cuộc sống trong đoạn thơ. GV có thể đặt các câu hỏi gợi ý: Những hình ảnh nào được nhắc tới trong đoạn thơ? Các hình ảnh đó được miêu tả như thế nào? Qua đó, em hình dung thế nào về bức tranh cuộc sống được miêu tả trong thơ? Em cảm nhận gì về hình ảnh, thời gian, không gian, màu sắc, âm thanh, ánh sáng được miêu tả trong đoạn thơ? Bức tranh đó gợi cho em suy nghĩ gì? Người quan sát và miêu tả là ai? Quan sát và miêu tả qua lăng kính nào, với một thái độ, cảm xúc ra sao? Qua cách miêu tả đó, em nhận ra điều gì về thế giới quan của tác giả? - Gợi ý: Đoạn thơ thứ hai cho người đọc thấy bức tranh thế giới tươi đẹp, căng tràn sức sống, đầy màu sắc, âm thanh, rực rỡ ánh sáng, như một thiên đường nơi hạ giới. Các hình ảnh đều được miêu tả ở trạng thái hoà hợp, trong thời điểm trẻ trung, viên mãn nhất ("hoa
của đồng nội xanh , "lá của cành tơ phơ phất", "ong bướm […] tuần tháng mật", "Tháng Giêng ngon như một cặp môi gần;". Bức tranh cuộc sống này được nhìn qua lăng kính của tình yêu, tuổi trẻ, gợi cảm giác vui tươi, rộn ràng, náo nức, thể hiện trạng thái say mê, tràn đầy niềm yêu cuộc sống của người quan sát - chủ thể trữ tình.
Câu hỏi 4
GV hướng dẫn HS nhớ lại khái niệm nhân vật trữ tình: Nhân vật trữ tình là nhân vật được nhà thơ sáng tạo ra, để thay nhà thơ bộc lộ trực tiếp cảm xúc. - GV đặt câu hỏi: Nhân vật trữ tình trong bài thơ là ai? Nhân vật trữ tình tự bộc lộ mình như thế nào, qua những dấu hiệu nào? Gợi ý: Nhân vật trữ tình là nhân vật xưng "tôi" trong bài thơ. Ở đoạn thơ thứ nhất, nhân vật trữ tình hiện lên với ý muốn mãnh liệt: "tắt nắng", "buộc gió" để chống lại sự phôi pha của thời gian, để lưu giữ lại vẻ đẹp của cuộc sống. Ở đoạn thơ thứ hai, mặc dù chủ thể trữ tình chỉ bộc lộ một cách gián tiếp qua cách quan sát thế giới, nhưng người đọc vẫn có thể nhận thấy ẩn sau bức tranh cảnh vật là tình yêu say đắm, tha thiết với những cảnh sắc của trần gian. Từ câu thơ "Tôi sung sướng. Nhưng vội vàng một nửa:" đến câu thơ "Chẳng bao giờ, ôi! Chẳng bao giờ nữa…", nhân vật trữ tình bộc lộ trực tiếp cảm xúc đầy mâu thuẫn, vừa yêu đời, ham sống, vừa khắc khoải âu lo trước sự chảy trôi của thời gian và sự hữu hạn của sinh mệnh. Trong những câu thơ còn lại, nhân vật trữ tình lại hiện lên một cách trực tiếp qua trạng thái sống cuống quýt, qua giọng điệu đầy giục giã. - Từ những phân tích trên, GV hướng dẫn HS khái quát đặc điểm của nhân vật trữ tình trong bài thơ. Gợi ý: Nhân vật trữ tình trong bài thơ là một con người yêu đời, ham sống, muốn tận hưởng từng phút giây cuộc sống, muốn nếm trải trọn vẹn toàn bộ vẻ đẹp của cuộc sống bằng tất cả các giác quan của mình, nhưng đồng thời cũng đầy tuyệt vọng khi nhận ra sự sống của cá nhân là nhỏ bé, hữu hạn. - Với các HS khá, giỏi, GV có thể đặt câu hỏi để so sánh, liên hệ: Ví dụ: So sánh với nhân vật trữ tình trong sáng tác của các nhà Thơ mới khác như Nguyễn Bính, Huy Cận, Hàn Mặc Tử, em nhận ra điểm khác biệt của nhân vật trữ tình trong bài thơ này là gì? Vì sao có sự khác biệt đó?
GV đặt câu hỏi: Nhân vật trữ tình có vai trò gì trong một bài thơ? Vì sao khi phân tích thơ, ta lại phải quan tâm đến nhân vật trữ tình? Làm thế nào để nhận ra
GV đặt câu hỏi: Nhân vật trữ tình có vai trò gì trong một bài thơ? Vì sao khi phân tích thơ, ta lại phải quan tâm đến nhân vật trữ tình? Làm thế nào để nhận ra và phân tích nhân vật trữ tình trong một bài thơ? Gợi ý: Nhân vật trữ tình là phương tiện gián tiếp để thể hiện cảm xúc của nhà thơ, là nhân tố trung tâm của bài thơ, thể hiện cá tính sáng tạo riêng của nhà thơ. Nhân vật trữ tình thường hiện lên qua cách xưng hô, cách tự miêu tả bản thân, cách quan sát và miêu tả thế giới. Để phân tích nhân vật trữ tình, trước hết cần xác định ai là người nói trong thơ, người nói tự bộc lộ mình như thế nào, từ đó khái quát chân dung của nhân vật trữ tình, tìm ra mạch cảm xúc được bộc lộ trong bài thơ. - GV đặt câu hỏi: Từ những phân tích trên về nhân vật trữ tình, hãy chỉ ra mạch vận động cảm xúc trong bài thơ. Gợi ý: Nhân vật trữ tình là sự bộc lộ một cách gián tiếp cảm xúc của tác giả, vì thế, qua nhân vật trữ tình, ta có thể nhận ra sự biến đổi trong mạch cảm xúc của bài thơ. Ở 11 câu thơ đầu, tác giả bày tỏ tình yêu tha thiết đối với cuộc sống đẹp đẽ nơi trần thế, khát vọng lưu giữ lại mãi
mãi thanh sắc của trần gian. Từ câu 12 đến câu 29, mạch cảm xúc có sự thay đổi đột ngột: nhà thơ bộc lộ nỗi âu lo, khắc khoải trước sự hữu hạn của cá nhân và sự trôi chảy của thời gian. Sự đối lập giữa tình yêu cuộc sống và nỗi lo âu trước thời gian ở các đoạn thơ trên đã dẫn tới lời giục giã tận hưởng cuộc sống, sống hết mình với tuổi trẻ và tình yêu trong đoạn thơ cuối. Có thể thấy, sự vận động, biến đổi của cảm xúc trong bài thơ làm nổi bật cái tôi trẻ trung, sôi nổi, nồng nhiệt với cuộc sống, bởi chính nỗi sợ hãi, niềm thất vọng khi nhận thấy sự phôi pha của thời gian cũng là một biểu hiện khác của tình yêu cuộc sống. - GV lưu ý HS: Khác với tự sự mô phỏng thế giới khách quan bên ngoài, thơ trữ tình là sự bộc lộ của thế giới tinh thần bên trong, của cảm xúc, tưởng tượng, mộng tưởng, thậm chí huyễn tưởng, vì thế, khi phân tích thơ trữ tình, cần khám phá thế giới tinh thần bên trong tinh tế, phức tạp ấy.
Câu hỏi 5
GV yêu cầu HS đọc kĩ từ câu thơ 12 đến câu thơ 29 và trả lời câu hỏi: Thời gian được miêu tả và cảm nhận ra sao? Qua cách miêu tả, cảm nhận đó, em nhận thấy quan niệm gì của nhà thơ? Gợi ý: Ở đây, tác giả đã miêu tả thời gian đất trời không tuần hoàn mà chảy trôi, phôi pha, một đi không trở lại; thời gian sinh mệnh thì ngắn ngủi, hữu hạn. Đằng sau cách miêu tả đó, có thể thấy một cảm thức về sự mất mát của thời gian, gắn liền với sự li biệt và tan vỡ của toàn bộ hạnh phúc, niềm vui, tình yêu, tuổi trẻ. - GV đặt câu hỏi: So sánh quan niệm về thời gian của Xuân Diệu trong bài thơ "Vội vàng" với quan niệm về thời gian trong một tác phẩm văn học trung đại, ví dụ "Cáo tật thị chúng" của Mãn Giác thiền sư. Theo em, vì sao có sự khác nhau đó? Gợi ý: Trong Cáo tật thị chúng, thời gian vũ trụ được miêu tả như một vòng quay tuần hoàn, sự sống tuy biến đổi theo quy luật sinh - lão - bệnh - tử, thành - trụ - hoại - không, song vẫn bất diệt, vĩnh cửu. Ngược lại, trong bài thơ Vội vàng, Xuân Diệu đưa ra một quan niệm mới về thời gian: thời gian tuyến tính, một đi không trở lại, sự sống là hữu hạn. Hai quan niệm khác nhau về thời gian này bắt nguồn từ hai lăng kính khác nhau về thế giới. Các nhà thơ trung đại như Mãn Giác thiền sư, dưới ảnh hưởng của các tư tưởng triết học và
tôn giáo phương Đông, thường đồng nhất mình với vũ trụ, nhìn thế giới qua lăng kính của vũ trụ. Trong khi đó, các nhà thơ hiện đại như Xuân Diệu, dưới ảnh hưởng
tôn giáo phương Đông, thường đồng nhất mình với vũ trụ, nhìn thế giới qua lăng kính của vũ trụ. Trong khi đó, các nhà thơ hiện đại như Xuân Diệu, dưới ảnh hưởng của các tư tưởng từ phương Tây, thường đề cao con người cá nhân, nhìn thế giới qua lăng kính của cá nhân. Đằng sau cách kiến giải của mỗi nhà thơ về thời gian, ta có thể thấy nhân sinh quan, thế giới quan của thời đại. Và những quan niệm khác nhau về thời gian đó tạo nên những thái độ, cách hành xử khác nhau: một bên là thái độ ung dung, tự tại trước sự biến đổi vô thường của vũ trụ và vạn vật; một bên là sự bất an, đau khổ trước sức mạnh huỷ diệt của thời gian và ham muốn sống gấp gáp để chạy đua với thời gian, tận hưởng cuộc sống.
Câu hỏi 6
GV đặt câu hỏi: Bài thơ "Vội vàng" thể hiện quan niệm gì của Xuân Diệu về tình yêu và tuổi trẻ? Dựa vào đâu em nhận ra quan niệm đó?
Gợi ý: Qua bài thơ, ta có thể nhận thấy quan niệm mới mẻ của nhà thơ về tình yêu và tuổi trẻ. Tuổi trẻ là khoảng thời gian quý giá nhất của đời người. Tình yêu là kết tinh những gì đẹp đẽ nhất của trần gian. Những quan niệm này có thể được phát biểu một cách trực tiếp, ví dụ:
"Nói làm chi rằng xuân vẫn tuần hoàn,/ Nếu đến nữa không phải rằng gặp lại!", "Ta muốn say cánh bướm với tình yêu,",…; có thể được thể hiện một cách gián tiếp qua cách miêu tả thế giới, cách sử dụng ngôn từ của tác giả trong bài thơ.
GV có thể mở một cuộc tranh luận trong lớp về câu hỏi: Em có đồng ý với quan niệm về tình yêu và tuổi trẻ của nhà thơ hay không? Vì sao? GV hướng dẫn HS sử dụng các kĩ năng tranh luận đã được học để bảo vệ quan điểm của mình, đồng thời lắng nghe và tôn trọng ý kiến của người khác.
Câu hỏi 7
GV yêu cầu HS đọc kĩ đoạn cuối của bài thơ, chú ý những nét đặc sắc về nhịp điệu, cấu trúc ngữ pháp, các biện pháp tu từ,… và phân tích giá trị biểu đạt của các hình thức nghệ thuật đó.
GV có thể đặt câu hỏi: Cái tôi trữ tình là gì? Cái tôi trữ tình thường được biểu đạt qua những phương tiện, hình thức nghệ thuật nào? Cái tôi trữ tình có vai trò gì trong thơ? Để trả lời câu hỏi này, GV hướng dẫn HS nhớ lại những kiến thức về cái tôi trữ tình đã học ở các lớp trước.
GV hướng dẫn HS trả lời câu hỏi: Cái tôi trữ tình được thể hiện qua những phương tiện, hình thức nghệ thuật nào trong đoạn thơ? Đoạn thơ giúp em hiểu thế nào về triết lí sống của cái tôi cá nhân?
GV có thể lấy một số ví dụ cụ thể, yêu cầu HS so sánh triết lí sống trong thơ Xuân Diệu và trong tác phẩm của các thi sĩ Thơ mới khác như Huy Cận, Chế Lan Viên, Thế Lữ,…
Hoạt động 4 Kết nối đọc - viết
Nhiệm vụ học tập ở phần này nhằm kết nối tác phẩm với đời sống, với bản thân, qua đó giúp HS nhận ra giá trị của văn học - nội dung kiến thức đã được tìm hiểu trong phần Tri thức ngữ văn.
Đây là đoạn văn nghị luận về một vấn đề văn học, trong đó HS trình bày giá trị của văn học đối với bản thân trong tư cách là một người đọc, thông qua một tác phẩm văn học cụ thể.
Văn bản 2 Trở về (Trích Ông già và biển cả) Ố-nít Hê-minh-uê 1. Phân tích yêu cầu cần đạt – HS nhận biết và đánh giá được thông điệp của đoạn trích văn bản, kết
Văn bản 2
Trở về
(Trích Ông già và biển cả)
Ố-nít Hê-minh-uê
1. Phân tích yêu cầu cần đạt
– HS nhận biết và đánh giá được thông điệp của đoạn trích văn bản, kết nối được thông điệp đó với chủ đề, tư tưởng và cảm hứng của tác phẩm Ông già và biển cả.
– HS nhận biết và phân tích được những điểm đặc sắc về nghệ thuật gắn liền với phong cách sáng tác của Hê-minh-uê thể hiện trong đoạn trích.
– HS có lòng can đảm, tự tin, dám nghĩ dám làm, tôn trọng bản thân và tôn trọng sự khác biệt.
2. Gợi ý tổ chức hoạt động dạy học
Hoạt động 1 Khởi động
– GV có thể chọn một trong hai, hoặc cả hai câu hỏi khởi động được gợi ý trong SGK Ngữ văn 12, tập hai, tr. 96. Cả hai câu hỏi đều hướng đến mô típ “trở về” – một mô típ thường được sử dụng khi người ta tái hiện chặng cuối của một hành trình khó khăn mà ở đó nhân vật chính phải đối mặt với nhiều cảm xúc, suy nghĩ khác nhau, thậm chí trái ngược nhau.
– GV mời một số HS chia sẻ ý kiến, sau đó nhận xét và dẫn dắt HS vào bài học.
Hoạt động 2 Đọc văn bản
– HS đọc trước văn bản ở nhà, nếu cần có thể tóm tắt ngắn gọn cốt truyện.
– Ở trên lớp, GV tổ chức cho HS đọc một số đoạn tuỳ chọn. Ví dụ: phân vai đọc đoạn văn về cuộc đối thoại giữa ông già và cậu bé, phần kết đoạn trích. GV nhắc HS lưu ý các thể chỉ dẫn đọc và có thể trao đổi nhanh về một số thể chỉ dẫn có độ khó cao hơn các thể khác như thể 1, 5, 6.
Hoạt động 3 Khám phá văn bản Đây là đoạn trích nằm ở cuối tác phẩm Ông già và biển cả. SGK đã cung cấp phần tóm tắt khá chi tiết nội dung truyện. Do vậy, HS cần
Hoạt động 3 Khám phá văn bản
Đây là đoạn trích nằm ở cuối tác phẩm Ông già và biển cả. SGK đã cung cấp phần tóm tắt khá chi tiết nội dung truyện. Do vậy, HS cần đọc kĩ phần tóm tắt để nắm được cốt truyện và bước đầu hình dung được vai trò quan trọng của đoạn trích trong việc nắm bắt chủ đề, tư tưởng của tác phẩm. - Về tiểu sử và sự nghiệp của tác giả Hê-minh-uê, phần giới thiệu trong SGK đã đưa ra một số ý cơ bản, có thể được coi như những"từ khoá" (ví dụ "thế hệ lạc lối", "nguyên lí tảng băng trôi") để GV dựa vào đó tìm thêm tư liệu, chọn lựa các kiến thức phù hợp giới thiệu cho HS. - Với tác phẩm của Hê-minh-uê nói chung và đoạn trích Trở về trong Ông già và biển cả nói riêng, người đọc cần có cách tư duy cởi mở, lối suy nghĩ độc lập để nhận ra và lí giải được các thông điệp mà tác giả chuyển tải. Đây cũng là điều mà bài học Văn học và cuộc đời hướng đến. GV nên bám sát định hướng này để tổ chức cho HS trả lời các câu hỏi sau khi đọc đoạn trích.
Câu hỏi 1
Nếu GV đã yêu cầu HS đọc trước đoạn trích và tóm tắt cốt truyện trước khi đến lớp, thì có thể tổ chức cho HS thảo luận nhóm về câu hỏi này. - Theo sự thay đổi của không gian - thời gian và sự xuất hiện của nhân vật, đoạn trích có thể chia làm các phần như sau: + Phần 1 (từ đầu đến "lòng bàn tay ngửa lên."): Ông lão trở về đất liền trong đêm tối, dùng hết sức lực còn lại để đưa chiếc thuyền cùng với cái đầu và bộ xương khổng lồ của con cá kiếm vào bờ. Sau đó, ông về lán và lăn ra ngủ. + Phần 2 (tiếp theo đến "thằng bé nói."): Sáng hôm sau cậu bé đến lán, nhìn lão ngủ và khóc. Cậu bé đi mua cà phê cho ông lão. Một nhóm ngư dân vây quanh và đo bộ xương khổng lồ của con cá kiếm, họ gửi lời hỏi thăm ông lão qua cậu bé. + Phần 3 (từ "Thằng bé mang lon cà phê" đến "tiếp tục khóc."): Khi cậu bé mang cà phê đến, ông lão tỉnh dậy, hai người trò chuyện với nhau về khoảng thời gian qua và lên kế hoạch cho chuyến đi câu cá cùng nhau sắp tới. + Phần 4 (từ "Chiều hôm đó" đến "cô ta nói."): Chiều tối hôm đó, hai du khách trong bữa tiệc ở khách sạn nhìn thấy bộ xương con cá kiếm nhưng lại tưởng nhầm rằng đó là bộ xương của con cá mập. + Phần 5 (phần còn lại): Ông lão quay lại với giấc ngủ sâu và mơ về những con sư tử trong khi cậu bé ngồi bên cạnh nhìn lão ngủ. - Tuy nhiên, với tác phẩm của Hê-minh-uê, điều quan trọng nhất chưa hẳn là câu chuyện kể về cái gì mà là câu chuyện được kể như thế nào. GV nên tôn trọng các cách phân chia khác (có thể sơ lược hơn) của HS, miễn là HS giải thích được sự liên kết giữa các phần.
Câu hỏi 2
Nội dung câu hỏi đã có gợi ý: Đây là cuộc đối thoại dài nhất trong tác phẩm Ông già và biển cả. Do vậy, cuộc đối thoại này chắc chắn có vai trò quan trọng trong việc giúp người đọc hiểu chủ đề và thông điệp của tác phẩm. Trước hết, nó là cơ sở để người đọc hiểu được mối quan hệ giữa hai nhân vật Xan-ti-a-gô (Santiago) và Ma-nô-lin (Manolin).
GV có thể hướng dẫn HS làm việc theo nhóm, lập bảng với hai cột lớn là nội dung và hình thức, thảo luận để điền các yếu tố HS tìm được vào bảng. Về nội dung, ch
GV có thể hướng dẫn HS làm việc theo nhóm, lập bảng với hai cột lớn là nội dung và hình thức, thảo luận để điền các yếu tố HS tìm được vào bảng. Về nội dung, chú ý liệt kê các chủ đề của cuộc đối thoại, các chi tiết, nhân vật, sự kiện mà họ nhắc đến. Về hình thức, chú ý đến tính chất ngắn gọn, hàm súc, lối nói thẳng thắn, thậm chí nhiều lúc nhát gừng, bỏ lửng,… của ngôn ngữ đối thoại.
Từ đó, GV dẫn dắt HS miêu tả đặc điểm mối quan hệ giữa hai nhân vật: hai người bạn, đồng thời là hai thầy trò gắn bó khăng khít, chia sẻ sở thích và đam mê, có cùng lí tưởng sống, bất chấp sự chênh lệch tuổi tác và không có mối quan hệ huyết thống. Do vậy, họ không cần dùng đến ngôn ngữ để hiểu nhau. Ở cấp độ cao hơn, còn có thể nhìn thấy hình ảnh của nhân vật này trong nhân vật kia (soi chiếu lẫn nhau). Nếu coi ông lão là đại diện cho hiện tại thì Ma-nô-lin là đại diện cho tương lai. Cuộc đối thoại giữa họ, vì thế, đôi khi có dáng dấp của một cuộc độc thoại.
Câu hỏi 3
Câu hỏi này yêu cầu HS chỉ ra, gọi tên được các trạng thái tâm lí khác nhau của nhân vật
Xan-ti-a-gô trong đoạn trích. GV có thể hướng dẫn HS lập sơ đồ đơn giản để trả lời.
GV lưu ý HS: Do phong cách sáng tác của tác giả, ở đây có rất ít từ ngữ trực tiếp miêu tả tâm lí nhân vật. Người đọc cần nhận diện tâm lí nhân vật thông qua ngôn ngữ, cử chỉ, hành động của nhân vật chính và của các nhân vật khác.
GV định hướng HS kết nối câu trả lời với vấn đề tâm lí "trở về" của con người sau một cuộc hành trình đã được nêu ra từ đầu bài học, từ đó thấy được sự đan xen giữa trạng thái mệt mỏi, kiệt sức, vui, buồn, thất vọng, hi vọng,… trong tâm lí nhân vật là điều có thể đồng cảm và lí giải được.
Câu hỏi 4
HS cần thống kê được bốn lần tác giả miêu tả hành động"khóc" của nhân vật Ma-nô-lin trong các bối cảnh khác nhau: khi mới nhìn thấy ông lão ngủ ở trong lán, trên đường đi từ lán đến khách sạn, khi nói chuyện với người chủ khách sạn, sau khi kết thúc cuộc đối thoại với ông lão và rời khỏi lán.
Để lí giải hành động "khóc" của cậu bé, HS cần chỉ ra sự giống nhau và khác nhau trong tâm lí nhân vật cậu bé ở bốn lần này, đồng thời nhận ra được sự đan xen của các cảm xúc và suy nghĩ đằng sau hành động đó.
GV có thể yêu cầu HS làm việc theo cặp hoặc nhóm để trả lời câu hỏi.
Câu hỏi 5
HS cần chỉ ra được thái độ của các nhân vật lần lượt là: Ma-nô-lin, nhóm ngư dân, chủ khách sạn và hai du khách trước bộ xương con cá kiếm trên bãi biển. Trong văn bản, tác giả đã miêu tả khá rõ qua lời nói, cử chỉ, hành động của các nhân vật. Câu hỏi nhấn mạnh sự khác nhau trong thái độ của các nhân vật. GV lưu ý HS điểm này khi trả lời câu hỏi, chỉ ra được những sắc thái rất khác nhau, thậm chí trái ngược nhau trong thái độ của các nhân vật: khâm phục, ngưỡng mộ, hồ nghi, thờ ơ, hiểu lầm,… Câu trả lời cho câu hỏi này có thể được sử dụng làm cơ sở để trả lời các câu hỏi 7 và 8.
GV gợi ý HS lập bảng và thảo luận trong nhóm để trả lời câu hỏi.
Câu hỏi 6 Đây là câu hỏi có tính khái quát, đòi hỏi HS liên hệ được những đặc điểm cụ thể trong đoạn trích với các vấn đề rộng lớn hơn về tuyên ngôn sáng tác và
Câu hỏi 6
Đây là câu hỏi có tính khái quát, đòi hỏi HS liên hệ được những đặc điểm cụ thể trong đoạn trích với các vấn đề rộng lớn hơn về tuyên ngôn sáng tác và phong cách sáng tác của tác giả.
HS cần chỉ ra được đặc điểm của ngôn ngữ kể chuyện và đặc điểm của ngôn ngữ đối thoại trong đoạn trích. Trong câu hỏi đã có gợi ý liên hệ với"nguyên lí tảng băng trôi"của Hê-minh-uê.
GV có thể dựa vào các thông tin sau đây, tìm đọc thêm tư liệu, từ đó lựa chọn phương án thích hợp nhất để cung cấp cho HS các kiến thức bổ trợ cho việc trả lời câu hỏi này:
Tác giả là một đại diện của "thế hệ lạc lối" hay "thế hệ vứt đi" - cụm từ chỉ những con người bước ra khỏi Chiến tranh thế giới lần thứ nhất với tâm trạng xa lạ và cô đơn, mất kết nối với cuộc sống và với chính mình.
Sự nghiệp văn chương của Hê-minh-uê gắn liền với "nguyên lí tảng băng trôi". Theo đó, sáng tác văn học cũng giống như một tảng băng trôi với bảy phần tám chìm dưới nước, chỉ
có một phần tám nổi lên trên cho chúng ta nhìn thấy. Như vậy, tác giả cần tạo ra cái được gọi là"mạch ngầm văn bản". Nguyên lí này một mặt đòi hỏi người viết phải lược bỏ đi nhiều yếu tố miêu tả, diễn giải, bình luận trong văn bản, mặt khác đòi hỏi người đọc phải vận dụng trải nghiệm và liên tưởng để "đọc" ra những tầng lớp ý nghĩa đằng sau văn bản.
Để giúp HS hiểu thêm vấn đề đang trao đổi, GV có thể đọc đoạn trích sau đây trong một công trình nghiên cứu của Đặng Anh Đào: "Không riêng gì ngôn ngữ, mà từ toàn bộ tác phẩm, toát lên một vẻ đặc biệt được gọi là lối viết rời rạc, nhát gừng (style laconique). Tính chất lắp ghép của kết cấu truyện đôi khi đập vào mắt của người đọc, và cũng khá rõ ở kết cấu câu. Các câu của ông ít khi liên hệ với nhau bởi những liên từ nhân quả (bởi vậy, do đó,…). Ông hay dùng liên từ thời gian hơn và nếu làm một phép thử để thay thế, thì có những chỗ đáng dùng liên từ "nhưng", ông lại dùng "và". Thậm chí ông có thể lặp đi lặp lại cảm giác tiếp nối, rời rạc bởi liên từ ấy, hơn là sử dụng quan hệ phụ thuộc. Bởi vậy, dù gọi ông là một "camera", một máy phát, hay văn điện tín, phóng viên, tất cả đều hàm ý nói về tính chất rời rạc, lắp ráp trong lối viết của ông. Điều chủ yếu là vẻ rời rạc bên ngoài chứa đựng sức biểu cảm bên trong ở đây: đó là cái nền tâm trạng của những nhân vật, của một con người đã từng hiểu sự bất lực của lời lẽ, đã qua lửa đạn, và thấm thía sự hỗn mang của một thế giới đổ vỡ."(phần viết về Hê-minh-uê của Đặng Anh Đào, in trong Văn học phương Tây, NXB Giáo dục, Hà Nội, 1999, tr. 728).
Câu hỏi 7
Với câu hỏi này, GV lưu ý HS liên hệ với phần tóm tắt truyện để nắm được toàn bộ cốt truyện, vị trí của đoạn trích Trở về (phần cuối truyện), từ đó hình dung được vai trò của đoạn kết truyện. Về mặt hình thức nghệ thuật, đây là cái kết mở, mời gọi những suy nghĩ, liên tưởng khác nhau.
GV nên dẫn dắt HS liên hệ câu trả lời với các vấn đề khái quát hơn như: giới hạn của con người trong mối quan hệ với thiên nhiên và trong mối quan hệ với chính bản thân, thấu hiểu và hiểu lầm giữa người và người trong xã hội hiện đại, sự tiếp nối hiện tại và tương lai,…
Văn bản 3 Hồn Trương Ba, da hàng thịt (Trích) Lưu Quang Vũ 1. Phân tích yêu cầu cần đạt – HS phân tích được các yếu tố đặc trưng của kịch trong tác phẩm như sự
Văn bản 3
Hồn Trương Ba, da hàng thịt
(Trích)
Lưu Quang Vũ
1. Phân tích yêu cầu cần đạt
– HS phân tích được các yếu tố đặc trưng của kịch trong tác phẩm như sự kiện và cốt truyện, nhân vật, xung đột, lời thoại,...
– HS phân tích và đánh giá được chủ đề, tư tưởng, thông điệp được truyền tải trong tác phẩm.
HS phân tích và đánh giá được giá trị nhận thức, giáo dục, thẩm mĩ của tác phẩm; phát hiện được giá trị văn hoá, triết lí nhân sinh từ văn bản. - HS biết sống m
HS phân tích và đánh giá được giá trị nhận thức, giáo dục, thẩm mĩ của tác phẩm; phát hiện được giá trị văn hoá, triết lí nhân sinh từ văn bản. - HS biết sống một cách tích cực, có trách nhiệm, trung thực với bản thân và với người khác.
2. Gợi ý tổ chức hoạt động dạy học
Hoạt động, 1 Khởi động
Ngoài cách, hướng dẫn HS thảo luận câu hỏi khởi động trong SGK, GV có thể tham khảo
thêm một số hoạt, động sau:
- Yêu cầu HS, đọc trước ở nhà truyện cổ tích Hồn Trương Ba, da hàng thịt, tóm tắt cốt
truyện và thảo luận, về thông điệp được truyền tải trong câu chuyện.
- Yêu cầu HS, tìm hiểu về kịch Lưu Quang Vũ, có thể xem trước một vở kịch hoặc đọc và
tóm tắt toàn bộ, kịch bản Hồn Trương Ba, da hàng thịt.
- Giúp HS nhớ, lại những tri thức về đặc trưng của thể loại kịch, về cách đọc một tác phẩm
kịch và đưa ra, những lưu ý trước khi đọc văn bản Hồn Trương Ba, da hàng thịt.
Hoạt động, 2 Đọc văn bản
GV có thể yêu, cầu HS đọc phân vai đoạn trích Hồn Trương Ba, da hàng thịt và phân tích
giọng của từng, nhân vật trong văn bản.
Hoạt động, 3 Khám phá văn bản
- Văn bản Hồn, Trương Ba, da hàng thịt là một đoạn trích trong vở kịch cùng tên của
Lưu Quang Vũ., Ngoài việc đọc phần tóm tắt vở kịch trong SGK, GV nên khuyến khích HS
đọc toàn bộ kịch, bản, sau đó có thể tóm tắt vở kịch dưới dạng sơ đồ cốt truyện. Vở kịch
này cũng được cải, biên từ một câu chuyện dân gian, nên HS cũng cần tham khảo truyện
cổ tích Hồn Trương, Ba, da hàng thịt trước khi đọc tác phẩm.
- Ngoài ra, vì, kịch bản văn học là một thể loại trung gian giữa văn học và sân khấu, cho
nên những hiểu, biết về nghệ thuật sân khấu là hết sức quan trọng. GV có thể cho HS xem
trước một vở diễn, được chuyển thể từ đoạn trích Hồn Trương Ba, da hàng thịt, so sánh vở
diễn với kịch bản, văn học, nhằm chỉ ra những điểm sáng tạo, thay đổi của đạo diễn. GV cần
giúp HS nhớ lại, những kiến thức đã học trong chuyên đề Sân khấu hoá tác phẩm văn học
trong SGK Chuyên, đề học tập Ngữ văn 10 và những kiến thức về kịch đã được học trong SGK
Ngữ văn 1 1, tập một để hiểu rõ về mối quan hệ giữa hai loại hình nghệ thuật này.
Câu hỏi 1
GV hướng dẫn HS xác định các lớp kịch trong hồi VII (Gợi ý: Lớp 1: Đối thoại giữa Hồn Trương Ba và Xác Hàng Thịt, Lớp 2: Đối thoại giữa Hồn Trương Ba và vợ, Lớp 3: Đối thoại giữa Hồn Trương Ba và cái Gái, Lớp 4: Đối thoại giữa Hồn Trương Ba và chị con dâu, Lớp 5: Đối thoại giữa Hồn Trương Ba và Đế Thích). - GV làm mẫu, tóm tắt các sự kiện chính trong một hoặc một vài lớp kịch, sau đó yêu cầu HS tóm tắt các lớp kịch còn lại.
Gợi ý: + Lớp 1: Xác Hàng Thịt cố gắng thuyết phục Hồn Trương Ba về sức mạnh ghê gớm của mình và khuyên Hồn Trương Ba sống hoà hợp với thể xác. Hồn Trương Ba tỏ
Gợi ý: + Lớp 1: Xác Hàng Thịt cố gắng thuyết phục Hồn Trương Ba về sức mạnh ghê gớm của mình và khuyên Hồn Trương Ba sống hoà hợp với thể xác. Hồn Trương Ba tỏ ra khinh bỉ, kiên quyết phủ định và muốn bảo vệ sự nguyên vẹn, cao khiết, thẳng thắn của mình. + Lớp 2: Vợ Trương Ba muốn ra đi vì nhận ra chồng mình đã đổi khác. Trương Ba vô cùng đau khổ.
Lớp 3: Cái Gái không thừa nhận Hồn Trương Ba là ông nội của mình, tỏ ra căm ghét và xua đuổi Trương Ba. Trương Ba vô cùng đau khổ. + Lớp 4: Chị con dâu tuy tỏ ra thương cảm cho tình cảnh của Hồn Trương Ba, nhưng thú nhận ông đã không còn là Trương Ba ngày xưa. Trương Ba vô cùng đau khổ. + Lớp 5: Hồn Trương Ba đề nghị Đế Thích được thoát khỏi thân xác của hàng thịt. Đế Thích đề nghị Hồn Trương Ba nhập vào thể xác của cu Tị, nhưng Hồn Trương Ba không chịu,
quyết định lựa chọn cái chết và trả lại thân xác cho hàng thịt. - GV đặt câu hỏi: Em có nhận xét gì về diễn biến của các sự kiện? (Gợi ý: Các sự kiện được triển khai theo quan hệ tăng tiến. Mâu thuẫn giữa Hồn Trương Ba và Xác Hàng Thịt ngày càng trở nên gay gắt, mặc dù ở các lớp kịch sau, nhân vật Xác Hàng Thịt không xuất hiện một cách trực tiếp, nhưng qua lời thoại của các nhân vật khác như vợ Trương Ba, cái Gái, chị con dâu, có thể thấy Xác Hàng Thịt ngày càng lấn át, thao túng linh hồn Trương Ba. Hồn Trương Ba bị đẩy vào tình thế ngày càng đau khổ, tuyệt vọng khi bị từ chối bởi chính những người thân yêu nhất của mình. Mâu thuẫn bị đẩy lên tới mức đỉnh điểm khi chị con dâu, người mà Hồn Trương Ba vẫn nghĩ là "chỉ mình con vẫn thương thầy như xưa" cũng thừa nhận là bố chồng đã trở thành người khác. Sự sắp đặt các sự kiện theo quan hệ tăng tiến đã tạo nên kịch tính và làm nổi bật xung đột chính trong tác phẩm: xung đột giữa linh hồn cao khiết của Hồn Trương Ba và thân xác phàm tục, thô lậu của hàng thịt.)
Câu hỏi 2
GV hướng dẫn HS nhớ lại các kiến thức đã học về xung đột kịch bằng cách đặt câu hỏi: Xung đột kịch là gì? Xung đột có vai trò gì trong một tác phẩm kịch? - Để giúp HS tìm ra xung đột chính trong đoạn trích, GV có thể đặt những câu hỏi: Tất cả các nhân vật, sự kiện trong tác phẩm được tổ chức theo quan hệ nào?
Gợi ý:
Trong lớp 1, tác giả làm nổi bật sự mâu thuẫn gay gắt giữa Hồn Trương Ba và Xác Hàng Thịt. Trong khi Hồn Trương Ba cố gắng bảo vệ cho sự độc lập, thanh cao, trong sạch của linh hồn, thì Xác Hàng Thịt ra sức thuyết phục Hồn Trương Ba về sức mạnh thao túng của thân xác. + Các lớp 2, 3, 4 làm nổi bật sự mâu thuẫn giữa Hồn Trương Ba và những người thân trong gia đình, khi tất cả người thân đều từ chối con người xa lạ của Trương Ba. Tuy Xác Hàng Thịt không xuất hiện trực tiếp, song có thể nhận thấy ẩn dưới mâu thuẫn này là sự đối lập sâu sắc giữa một bên là sự lấn át của Xác Hàng Thịt và một bên là sự yếu thế của Hồn Trương Ba, dẫn đến sự tha hoá của linh hồn.
Ở lớp 5, qua màn đối thoại của Hồn Trương Ba và Đế Thích, Lưu Quang Vũ làm nổi bật sự mâu thuẫn giữa một bên là ý định của Hồn Trương Ba được sống là chính mình
Ở lớp 5, qua màn đối thoại của Hồn Trương Ba và Đế Thích, Lưu Quang Vũ làm nổi bật sự mâu thuẫn giữa một bên là ý định của Hồn Trương Ba được sống là chính mình, với một bên là ý định của Đế Thích, muốn duy trì sự sống của Hồn Trương Ba; giữa quan niệm sống của hai nhân vật. Ở màn đối thoại này, Xác Hàng Thịt tuy không xuất hiện trực tiếp, nhưng vấn đề mối quan hệ giữa hồn và xác vẫn là trung tâm của mâu thuẫn giữa hai nhân vật.
Có thể nói, mâu thuẫn bao trùm lên toàn bộ đoạn trích là mâu thuẫn giữa linh hồn và thể xác. Mặc dù trong nhiều lớp kịch, Xác Hàng Thịt đóng vai trò như một nhân vật giấu mặt, sự đối đầu giữa Hồn Trương Ba và Xác Hàng Thịt không phải là sự đối đầu trực tiếp, song mối xung đột giữa hồn và xác vẫn là mối xung đột chìm bên dưới tất cả các hành động, lời thoại, cách tổ chức nhân vật và sự kiện trong đoạn trích.
GV đặt câu hỏi: Qua xung đột giữa Hồn Trương Ba và Xác Hàng Thịt, Lưu Quang Vũ làm nổi bật bi kịch gì của con người?
Gợi ý:
Xung đột giữa Hồn Trương Ba và Xác Hàng Thịt, thực chất là xung đột giữa con người bên trong và con người bên ngoài, giữa tâm hồn cao thượng, trong sạch và những nhu cầu, ham muốn phàm tục, tầm thường của thể xác, giữa phần con và phần người. Không những thế, nó còn là xung đột giữa con người và hoàn cảnh, giữa mong muốn được sống một cách trong sạch, nguyên vẹn với hoàn cảnh đầy bó buộc, sẵn sàng làm tha hoá con người.
Qua xung đột kịch, Lưu Quang Vũ muốn làm nổi bật lên bi kịch của con người - bi kịch không được là chính mình, bên ngoài một đằng, bên trong một nẻo và bi kịch bị tha hoá của con người trước sự trói buộc của hoàn cảnh.
Câu hỏi 3
GV yêu cầu HS đọc kĩ những đoạn miêu tả lời thoại, hành động của Hồn Trương Ba, chú ý đến giọng điệu của nhân vật được thể hiện trong lời thoại.
GV đặt câu hỏi: Trong đoạn đối thoại giữa Hồn Trương Ba và Xác Hàng Thịt, diễn biến tâm trạng của nhân vật Hồn Trương Ba được bộc lộ qua phương diện nào?
Gợi ý: Tâm trạng của nhân vật Hồn Trương Ba được bộc lộ qua lời độc thoại ở phần mở đầu của đoạn trích: "Không! Tôi không muốn sống như thế này mãi…" bộc lộ sự chán ghét, bất mãn của Hồn Trương Ba khi nhận ra mình đang phải sống trong thể xác của hàng thịt. Trong lớp 1, những lời kháng cự yếu ớt của Hồn Trương Ba, được biểu đạt qua những lời thoại ngập ngừng, do dự, đầy lúng túng: "Ta… ta… đã bảo mày im đi!", "Không! Ta vẫn có một đời sống riêng",… thể hiện sự bất lực, yếu thế của ông trước những lí lẽ sắc bén của Xác Hàng Thịt. Ở đoạn cuối của lớp kịch, tiếng kêu "Trời!" của Hồn Trương Ba thể hiện sự tuyệt vọng của Hồn Trương Ba trước sự lấn át của Xác Hàng Thịt. Lời thoại của nhân vật cho thấy sự vận động trong tâm trạng của nhân vật, theo hướng ngày càng trở nên hoang mang hơn và cuối cùng là hoàn toàn tuyệt vọng.
GV nhấn mạnh: Nếu như trong văn bản tự sự, diễn biến tâm trạng của nhân vật thường được bộc lộ qua ngoại hình, hành động, lời nói, qua lời người kể chuyện, điểm nhìn trần thuật, thì trong kịch, diễn biến tâm trạng của nhân vật thường được bộc lộ qua hành động và đặc biệt là lời thoại. Vì thế, để nắm được diễn biến tâm trạng của nhân vật, cần hết sức chú ý đến lời thoại của nhân vật.
GV đặt câu hỏi: Qua diễn biến tâm trạng của Hồn Trương Ba, em có nhận xét gì về đặc điểm tính cách của nhân vật? (Gợi ý: Qua diễn biến tâm trạng của Hồn Trương
GV đặt câu hỏi: Qua diễn biến tâm trạng của Hồn Trương Ba, em có nhận xét gì về đặc điểm tính cách của nhân vật? (Gợi ý: Qua diễn biến tâm trạng của Hồn Trương Ba, có thể thấy tính cách chính trực, ngay thẳng, cao khiết của Hồn Trương Ba, đối lập với tính cách thô tục, thực dụng, xảo trá của Xác Hàng Thịt). Sự đối lập trong tính cách của hai nhân vật đã thúc đẩy xung đột kịch, tạo nên diễn biến tâm trạng đầy giằng xé của Hồn Trương Ba trong lớp kịch này.
Câu hỏi 4
GV yêu cầu HS đọc kĩ đoạn kết của vở kịch (Hồn Trương Ba lựa chọn cái chết và hiện về trong vườn cây để dặn dò những người thân trong gia đình. Những hạt na được cái Gái vùi xuống đất, để cây cối sẽ nối nhau mà lớn khôn). - GV cho HS tự do bày tỏ quan điểm của mình. Có thể có hai cách lập luận khác nhau về câu hỏi này. Thứ nhất, đây là một kết thúc bi kịch vì giống như kết thúc của các bi kịch khác, nhân vật chính thường kết thúc cuộc đời bằng cái chết. Thứ hai, đây không phải là kết thúc bi kịch, bởi việc lựa chọn cái chết của Hồn Trương Ba đã chấm dứt nỗi đau khổ của nhân vật khi phải chung sống với Xác Hàng Thịt, khiến cho nhân vật được sống là chính mình. Mặt
khác, sự sống lại của Hồn Trương Ba giữa màu xanh của cây vườn, trong tình yêu thương của gia đình và hình ảnh những hạt na được cái Gái vùi xuống đất để mọc lên thành những cây xanh gửi gắm niềm tin, niềm hi vọng về một thế giới tốt đẹp hơn, khiến cho vở kịch mang đậm màu sắc lãng mạn. GV cần tôn trọng những lập luận khác nhau của HS.
Câu hỏi 5
GV hướng dẫn HS nhớ lại xung đột chính trong đoạn trích (đã được thảo luận trong câu hỏi 2) và đặt câu hỏi: Cuộc đối thoại giữa Hồn và Xác cho biết điều gì về các mặt xung đột trong mỗi con người? Để giúp HS trả lời câu hỏi này, GV có thể đưa ra các gợi ý: Hồn Trương Ba đại diện cho phương diện nào trong mỗi con người? Thông qua hình tượng Xác Hàng Thịt, Lưu Quang Vũ ngầm ám chỉ phương diện nào trong mỗi cá nhân chúng ta? - Từ những câu hỏi gợi ý này, GV dẫn dắt HS liên hệ với đời sống, với các tác phẩm văn học khác để nhận ra triết lí nhân sinh mang tính phổ quát đã được Lưu Quang Vũ thể hiện trong tác phẩm.
Câu hỏi 6
Đây là một câu hỏi mở, nhằm phát triển khả năng lập luận, phản biện của HS. GV có thể hướng dẫn HS thảo luận nhóm để bảo vệ quan điểm của mình. GV cần tôn trọng các quan điểm đa dạng của HS và hướng dẫn HS cách lập luận để thuyết phục người khác.
Câu hỏi 7
Đây cũng là một câu hỏi mở, nhằm kết nối văn học với cuộc sống và giúp HS suy ngẫm về các giá trị của văn chương. Để hướng dẫn HS trả lời câu hỏi này, GV có thể cho HS đọc lại đoạn đối thoại giữa Hồn Trương Ba và Đế Thích, đặc biệt là các lời thoại của Hồn Trương Ba: "Không thể bên trong một đằng, bên ngoài một nẻo được. Tôi muốn được là tôi toàn vẹn", "Không thể sống với bất cứ giá nào được",… GV có thể đặt câu hỏi: Em có đồng ý với quan điểm sống của Hồn Trương Ba không? Theo em, thế nào là một cuộc sống toàn vẹn? Trong cuộc sống, đã bao giờ em rơi vào tình huống không được sống là chính mình hay chưa? Khi đó, em đã hành xử như thế nào? Em có cảm thấy thực sự thoải mái và hạnh phúc? Vậy thế nào là một cuộc sống thực sự có ý nghĩa?
Thực hành tiếng Việt
Thực hành tiếng Việt
Trang 99
VIẾT Viết bài phát biểu trong lễ phát động một phong trào hoặc một hoạt động xã hội 1. Phân tích yêu cầu cần đạt – HS có kĩ năng viết bài văn nghị luận dưới hìn
VIẾT
Viết bài phát biểu trong lễ phát động một phong trào hoặc một hoạt động xã hội
1. Phân tích yêu cầu cần đạt
– HS có kĩ năng viết bài văn nghị luận dưới hình thức một bài phát biểu.
– HS chọn được đề tài phù hợp với bài phát biểu, thể hiện được khả năng thu hút sự quan tâm và thay đổi nhận thức, hành động của người đọc về một phong trào hoặc hoạt động xã hội, tức một vấn đề đời sống có ảnh hưởng rộng lớn.
2. Những lưu ý về yêu cầu đối với kiểu bài
– Kiểu bài viết ở đây thực chất là văn bản nghị luận xã hội nhưng được viết dưới hình thức của một bài phát biểu.
– Ngoài những yêu cầu vốn có của kiểu bài nghị luận xã hội, GV cần giúp HS nắm được yêu cầu đặc thù của bài phát biểu này. Mục đích phát động (kêu gọi, thúc giục,…) đòi hỏi bài viết phải có tính hùng biện cao. Để đáp ứng được yêu cầu đó, ngoài việc lựa chọn vấn đề quan trọng và cấp bách (phong trào hoặc hoạt động xã hội) phù hợp với bài phát biểu, người viết cần có cách truyền tải ý tưởng tác động mạnh đến nhận thức và tình cảm của người đọc.
3. Gợi ý tổ chức hoạt động dạy học Hoạt động 1 Tìm hiểu yêu cầu của kiểu bài Sau khi nêu ý nghĩa và sự cần thiết của việc thực hành kiểu văn bản nghị luận dưới
3. Gợi ý tổ chức hoạt động dạy học
Hoạt động 1 Tìm hiểu yêu cầu của kiểu bài
Sau khi nêu ý nghĩa và sự cần thiết của việc thực hành kiểu văn bản nghị luận dưới hình thức một bài phát biểu, GV cần cho HS tự đọc và trao đổi với nhau về yêu cầu của kiểu bài đã được trình bày trong SGK (chú ý so sánh với yêu cầu của kiểu văn bản nghị luận xã hội nói chung).
GV có thể nêu một số câu hỏi giúp HS hiểu rõ hơn mục tiêu của hoạt động này: Trong các yêu cầu được trình bày ở SGK, yêu cầu nào cho thấy tính đặc thù của kiểu bài mà em cần viết? Đâu là thách thức lớn nhất mà kiểu bài đặt ra cho em? Vì sao?
Hoạt động 2 Đọc và phân tích bài viết tham khảo
Cho HS đọc bài viết tham khảo và nhắc các em chú ý các thẻ định hướng đọc. Đọc xong
mỗi đoạn, cần dừng lại để phân tích nội dung thể hiện trong đó và những thao tác được người viết sử dụng (chú ý không cần đi sâu tìm hiểu nội dung cụ thể của từng phần mà quan tâm đến vai trò của mỗi phần đối với việc triển khai nội dung bài phát biểu, đáp ứng yêu cầu của kiểu bài). Bài viết tham khảo là một bài phát biểu điển hình tuy nó có thể được đọc to trước đông đảo người nghe hoặc được truyền tải qua những kênh giao tiếp khác như công bố trên báo chí, trên trang thông tin của một cơ quan, tổ chức,…
GV hướng dẫn HS trả lời các câu hỏi đặt dưới bài viết tham khảo. Một số lưu ý: + Với câu hỏi thứ nhất, cần chỉ ra bối cảnh mà tác giả viết bài này: Tình trạng dịch bệnh HIV/AIDS đang hoành hành bất chấp các nỗ lực của Liên hợp quốc, nhiều quốc gia, công ti, nhóm xã hội trên toàn thế giới.
Câu hỏi thứ hai yêu cầu HS nắm bắt được nội dung kêu gọi (cần có những nỗ lực to lớn hơn để ngăn chặn dịch bệnh HIV/AIDS) và đối tượng kêu gọi (chính phủ các nước, các công ti, nhóm từ thiện, tổ chức phi chính phủ,…).
Câu hỏi thứ ba lưu ý HS về hệ thống luận điểm được triển khai và những lí lẽ, bằng chứng được dùng để chứng minh các luận điểm đó.
Câu hỏi thứ tư liên quan đến yêu cầu nêu ý kiến trái chiều để chứng tỏ người viết có cái nhìn toàn diện và đa chiều về vấn đề được bàn luận. Khi phát đi thông điệp về phòng chống HIV/AIDS, Cô-phi An-nan (Kofi Annan) đã tính đến khả năng có người cho rằng: những thách thức cạnh tranh có ý nghĩa quan trọng hơn và cấp bách hơn; chỉ cần giữ khoảng cách, tránh xa các bệnh nhân AIDS là có thể an toàn.
Câu hỏi thứ năm đặt ra yêu cầu HS đánh giá hiệu quả tác động của bài viết. Câu trả lời dĩ nhiên tuỳ thuộc vào cảm nhận của người đọc. GV cần hướng HS đến kết quả nhận thức: Một bài phát biểu thành công cần phải bàn về một vấn đề thiết thực, được nhiều người quan tâm; có hệ thống luận điểm chặt chẽ, lí lẽ sắc bén, bằng chứng xác thực; có những yếu tố
biểu cảm hỗ trợ, tác động đến tình cảm, cảm xúc của người đọc; có lối viết hấp dẫn. Những cách nói như "dựng lên các bức rào ngăn cách", "đánh đổ các thành luỹ
biểu cảm hỗ trợ, tác động đến tình cảm, cảm xúc của người đọc; có lối viết hấp dẫn. Những cách nói như "dựng lên các bức rào ngăn cách", "đánh đổ các thành luỹ của sự im lặng", "cuộc chiến chống lại HIV/AIDS",… trong bài phát biểu của Cô-phi An-nan mang lại cho người đọc kinh nghiệm sử dụng ẩn dụ trong khi biểu đạt ý tưởng.
Hoạt động 3 Thực hành viết theo các bước
Trước hết, GV cho HS tự đọc nội dung phần Thực hành viết gồm bốn bước lớn trong SGK. Hoạt động này có thể được thực hiện trước ở nhà. HS nêu các vấn đề còn thắc mắc để trao đổi chung trước lớp. Sau khi tất cả đều thông suốt về nội dung các bước cần triển khai, mỗi HS thực hiện các yêu cầu được đặt ra ở các bước như được hướng dẫn trong SGK.
GV hướng dẫn HS lựa chọn đề tài phù hợp. HS có thể lựa chọn một trong những đề tài được gợi ý trong SGK hoặc chọn một đề tài khác. Lưu ý, với kiểu bài này, việc lựa chọn đề tài liên quan đến việc xác định vị thế, tư cách của người viết.
Khi HS đề xuất đề tài viết cho cá nhân hoặc cho nhóm, GV cần sơ duyệt (góp ý, điều chỉnh về nội dung và hình thức diễn đạt) trước khi tạm"chốt" một hệ thống đề tài có thể viết.
Tuỳ sự phân phối số tiết cho từng hoạt động theo kế hoạch dạy học đã được nhà trường thông qua, GV cho HS làm bài tại lớp hoặc ở nhà.
TRẢ BÀI
Hoạt động 1 Nhắc lại, khắc sâu yêu cầu của kiểu bài
GV cho HS nhắc lại yêu cầu chung của kiểu bài và xác định những điểm then chốt. Cần chú ý: Với kiểu bài phát biểu, vấn đề quan trọng hàng đầu là tìm được phong trào hay hoạt động xã hội thu hút được sự quan tâm của người đọc. Có thể thấy phạm vi đề tài được chọn để viết bị thu hẹp rất nhiều so với các bài nghị luận xã hội thông thường. GV cũng cần nhắc HS lưu ý đến những yếu tố ngôn ngữ thể hiện vai người viết và vai người đọc cũng như sự tương tác giữa người viết và người đọc trong bài viết. Còn yêu cầu triển khai các luận điểm, sử dụng lí lẽ, bằng chứng, nêu ý kiến trái chiều, sử dụng các yếu tố bổ trợ (thuyết minh, biểu cảm) thì không có nhiều điểm khác biệt so với những văn bản nghị luận xã hội mà HS đã từng viết.
Hoạt động 2 Nhận xét về kết quả viết và yêu cầu HS chỉnh sửa bài viết
GV nhận xét chung về mức độ đáp ứng yêu cầu ở các bài viết của HS, chọn đọc và phân tích một số bài viết thuộc các mức độ khác nhau theo thang đánh giá để giúp HS nhận ra những điểm cần phát huy hoặc rút kinh nghiệm.
Trả bài cho HS, yêu cầu mỗi em tự chỉnh sửa theo hướng dẫn trong SGK và theo những điều thu nhận được từ hoạt động 1 ở trên. HS có thể trao đổi bài viết để góp ý, đánh giá cho nhau.
Trang 103
Củng cố, mở rộng Phần Củng cố, mở rộng giúp HS phân biệt đặc trưng của các văn bản tự sự, trữ tình, kịch được học trong bài học, cũng như trong toàn bộ CT Ngữ v
Củng cố, mở rộng
Phần Củng cố, mở rộng giúp HS phân biệt đặc trưng của các văn bản tự sự, trữ tình, kịch được học trong bài học, cũng như trong toàn bộ CT Ngữ văn lớp 12, hiểu được các giá trị của văn học, biết vận dụng các kĩ năng đọc, viết, nói và nghe đã học trong bài vào những tình huống mới trong đời sống. Ngoài những gợi ý trong SGK, GV có thể hướng dẫn HS tổ chức một hội thảo về Văn học và cuộc đời, trong đó HS sẽ chọn một đề tài thuyết trình để chuẩn bị trước buổi hội thảo và lắng nghe các góp ý, phản biện của các bạn khác trong hội thảo. Một số đề tài gợi ý:
– Thuyết trình về một tác phẩm gây ấn tượng sâu sắc, làm thay đổi nhận thức, suy nghĩ của bạn về cuộc sống, về bản thân.
– Thuyết trình về một vấn đề được gợi nên trong tác phẩm văn học mà bạn thấy tâm đắc.
– Thuyết trình về những trải nghiệm cụ thể của bạn khi đọc một tác phẩm văn chương.
– Thuyết trình về tác động của thị hiếu đọc tới giá trị sống, lí tưởng sống, lối sống của giới trẻ.
Trang 105
Trang 106
Trang 107
Trang 108
Trang 109
Trang 110
Trang 111
Trang 112
cover-last