Hà Thị Khánh Ly

Giới thiệu về bản thân

Chào mừng bạn đến với trang cá nhân của Hà Thị Khánh Ly
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
(Thường được cập nhật sau 1 giờ!)

Câu 1

Nhân vật “tôi” trong đoạn trích Hoàng tử bé hiện lên như một biểu tượng đẹp đẽ cho tâm hồn trẻ thơ giàu trí tưởng tượng nhưng sớm chịu những va đập từ thế giới người lớn. Ngay từ khi lên sáu tuổi, “tôi” đã bộc lộ năng khiếu và niềm say mê hội họa qua việc sáng tạo nên bức vẽ con trăn nuốt con voi – một hình ảnh độc đáo, thể hiện trí tưởng tượng phong phú và cách nhìn thế giới khác biệt. Tuy nhiên, điều đáng chú ý là sự đối lập giữa “tôi” và những người lớn: trong khi “tôi” nhìn thấy bản chất bên trong của sự vật thì người lớn lại chỉ nhìn thấy vẻ ngoài đơn giản, hời hợt. Sự không được thấu hiểu khiến “tôi” thất vọng, dần từ bỏ ước mơ trở thành họa sĩ – một lựa chọn không phải vì thiếu tài năng mà vì thiếu sự đồng cảm. Dẫu vậy, nhân vật “tôi” không hoàn toàn đánh mất bản chất của mình; việc luôn giữ lại bức vẽ số một như một “phép thử” cho thấy “tôi” vẫn khao khát tìm kiếm những tâm hồn đồng điệu, những người có thể hiểu được chiều sâu của trí tưởng tượng. Đồng thời, việc “tôi” học cách nói chuyện với người lớn về những chủ đề mà họ quan tâm cho thấy sự thích nghi nhưng cũng là một sự “tự hạ mình” đầy chua xót. Qua nhân vật này, tác giả không chỉ khắc họa bi kịch của một tâm hồn trẻ thơ bị kìm hãm mà còn gửi gắm thông điệp sâu sắc về việc con người cần giữ gìn trí tưởng tượng, sự hồn nhiên và khả năng nhìn nhận thế giới bằng con mắt tinh tế. Nhân vật “tôi” vì thế không chỉ là một đứa trẻ trong câu chuyện mà còn là lời nhắc nhở mỗi chúng ta: đừng để sự trưởng thành làm mai một đi những giá trị đẹp đẽ của tâm hồn.

Câu 2

“Tuổi thơ là miền đất của những điều kỳ diệu, nơi mọi thứ đều có thể trở nên sống động dưới đôi mắt trong veo của tâm hồn.” Câu nói ấy dường như đã chạm đến cốt lõi trong nhận định của Giacomo Leopardi: “Trẻ con tìm thấy tất cả ở nơi chẳng có gì, còn người lớn chẳng tìm được gì trong tất cả.” Từ góc nhìn của người trẻ, ý kiến này không chỉ là một sự so sánh mà còn là lời nhắc nhở sâu sắc về cách con người cảm nhận thế giới và chính mình trong hành trình trưởng thành. Trước hết, cần hiểu rằng “trẻ con tìm thấy tất cả ở nơi chẳng có gì” là cách nói giàu hình ảnh để chỉ trí tưởng tượng phong phú, tâm hồn hồn nhiên và khả năng sáng tạo vô hạn của trẻ nhỏ. Chỉ với một chiếc hộp rỗng, trẻ em có thể tưởng tượng ra cả một lâu đài; với một que gỗ, các em có thể biến nó thành thanh kiếm, cây đũa phép hay một người bạn đồng hành. Ngược lại, “người lớn chẳng tìm được gì trong tất cả” phản ánh sự khô cằn trong tâm hồn khi con người trưởng thành, khi họ bị cuốn vào những lo toan, thực dụng, dần đánh mất khả năng cảm nhận vẻ đẹp giản dị của cuộc sống. Ý kiến của Leopardi vì vậy đã chỉ ra một nghịch lý: càng trưởng thành, con người lại càng nghèo đi về mặt cảm xúc và trí tưởng tượng. Thực tế cho thấy, trẻ em luôn có cách nhìn thế giới rất riêng. Các em không bị ràng buộc bởi những quy chuẩn cứng nhắc hay những định kiến xã hội. Một bầu trời đầy mây có thể trở thành bức tranh sống động với muôn vàn hình thù kỳ thú; một vũng nước nhỏ cũng có thể là đại dương mênh mông trong trò chơi tưởng tượng. Chính sự tự do trong suy nghĩ giúp trẻ em “tìm thấy tất cả” – nghĩa là tìm thấy niềm vui, ý nghĩa và sự kỳ diệu trong những điều tưởng chừng như bình thường nhất. Trái lại, người lớn thường nhìn sự vật bằng lý trí, bằng kinh nghiệm và cả những áp lực vô hình. Họ dễ dàng bỏ qua vẻ đẹp của hoàng hôn, không còn hứng thú với những điều giản dị, và đôi khi cảm thấy cuộc sống trở nên tẻ nhạt dù có trong tay nhiều điều kiện vật chất. Điều này khiến họ “chẳng tìm được gì trong tất cả”, bởi họ đã đánh mất khả năng cảm nhận bằng trái tim. Có thể thấy rõ điều này qua nhiều dẫn chứng trong cuộc sống và văn học. Trong tác phẩm *Hoàng tử bé*, cậu bé nhìn thấy một con trăn đang nuốt con voi qua bức vẽ, trong khi người lớn chỉ thấy “một cái mũ”. Sự khác biệt ấy không nằm ở bức tranh mà nằm ở cách nhìn nhận. Ngoài đời thực, trẻ em có thể cười vui hàng giờ chỉ với một trò chơi đơn giản, trong khi người lớn dù có nhiều tiện nghi hiện đại vẫn cảm thấy trống rỗng. Những khoảnh khắc ấy cho thấy sự phong phú trong thế giới nội tâm của trẻ nhỏ và sự hạn chế trong cách cảm nhận của người lớn. Tuy nhiên, không thể phủ nhận rằng sự trưởng thành cũng mang lại cho con người những giá trị khác như kinh nghiệm, trách nhiệm và khả năng thích nghi với cuộc sống. Vấn đề không phải là trở thành người lớn là sai, mà là ở cách chúng ta giữ gìn những phẩm chất tốt đẹp của tuổi thơ. Nếu người lớn biết cân bằng giữa lý trí và cảm xúc, giữa thực tế và tưởng tượng, họ vẫn có thể tìm thấy niềm vui và ý nghĩa trong cuộc sống. Ngược lại, nếu trẻ em không được định hướng đúng đắn, sự hồn nhiên cũng có thể trở thành thiếu thực tế. Từ góc nhìn của người trẻ, ý kiến của Leopardi là một lời nhắc nhở quý giá. Mỗi chúng ta đang đứng ở ranh giới giữa tuổi thơ và sự trưởng thành, vì vậy cần học cách giữ lại trong mình một phần hồn nhiên, một khả năng rung cảm trước cái đẹp và một trí tưởng tượng phong phú. Đó chính là “chìa khóa” giúp chúng ta không bị khô cằn trong tâm hồn khi bước vào thế giới người lớn. Đồng thời, chúng ta cũng cần học cách nhìn nhận cuộc sống đa chiều hơn, không chỉ bằng lý trí mà còn bằng trái tim. “Người ta không ngừng vui chơi vì già đi, mà già đi vì ngừng vui chơi.” Câu nói ấy như một lời kết đầy ý nghĩa: hãy giữ cho mình sự trong trẻo của tâm hồn và khả năng tìm thấy điều kỳ diệu trong những điều bình dị, để cuộc sống luôn tràn đầy ý nghĩa, dù ta ở bất kỳ độ tuổi nào.




Đọc văn bản và trả lời câu hỏi: 

      Hồi lên sáu, tôi có nhìn thấy một lần, một bức tranh tuyệt đẹp, trong một cuốn sách về Rừng Hoang nhan đề: "Những câu chuyện có sống qua". Bức tranh vẽ hình một con trăn đang nuốt một con thú dữ. Đây là bản sao của bức vẽ.

Hình minh họa trong Hoàng tử bé


      Trong sách, người ta nói: "Loài trăn nuốt chửng cả con mồi, không nhai. Sau chúng chẳng nhúc nhích gì được nữa và ngủ sáu tháng liền để tiêu hóa con mồi.".

      Từ đó, tôi hay nghĩ đến các chuyện xảy ra trong rừng rậm, và đến lượt tôi, với một cây bút chì màu, tối vẽ được hình vẽ đầu tiên của tôi. Hình vẽ số một của tôi. Nó như thế này:

Hình minh họa trong Hoàng tử bé

      Tôi đưa cho các người lớn xem kiệt tác của tôi và hỏi họ bức vẽ của tôi có làm cho họ sợ không.

      Họ trả lời: "Sao một cái mũ lại làm cho sợ được?".

      Bức tranh của tôi đâu có vẽ một chiếc mũ. Nó vẽ một con trăn đang tiêu hóa một con voi. Thế là tôi vẽ lại bên trong bụng trăn, để cho các người lớn có thể hiểu được. Đối với người lớn, bao giờ cũng phải giảng. Bức vẽ số hai của tôi thế này:

Hình ảnh minh họa trong Hoàng tử bé

      Các người lớn khuyên tôi hãy để qua một bên các bức vẽ trăn nhìn bên ngoài hay bổ đôi kia đi, và hãy để tâm vào môn địa, môn sử, môn toán và môn ngữ pháp. Như vậy đó mà vào tuổi lên sáu, tôi đã bỏ một cuộc đời họa sĩ tuyệt diệu.

      Tôi thất vọng vì bức vẽ số một và bức vẽ số hai của tôi không thành công. Các người lớn không bao giờ tự mình hiểu được điều gì, và trẻ con lúc nào, lúc nào cũng phải giảng giải cho các ông, đến nhọc!

      Thế là tôi phải chọn một nghề khác, và tôi học lái máy bay. Trên thế giới, đâu tôi cũng từng có bay một tí. Và môn địa lí, đúng thế, có giúp cho tôi nhiều, chỉ nhìn qua, tôi biết nhận ra đây là Trung Quốc chứ không phải vùng Arizona. Cái đó cần lắm, nếu ban đêm ta bị lạc.

      Như vậy đấy, trong cuộc đời tôi, tôi có hàng đống những cuộc gặp gỡ với khối người quan trọng. Tôi đã sống nhiều ở nhà những người lớn. Tôi đã nhìn thấy họ rất gần. Việc này vẫn chẳng làm tôi đánh giá họ khá hơn bao nhiều.

a trả lời hoài: "Đây là một cái mũ.". Thế là tôi chẳng thèm nói với ông ta về rắn trăn, rừng hoang hay trăng sao gì nữa. Tôi tự hạ ngang tầm ông ta. Tôi nói với ông ta về bài bạc, về đấu bóng, về chính trị và về cà vạt. Thế là người lớn rất lấy làm bằng lòng được gặp một người biết điều như tôi.

(Trích tiểu thuyết Hoàng tử bé, Saint Exupéry)

Câu 1. Xác định ngôi kể trong văn bản trên.

Câu 2. Kiệt tác của cậu bé trong văn bản là gì? 

Câu 3. Theo em, vì sao người lớn lại bảo cậu bé hãy chú trọng học những môn văn hóa thay vì khuyến khích cậu bé vẽ thật nhiều?

Câu 4. Những người lớn trong văn bản trên được miêu tả như thế nào? Em có nhận xét gì về những nhân vật ấy? 

Câu 5. Qua văn bản, em rút ra được những bài học gì cho bản thân? 
Làm đúng cấu trích của bài thi thpt quốc gia

Câu 1.
Văn bản được kể theo ngôi thứ nhất (nhân vật “tôi” – người kể chuyện xưng “tôi”).


Câu 2.
Kiệt tác của cậu bé là bức vẽ một con trăn đang nuốt (tiêu hóa) một con voi (hình vẽ số một và sau đó là hình vẽ số hai – vẽ bên trong bụng trăn).


Câu 3.
Người lớn khuyên cậu bé chú trọng học các môn văn hóa vì: Họ có lối suy nghĩ thực tế, coi trọng kiến thức “hữu ích” như địa lí, lịch sử, toán học, ngữ pháp. Họ không hiểu và không đánh giá được trí tưởng tượng, khả năng sáng tạo của trẻ em. Họ cho rằng vẽ vời không phải là con đường nghề nghiệp ổn định, nên hướng cậu bé theo những chuẩn mực thông thường

Câu 4. Những người lớn trong văn bản được miêu tả là những người thiếu trí tưởng tượng, nhìn nhận sự vật một cách hời hợt và khô khan. Khi xem bức vẽ của cậu bé, họ chỉ thấy “một cái mũ” mà không hiểu được ý nghĩa sâu xa là con trăn đang nuốt con voi. Họ còn có lối sống thực dụng, chỉ quan tâm đến những vấn đề quen thuộc như bài bạc, chính trị, thể thao,… mà không chú ý đến thế giới phong phú của trí tưởng tượng. Qua đó, tác giả phê phán những người lớn đã đánh mất sự hồn nhiên, khả năng sáng tạo và cách nhìn nhận tinh tế về cuộc sống.

Câu 5.
Qua văn bản, em rút ra bài học rằng mỗi người cần biết trân trọng và nuôi dưỡng trí tưởng tượng, sự sáng tạo của bản thân. Đồng thời, không nên nhìn nhận sự vật một cách phiến diện mà cần học cách quan sát sâu sắc và thấu hiểu người khác, đặc biệt là trẻ em. Bên cạnh đó, người lớn cần lắng nghe, tôn trọng suy nghĩ của trẻ nhỏ thay vì áp đặt quan điểm của mình. Mỗi chúng ta cũng nên giữ gìn sự hồn nhiên, trong sáng để có thể cảm nhận cuộc sống một cách phong phú và ý nghĩa hơn.

câu 1

“Thơ ca không chỉ là tiếng nói của trái tim mà còn là tiếng gọi của thời đại” – nhận định ấy dường như được kết tinh trọn vẹn trong bài thơ Khán “Thiên gia thi” hữu cảm. Ngay từ những câu thơ đầu, tác giả đã phác họa một bức tranh quen thuộc của thơ ca cổ điển với những hình ảnh “sơn, thủy, yên, hoa, tuyết, nguyệt, phong”. Biện pháp liệt kê không chỉ gợi ra vẻ đẹp phong phú, nên thơ của thiên nhiên mà còn cho thấy khuynh hướng thẩm mỹ của thơ xưa: thiên về cái đẹp thanh nhàn, tĩnh tại, mang tính thưởng ngoạn. Thế nhưng, ẩn sau vẻ đẹp ấy là một khoảng cách nhất định với hiện thực đời sống đầy biến động. Chính vì vậy, hai câu thơ sau đã tạo nên một bước chuyển mạnh mẽ trong tư tưởng. Tác giả khẳng định thơ ca hiện đại phải có “chất thép” – tức là phải phản ánh hiện thực, mang tinh thần chiến đấu và ý chí cách mạng. Không dừng lại ở đó, nhà thơ còn phải “biết xung phong”, nghĩa là dấn thân, hòa mình vào cuộc đấu tranh của dân tộc. Ở đây, thơ ca không còn là thú vui tao nhã mà trở thành một thứ vũ khí tinh thần sắc bén, góp phần thay đổi xã hội. Với kết cấu chặt chẽ, lập luận rõ ràng và giọng điệu dứt khoát, bài thơ đã thể hiện một quan niệm tiến bộ về vai trò của người nghệ sĩ trong thời đại mới. Qua đó, tác giả gửi gắm thông điệp sâu sắc: thơ ca chân chính phải gắn bó với cuộc sống, với vận mệnh dân tộc và mang trong mình sức mạnh thức tỉnh con người. Chính điều đó đã làm nên giá trị tư tưởng và sức sống bền vững của bài thơ.

câu 2

Văn hóa còn thì dân tộc còn” – câu nói giản dị nhưng hàm chứa một chân lý sâu sắc về vai trò của văn hóa đối với sự tồn tại và phát triển của mỗi quốc gia. Trong bối cảnh toàn cầu hóa ngày nay, khi các nền văn hóa giao thoa mạnh mẽ, việc giữ gìn, bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc trở thành một vấn đề cấp thiết, đặc biệt đối với giới trẻ – những chủ nhân tương lai của đất nước.

Văn hóa truyền thống là kết tinh của lịch sử hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước. Đó không chỉ là những giá trị vật thể như di tích, kiến trúc, trang phục mà còn là những giá trị phi vật thể như ngôn ngữ, phong tục tập quán, lễ hội, tín ngưỡng, lối sống và đạo lý. Những giá trị ấy góp phần tạo nên bản sắc riêng biệt của dân tộc, giúp chúng ta phân biệt mình với các quốc gia khác trên thế giới. Không chỉ vậy, văn hóa truyền thống còn là sợi dây gắn kết cộng đồng, nuôi dưỡng tâm hồn con người và truyền tải những bài học quý giá về đạo đức, nhân cách. Vì thế, giữ gìn văn hóa chính là giữ gìn cội nguồn, là bảo vệ linh hồn của dân tộc.

Trong thời đại hội nhập, giới trẻ có nhiều cơ hội tiếp cận với các nền văn hóa khác nhau. Điều này mang lại những lợi ích to lớn, giúp mở rộng tầm nhìn, nâng cao tri thức và khả năng thích nghi. Tuy nhiên, bên cạnh đó cũng tồn tại không ít thách thức. Một bộ phận giới trẻ hiện nay có biểu hiện xa rời, thậm chí thờ ơ với văn hóa truyền thống. Nhiều người chạy theo các trào lưu ngoại lai mà thiếu sự chọn lọc, dẫn đến việc đánh mất bản sắc cá nhân và dân tộc. Không ít bạn trẻ không hiểu rõ về lịch sử, không quan tâm đến các giá trị văn hóa dân gian, hoặc coi những điều đó là “lỗi thời”, “không còn phù hợp”. Đây là một thực trạng đáng suy ngẫm.

Tuy vậy, không thể phủ nhận rằng vẫn có rất nhiều bạn trẻ đang nỗ lực gìn giữ và phát huy văn hóa dân tộc theo những cách sáng tạo và đầy nhiệt huyết. Trong thời đại công nghệ số, nhiều người đã tận dụng mạng xã hội để quảng bá văn hóa truyền thống, từ việc giới thiệu trang phục cổ, ẩm thực dân gian đến việc phục dựng các lễ hội, nghệ thuật truyền thống. Những dự án sáng tạo như đưa chất liệu dân gian vào âm nhạc hiện đại, thiết kế thời trang lấy cảm hứng từ trang phục truyền thống hay sản xuất nội dung số về lịch sử, văn hóa đã góp phần làm “sống lại” những giá trị xưa trong diện mạo mới. Điều đó cho thấy văn hóa truyền thống không hề lỗi thời, vấn đề nằm ở cách chúng ta tiếp cận và phát huy nó.

Để nâng cao ý thức giữ gìn văn hóa truyền thống trong giới trẻ, cần có sự chung tay của toàn xã hội. Trước hết, gia đình cần đóng vai trò là môi trường giáo dục đầu tiên, nơi truyền dạy những giá trị đạo đức, phong tục và lối sống tốt đẹp. Nhà trường cần đổi mới phương pháp giảng dạy, đưa văn hóa truyền thống vào bài học một cách sinh động, hấp dẫn hơn, gắn với trải nghiệm thực tế thay vì chỉ dừng lại ở lý thuyết. Bên cạnh đó, các cơ quan truyền thông và tổ chức văn hóa cần có những chiến lược phù hợp để lan tỏa giá trị truyền thống đến giới trẻ một cách gần gũi và hiện đại.

Quan trọng hơn cả, mỗi người trẻ cần tự ý thức được trách nhiệm của mình trong việc gìn giữ và phát huy văn hóa dân tộc. Điều này không đòi hỏi những hành động lớn lao mà bắt đầu từ những việc nhỏ bé như tìm hiểu lịch sử, trân trọng tiếng Việt, giữ gìn phong tục tốt đẹp, hay đơn giản là có thái độ đúng đắn với những giá trị truyền thống. Đồng thời, người trẻ cũng cần biết tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại một cách có chọn lọc, kết hợp hài hòa giữa truyền thống và hiện đại để tạo nên những giá trị mới phù hợp với thời đại.

Trong dòng chảy phát triển không ngừng của xã hội, văn hóa truyền thống chính là gốc rễ vững chắc giúp dân tộc đứng vững trước mọi biến động. Nếu thế hệ trẻ biết trân trọng và phát huy những giá trị ấy, thì văn hóa dân tộc không những không bị mai một mà còn ngày càng tỏa sáng trong bối cảnh hội nhập toàn cầu. Ngược lại, nếu thờ ơ và lãng quên, chúng ta có nguy cơ đánh mất chính bản sắc của mình.

Một dân tộc đánh mất truyền thống văn hóa là một dân tộc đánh mất chính mình” – lời cảnh tỉnh ấy nhắc nhở mỗi người, đặc biệt là giới trẻ, cần có ý thức rõ ràng và hành động thiết thực trong việc gìn giữ và phát huy những giá trị văn hóa truyền thống, để bản sắc dân tộc mãi trường tồn cùng thời gian.

Câu 1.
Bài thơ được viết theo thể thơ thất ngôn tứ tuyệt (Đường luật).

Câu 2.
Bài thơ tuân theo luật bằng – trắc của thơ Đường luật, cụ thể là luật bằng (câu 1 gieo vần bằng, các câu 2, 4 hiệp vần).

Câu 3.
Một biện pháp tu từ nổi bật là liệt kê: “sơn, thủy, yên, hoa, tuyết, nguyệt, phong”.
- Tác dụng: Gợi ra một thế giới thiên nhiên phong phú, thơ mộng, quen thuộc trong thơ ca cổ điển. Nhấn mạnh đặc điểm của thơ xưa: thiên về miêu tả, thưởng ngoạn vẻ đẹp tự nhiên. Tạo nhịp điệu nhẹ nhàng, giàu hình ảnh, làm nổi bật sự đối lập với quan điểm thơ hiện đại ở hai câu sau.

Câu 4.
Tác giả cho rằng: “Hiện đại thi trung ưng hữu thiết, / Thi gia dã yếu hội xung phong” vì: Thời đại lúc bấy giờ đầy biến động, đất nước đang cần đấu tranh giành độc lập. Thơ ca không chỉ để thưởng thức mà còn phải phục vụ cuộc sống, góp phần vào cách mạng. “Chất thép” tượng trưng cho tinh thần chiến đấu, ý chí kiên cường. Nhà thơ không chỉ là người quan sát mà còn phải trực tiếp tham gia, dấn thân vì đất nước.

Câu 5.
Cấu tứ bài thơ chặt chẽ, rõ ràng:

+Hai câu đầu: nhận xét về thơ ca cổ điển (thiên về thiên nhiên, cái đẹp).

+ Hai câu sau: nêu quan điểm về thơ ca hiện đại (phải có tính chiến đấu, gắn với thời đại).
Cấu tứ theo kiểu đối lập – chuyển ý, làm nổi bật tư tưởng đổi mới trong quan niệm thơ ca.

Dưới đây là **cách làm theo mức kiến thức lớp 12**, trình bày **ngắn gọn – dễ hiểu – đúng trọng tâm**: --- a) Biện pháp kiểm tra chất lượng hàng may mặc của nước Z Nhận xét: - Nước Z là thành viên WTO. - Hàng may mặc nhập khẩu phải kiểm tra chất lượng 3 tháng. -Hàng may mặc sản xuất trong nước thì không phải kiểm tra. Kết luận: Nước Z vi phạm nguyên tắc Đối xử quốc gia của WTO (Hàng nhập khẩu phải được đối xử như hàng trong nước) b) Ưu đãi thuế cà phê của nước P cho nước C Nhận xét: - Nước P là thành viên WTO - Nước C không phải thành viên WTO Nước P: - Giảm thuế cà phê cho nước C xuống 5% Không áp dụng mức thuế này cho các nước thành viên WTO khác *Kết luận: Nước P vi phạm nguyên tắc Tối huệ quốc (MFN) của WTO (Không được ưu đãi cho nước này mà lại không ưu đãi cho nước khác)

Dưới đây là **cách làm theo mức kiến thức lớp 12**, trình bày **ngắn gọn – dễ hiểu – đúng trọng tâm**: --- a) Biện pháp kiểm tra chất lượng hàng may mặc của nước Z Nhận xét: - Nước Z là thành viên WTO. - Hàng may mặc nhập khẩu phải kiểm tra chất lượng 3 tháng. -Hàng may mặc sản xuất trong nước thì không phải kiểm tra. Kết luận: Nước Z vi phạm nguyên tắc Đối xử quốc gia của WTO (Hàng nhập khẩu phải được đối xử như hàng trong nước) b) Ưu đãi thuế cà phê của nước P cho nước C Nhận xét: - Nước P là thành viên WTO - Nước C không phải thành viên WTO Nước P: - Giảm thuế cà phê cho nước C xuống 5% Không áp dụng mức thuế này cho các nước thành viên WTO khác *Kết luận: Nước P vi phạm nguyên tắc Tối huệ quốc (MFN) của WTO (Không được ưu đãi cho nước này mà lại không ưu đãi cho nước khác)