CHU KHÁNH HUYỀN

Giới thiệu về bản thân

Chào mừng bạn đến với trang cá nhân của CHU KHÁNH HUYỀN
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
(Thường được cập nhật sau 1 giờ!)

Câu 1:
Tôn trọng sự khác biệt là việc chấp nhận và quý trọng những nét riêng biệt về ngoại hình, tính cách, quan điểm hay hoàn cảnh của mỗi cá nhân. Trong cuộc sống, đây là một phẩm chất đạo đức quan trọng và là chìa khóa để xây dựng một xã hội văn minh. Trước hết, khi chúng ta biết tôn trọng sự khác biệt, mỗi cá nhân sẽ cảm thấy được thấu hiểu và tự tin thể hiện bản sắc riêng, từ đó phát huy tối đa năng lực sáng tạo. Một môi trường tôn trọng sự đa dạng sẽ xóa tan những định kiến, kỳ thị, giúp con người xích lại gần nhau hơn bằng sự bao dung và lòng nhân ái. Hơn nữa, sự khác biệt chính là những mảnh ghép đa sắc màu tạo nên một thế giới phong phú; nếu ai cũng giống hệt nhau, cuộc sống sẽ trở nên đơn điệu và trì trệ. Tôn trọng người khác cũng chính là tôn trọng bản thân, giúp ta mở rộng tầm nhìn và học hỏi được nhiều điều mới lạ từ những góc nhìn khác biệt. Tuy nhiên, tôn trọng sự khác biệt không đồng nghĩa với việc chấp nhận những hành vi trái đạo đức hay vi phạm pháp luật. Tóm lại, mỗi người cần nuôi dưỡng thái độ sống cởi mở, biết lắng nghe và trân trọng giá trị riêng của những người xung quanh để cùng xây dựng một cộng đồng tốt đẹp, hòa bình.

Câu 2:
Trong dòng chảy của Phong trào Thơ mới 1930 - 1945, nếu Xuân Diệu là tiếng reo vui rạo rực, Huy Cận là nỗi sầu ảo não của linh hồn cô độc, thì Lưu Trọng Lư lại mang đến một điệu thơ mộc mạc, đậm đà tình quê và sự hoài niệm. Một trong những thi phẩm tiêu biểu nhất cho hồn thơ ấy là "Nắng mới" – một bức tranh kỷ niệm đầy xúc động về người mẹ đã khuất, nơi tình mẫu tử hòa quyện trong ánh sáng của thời gian và nỗi nhớ.
Mở đầu bài thơ, tác giả khơi gợi nỗi nhớ từ một tín hiệu thị giác và thính giác quen thuộc của làng quê Việt Nam: "Mỗi lần nắng mới hắt bên song,
Xao xác, gà trưa gáy não nùng,"
"Nắng mới" không chỉ là ánh nắng của buổi sớm mai hay nắng đầu mùa, mà nó còn là chiếc chìa khóa mở cánh cửa ký ức. Từ láy "xao xác" kết hợp với tiếng gà trưa "não nùng" tạo nên một không gian tĩnh lặng đến hiu hắt. Tiếng gà không làm không gian nhộn nhịp hơn mà trái lại, nó càng làm đậm thêm cái vẻ vắng lặng, mênh mông của buổi trưa quê. Trong không gian ấy, thi sĩ thấy "lòng rượi buồn theo thời dĩ vãng". Những hình ảnh "chập chờn sống lại" cho thấy sự đan xen giữa thực và ảo, giữa hiện tại cô đơn và quá khứ ấm áp. Nỗi nhớ ấy nhanh chóng định hình thành một gương mặt, một dáng hình cụ thể: người mẹ. "Tôi nhớ me tôi, thuở thiếu thời
Lúc người còn sống, tôi lên mười;"
Lời thơ giản dị như một lời kể, không trau chuốt nhưng lại chứa đựng nỗi đau đáu của một đứa con mồ côi. Ký ức đưa tác giả trở về năm mười tuổi – cái tuổi vẫn còn được ôm ấp trong vòng tay mẹ. Hình ảnh người mẹ hiện lên gắn liền với một chi tiết rất đỗi thân thương: "Mỗi lần nắng mới reo ngoài nội,
Áo đỏ người đưa trước giậu phơi."
Màu "áo đỏ" rực rỡ giữa cái nắng "reo" ngoài nội tạo nên một điểm sáng ấm áp trong bức tranh kỷ niệm. Hành động phơi áo trước giậu là một công việc bình dị của người phụ nữ nông thôn, nhưng qua con mắt trẻ thơ và nỗi nhớ của người trưởng thành, nó trở thành biểu tượng của sự chăm sóc, của bàn tay mẹ vun vén cho tổ ấm. Khổ thơ cuối cùng là sự ngưng đọng của cảm xúc, khi tác giả khắc họa chân dung người mẹ một cách tinh tế và giàu sức gợi: "Hình dáng me tôi chửa xoá mờ
Hãy còn mường tượng lúc vào ra:
Nét cười đen nhánh sau tay áo
Trong ánh trưa hè trước giậu thưa."
Tác giả khẳng định hình bóng mẹ "chửa xóa mờ", vẫn luôn "vào ra" trong tâm trí. Điểm nhấn đắt giá nhất của bài thơ nằm ở cụm từ "nét cười đen nhánh". Cách kết hợp từ độc đáo này gợi lên hình ảnh người phụ nữ Việt Nam xưa với hàm răng đen lánh hạt huyền. Nụ cười ấy không chỉ đẹp ở sự đoan trang, phúc hậu mà còn bừng sáng "sau tay áo" – một cử chỉ e ấp, kín đáo và duyên dáng. Đặt nụ cười ấy trong "ánh trưa hè" bên "giậu thưa", Lưu Trọng Lư đã tạo nên một bức chân dung vừa hư vừa thực, vừa vĩnh cửu vừa mong manh. Về nghệ thuật, bài thơ sử dụng thể thơ thất ngôn với nhịp điệu chậm rãi, giàu tính nhạc. Ngôn ngữ thơ giản dị, gần gũi với lời ăn tiếng nói hằng ngày nhưng lại có sức gợi cảm lớn. Sự kết hợp giữa bút pháp tả thực và lãng mạn đã giúp thi sĩ diễn tả thành công thế giới nội tâm đầy xao động của mình. "Nắng mới" không chỉ là bài thơ của riêng Lưu Trọng Lư mà nó đã chạm đến sợi dây tình cảm thiêng liêng nhất trong lòng mỗi người đọc: tình mẫu tử. Bài thơ nhắc nhở chúng ta về giá trị của những điều bình dị và sự bất tử của tình yêu thương trong tâm hồn con người. Dẫu thời gian có trôi đi, dẫu "nắng mới" có bao lần thay lá, thì hình bóng mẹ và nụ cười "đen nhánh" ấy vẫn mãi là bến đỗ bình yên cho tâm hồn người chiến sĩ, người nghệ sĩ và mỗi chúng ta.


Câu 1. 

Phương thức biểu đạt chính: Nghị luận.

Câu 2. Hai cặp từ/cụm từ đối lập:

  • Tằn tiện – Phung phí.
  • Hào phóng – Keo kiệt.
Câu 3. Tác giả khuyên như vậy vì:
  • Mỗi người có một hoàn cảnh và cách sống riêng biệt.
  • Việc phán xét thường mang tính chủ quan, áp đặt tiêu chuẩn cá nhân lên người khác, dẫn đến cái nhìn sai lệch và gây mệt mỏi cho cả hai phía.
Câu 4. Ý nghĩa quan điểm:
  • "Tấm lưới định kiến" là những rào cản từ dư luận và cái nhìn hẹp hòi của xã hội.
  • Khi "buông mình" vào đó, chúng ta đánh mất bản sắc cá nhân, sống lệ thuộc vào ý kiến người khác và không còn can đảm để là chính mình.
Câu 5. Thông điệp rút ra:
  • Cần tôn trọng sự khác biệt của mỗi cá nhân trong cuộc sống.
  • Hãy bản lĩnh sống theo giá trị của bản thân thay vì bị chi phối bởi những định kiến và sự phán xét của người đời

Câu 1:
Đoạn thơ của Trương Trọng Nghĩa là một nốt trầm xót xa về sự rạn vỡ của làng quê trong cơn lốc đô thị hóa và nỗi lòng trĩu nặng của người con hướng về nguồn cội. Với thể thơ tự do đầy tự sự, tác giả đã tái hiện một thực tại nghiệt ngã khi làng không còn là mảnh đất hứa: "đất không đủ cho sức trai", khiến những người trẻ phải ly hương để "kiếm sống". Sự đổi thay không chỉ nằm ở diện mạo vật chất với "nhà cửa chen chúc", mất đi "lũy tre ngày xưa", mà đau xót hơn là sự đứt gãy của các giá trị văn hóa truyền thống khi thiếu nữ "không còn hát dân ca", "thôi để tóc dài". Bằng nghệ thuật đối lập giữa quá khứ êm đềm và hiện tại bộn bề, cùng phép liệt kê những mất mát, đoạn thơ đã khơi gợi sâu sắc sự bất lực của con người trước quy luật nghiệt ngã "mồ hôi chẳng hóa thành bát cơm no". Hình ảnh nhân vật trữ tình "mang lên phố những nỗi buồn ruộng rẫy" như một sự tổng kết đầy ám ảnh về mối liên kết bền chặt nhưng đầy đau đớn với quê hương. Qua đó, đoạn thơ không chỉ là niềm hoài niệm mà còn là lời nhắc nhở đầy day dứt về việc gìn giữ hồn cốt quê hương giữa nhịp sống hiện đại.
Câu 2:
Trong dòng chảy hối hả của kỷ nguyên 4.0, mạng xã hội (Facebook, TikTok, Instagram...) không còn là một công cụ giải trí xa xỉ mà đã trở thành "hơi thở", là một phần tất yếu trong đời sống của mỗi cá nhân. Thế nhưng, đằng sau sự hào nhoáng và tiện nghi ấy, mạng xã hội đang đặt ra cho chúng ta những bài toán nan giải về lối sống và bản lĩnh của con người hiện đại.

Không thể phủ nhận mạng xã hội là một thành tựu vĩ đại của trí tuệ nhân tạo. Nó là một "cửa sổ" mở ra thế giới, nơi mọi khoảng cách địa lý bị xóa nhòa chỉ bằng một cái chạm tay. Nhờ có mạng xã hội, thông tin được truyền đi với tốc độ ánh sáng, giúp con người cập nhật tri thức và kết nối với những cộng đồng cùng sở thích một cách dễ dàng. Đó còn là nơi lưu giữ những khoảnh khắc đẹp, là diễn đàn để mỗi cá nhân tự do bày tỏ quan điểm và là công cụ đắc lực cho việc kinh doanh, lan tỏa những giá trị thiện nguyện cao đẹp trong cộng đồng. Tuy nhiên, "con dao hai lưỡi" này cũng mang theo những hệ lụy đau lòng nếu người dùng không đủ tỉnh táo. Mạng xã hội vô hình trung đang biến chúng ta thành những "tù nhân" của thế giới ảo. Nhiều người mải mê chăm chút cho một cuộc sống lung linh trên màn hình mà quên mất việc hít thở không khí thực tại, dẫn đến sự lạnh nhạt trong các mối quan hệ gia đình, bè bạn. Nguy hại hơn, đó còn là môi trường thuận lợi cho tin giả, những lời miệt thị ngoại hình (body shaming) hay bạo lực ngôn từ phát triển, gây ra những tổn thương tâm lý sâu sắc cho nạn nhân. Sự so sánh ngầm giữa cuộc đời mình với những hình ảnh "đã qua chỉnh sửa" của người khác khiến không ít người rơi vào trạng thái mặc cảm, trầm cảm. Đứng trước sự bủa vây của thế giới ảo, điều quan trọng nhất không phải là bài trừ hay tẩy chay, mà là học cách "sống chung" một cách thông minh. Mỗi cá nhân cần rèn luyện tư duy phản biện để sàng lọc thông tin, không để những luồng tư tưởng độc hại dẫn dắt. Chúng ta cần học cách kiểm soát thời gian sử dụng, biết lúc nào nên đặt điện thoại xuống để lắng nghe một hơi thở gấp, một lời tâm sự của người thân yêu bên cạnh. Mạng xã hội nên là đòn bẩy để nâng cao giá trị bản thân, chứ không nên là nơi để ta đánh mất chính mình. Tóm lại, mạng xã hội tốt hay xấu hoàn toàn phụ thuộc vào bản lĩnh của người sử dụng. Nó có thể là một "người thầy" thông thái giúp ta vươn ra biển lớn, nhưng cũng có thể là "vũng lầy" nuốt chửng thời gian và cảm xúc thực. Hãy là những người dùng mạng xã hội có văn hóa, để mỗi dòng trạng thái đăng lên là một hạt mầm tử tế, và để những kết nối ảo thực sự phục vụ cho một cuộc sống thực hạnh phúc hơn.
Câu 1. Thể thơ
  • Văn bản được viết theo thể thơ tự do
Câu 2. Các tính từ miêu tả hạnh phúc
  • Trong văn bản, hạnh phúc được miêu tả qua các tính từ: xanh, thơm, im lặng, dịu dàng, vô tư, đầy, vơi
Câu 3. Nội dung đoạn thơ
  • Đoạn thơ gợi tả một khía cạnh của hạnh phúc không hề ồn ào, phô trương mà trái lại, nó âm thầm, tinh tế và sâu lắng.
  • Hạnh phúc đôi khi chỉ đơn giản là sự cảm nhận những giá trị tốt đẹp (như hương thơm của quả) một cách nhẹ nhàng, mang lại cảm giác dễ chịu và thư thái cho tâm hồn. 
Câu 4. Tác dụng của biện pháp tu từ so sánh
  • Về hình thức: Làm cho cách diễn đạt thêm sinh động, giàu hình ảnh và sức gợi cảm.
  • Về nội dung:
    • Khắc họa vẻ đẹp của hạnh phúc là sự tự nhiên, vô tư và không gò bó như dòng sông chảy về phía biển.
    • Thể hiện quan niệm hạnh phúc là sự dâng hiến và trải nghiệm mà không cần quá bận tâm đến việc tính toán, đo đếm thiệt hơn hay "đầy vơi". 
Câu 5. Nhận xét quan niệm về hạnh phúc của tác giả
  • Giản dị và đời thường: Với tác giả, hạnh phúc không phải là điều gì đó xa vời mà tồn tại ngay trong những hình ảnh gần gũi như chiếc lá, quả chín hay dòng sông.
  • Sự an nhiên, tự tại: Hạnh phúc đến từ sự chấp nhận quy luật tự nhiên (nắng dội, mưa tràn) và thái độ sống vô tư, không vụ lợi.
  • Tính đa diện: Hạnh phúc có nhiều sắc thái khác nhau, đôi khi là sự lặng lẽ bền bỉ, đôi khi lại là sự tự do khoáng đạt. 

Gọi AC giao BD =O
SO giao MN=I
AI giao SC=P
AN vuông (SCD)=> AN vuông SC
AM vuông (SBC) => AM vuông SC
=> SC vuông (AMPN)
(AB,(AMN)) =(SM,(AMPN)= góc SMP
Ta có: \(SM=\frac{SA^2}{SB}=\frac{2a\sqrt3}{3}\)
\(SP=\frac{SA^2}{SC}=a\)
\(\Rightarrow\sin g\emptyset cSMP=\frac{SP}{SM}=\frac{\sqrt3}{2}\)
=> góc SMP = 60 độ

Ta có \(d\left(C^{\prime},\left(ACB^{\prime}\right)\right)=d\left(B,\left(ACB^{\prime}\right)\right)\)
Xét tứ diện BACB' có
BA=BC=BB'=1 nên điểm B nằm trên trục của đường tròn ngoại tiếp tam giác ACB'
=> BO vuông (ACB') tại tâm O của đường tròn ngoaaij tiếp tam giác ACB'
góc CBB' = 60 độ, góc B'BA= góc ABC=120 độ
=> AB'=AC= \(\sqrt3\)
\(d\left(B,\left(ACB^{\prime}\right)\right)=BO=BA^2-R^2\) với R là bán kính đường tròn ngoại tiếp tam giấc ACB'
\(StamgiácACB^{\prime}=\frac{AB^{\prime}.CB^{\prime}.AC}{4R}=\frac{AH.B^{\prime}C}{2}\)
\(\Leftrightarrow\frac{\sqrt3.\sqrt3}{4R}=\frac{\sqrt{3-\frac14}}{2}\) \(\Leftrightarrow R=\frac{3}{\sqrt{11}}\)
\(\Rightarrow BO=\sqrt{1-\frac{9}{11}}=\frac{\sqrt{22}}{11}\)
\(\Rightarrow d\left(C^{\prime},\left(ACB^{\prime}\right)\right)=\frac{\sqrt{22}}{11}\)

Giả sử một lá bèo chiếm x (0 < x < 1) mặt nước trong chậu. Sau 12 giờ, bèo sinh sôi phủ kín mặt nước trong chậu nên:
\(10^{12}x=1\) => \(x=\frac{1}{10^{12}}\)
Giả sử t giờ thì lá bèo phủ kín \(\frac15\) mặt nước trong chậu thì: \(\frac{1}{10^{12}}.10^{t}=\frac15\)
\(=>t-12=\log\frac15\)
=> \(t=11,3\)

C2H4 + HCl -> C2H5Cl

  • Khối lượng mol của C2H5Cl: M = 12*2 + 5 + 35,5 = 64,5 (g/mol)
  • Số mol C2H5Cl thu được theo thực tế: n tt = 25,8 / 64,5 = 0,4 (mol)
    Số mol C2H4 cần dùng (nếu hiệu suất 100%): n lt = 0,4 (mol)
  • Số mol C2H4 thực tế cần dùng: n cần = 0,4 / 80% = 0,5 (mol)
  • Thể tích khí C2H4 ( đkc, 25°C, 1 bar): V = n * 24,79 = 0,5 * 24,79 = 12,395 (lít)
    Để điều chế được 25,8 gam ethyl chloride với hiệu suất 80% thì cần dùng 12,395 lít khí ethylene
  • Số mol CO2: nCO2 = 14,08 / 44 = 0,32 (mol)
  • Số mol H2O: nH2O = 7,56 / 18 = 0,42 (mol)
    nH2O > nCO2 (0,42 > 0,32)=> hai hydrocarbon trong hỗn hợp X thuộc dãy đồng đẳng Alkane (CnH2n+2).
  • Số mol của hỗn hợp X: nX = nH2O - nCO2 = 0,42 - 0,32 = 0,1 (mol)
  • Số nguyên tử Carbon trung bình: n = nCO2 / nX = 0,32 / 0,1 = 3,2
  • Hydrocarbon 1 (n < 3,2): n = 3 => C3H8
  • Hydrocarbon 2 (n > 3,2): n = 4 => C4H10