Lê Thị Hương

Giới thiệu về bản thân

Chào mừng bạn đến với trang cá nhân của Lê Thị Hương
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
(Thường được cập nhật sau 1 giờ!)

Câu 1 (Khoảng 200 chữ)

Trong văn bản Những vùng trời khác nhau, tình cảm của Lê dành cho Sơn là tình đồng chí, đồng đội sâu sắc và chân thành. Ban đầu, Lê từng không có thiện cảm với Sơn vì nghĩ anh là một công tử Hà Nội trắng trẻo. Nhưng qua những năm tháng chiến đấu gian khổ, Lê đã hiểu và vô cùng tin tưởng Sơn. Trước lúc chia tay, Lê nói: “Tớ rất tin… Tớ rất tin cậu!”, câu nói ngắn gọn nhưng chứa đựng niềm tin tuyệt đối vào người đồng đội thân thiết. Trong suy nghĩ của Lê, Sơn đã trở thành “một đồng chí thân thiết nhất trong đời lính”. Họ cùng chia sẻ gian khổ, cùng chiến đấu và bảo vệ bầu trời Tổ quốc. Khi ra Hà Nội nhận nhiệm vụ mới, Lê vẫn luôn nhớ về Sơn đang chiến đấu nơi quê hương mình. Điều đó cho thấy tình cảm gắn bó keo sơn giữa những người lính trong kháng chiến. Qua nhân vật Lê, Nguyễn Minh Châu đã ca ngợi vẻ đẹp của tình đồng đội – một tình cảm thiêng liêng góp phần tạo nên sức mạnh chiến thắng của dân tộc.


Câu 2 (Khoảng 600 chữ)

Trong cuộc sống của mỗi con người, quê hương luôn là nơi gắn bó thiêng liêng và gần gũi nhất. Tuy nhiên, trong những năm tháng chiến tranh cũng như trong công cuộc xây dựng đất nước hôm nay, con người không chỉ sống cho quê hương nhỏ bé của riêng mình mà còn sống vì Tổ quốc. Từ văn bản Những vùng trời khác nhau của Nguyễn Minh Châu, ta càng thấm thía ý nghĩa của chủ đề: “Vùng trời quê hương nào cũng là bầu trời Tổ quốc.”

Trong tác phẩm, Lê và Sơn là hai người lính đến từ hai miền quê khác nhau. Một người gắn với dòng sông Lam, một người thân thuộc với đất phù sa sông Hồng. Họ phải chiến đấu ở những vùng trời khác nhau nhưng đều chung một nhiệm vụ bảo vệ đất nước. Điều đó cho thấy: mỗi vùng quê tuy có nét riêng nhưng đều là một phần không thể tách rời của Tổ quốc Việt Nam. Bảo vệ quê hương của người khác cũng chính là bảo vệ quê hương mình.

“Vùng trời quê hương nào cũng là bầu trời Tổ quốc” trước hết thể hiện tinh thần đoàn kết dân tộc. Đất nước được tạo nên từ biết bao miền quê, biết bao con người khác nhau. Khi Tổ quốc gặp khó khăn, mọi người đều cùng chung trách nhiệm gìn giữ và bảo vệ. Trong chiến tranh, hàng triệu người con từ khắp mọi miền đất nước đã lên đường chiến đấu không chỉ vì quê hương nơi mình sinh ra mà còn vì độc lập, tự do của dân tộc. Những người lính đã để lại tuổi trẻ nơi chiến trường để đổi lấy hòa bình cho đất nước hôm nay.

Không chỉ trong chiến tranh, tinh thần ấy còn có ý nghĩa sâu sắc trong thời đại hiện nay. Đất nước đang bước vào thời kì phát triển và hội nhập với nhiều đổi thay lớn lao. Mỗi người trẻ cần hiểu rằng sự phát triển của từng địa phương đều góp phần làm nên sự phát triển chung của quốc gia. Một học sinh chăm chỉ học tập, một công nhân lao động nghiêm túc hay một bác sĩ tận tâm cứu chữa bệnh nhân đều đang góp phần xây dựng Tổ quốc. Dù ở miền núi, đồng bằng hay hải đảo, tất cả đều chung một bầu trời Việt Nam.

Bên cạnh đó, chủ đề này còn nhắc nhở con người phải biết yêu thương, sẻ chia và gắn bó với nhau hơn. Không nên có sự phân biệt vùng miền hay chỉ quan tâm đến lợi ích cá nhân. Trong thiên tai, dịch bệnh hay khó khăn, tinh thần tương thân tương ái của người Việt luôn được phát huy mạnh mẽ. Hình ảnh đồng bào cả nước cùng hướng về miền Trung mùa bão lũ hay chung tay chống dịch COVID-19 đã cho thấy sức mạnh của tinh thần dân tộc và tình yêu Tổ quốc.

Là học sinh, chúng ta cần nhận thức rõ trách nhiệm của bản thân đối với quê hương, đất nước. Mỗi người cần chăm chỉ học tập, rèn luyện đạo đức, sống đoàn kết và có ý thức cống hiến cho cộng đồng. Đồng thời phải biết trân trọng hòa bình, biết yêu thương những con người trên mọi miền đất nước bởi tất cả đều là anh em trong cùng một dân tộc.

“Vùng trời quê hương nào cũng là bầu trời Tổ quốc” là lời nhắc nhở sâu sắc về tình yêu quê hương và trách nhiệm công dân. Khi biết sống vì đất nước, con người sẽ thấy mọi miền quê đều gần gũi và thiêng liêng. Đó cũng chính là sức mạnh giúp dân tộc Việt Nam vượt qua mọi thử thách để phát triển và vươn lên.


Câu 1.

Văn bản được kể theo ngôi thứ ba.


Câu 2.

  • Quê hương của gắn với dòng sông Lam.
  • Quê hương của Sơn gắn với dòng sông Hồng.


Câu 3.

Biện pháp tu từ so sánh trong câu văn: “Đại đội pháo của họ như một gốc cây đa lớn, nhựa cây ứ đầy tỏa ra thành hai nhánh” có tác dụng:

  • Làm cho hình ảnh đại đội pháo trở nên cụ thể, sinh động, giàu sức gợi.
  • Gợi sự lớn mạnh, bền chặt và sức sống mãnh liệt của đơn vị chiến đấu.
  • Hình ảnh “tỏa ra thành hai nhánh” thể hiện sự chia tay của những người lính để thực hiện những nhiệm vụ khác nhau, nhưng họ vẫn cùng chung cội nguồn, lý tưởng và tình đồng đội sâu nặng.
  • Qua đó làm nổi bật vẻ đẹp của tình đồng chí, đồng đội trong kháng chiến.


Câu 4.

Chi tiết “Họ chia nhau tấm giát nằm, vài tấm áo sặc mùi thuốc đạn và chia nhau bầu trời Tổ quốc trên đầu” có vai trò:

  • Thể hiện tình cảm gắn bó sâu sắc, thân thiết của Lê và Sơn trong cuộc sống chiến đấu gian khổ.
  • Cho thấy những người lính đã cùng nhau sẻ chia mọi khó khăn, kỉ niệm và lí tưởng chiến đấu.
  • Hình ảnh “chia nhau bầu trời Tổ quốc” mang ý nghĩa biểu tượng: họ nhận nhiệm vụ ở những vùng trời khác nhau nhưng đều chung mục đích bảo vệ đất nước.
  • Qua đó làm nổi bật tinh thần yêu nước và trách nhiệm của người lính trong thời kì kháng chiến chống Mĩ.


Câu 5.

Hai ngữ liệu đều thể hiện tình cảm gắn bó sâu nặng của con người với quê hương, đất nước.

  • Những vùng đất, vùng trời mà con người từng sống, chiến đấu hay gắn bó không chỉ là không gian địa lí mà đã trở thành một phần tâm hồn, kỉ niệm và tình cảm thiêng liêng.
  • Khi rời xa, con người luôn mang theo nỗi nhớ và tình yêu dành cho những nơi ấy.
  • Qua đó, cả hai ngữ liệu đều ca ngợi tình yêu quê hương đất nước và sự gắn bó sâu sắc giữa con người với Tổ quốc



Câu 1 (2,0 điểm)



Viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) phân tích những nét đặc sắc về nội dung hoặc nghệ thuật của bài thơ “Những bóng người trên sân ga”




Bài thơ “Những bóng người trên sân ga” của Nguyễn Bính là một khúc trữ tình đượm buồn về những cuộc chia ly trong đời sống con người. Với giọng thơ nhẹ nhàng, tha thiết, tác giả đã khắc họa hình ảnh những con người tiễn đưa nhau nơi sân ga – biểu tượng của sự chia biệt và nỗi cô đơn trong kiếp người. Qua cái nhìn của “tôi”, từng cảnh chia tay hiện ra: hai cô bé, đôi người yêu, hai chàng trai, vợ chồng, mẹ con… tất cả đều thấm đẫm nỗi buồn xa cách. Điệp ngữ “Có lần tôi thấy” được lặp lại nhiều lần không chỉ tạo nhịp điệu trầm buồn mà còn thể hiện sự ám ảnh của nhà thơ trước những cuộc chia ly. Nghệ thuật tả cảnh ngụ tình tinh tế, ngôn ngữ giản dị mà giàu sức gợi, nhạc điệu mềm mại của thể thơ lục bát biến thể khiến bài thơ mang đậm phong vị dân gian. “Những bóng người trên sân ga” không chỉ nói về sự chia tay mà còn thể hiện tình yêu thương con người sâu sắc, nỗi cảm thông nhân hậu và tâm hồn đa cảm của Nguyễn Bính – một “thi sĩ của làng quê và của lòng người.”





🌺 

Câu 2 (4,0 điểm)



Nghị luận: Sự chủ động trong việc lựa chọn lối đi riêng, sáng tạo trong cuộc sống.

(khoảng 600 chữ)




Nhà thơ Mỹ Robert Frost từng viết:

“Trong rừng có nhiều lối đi,

Và tôi chọn lối đi chưa có dấu chân người.”

Câu thơ giản dị mà chứa đựng triết lí sâu sắc: trong cuộc sống, con người cần chủ động lựa chọn con đường riêng, sáng tạo và khác biệt để khẳng định bản thân và tạo nên giá trị mới.


Sự chủ động trong việc chọn lối đi riêng là khả năng tự quyết định hướng đi của mình thay vì rập khuôn, phụ thuộc vào người khác. Cuộc sống không chỉ có một con đường duy nhất; ai dám đi con đường mới, dám nghĩ khác, làm khác, sẽ có cơ hội tạo ra điều độc đáo và tiến xa hơn. Người sáng tạo không sợ sai, bởi mỗi thử thách là một bài học giúp họ trưởng thành. Chính sự chủ động ấy giúp con người phát huy tiềm năng, tự tin vào bản thân và sống một cuộc đời có ý nghĩa.


Trong thực tế, nhiều người đã thành công nhờ dám đi con đường riêng. Thomas Edison thất bại hàng nghìn lần trước khi phát minh ra bóng đèn điện. Steve Jobs bị sa thải khỏi chính công ty mình sáng lập nhưng vẫn kiên định với đam mê sáng tạo, để rồi làm thay đổi cả thế giới công nghệ. Ở Việt Nam, nhiều bạn trẻ ngày nay cũng tự tin chọn những ngành nghề mới mẻ – làm nhà sáng tạo nội dung, nhà thiết kế, hay khởi nghiệp từ ý tưởng nhỏ bé. Tất cả họ đều thể hiện tinh thần dám khác biệt.


Tuy nhiên, sáng tạo không đồng nghĩa với liều lĩnh hay trái đạo lý. Chọn lối đi riêng cần dựa trên hiểu biết, nỗ lực, và ý thức trách nhiệm với bản thân và xã hội. Nếu chỉ chạy theo sự khác biệt mà quên mất giá trị chân chính, ta sẽ dễ lạc hướng.


Từ đó, mỗi người trẻ cần học cách lắng nghe chính mình, tin vào khả năng của bản thân và kiên trì theo đuổi con đường đã chọn. Sự chủ động, sáng tạo chính là chìa khóa mở ra cánh cửa tương lai – nơi ta không chỉ sống theo dấu chân người khác, mà còn tự để lại dấu chân của riêng mình.



Câu 1 (2,0 điểm)



Viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) phân tích những nét đặc sắc về nội dung hoặc nghệ thuật của bài thơ “Những bóng người trên sân ga”




Bài thơ “Những bóng người trên sân ga” của Nguyễn Bính là một khúc trữ tình đượm buồn về những cuộc chia ly trong đời sống con người. Với giọng thơ nhẹ nhàng, tha thiết, tác giả đã khắc họa hình ảnh những con người tiễn đưa nhau nơi sân ga – biểu tượng của sự chia biệt và nỗi cô đơn trong kiếp người. Qua cái nhìn của “tôi”, từng cảnh chia tay hiện ra: hai cô bé, đôi người yêu, hai chàng trai, vợ chồng, mẹ con… tất cả đều thấm đẫm nỗi buồn xa cách. Điệp ngữ “Có lần tôi thấy” được lặp lại nhiều lần không chỉ tạo nhịp điệu trầm buồn mà còn thể hiện sự ám ảnh của nhà thơ trước những cuộc chia ly. Nghệ thuật tả cảnh ngụ tình tinh tế, ngôn ngữ giản dị mà giàu sức gợi, nhạc điệu mềm mại của thể thơ lục bát biến thể khiến bài thơ mang đậm phong vị dân gian. “Những bóng người trên sân ga” không chỉ nói về sự chia tay mà còn thể hiện tình yêu thương con người sâu sắc, nỗi cảm thông nhân hậu và tâm hồn đa cảm của Nguyễn Bính – một “thi sĩ của làng quê và của lòng người.”





🌺 

Câu 2 (4,0 điểm)



Nghị luận: Sự chủ động trong việc lựa chọn lối đi riêng, sáng tạo trong cuộc sống.

(khoảng 600 chữ)




Nhà thơ Mỹ Robert Frost từng viết:

“Trong rừng có nhiều lối đi,

Và tôi chọn lối đi chưa có dấu chân người.”

Câu thơ giản dị mà chứa đựng triết lí sâu sắc: trong cuộc sống, con người cần chủ động lựa chọn con đường riêng, sáng tạo và khác biệt để khẳng định bản thân và tạo nên giá trị mới.


Sự chủ động trong việc chọn lối đi riêng là khả năng tự quyết định hướng đi của mình thay vì rập khuôn, phụ thuộc vào người khác. Cuộc sống không chỉ có một con đường duy nhất; ai dám đi con đường mới, dám nghĩ khác, làm khác, sẽ có cơ hội tạo ra điều độc đáo và tiến xa hơn. Người sáng tạo không sợ sai, bởi mỗi thử thách là một bài học giúp họ trưởng thành. Chính sự chủ động ấy giúp con người phát huy tiềm năng, tự tin vào bản thân và sống một cuộc đời có ý nghĩa.


Trong thực tế, nhiều người đã thành công nhờ dám đi con đường riêng. Thomas Edison thất bại hàng nghìn lần trước khi phát minh ra bóng đèn điện. Steve Jobs bị sa thải khỏi chính công ty mình sáng lập nhưng vẫn kiên định với đam mê sáng tạo, để rồi làm thay đổi cả thế giới công nghệ. Ở Việt Nam, nhiều bạn trẻ ngày nay cũng tự tin chọn những ngành nghề mới mẻ – làm nhà sáng tạo nội dung, nhà thiết kế, hay khởi nghiệp từ ý tưởng nhỏ bé. Tất cả họ đều thể hiện tinh thần dám khác biệt.


Tuy nhiên, sáng tạo không đồng nghĩa với liều lĩnh hay trái đạo lý. Chọn lối đi riêng cần dựa trên hiểu biết, nỗ lực, và ý thức trách nhiệm với bản thân và xã hội. Nếu chỉ chạy theo sự khác biệt mà quên mất giá trị chân chính, ta sẽ dễ lạc hướng.


Từ đó, mỗi người trẻ cần học cách lắng nghe chính mình, tin vào khả năng của bản thân và kiên trì theo đuổi con đường đã chọn. Sự chủ động, sáng tạo chính là chìa khóa mở ra cánh cửa tương lai – nơi ta không chỉ sống theo dấu chân người khác, mà còn tự để lại dấu chân của riêng mình.



Câu 1.



Thể thơ: Bài thơ được viết theo thể thơ lục bát biến thể (kết hợp giữa câu 6 tiếng và 8 tiếng, đôi khi có câu 7 tiếng, 9 tiếng – tạo nhịp linh hoạt, phù hợp với cảm xúc chia ly).





Câu 2.



Khổ cuối:


Những chiếc khăn mầu thổn thức bay,

Những bàn tay vẫy những bàn tay,

Những đôi mắt ướt nhìn đôi mắt,

Buồn ở đâu hơn ở chốn này?



  • Vần: gieo vần “ay” (bay – tay – này).
  • Kiểu vần: vần liền (các câu liên tiếp cùng vần).






Câu 3.



Biện pháp tu từ chủ đạo:

→ Điệp ngữ “Có lần tôi thấy” được lặp lại nhiều lần.


Tác dụng:


  • Gợi cảm giác liên tiếp, dồn dập của những cuộc chia ly nơi sân ga.
  • Tạo nhịp điệu buồn, trầm lắng, thể hiện cái nhìn cảm thông, xót xa của tác giả với những phận người xa cách.






Câu 4.



Đề tài: Cảnh chia ly, tiễn biệt nơi sân ga.

Chủ đề: Nỗi buồn chia ly và tình người thấm đượm trong những cuộc tiễn đưa – phản ánh tâm hồn nhân hậu, đa cảm của Nguyễn Bính.





Câu 5.



Yếu tố tự sự:


  • Bài thơ có ngôi kể “tôi” – người chứng kiến và thuật lại nhiều cảnh chia ly (“Có lần tôi thấy…”).
  • Mỗi khổ thơ như một mẩu chuyện nhỏ có nhân vật, hành động, lời nói.



Tác dụng:


  • Làm cho bài thơ giàu tính chân thực và sinh động.
  • Giúp bộc lộ sâu sắc cảm xúc của nhân vật trữ tình – nỗi buồn, thương cảm, và sự thấu hiểu về thân phận con người.
  • Tăng sức gợi hình, gợi cảm, khiến nỗi chia ly nơi sân ga trở thành biểu tượng của nỗi buồn nhân thế.







Câu 1. Viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) nêu ‎ý nghĩa của tính sáng tạo đối với thế hệ trẻ hiện nay.


Trong thời đại hội nhập và phát triển, tính sáng tạo có vai trò vô cùng quan trọng đối với thế hệ trẻ. Sáng tạo không chỉ là khả năng nghĩ ra cái mới, mà còn là cách tiếp cận vấn đề theo hướng khác biệt, hiệu quả hơn. Với sự sáng tạo, người trẻ có thể vượt qua khuôn mẫu cũ kỹ, phá vỡ giới hạn để tạo nên những đột phá trong học tập, công việc và cuộc sống. Sáng tạo là nền tảng để đổi mới, là động lực thúc đẩy xã hội tiến lên trong mọi lĩnh vực như khoa học, công nghệ, nghệ thuật,… Trong học đường, người học sáng tạo sẽ học tập chủ động, tư duy linh hoạt và biết cách tự giải quyết vấn đề. Trong đời sống, sáng tạo giúp con người thích nghi nhanh với sự thay đổi và phát triển không ngừng của thế giới. Tuy nhiên, sáng tạo cần đi cùng với kiến thức nền tảng vững vàng và đạo đức tốt đẹp thì mới phát huy được giá trị tích cực. Thế hệ trẻ ngày nay cần không ngừng rèn luyện tư duy, dám nghĩ dám làm, dám khác biệt để trở thành những con người sáng tạo, góp phần xây dựng đất nước giàu mạnh, văn minh.




Câu 2. Viết bài văn trình bày cảm nhận về con người Nam Bộ qua nhân vật Phi và ông Sáu Đèo trong truyện Biển người mênh mông (Nguyễn Ngọc Tư).


Nguyễn Ngọc Tư là cây bút đậm chất Nam Bộ, những trang văn của chị thường chạm đến trái tim người đọc bởi sự dung dị, chân thành và đầy nhân văn. Qua truyện ngắn Biển người mênh mông, hình ảnh hai nhân vật Phi và ông Sáu Đèo đã góp phần thể hiện rõ nét vẻ đẹp của con người Nam Bộ – những con người từng chịu nhiều thiệt thòi, khổ đau nhưng vẫn sống tình nghĩa, chân thật và giàu nghị lực.


Nhân vật Phi là hình ảnh của một thanh niên từng chịu nhiều tổn thương trong quá khứ. Không có cha từ khi sinh ra, mẹ thì bỏ đi theo chồng khác, Phi lớn lên trong sự đùm bọc của bà ngoại. Sau khi ngoại mất, Phi sống cô độc, lôi thôi, vật lộn mưu sinh giữa cuộc đời. Thế nhưng, đằng sau vẻ ngoài xuề xòa ấy là một con người giàu tình cảm, sống nghĩa tình và trân quý những mối quan hệ đơn sơ nhưng ấm áp. Phi sẵn sàng nhận nuôi con bìm bịp của ông Sáu Đèo, sẵn sàng giữ lại chút ký ức, chút tình nghĩa từ một người xa lạ vừa mới thân quen.


Còn ông Sáu Đèo – người đàn ông nghèo khổ, suốt bốn mươi năm đi tìm vợ, dọn nhà ba mươi ba lần, lặn lội khắp nơi chỉ để “xin lỗi”. Ông mang trong mình một nỗi day dứt, một lời hứa dang dở và một niềm tin chưa bao giờ nguôi ngoai. Ông Sáu Đèo đại diện cho nét đẹp của người Nam Bộ: mộc mạc, tình cảm, thủy chung và kiên trì. Cuộc sống của ông tuy cơ cực, bữa đói bữa no, nhưng vẫn giữ được tấm lòng son sắt, hiền hậu và bao dung.


Qua hai nhân vật, Nguyễn Ngọc Tư đã khắc họa chân dung những con người Nam Bộ – bình dị mà kiên cường, khắc khổ mà đầy yêu thương. Dù sống trong hoàn cảnh éo le, họ vẫn giữ cho mình trái tim ấm áp, nghĩa tình. Chính điều đó khiến cho tác phẩm Biển người mênh mông không chỉ là câu chuyện về số phận, mà còn là bản tình ca về tình người giữa dòng đời rộng lớn và khắc nghiệt.







Câu 1. Xác định kiểu văn bản của ngữ liệu trên.

Trả lời:

Văn bản thuộc kiểu thuyết minh kết hợp miêu tả.




Câu 2. Liệt kê một số hình ảnh, chi tiết cho thấy cách giao thương, mua bán thú vị trên chợ nổi.

Trả lời:

Người bán và người mua sử dụng ghe, xuồng để di chuyển và mua bán.

Sử dụng “cây bẹo” – cây sào treo hàng hóa để người mua dễ nhìn thấy từ xa.

Ghe treo tấm lá lợp nhà để rao bán ghe.

Dùng âm thanh: kèn tay, kèn cóc, lời rao miệng như: “Ai ăn chè đậu đen, nước dừa đường cát hôn…?”




Câu 3. Nêu tác dụng của việc sử dụng tên các địa danh trong văn bản trên.

Trả lời:

Việc sử dụng tên các địa danh giúp:

Xác định rõ không gian văn hóa chợ nổi đặc trưng của miền Tây.

Tăng tính chân thực, sinh động cho văn bản.

Gợi sự phong phú và đặc sắc của các khu chợ nổi trên khắp vùng sông nước.




Câu 4. Nêu tác dụng của phương tiện giao tiếp phi ngôn ngữ trong văn bản trên.

Trả lời:

Phương tiện giao tiếp phi ngôn ngữ như “cây bẹo”, tiếng kèn,… giúp:

Truyền đạt thông tin nhanh chóng, trực quan đến người mua.

Tạo sự sinh động, độc đáo cho hoạt động buôn bán.

Góp phần thể hiện nét văn hóa đặc trưng của chợ nổi miền Tây.




Câu 5. Anh/Chị có suy nghĩ gì về vai trò của chợ nổi đối với đời sống của người dân miền Tây?

Trả lời:

Chợ nổi không chỉ là nơi trao đổi, mua bán hàng hóa mà còn là biểu tượng văn hóa đặc sắc của người dân miền Tây. Nó phản ánh lối sống sông nước, tình làng nghĩa xóm, và góp phần phát triển du lịch, kinh tế địa phương. Chợ nổi còn là nơi lưu giữ những nét đẹp truyền thống, mang lại bản sắc riêng cho vùng đất này.





Nồng độ Ca\2+} trong máu = 9,99 mg/100 mL

Delta_r H_{298;10 = -82.15 kJ/mol (Phản ứng tỏa nhiệt).

a)

  • Chất oxi hóa: HNO, (N*5)
  • Chất khử: Fe (0)

Chất oxi hóa: KMnO, (Mn**)

• Chất khử: FeSO, (Fez*)