NGUYỄN THANH TÂM

Giới thiệu về bản thân

Chào mừng bạn đến với trang cá nhân của NGUYỄN THANH TÂM
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
(Thường được cập nhật sau 1 giờ!)

Câu 1

Trong văn bản Không một tiếng vang, bi kịch của gia đình ông lão mù hiện lên đầy ám ảnh, vừa xót xa vừa day dứt. Đó là bi kịch của nghèo đói cùng cực khi từ một gia đình trung lưu, họ rơi xuống đáy xã hội sau trận hoả hoạn. Cuộc sống bị dồn ép đến mức không còn gạo ăn, không thuốc chữa bệnh, nợ nần chồng chất, ngay cả lễ cúng cho người đã khuất cũng không lo nổi. Hình ảnh “chiếc chậu thau cũ” không ai mua trở thành biểu tượng cho sự khánh kiệt, bế tắc đến tận cùng. Không dừng lại ở đó, nghèo đói còn đẩy con người vào bi kịch tha hoá tinh thần. Nhân vật Anh Cả từ hiền lành trở nên phẫn uất, mất niềm tin vào đạo đức và công lí, cho rằng chỉ có đồng tiền mới là tất cả. Hành động “làm càn” – đi ăn trộm – vừa là sự phản kháng tuyệt vọng, vừa là bước trượt dài đau đớn khi con người bị dồn vào đường cùng. Đỉnh điểm bi kịch là khi tình yêu thương lại biến thành nỗi đau: người cha mù vì thương con mà tìm đến cái chết, nhưng sự hi sinh ấy không cứu rỗi mà kéo theo chuỗi mất mát: con dâu chết, con trai vào tù, gia đình tan nát. Tác giả đã thành công trong việc sử dụng kết cấu kịch mở và xây dựng xung đột cao trào, giàu kịch tính kết hợp với nghệ thuật xây dựng nhân vật tinh tế, tình huống hấp dẫn và ngôn ngữ cô đọng, giàu sức biểu đạt. Qua đó, tác phẩm không chỉ khắc họa nỗi đau của một gia đình mà còn là tiếng tố cáo xã hội bất công, đồng thời đánh thức lòng trắc ẩn và khát vọng về một cuộc sống nhân đạo hơn.

Câu 1

Nhân vật Thông Xa là chủ nợ của gia đình ông lão mù.

Câu 2

Xung đột cơ bản của đoạn trích "Không một tiếng vang" là sự mâu thuẫn gay gắt giữa khát vọng sống, nhu cầu tồn tại tối thiếu của người dân nghèo với thực tế xã hội nghiệt ngã, bất công.

Câu3

- Quan điểm của anh cả Thuận về đồng tiền:

+ "Chỉ có đồng tiền là Giời, là Phật"

+ "Lương tâm à? Còn thua đồng tiền! Luật pháp à? Chưa bằng đồng tiền!"

- Quan niệm của anh cả Thuận đã phản ánh hiện thực xã hội:

+ Thực trạng xã hội thối nát, nơi các giá trị đạo đức bị đảo lộn, công lý bị bóp méo dưới sức mạnh của đồng tiền.

+ Xã hội "kim tiền" tàn bạo, nơi kẻ ác, kẻ giàu có thì sung sướng, còn người hiền lành và lương thiện nhưng nghèo khó thì bị chà đạp, dồn vào bước đường cùng.

Câu 4

Phẩm chất đáng quý của nhân vật chị cả Thuận:

- Tấm lòng hiếu thảo, giàu tình yêu thương: Giữa cảnh cùng quẫn, chị luôn là người quan tâm đến sức khoẻ và cảm giác của người cha già mù loà.

+ Vội vàng chạy đi bán chậu vì muốn mua bát cháo và lọ dầu vì lo bố chồng đói.

+ Khi thấy cha ngã thì hoảng loạn, nâng đỡ và hỏi han đầy xót xa: "Thầy ơi, thầy ngã có đau không?", "tay run lẩy bẩy, hết sức dìu bố".

- Kiên cường, không cam chịu, buông xuôi trước số phận: Khác với sự bất lực, than trời trách đất của người chồng, chị Thuận có bản năng sống mãnh liệt và tư duy thực tế hơn. Chị không chấp nhận ngồi chờ chết mà cố gắng xoay xở tình hình đến giây phút cuối cùng.

+ Chị cố gắng xốc lại tinh thần mọi người: "... chẳng nhẽ cứ để mặc nó muốn nghiêng thì nghiêng, muốn ngửa thì ngửa, đành bó tay chịu chết?".

+ Hành động chị "tất tả vào bếp, xách ra một chiếc chậu thau" định đem bán cho bác phó để kiếm vài hào mua cháo cho bố cho thấy chị luôn nỗ lực tìm kiếm tia hi vọng sống, dù là mong manh nhất, để cứu vãn gia đình.

Câu 5

- Bi kịch của gia đình ông lão mù là lời cảnh tỉnh đau xót về sức tàn phá khủng khiếp của gánh nặng "cơm áo gạo tiền". Khi bị dồn vào bước đường cùng của sự đói nghèo, con người dễ bị tha hoá, đánh mất niềm tin vào những giá trị tốt đẹp.

- Qua đó, ta thấy cái nghèo không chỉ bào mòn thể xác mà còn đe doạ tước đoạt cả nhân phẩm, lòng tự trọng; buộc người ta phải đứng trước những lựa chọn nghiệt ngã: Giữ lấy lương tâm mà chết đói hay làm liều để tồn tại.

Câu 1

Đoạn trích “Chén thuốc độc” của Vũ Đình Long đã khắc họa đầy ám ảnh bi kịch của nhân vật Thông Thu trong một gia đình từ giàu sang rơi vào khánh kiệt. Sinh ra trong cảnh đủ đầy, nhưng chỉ vì lối sống buông thả, ăn chơi trác táng, cùng sự mê tín của người thân, gia sản lớn của cụ Thông nhanh chóng tiêu tan. Đau đớn nhất là khi Thông Thu tỉnh ngộ thì tất cả đã quá muộn. Ở hồi II, những con số nợ nần hiện lên cụ thể, lạnh lùng như cứa vào lòng nhân vật, khiến ông phải đối diện với sự thật phũ phàng về chính mình. Những lời tự thú đầy cay đắng cho thấy sự hối hận muộn màng và nỗi nhục nhã khi nhận ra mình đã đánh mất danh dự, phụ công cha mẹ. Đến hồi III, bi kịch được đẩy lên cao khi Thông Thu rơi vào bế tắc, vừa sợ hãi cảnh tù tội, vừa tuyệt vọng trước cuộc đời, nên tìm đến cái chết như một cách giải thoát. Thế nhưng, hành động “nâng chén rồi lại đặt xuống” lặp đi lặp lại đã bộc lộ sự giằng xé dữ dội giữa khát khao sống và ý định buông xuôi. Bằng nghệ thuật độc thoại nội tâm sắc sảo, nhịp điệu kịch dồn dập cùng các chi tiết giàu sức gợi đã làm nổi bật tâm trạng nhân vật, khiến người đọc không khỏi xót xa. Đoạn trích vì thế không chỉ là câu chuyện về một con người sa ngã mà còn là lời cảnh tỉnh thấm thía về lối sống thiếu trách nhiệm của con người trong cuộc sống.

Câu 1

Văn bản "Chén thuốc độc" thuộc thể loại bi kịch.

Câu 2

Hình thức ngôn ngữ chủ yếu: Độc thoại.

Câu 3

− Các chỉ dẫn sân khấu trong văn bản:

+ "Bóp trán nghĩ ngợi".

+ "Nâng cốc nâng lên sắp uống lại đặt xuống.".

+ "Lấy dao mở hộp thuốc phiện, rót vào cốc, lấy que khuấy.".

+ "Đứng dậy lấy chai dấm thanh giấu ở dưới gầm tủ, rót vào cốc. Thò tay vào tủ lấy hộp thuốc phiện.".

+ ...

− Tác dụng của các chỉ dẫn sân khấu:

+ Giúp người đọc hình dung được hành động, cử chỉ và trạng thái cảm xúc cụ thể của nhân vật.

+ Thể hiện xung đột nội tâm, giằng xé gay gắt của Thông Thu, sự do dự giữa sống và chết qua hành động nâng cốc lên rồi lại đặt xuống

Câu 4

− Tâm lí thầy Thông Thu trong hồi thứ Hai: Tâm lí hối hận và tự sỉ vả. Thông Thu nhận thức được sai lầm của bản thân sau khi tiêu tán gia sản, cảm thấy nhục nhã vì không làm được gì ích quốc lợi dân mà lại làm "nhơ nhuốc" thanh danh gia đình.

− Tâm lí thầy Thông Thu trong hồi thứ Ba: Tâm lí tuyệt vọng và bế tắc. Khi đối mặt với cảnh tù tội, Thông Thu vô cùng sợ hãi. Hắn quyết định tìm đến cái chết để giải thoát

− Từ việc hối hận về quá khứ (Hồi II) chuyển sang sự hoảng loạn trước tương lai và đi đến hành động cực đoan (Hồi III). Tuy nhiên, trong sự tuyệt vọng vẫn nhen nhóm chút trách nhiệm muộn màng với gia đình.

Câu 5

- Em không đồng tình với quyết định tìm đến cái chết của Thông Thu

- Bởi:

+ Tự tử là một hành động trốn chạy hèn nhát trước sai lầm của chính mình thay vì đối mặt để sửa chữa.

+ Cái chết không giải quyết được vấn đề mà đôi khi còn gây ảnh hưởng và liên luỵ đến những người thân xung quanh.

Câu 1: Nhân vật trữ tình trong bài thơ là "ta" -người đưa tiễn Câu 2 - không gian: không xác định cụ thể - Tgian: Trong chiều hôm này câu 3: Hiện tượng phá vỡ quy tắc ngôn ngữ thông thỳ kết hợp hợp từ bất bình thường: đây hoàng hồn trong mắt trong", đầy hoàng hôn" kết hợp "mắt trong" Tác dụng: + Làm cho cách diễn đạt trở nên mới lạ, độc đáo, giàu tính sáng tạo, tăng chất lãng mạn, giàu cxúc, + Diễn tả nỗi buồn chia tay sâu kín, ánh mắt đượm màu hoàng hôn như chất chưa bao lưu luyến và xao xuyên của ng ra đi + Qua đó tg bộc lộ tâm hồn nhạy cảm, giàu cxúc và nỗi buồn chia li sâu lắng Câu 4: - Hình ảnh "sóng" xuất hiện trong 2 câu thơ: "Đưa người, ta không đưa qua sông/ Sao có tiếng sông ở trong lòng" - Ý nghĩa: + Hình ảnh "tiếng sóng" mang ý btg cho sóng từng lòng diễn tả tâm trạng xao động bâng khuâng dâng trào + Gợi ra khung cảnh chia lí thời cổ, góp phần tạo nên hơi thơ Đường thi cho câu thơ Câu 5. Qua văn bản, thông điệp có ý nghĩa nhất với em là: mỗi ng ai cũng cần phải có ước mơ, hoài bão, và bt cố gắng, nỗ lực để thực hiện khát vọng ấy. Cuộc chia tay trong bài thơ kchỉ là nỗi buồn mà còn gợi suy nghĩ về con đường phía trước của ng ra đi, đó cũng là lúc con ng lựa chọn con đường mình sẽ đi. Muốn trở thành phiên bản tốt nhất, ta phải dám rời khỏi vùng an toàn và dám nỗ lực theo đuổi khát vọng của mik. Hãy sống có mục tiêu, kiên trì phần đấu, đó chính là cách để cuộc đời ý nghĩa hơn

Câu 1. Văn bản thuộc thể loại truyện ngắn Câu 2. Đoạn văn thể hiện sự thay đổi đột ngột về trạng thái, biểu cảm của gia đình anh gầy là đoạn: “Anh gầy bỗng dưng tái mét mặt, ngây ra như phỗng đá… thằng Na-pha-na-in thì rụt chân vào và gài hết cúc áo lại…” Câu 3. Tình huống truyện là: cuộc gặp gỡ tình cờ của hai người bạn cũ trên sân ga, và từ đó nảy sinh mâu thuẫn khi anh gầy biết anh béo có địa vị cao hơn mình. Câu 4. Trước khi biết cấp bậc của anh béo: anh gầy cư xử thân mật, tự nhiên, nói chuyện bình đẳng, vui vẻ, coi anh béo là bạn cũ. Sau khi biết cấp bậc của anh béo: anh gầy trở nên khúm núm, sợ sệt, đổi giọng “quan cách”, thái độ nịnh bợ, mất hẳn sự tự nhiên ban đầu.

“Trong tác phẩm văn học, tính cách con người thường bộc lộ rõ nhất trong những tình huống thử thách” (V. Bê-lin-xki). Quả thật, qua tình huống gặp gỡ bất ngờ trên sân ga trong truyện ngắn Anh béo và anh gầy của Sê-khốp, nhân vật anh gầy đã hiện lên với một tính cách vừa đáng thương, vừa đáng phê phán. Ban đầu, anh gầy xuất hiện là một viên chức cấp thấp, cuộc sống khó khăn nhưng vẫn giữ thái độ tự nhiên, thân mật với bạn cũ. Anh nói năng cởi mở, hồ hởi, giới thiệu vợ con, nhắc lại những kỉ niệm thời đi học với giọng điệu thân tình, bình đẳng. Tuy nhiên, bước ngoặt xảy ra khi anh biết anh béo là viên chức bậc ba, có địa vị cao hơn mình. Ngay lập tức, anh gầy thay đổi hoàn toàn thái độ: từ thân mật chuyển sang khúm núm, từ bạn bè ngang hàng trở thành kẻ nịnh bợ, sợ sệt. Những cử chỉ như “rúm ró”, “rụt cổ”, cách xưng hô “bẩm quan”, cùng thái độ cung kính quá mức cho thấy anh đã tự hạ thấp nhân cách của mình trước quyền lực. Về nghệ thuật, Sê-khốp xây dựng tình huống truyện ngắn gọn nhưng giàu kịch tính, sử dụng thủ pháp đối lập sắc nét cùng những chi tiết miêu tả cử chỉ, lời nói mang tính trào phúng để khắc họa tâm lí nhân vật. Qua nhân vật anh gầy, Sê-khốp đã phê phán sâu sắc thói xu nịnh, háo danh và tâm lí trọng quyền thế phổ biến trong xã hội Nga trước Cách mạng. Đồng thời, hình ảnh ấy cũng gợi lên nỗi xót xa cho con người khi để địa vị xã hội chi phối tình bạn và làm méo mó nhân cách. Nhân vật anh gầy vì thế trở thành một hình tượng trào phúng điển hình, vừa buồn cười, vừa đáng suy ngẫm.

Câu 1. Văn bản thuộc thể loại truyện ngắn Câu 2. Đoạn văn thể hiện sự thay đổi đột ngột về trạng thái, biểu cảm của gia đình anh gầy là đoạn: “Anh gầy bỗng dưng tái mét mặt, ngây ra như phỗng đá… thằng Na-pha-na-in thì rụt chân vào và gài hết cúc áo lại…” Câu 3. Tình huống truyện là: cuộc gặp gỡ tình cờ của hai người bạn cũ trên sân ga, và từ đó nảy sinh mâu thuẫn khi anh gầy biết anh béo có địa vị cao hơn mình. Câu 4. Trước khi biết cấp bậc của anh béo: anh gầy cư xử thân mật, tự nhiên, nói chuyện bình đẳng, vui vẻ, coi anh béo là bạn cũ. Sau khi biết cấp bậc của anh béo: anh gầy trở nên khúm núm, sợ sệt, đổi giọng “quan cách”, thái độ nịnh bợ, mất hẳn sự tự nhiên ban đầu.

Câu 5: - Văn bản phê phán gay gắt thói nịnh bợ, xu thời, coi trọng địa vị xã hội, quyền lực hơn tình bạn và nhân cách con người. - Qua đó, tác giả đề cao tình bạn chân thành, bình đẳng và bày tỏ thái độ mỉa mai đối với xã hội phân chia đẳng cấp trước Cách mạng ở Nga.

Nhà phê bình Hoài Thanh từng cho rằng: “Thơ Nguyễn Bính là tiếng nói của những tâm hồn nhỏ bé, buồn bã và thiết tha với đời sống con người.” Nhận định ấy được thể hiện rõ nét trong bài thơ Những bóng người trên sân ga, một thi phẩm thấm đẫm nỗi buồn chia ly và cảm thức nhân sinh sâu sắc. Về nội dung, bài thơ tái hiện hàng loạt cảnh tiễn đưa nơi sân ga: từ hai cô bé, đôi tình nhân, bạn bè, vợ chồng cho đến bà mẹ tiễn con và cả con người đơn độc một mình. Những cuộc chia tay ấy tuy khác nhau về hoàn cảnh nhưng đều gặp nhau ở nỗi buồn, sự lưu luyến và cô đơn. Sân ga vì thế trở thành không gian biểu tượng cho những cuộc phân ly không tránh khỏi trong đời người. Nỗi buồn trong thơ Nguyễn Bính không dữ dội mà âm thầm, lắng sâu, kéo dài qua từng hình ảnh “bóng”, “khăn”, “bàn tay”, “đôi mắt ướt”, gợi cảm giác mất mát, trống trải. Về nghệ thuật, bài thơ nổi bật với biện pháp điệp cấu trúc “Có lần tôi thấy…”, tạo nhịp điệu đều đặn, chậm rãi như dòng thời gian trôi, đồng thời khắc họa sự lặp lại ám ảnh của những cuộc chia ly. Yếu tố tự sự được sử dụng linh hoạt giúp bài thơ mang dáng dấp những câu chuyện đời thường, làm cho cảm xúc trữ tình trở nên chân thực, gần gũi. Qua đó, Nguyễn Bính không chỉ bày tỏ nỗi buồn cá nhân mà còn thể hiện niềm cảm thương sâu sắc đối với số phận con người trong cuộc đời nhiều chia biệt.