Trịnh Ngọc Bích

Giới thiệu về bản thân

Chào mừng bạn đến với trang cá nhân của Trịnh Ngọc Bích
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
(Thường được cập nhật sau 1 giờ!)

a)

\(A=\dfrac{x^2-2x+1}{x^2-1}=\dfrac{\left(x-1\right)^2}{\left(x-1\right)\left(x+1\right)}=\dfrac{x-1}{x+1}\)

\(A=\dfrac{x-1}{x+1}\) (với x≠1,-1)

b)

+) Tại x = 3 thay vào biểu thức A

ta có: \(A=\dfrac{\left(3-1\right)}{\left(3+1\right)}=\dfrac{1}{2}\)

+) Tại x=\(-\dfrac{3}{2}\) thay vào biểu thức A 

Ta có: \(A=\dfrac{\left(-\dfrac{3}{2}-1\right)}{\left(-\dfrac{3}{2}+1\right)}=\dfrac{-\dfrac{5}{2}}{-\dfrac{1}{2}}=5\)

c)

Ta có:\(A=\dfrac{x-1}{x+1}=1-\dfrac{2}{x+1}\)

Để A nguyên khi \(\dfrac{2}{x+1}\) nguyên .

tức 2 ⋮ (x+1) hay (x+1) là Ư(2).

Ư(2)={ \(\pm1,\pm2\) }

Vậy : x+1=1 nên x=0

         x+1=-1 nên x= - 2

         x+1=2 nên x=1 (loại vì x≠1)

         x+1= - 2 nên x= - 3.

Vậy các giá trị của x nguyên để A nguyên là : \(x\in\left\{0,-2,-3\right\}\)

Câu thơ "Ta hoá phù sa mỗi bến chờ" thể hiện ý nghĩa cao đẹp về sự cống hiến và hi sinh âm thầm nhưng bền bỉ, giống như phù sa luôn nuôi dưỡng và làm giàu cho đất.

Bài thơ "Khi mùa mưa đến" của nhà thơ Hữu Thỉnh mang đến cho người đọc những cảm xúc sâu sắc về vẻ đẹp của thiên nhiên và tâm hồn con người. Cảm hứng của nhà thơ được thể hiện rõ qua những hình ảnh sống động và chân thực về mùa mưa, từ những giọt mưa rơi nhẹ nhàng đến âm thanh rào rào của mưa trên mái tôn. Mùa mưa không chỉ đơn thuần là thời tiết, mà còn là biểu tượng cho sự hồi sinh, sự tươi mới và những kỷ niệm đẹp đẽ trong cuộc sống. Qua đó, nhà thơ đã khéo léo kết nối thiên nhiên với tâm trạng con người, khiến người đọc cảm nhận được sự gần gũi và gắn bó với quê hương. Cảm hứng ấy không chỉ là niềm yêu thích với cảnh vật mà còn là sự trân trọng những giá trị tinh thần và văn hóa của dân tộc.

    Nguyễn Thành Long là một cây bút truyện ngắn nhưng vẻ đẹp nghệ thuật không nằm ở những phát hiện sắc sảo – táo bạo xung đột mạnh mẽ mà nghiêng về tạo dựng chất thơ nhẹ nhàng trong trẻo lặng thầm, kín đáo nhưng vẫn có sức ngân vang sâu rộng lâu bền. Lặng lẽ Sa Pa tiêu biểu cho phong cách dó của Nguyễn Thành Long. Truyện ra đời sau một chuyến đi thực tế kiểm nghiệm. Nguyễn Thành Long đã giới thiệu với chúng ta một vùng đất lặng thầm nhưng ở đó vẫn có những con người đang ngày đêm làm việc cống hiến quên mình cho quê hương đất nước.

     “Lặng lẽ Sa Pa” khi mới đọc cái tên ta có cảm giác Nguyễn Thành Long đang viết về một nơi yên ắng, lạnh giá, hiu hắt hoặc nghĩ về một vùng đất nghỉ ngơi tham quan du lịch Sapa nhiều hơn. Nhưng điều kì diệu và bất ngờ là trong cái lặng lẽ của Sa Pa vẫn vang lên những nhịp sống sôi động trong sáng, tuổi trẻ, vẫn lung linh những sắc màu và lan tỏa ấm áp lòng người. Nơi ấy đang bừng dậy sức sống của những con người, những tấm lòng đang sống, cống hiến làm việc âm thầm lặng lẽ cho quê hương đất nước. Đó là những con người sống đẹp, có ích cho đời, có lý tưởng ước mơ, niềm tin yêu vững bền vào nghề nghiệp, kiến thức, trình độ, khoa học mà nhân vật anh thanh niên là hiện thân vẻ đẹp đó.

     Nhân vật anh thanh niên, ở tuổi đời hai mươi bảy vừa rời phồn hoa, đô thị đông đúc, anh lên công tác ở đỉnh núi Yên Sơn (Sapa) ở độ cao hai nghìn sáu trăm mét, quanh năm mây mù tuyết phủ, suốt ngày làm bạn với núi đá rừng cây. Cái yên ắng, yên lặng tĩnh mịch đến ghê sợ để khiến cho người ta thoái thác nhiệm vụ rời bỏ vị trí nhưng theo tiếng gọi nghề nghiệp và tình yêu cuộc sống, công việc, anh đã tự nguyện gắn bó mình với nghề nghiệp khí tượng kiêm vật lí địa cầu. Công việc là như vậy nhưng điều kiện làm việc là ngoài trời, kỹ thuật máy móc lại thiếu thốn đơn giản, thô sơ. Cả ngày nắng cũng như ngày mưa hay lúc giá rét lạnh buốt xương, anh vẫn phải lên “ốp” đúng giờ, ghi chép đầy đủ chính xác để bảo vệ cơ quan cấp bộ.

     Thế nhưng tất cả những sự vất vả, khó nhọc, thiếu thốn với anh nào có kể gì, thấm tháp gì đâu so với sự lạnh lẽo buồn cô đơn đến “thèm người”. Ở chốn rừng sâu hoang vu vắng lặng, anh chỉ biết làm bạn với chim kêu vượn hót. Xuất phát từ lòng yêu nghề, tinh thần trách nhiệm tự giác, ý thức được nhiệm vụ của tuổi trẻ: “Đâu cần thanh niên có, đâu khó có thanh niên”. Ở anh còn có một tấm lòng nhiệt tình say mê nghề nghiệp, nghiên cứu, sáng tạo và luôn tìm thấy niềm vui từ công việc. Anh từng tâm sự: “khi ta làm việc, ta với công việc là đôi”.

     Ngoài là người có học thức, có trình độ, anh thanh niên lại còn có một tâm hồn trong sáng, cao đẹp, yêu đời, yêu cuộc sống, yêu nơi mình gắn bó, làm việc bằng cách tự tạo ra niềm vui từ công việc hiện thực – đẩy lùi buồn tẻ cô đơn như đọc sáng – nghiên cứu – trồng rau – trồng hoa, nuôi gà, cải thiện cuộc sống. “Thèm người” anh thanh niên tìm cách gặp người, gặp bạn để trao đổi, trò chuyện thân mật và cởi mở, luôn quan tâm chu đáo đến người khác. Anh tự tạo ra một cuộc sống ngăn nắp, khoa học, một thói quen chủ động trong mọi tình huống và công việc. Trong giao tiếp ở anh thanh niên toát lên một phong cách, một vẻ đẹp trong phong cách lời ăn tiếng nói khiêm tốn, vui vẻ, chân tình, lịch sự luôn biết sống vì mọi người.

     Có thể nói ở anh thanh niên mang một vẻ đẹp trong sáng của người thanh niên thời đại mang trong mình những hiểu biết về tri thức, sống tận tụy, yêu nghề, yêu đời, hiểu được việc làm và chỗ đứng của mình từ đó mà hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao. Ở anh còn toả sáng và sưởi ấm cho bao tâm hồn khác dẫu chỉ một lần gặp gỡ ngắn ngủi cho những người đến Sa Pa.

     Qua lời kể của anh thanh niên, ông kỹ sư nông nghiệp ở vườn ươm su hào và ông kĩ sư nghiên cứu bản đồ chống sét đều là những người sống lặng thầm trên mảnh đất Sa Pa mà lao động cần mẫn, say mê, quên mình vì mục đích chung của mọi người. Họ đang làm nên cái “lặng lẽ” mà ngân vang sôi động ở Sa Pa.

       Bác lái xe trong vai người dẫn truyện là điểm dừng cho mọi cuộc gặp gỡ, tình cảm nảy sinh tốt đẹp trong cuộc gặp gỡ đặc biệt là trong 30 phút ngắn ngủi giữa ông họa sĩ và cô kỹ sư đã để lại trong tình cảm những con người đối với Sa Pa là một kỉ niệm tốt đẹp. Bác là người am hiểu anh thanh niên hơn ai về cuộc sống, sinh hoạt của anh và chính bác đã tạo ra cho anh thanh niên những niềm vui về tinh thần, đẩy lùi sự cô đơn, buồn vắng. Ông họa sĩ là nhân vật hóa thân của nhà văn, người xem đây là một chuyến đi may mắn trong cuộc đời nghệ thuật của mình. Còn đối với cô kĩ sư trẻ, cô đã phát hiện ra nhiều điều mới mẻ trong chuyến đi đầu đời giúp cô nhận thức về tình yêu nghề nghiệp cuộc sống vững tin hơn trong sự lựa chọn của mình. Người ta gọi đây là những tâm hồn đồng điệu đến với Sa Pa.

        Truyện có một tuyến nhân vật, không có biến cố xung đột kịch tính. Các nhân vật đều dưới những cái tên chung, có cuộc sống và công việc khác nhau khiến mọi người sa vào đó đều có bóng dáng công việc của mình. Ngôn ngữ giàu nhạc điệu, giàu chất thơ mượt mà như ý nghĩa nhan đề của chính câu chuyện. Truyện ngắn như một bức tranh lung linh kì ảo đằm thắm, ấm áp tình người sâu lắng trong từng bức tranh thiên nhiên.

      “Lặng lẽ Sa Pa” viết về con người bình thường, nhịp sống bình thường. Nhưng phía sau nhịp sống bình thường ấy là những âm vang âm sắc cuộc đời. Nguyễn Thành Long đã góp một tiếng nói nhỏ nhẹ để ngợi ca cuộc sống và tái hiện một cách đầy đủ những vẻ đẹp của con người, có năng lực trình độ, nhiệt thành và hăng say cách mạng trên mặt trận xây dựng chủ nghĩa xã hội.



x = -\frac{2}{7}

a) 7x + 2 = 0

7x = 0 - 2

7x = -2

x = -2/7

Vậy S = -2/7

b) 18 - 5x = 7 + 3x

3x + 5x = 18 - 7

8x = 11

x = 11/8

Vậy S = 11/8

 

Thạch Lam là một nhà văn nổi bật trong nền văn học hiện thực Việt Nam giai đoạn 1930 – 1945. Ông có phong cách viết trữ tình, nhẹ nhàng nhưng sâu sắc, không tập trung vào những xung đột gay gắt mà chủ yếu khắc họa những khoảnh khắc đời thường, đánh thức những rung động tế vi trong tâm hồn con người. Truyện ngắn **“Trở về”** là một tác phẩm tiêu biểu của Thạch Lam, phản ánh sự xa cách của những người con xa quê với gia đình, đồng thời thể hiện tình mẫu tử thiêng liêng và nỗi cô đơn của người mẹ già. Đoạn trích trên chính là cao trào của câu chuyện, khi nhân vật Tâm – người con xa quê – trở về gặp mẹ sau nhiều năm xa cách.  

Trong đoạn trích, hình ảnh người mẹ được khắc họa đầy xúc động. Dù đã già đi nhiều, bà vẫn giữ nguyên dáng vẻ khắc khổ của một người mẹ tần tảo. Khi nhìn thấy con trai, bà không giấu được niềm xúc động:  

 “Con đã về đấy ư?”

Câu nói tuy ngắn gọn nhưng chứa đựng biết bao mong chờ, tủi hờn và xúc động. Đôi mắt bà cụ *“ứa nước mắt”*, không chỉ vì vui mừng mà còn vì những năm tháng cô đơn, mong mỏi được gặp con nhưng không nhận được tin tức gì từ Tâm.  

Dù bị con trai lãng quên suốt sáu năm trời, bà vẫn luôn yêu thương và lo lắng cho con. Khi nghe tin Tâm bị ốm, bà cụ “lo quá, nhưng quê mùa chả biết tỉnh thế nào mà đi, thành ra không dám lên thăm”. Câu nói tưởng chừng đơn giản nhưng lại khiến người đọc không khỏi chạnh lòng. Nó thể hiện sự bất lực của một người mẹ nghèo, chỉ có thể lo lắng từ xa mà không thể làm gì khác để giúp đỡ con mình.  

Trong suốt cuộc trò chuyện, bà cụ luôn tìm cách gần gũi con trai, nhắc về những chuyện cũ, về cô Trinh – người con gái năm xưa hay chơi với Tâm – như một cách để gợi lại những ký ức tuổi thơ. Nhưng sự quan tâm ấy lại bị đáp lại bằng sự dửng dưng, lạnh nhạt của Tâm.  

Trở về quê hương sau sáu năm xa cách, Tâm không còn cảm giác thân thuộc với nơi chốn mình từng lớn lên. Khi bước vào nhà, anh nhận thấy mọi thứ vẫn như trước nhưng đã cũ kỹ và xơ xác hơn. Nhưng thay vì cảm thấy xúc động, anh lại có cảm giác xa lạ và lạnh lùng.  

Ngay từ cách xưng hô “tôi – bà”thay vì “con – mẹ”, người đọc đã thấy được sự xa cách giữa Tâm và mẹ mình. Cách nói chuyện của anh cũng đầy khách sáo, không còn sự thân mật như những ngày còn ở quê. Khi mẹ hỏi thăm về sức khỏe, anh trả lời qua loa:  

“Như thường rồi.”

Tâm không quan tâm đến những chuyện ở làng. Những câu chuyện về người thân, về cuộc sống ở quê đối với anh chẳng có ý nghĩa gì:  

“Con bác Cả Sinh lấy vợ, hay chú bác ta chết thì có can hệ gì đến chàng?” 

Sự vô tâm của Tâm thể hiện rõ qua cách anh thờ ơ với tất cả những gì thuộc về quê hương. Đối với anh, quê nhà giờ đây chỉ là một nơi anh phải ghé qua vì nghĩa vụ, chứ không còn là chốn thân thương để trở về.  

Đỉnh điểm của sự vô tình là khi anh *từ chối ăn cơm cùng mẹ*. Trước lời khẩn khoản của bà cụ:  

“Cậu hãy ở đây ăn cơm đã. Đến chiều hãy ra.”Tâm vẫn lạnh lùng từ chối:  

“Thôi, bà để tôi về. Độ này bận công việc lắm.”

Sự vội vã, xa cách ấy đã đẩy người mẹ vào nỗi cô đơn cùng cực. Để xoa dịu cảm giác có lỗi, Tâm lấy tiền ra đưa cho mẹ, nhưng lại nói với thái độ *kiêu ngạo*, như thể tiền có thể bù đắp được những năm tháng xa cách:  

“Đúng hai chục, bà cầm lấy mà tiêu, có thiếu tôi lại gửi về cho.”

Hành động này không chỉ vô tâm mà còn thể hiện sự bề trên của Tâm, như thể anh đang ban phát cho mẹ mình. Bà cụ run run nhận lấy số tiền, nước mắt rưng rưng, nhưng Tâm **“làm như không thấy gì, vội vàng bước ra”**. Khoảnh khắc này khiến người đọc xót xa, bởi **tình mẫu tử thiêng liêng cuối cùng chỉ còn lại sự lạnh lùng, hờ hững .

Qua đoạn trích, Thạch Lam đã phản ánh một thực trạng đáng buồn trong xã hội: **những người con rời quê lên thành phố lập nghiệp rồi quên mất quê hương, quên cả tình thân**. Nhân vật Tâm là đại diện cho những người coi trọng vật chất hơn tình cảm, nghĩ rằng chỉ cần gửi tiền về là có thể thay thế sự quan tâm dành cho mẹ.  

Bên cạnh đó, truyện cũng ca ngợi **tình mẫu tử thiêng liêng**. Người mẹ trong câu chuyện chính là biểu tượng cho sự hy sinh, bao dung vô điều kiện. Dù con trai đã thay đổi, bà vẫn luôn yêu thương và chờ đợi.  

Tuy nhiên, qua sự thờ ơ của Tâm, truyện cũng mang một ý nghĩa cảnh tỉnh: **những người con nếu quá mải mê với cuộc sống riêng mà quên đi gia đình, quên đi những người yêu thương mình, thì đến một lúc nào đó, khi muốn quay về, có thể sẽ không còn cơ hội nữa**.  

Đoạn trích trong truyện ngắn *“Trở về”* không chỉ là một câu chuyện về sự xa cách giữa con cái và cha mẹ, mà còn là một lời nhắc nhở thấm thía về giá trị của tình cảm gia đình. Qua hình ảnh người mẹ già cô đơn và người con trai vô tâm, Thạch Lam đã làm nổi bật sự đối lập giữa tình mẫu tử thiêng liêng và sự vô tình của con người trước những giá trị ấy. Truyện khơi gợi trong lòng người đọc những cảm xúc lắng đọng, khiến ta phải suy nghĩ về tình cảm dành cho gia đình. **Bởi lẽ, có những thứ khi mất đi rồi, dù có bao nhiêu tiền bạc cũng không thể mua lại được.**

Câu 1 

bài thơ trên được viết theo thể thơ tự do

câu 2 Người lữ khách bộc lộ cảm xúc. Cuộc gặp gỡ giữa người lữ khách và mẹ già ven đồng chiêm.

câu 3

 

Biện pháp tu từ:

So sánh"hơi ấm hơn nhiều chăn đệm".

Nhân hóa"những cọng rơm xơ xác gầy gò".

Tác dụng:

Thể hiện sự ấm áp của tình người, dù hoàn cảnh nghèo khó nhưng lòng tốt và tình yêu thương vẫn lan tỏa.

Làm nổi bật vẻ đẹp giản dị nhưng quý giá của rơm, gắn bó với đời sống con người.

Câu 4“Ổ rơm” tượng trưng cho sự ấm áp của tình người, sự giản dị, mộc mạc và hơi ấm quê hương.

câu 5Cảm hứng chủ đạo của bài thơ là cảm hứng về tình người ấm áp giản dị trong hoàn cảnh khó khăn.

câu 6 Bài thơ "Hơi ấm ổ rơm" của Nguyễn Duy mang đến một cảm xúc sâu lắng về tình người trong gian khó. Hình ảnh ổ rơm tuy đơn sơ nhưng lại chan chứa sự ấm áp, thể hiện lòng tốt của người mẹ già đối với người lữ khách. Chỉ bằng những cọng rơm vàng, bà đã sưởi ấm người khách xa lạ, cũng như cách mà những người dân quê chất phác luôn mở lòng yêu thương. Qua đó, bài thơ ca ngợi sự nhân hậu, chân thành của những con người nghèo khổ nhưng giàu tình cảm. Đặc biệt, những câu thơ nhẹ nhàng mà sâu sắc làm hiện lên một bức tranh quê bình dị, thân thương. Đọc bài thơ, ta càng thêm trân trọng những điều nhỏ bé nhưng quý giá trong cuộc sống.

  • Bắt đầu chương trình: Khối lệnh số 1 để thiết lập bút vẽ và chọn màu.
  • Vẽ tam giác đầu tiên: Sử dụng các khối lệnh 2, 3, 4 để di chuyển và xoay tạo ra tam giác đều đầu tiên.
  • Vẽ tam giác thứ hai: Tiếp tục sử dụng các khối lệnh 5, 6 để tạo tam giác đều thứ hai ngay sau tam giác đầu tiên.
  • Kết thúc chương trình: Nhấc bút bằng khối lệnh 5 để kết thúc quá trình vẽ.
  • Giúp thông tin rõ ràng, dễ hiểu: Các ý chính được tách biệt và sắp xếp gọn gàng, giúp người đọc dễ dàng nắm bắt nội dung quan trọng.
  • Tăng tính trực quan: Danh sách Bullets giúp bài viết trông gọn gàng và khoa học hơn, tránh sự rối mắt khi có quá nhiều nội dung.
  • Tiết kiệm thời gian đọc: Người đọc có thể nhanh chóng lướt qua và hiểu ý chính mà không cần phải đọc từng câu dài dòng.
  • Nhấn mạnh nội dung quan trọng: Các ý được trình bày dưới dạng Bullets sẽ dễ thu hút sự chú ý hơn, giúp người đọc tập trung vào các điểm mấu chốt.

Độ tương phản thấp: Màu vàng và màu trắng đều là những màu sáng, khi kết hợp với nhau sẽ làm giảm độ tương phản, khiến chữ khó đọc.
 

Gây mỏi mắt: Người xem phải cố gắng để nhìn rõ nội dung, dễ gây mỏi mắt và khó chịu, đặc biệt khi trình chiếu trên màn hình lớn.

Ảnh hưởng đến khả năng tiếp nhận thông tin: Nếu người xem gặp khó khăn trong việc đọc chữ, họ sẽ mất tập trung và giảm khả năng tiếp thu nội dung bài trình bày.

Không phù hợp với mọi điều kiện ánh sáng: Trong môi trường sáng mạnh, chữ vàng trên nền trắng có thể bị "chìm" vào nền, khiến nội dung trở nên mờ nhạt hoặc gần như vô hình.