Nguyễn Thị Hồng Yến

Giới thiệu về bản thân

Chào mừng bạn đến với trang cá nhân của Nguyễn Thị Hồng Yến
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
(Thường được cập nhật sau 1 giờ!)

a.Dấu hiệu nổi bật giúp nhận ra lỗi mạch lạc

  • Ý trong các câu không nối tiếp hợp lý: câu đầu nói về thói quen dùng điện thoại, câu tiếp nói về nhận thức mơ hồ, câu cuối nói về sự tiện lợi của điện thoại.
  • Các câu đứng cạnh nhau nhưng không theo một trật tự logic rõ ràng (khái quát → giải thích → bình luận).
  • Do vậy, đoạn văn thiếu mạch lạc lập luận, khiến người đọc khó theo dõi ý chính.

b.Dấu hiệu lỗi liên kết

  • Thiếu từ nối hoặc cụm từ liên kết ý nghĩa giữa các câu (ví dụ: nguyên nhân → kết quả, so sánh, bổ sung).
  • Câu cuối: “Nó tuy rất tiện lợi…” – từ “Nó” không được xác định rõ ràng, gây mơ hồ cho người đọc.
  • Các ý tưởng chưa được khớp nối bằng quan hệ logic, nên đoạn văn có cảm giác các câu đứng riêng lẻ.

C.Đề xuất cách sửa để đảm bảo mạch lạc và liên kết

  • Bổ sung từ nối: như “do đó”, “nhưng”, “vì vậy”, “mặt khác”… để nối các câu theo quan hệ nguyên nhân – kết quả.
  • Xác định rõ chủ từ: thay “Nó” bằng “Chiếc điện thoại thông minh” để tránh mơ hồ.
  • Sắp xếp lại các câu theo trình tự hợp lý: nêu hiện trạng → nêu hậu quả → nhận xét.


a.Mặc dù đoạn văn có lặp lại từ “hiền tài”, nhưng các câu chưa gắn kết bằng quan hệ ý nghĩa rõ ràng. Từ lặp chỉ xuất hiện như sự lặp lại hình thức, không tạo ra sự phát triển ý theo trình tự logic (nguyên nhân → hệ quả, khái quát → cụ thể, giải thích → chứng minh…), nên đoạn văn thiếu sự liên kết về nội dung. Nói cách khác, các câu đứng cạnh nhau nhưng không bổ sung, không triển khai cho một luận điểm chung, khiến việc lặp từ không có tác dụng kết nối mà chỉ tạo ra cảm giác rời rạc.

b.Đoạn văn mắc lỗi liên kết lỏng lẻo về ý (thiếu mối quan hệ lập luận giữa các câu). Các câu được đặt cạnh nhau nhưng không theo một trật tự phát triển hợp lý; câu sau không giải thích, chứng minh, mở rộng hay tổng kết ý câu trước. Đoạn văn cũng thiếu câu chủ đề rõ ràng làm trung tâm liên kết, dẫn đến việc thông tin bị liệt kê rời rạc, không tạo thành một chỉnh thể.

a.Đoạn trích được coi là một đoạn văn vì nó có một chủ đề thống nhất (bàn về bản chất giàu đồng cảm của con người và phẩm chất của người nghệ sĩ), có sự triển khai ý hoàn chỉnh, được thể hiện trong một cụm câu liên kết thành chỉnh thể, và bắt đầu bằng chữ viết hoa đầu dòng – dấu hiệu hình thức của đoạn văn trong văn bản nghị luận.

b.Các câu trong đoạn trích triển khai theo mạch lập luận logic:

  • Câu đầu nêu luận điểm: con người vốn giàu lòng đồng cảm.
  • Câu tiếp giải thích vì sao lòng đồng cảm bị suy giảm (do tác động xã hội, định kiến).
  • Câu sau khẳng định: chỉ người thực sự thông minh, bản lĩnh mới giữ được lòng đồng cảm.
  • Câu cuối kết luận: những người giữ được phẩm chất đó chính là nghệ sĩ.

→ Mạch lập luận theo trình tự nêu bản chất → lý do biến đổi → ngoại lệ → khẳng định giá trị.

c.Dấu hiệu liên kết thể hiện ở:

  • Việc dùng cụm từ “Nói cách khác”, cho thấy đoạn này khái quát lại, diễn giải, bổ sung cho ý ở đoạn trước.
  • Về nội dung, đoạn này tiếp tục bàn về lòng đồng cảm – chủ đề đã xuất hiện trước đó, tạo mạch nội dung xuyên suốt.

→ Đây là liên kết liên ý và liên kết qua từ ngữ chuyển tiếp.

d.Từ ngữ lặp lại nhiều lần: “lòng đồng cảm”“con người”“nghệ thuật/nghệ sĩ”.

Tác dụng:

  • Nhấn mạnh luận điểm trọng tâm của đoạn (đồng cảm là bản chất và là thước đo nghệ sĩ).
  • Tạo tính liên kết nội bộ giữa các câu.
  • Tăng nhạc điệu, sức gợi, tính biểu cảm trong văn bản nghị luận mang màu sắc văn học.


Văn bản “Hiền tài là nguyên khí của quốc gia” có tính mạch lạc và liên kết chặt chẽ từ lập luận đến cách triển khai ý. Toàn văn xoay quanh luận điểm trung tâm: hiền tài giữ vai trò quyết định sự thịnh suy của đất nước. Luận điểm chính được triển khai theo mạch lập luận lô-gic: từ khẳng định vai trò hiền tài (mở bài) → chứng minh bằng quy luật “nguyên khí thịnh thì nước mạnh, nguyên khí suy thì nước yếu” → nêu thực tiễn triều đình trọng dụng nhân tài → khẳng định ý nghĩa của việc khắc bia ghi danh và khuyến học (kết). Các câu văn được liên kết bằng các phương tiện lặp từ ngữ (“nguyên khí”, “hiền tài”), các cặp quan hệ nhân quả – điều kiện (“vì thế”, “cho nên”, “bởi vậy”), và phép đối lập nhằm nhấn mạnh luận điểm (“thịnh” – “suy”, “cao” – “tiêu”). Nhờ sự thống nhất nội dung và hệ thống lý lẽ, văn bản tạo nên một lập luận chặt chẽ, thuyết phục và mang tính định hướng tư tưởng rõ rệt.

Trong đoạn trích, tác giả thể hiện rõ quan điểm của mình về người làm thơ. Trước hết, tác giả phê phán và tỏ ra không đồng tình với định kiến “nhà thơ chín sớm thì cũng tàn sớm” cùng với kiểu làm thơ dựa hoàn toàn vào thiên phú, cảm hứng nhất thời. Vì vậy, tác giả không hề “mê” những nhà thơ thần đồng chỉ viết dựa vào cảm xúc bốc đồng và “vốn trời cho”. Ngược lại, tác giả bày tỏ sự trân trọng đối với những nhà thơ lao động nghệ thuật nghiêm túc, bền bỉ, “một nắng hai sương” trên cánh đồng chữ nghĩa, đổi “bát mồ hôi lấy từng hạt chữ”. Đó là những người sở hữu nội lực sáng tạo dồi dào, nhờ vậy có thể duy trì sự nghiệp lâu dài và tạo ra tác phẩm giá trị khi đã trải qua nhiều trải nghiệm sống.

Lí lẽ và dẫn chứng tác giả sử dụng để tranh luận trong phần 2

1. Nêu thực trạng / quan niệm phổ biến

  • Xã hội hay ca ngợi nhà thơ viết tức khắc, dựa vào cảm hứng và thiên bẩm:
    “thiên hạ sính ca tụng những nhà thơ viết tức khắc trong những cơn bốc đồng, những nhà thơ thiên phú.”
  • định kiến nhà thơ Việt Nam chín sớm nên tàn sớm:
    “Tôi rất ghét cái định kiến quái gở… các nhà thơ Việt Nam thường chín sớm nên cũng tàn lụi sớm.”

→ Tác giả nêu vấn đề để phản bác.

2. Đưa ra lí lẽ khẳng định

  • Cảm hứng và tài năng thiên phú không bền:
    “Trời cho thì trời lại lấy đi… Những cơn bốc đồng thường ngắn ngủi.”
  • Thơ hay không phải sự may mắn bất chợt mà là kết quả của kiên trì, lao động chữ nghĩa:
    “Làm thơ không phải đánh quả. Và không ai trúng số độc đắc suốt đời.”
    “kì ngộ kết quả của một thành tâm kiên trì, một đa mang đắm đuối”
  • Phải có học hỏi, tích lũy trước khi sáng tạo vượt thoát:
    “Vứt thánh bỏ trí được lắm. Nhưng trước khi vứt, khi bỏ phải có đã chứ.”

→ Lập luận chặt chẽ: bác bỏ quan niệm thiên bẩm → khẳng định vai trò lao động nghệ thuật.

3. Dẫn chứng uy tín, thuyết phục

  • Dẫn chứng so sánh với văn xuôi: Tolstoy, Flaubert công phu chỉnh sửa → Ẩn ý: làm thơ cũng đòi hỏi công sức không kém.
  • Dẫn chứng nhà thơ lớn: Lý Bạch, Saadi, Goethe, Tagore → những người vẫn sáng tạo đỉnh cao khi tuổi già → chứng minh lao động chữ tạo sức sống lâu dài.
  • Dẫn lời Picasso và Ét-mông Jabès:
    • Picasso: “Người ta cần rất nhiều thời gian để trở nên trẻ.”
    • Jabès: “Chữ bầu lên nhà thơ.” → Khẳng định thơ phụ thuộc lao động sáng tạo ở mỗi tác phẩm.
  • Dẫn trường hợp Victor Hugo: thiên tài nhưng không phải lúc nào cũng “được tái cử vào vị trí nhà thơ” → chứng minh địa vị nhà thơ không vĩnh viễn, phải được “chữ” kiểm chứng liên tục.

Thơ không phải món quà của Thượng đế, mà là thành quả của lao động nghệ thuật nghiêm túc và bền bỉ. Nhà thơ đích thực là người cày chữ, không phải kẻ chỉ hưởng cảm hứng nhất thời.

ác giả không thích

Tác giả yêu thích

Nhà thơ thần đồng, làm thơ nhờ cảm hứng nhất thời, dựa vào thiên phú, chín sớm tàn sớm

Nhà thơ lao động chữ nghĩa gian khổ, bền bỉ, có nội lực, làm thơ như “lực điền trên cánh đồng chữ”