NGÔ LƯƠNG GIA HÂN

Giới thiệu về bản thân

Chào mừng bạn đến với trang cá nhân của NGÔ LƯƠNG GIA HÂN
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
(Thường được cập nhật sau 1 giờ!)

Câu 1:

Bài làm

Di tích lịch sử là một trong những tài sản quý giá, là nơi lưu giữ những giá trị lịch sử, văn hóa của dân tộc Việt Nam. Tuy nhiên, hiện nay nhiều di tích lịch sử đang bị xuống cấp do những tác động khách quan và chủ quan. Vì vậy, chúng ta cần đưa ra những giải pháp hợp lý và chung tay thực hiện để hạn chế sự xuống cấp của các di tích lịch sử, góp phần bảo tồn những giá trị quý báu của dân tộc. Vậy hạn chế sự xuống cấp của các di tích lịch sử là gì? Hạn chế sự xuống cấp của các di tích lịch sử là bảo vệ, tu bổ và giữ gìn để các di tích không bị hư hỏng hay mất đi giá trị vốn có. Hiện nay, nhiều di tích bị hư hỏng do thời gian và tác động của thời tiết. Ngoài ra, tình trạng xả rác, vẽ bậy hay phá hoại cảnh quan tại một số di tích vẫn diễn ra. Không chỉ vậy, một số di tích chưa được quan tâm tu bổ kịp thời, dẫn đến xuống cấp nghiêm trọng. Vậy nguyên nhân dẫn đến sự xuống cấp ấy là gì? Trước hết là do tác động của thời gian: một số di tích đã tồn tại lâu đời và phải chịu những ảnh hưởng khắc nghiệt của thời tiết, thiên tai. Không chỉ vậy, ý thức bảo vệ di tích của một bộ phận người còn hạn chế . Thêm vào đó là công tác quản lý, bảo tồn chưa hiệu quả và việc thiếu kinh phí, nguồn lực để tu bổ di tích. Điều này dẫn đến tình trạng nhiều di tích xuống cấp nghiêm trọng, làm mất đi các giá trị lịch sử, văn hóa quý báu. Đồng thời làm ảnh hưởng đến việc giáo dục truyền thống cho thế hệ trẻ. Không chỉ vậy, những nguyên nhân ấy còn gây tổn thất cho di sản văn hóa dân tộc và làm giảm giá trị du lịch, kinh tế của địa phương. Vậy chúng ta cần làm gì để hạn chế sự xuống cấp của các di tích lịch sử? Trước hết, mỗi cá nhân cần nâng cao ý thức bảo vệ di tích lịch sử, không xả rác, vẽ bậy hay có những hành vi làm ảnh hưởng và gây tổn thất cho di tích. Bên cạnh đó, nhà trường cần đẩy mạnh giáo dục về lịch sử và giá trị của các di tích lịch sử để học sinh hiểu, trân trọng và có ý thức bảo vệ di sản. Đồng thời, các cơ quan truyền thông và tổ chức xã hội cần đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động cộng đồng chung tay bảo vệ di sản. Đặc biệt, Nhà nước cần đầu tư kinh phí, thường xuyên tu bổ, tôn tạo các di tích xuống cấp và xử lý nghiêm các hành vi xâm hại di tích. Có thể thấy, việc hạn chế sự xuống cấp của các di tích lịch sử là một trong những vấn đề quan trọng và cần được quan tâm. Vì vậy, mỗi người trong chúng ta cần chung tay cùng cộng đồng bảo vệ, giữ gìn các di tích để góp phần bảo tồn những giá trị quý báu của dân tộc.

Câu 2:

Bài làm

Di tích lịch sử là một trong những tài sản quý giá, là nơi lưu giữ những giá trị lịch sử, văn hóa của dân tộc Việt Nam. Trong số những di tích lịch sử nổi tiếng ấy, Yên Tử là một địa danh mang vẻ đẹp vừa hùng vĩ, vừa linh thiêng. Để bày tỏ tình cảm yêu mến đối với Yên Tử, tác giả Hoàng Quang Thuận đã sáng tác bài thơ "Đường vào Yên Tử". Bài thơ không chỉ thể hiện tình cảm yêu mến, trân trọng của tác giả đối với yên tử mà còn khắc họa bức tranh thiên nhiên, thơ mộng cũng không gian tâm linh, thanh tịnh nơi đây.

Bài thơ "Đường vào Yên Tử" được in trong tập thơ "Thi vân Yên Tử", được tác giả Hoàng Quang Thuận sáng tác năm 1997 tại Thiền Viện Trúc Lâm Yên Tử, chùa Lân, khi ông hành hương về viếng Phật hoàng Trần Nhân Tông. Tác phẩm được viết theo thể thơ 7 chữ quen thuộc, sau sức biểu đạt. Nhan đề bài thơ trực tiếp ngắn gọn giúp làm nổi bật đối tượng được đề cập đến là Yên Tử, đồng thời thể hiện tình cảm của tác giả đối với nơi đây.

"Đường vào Yên Tử có khác xưa

Vẹt đá mòn chân lễ hội mùa

Trập trùng núi điếc cây xanh lá

Đàn bướm tung bay xong nắng trưa.

Cây rừng phủ núi thành từng lớp

Muôn vạn đài sen mây đong đưa

Trông như đám khói người Dao vậy

Thấp thoáng trời cao những mái chùa.

Trong bài thơ, tác giả đã sử dụng nhiều những từ ngữ trong sáng, giản dị, giàu sức gợi như"","núi điếc","xanh lá","tung bay","đong đưa","thấp thoáng",... giúp cảnh vật hiện lên sinh động, dòng màu sắc và sức sống. Bên cạnh đó, các hình ảnh thiên nhiên phong phú "núi biếc","cây xanh lá","đàn bướm","nắng trưa","cây rừng","núi","đài sen",... vừa gợi vẻ đẹp hùng vĩ, thơ mộng của Yên Tử, vừa làm nổi bật không gian thanh tịnh, linh thiêng của vùng đất Phật. Ngoài ra, để góp phần làm nên thành công của bài thơ, không thể thiếu các biện pháp tu từ. Trong bài thơ, tác giả đã sử dụng biện pháp so sánh "Muôn vạn đài sen mây đong đưa/ Trông như đám khói người Dao vậy". Thêm vào đó, tác giả còn sử dụng các từ láy "trập trùng","thấp thoáng" làm tăng giá trị gợi hình, gợi cảm cho bức tranh thiên nhiên. Qua đó, tác giả đã khắc họa thành công vẻ đẹp thiên nhiên thơ mộng và không gian tâm linh linh thiêng của Yên Tử, đồng thời thể hiện niềm tự hào và sự yêu mến của tác giả đối với vùng đất nơi đây.

Bên cạnh giá trị nội dung đặc sắc, bài thơ còn để lại ấn tượng bởi những biện pháp nghệ thuật độc đáo. Bài thơ được viết theo thể thơ bảy chữ, có nhịp thơ linh hoạt, hài hòa và cách gieo vần tự nhiên, chúc lời thơ có tính nhạc và dễ đi vào lòng người. Ngôn ngữ, hình ảnh trong thơ tự nhiên, gần gũi và giàu sức gợi đã tô đậm thêm cho bức tranh thiên nhiên của Yên Tử. Ngoài ra, trong bài thơ còn sử dụng biện pháp tu từ so sánh đặc sắc "Muôn vạn đài sen mây đong đưa/ Trông như đám khói người ra vậy" giúp cho hình ảnh thêm gần gũi và thân thuộc. Tất cả những giá trị nghệ thuật ấy đã góp phần tạo nên bài thơ và phần nào khẳng định được giá trị và vẻ đẹp của Yên Tử.

Cùng viết về đề tài ấy, tác giả quản Minh Cường đã góp nhặt một hạt giống vào khu vườn văn học với tác phẩm "Linh thiêng Yên Tử":

"Yên Tử mây trời suốt ngàn năm

Chuông thiền lay thức cõi mê oan

Núi cao lặng lẽ ngày qua tháng

Cúi đầu học chữ:"Nhẫn, từ, an.""

Nếu bài thơ "Linh thiêng Yên Tử" của quán Minh Cường thiên về cảm hứng triết lý và ca ngợi những giá trị Phật giáo, thì với "Đường vào Yên Tử", tác giả Hoàng Quang Thuận không chỉ bày tỏ tình cảm yêu mến với yên tử mà còn ca ngợi vẻ đẹp thơ mộng và huyền ảo của vùng đất linh thiêng nơi đây. Nhưng qua cả hai tác phẩm, ta đều cảm nhận được giá trị, vẻ đẹp của Yên Tử và tình cảm yêu mến của các tác giả dành cho vùng đất nơi đây, đồng thời nhận thức được trách nhiệm trong việc giữ gìn, bảo tồn và phát huy giá trị của Yên Tử nói riêng với các di tích lịch sử nói chung.

Bài thơ "Đường vào Yên Tử" của tác giả Hoàng Quang Thuận khép lại nhưng dư âm của nó vẫn còn đọng lại mãi trong lòng người đọc. Bằng những hình ảnh, ngôn ngữ giản dị, giàu sức gợi cùng biện pháp tu từ đặc sắc và độc đáo, tác giả đã thành công xây dựng nội dung về vẻ đẹp thơ mộng, huyền bí của Yên Tử cũng như tình cảm của tác giả dành cho vùng đất nơi đây. Qua đó, giúp em thêm quý mến, trân trọng cũng như có ý thức trong việc giữ gìn, phát huy giá trị của Yên Tử và các di tích lịch sử.

Câu 1:

Bài làm

Tiếng Việt là tài sản vô giá, là linh hồn và bản sắc văn hóa của dân tộc Việt Nam. Trong thời đại hội nhập hiện nay, việc giữ gìn sự trong sáng của ngôn ngữ dân tộc là vấn đề có ý nghĩa quan trọng và cần được mỗi người quan tâm. Vậy giữ gìn sự trong sáng của ngôn ngữ dân tộc nghĩa là gì? Giữ gìn sự trong sáng của ngôn ngữ dân tộc là sử dụng tiếng Việt đúng chuẩn mực về phát âm, từ ngữ, ngữ pháp, và giữ gìn vẻ đẹp, bản sắc của tiếng Việt. Trong cuộc sống, giữ gìn sự trong sáng của ngôn ngữ dân tộc được thể hiện qua việc nói và viết đúng chính tả, đúng ngữ pháp, phù hợp với hoàn cảnh giao tiếp. Không chỉ vậy, việc giữ gìn sự trong sáng của ngôn ngữ dân tộc còn được thể hiện qua việc ta biết trân trọng, yêu quý và có ý thức bảo vệ tiếng Việt. Ngoài ra, nó còn được thể hiện qua việc hạn chế lạm dụng từ ngữ nước ngoài, tiếng nóng hay ngôn ngữ thiếu chuẩn mực. Vậy tại sao cần giữ gìn sự trong sáng của ngôn ngữ dân tộc? Giữ gìn sự trong sáng của ngôn ngữ dân tộc góp phần giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, đồng thời làm giàu và phát huy vẻ đẹp của tiếng Việt . Qua đó cũng thể hiện lòng yêu nước và niềm tự hào dân tộc. Ngoài ra, việc làm ấy cũng giúp cho việc giao tiếp hiệu quả hơn và giúp giữ gìn sự trong sáng của đời sống văn hóa. Để góp phần lan tỏa tình yêu tiếng Việt và ý thức giữ gìn tiếng mẹ đẻ, Nhà nước đã chọn ngày 8/ 9 hàng năm là ngày Tôn vinh tiếng Việt trong cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài. Bên cạnh những người có ý thức giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt, vẫn còn một bộ phận người sử dụng ngôn ngữ thiếu chuẩn mực, sử dụng tiếng Việt một cách cẩu thả hay việc thờ ơ, xem nhẹ giá trị của tiếng Việt . Chúng ta cần lên án phê phán gay gắt những con người đó để xã hội trở nên tốt đẹp hơn. Qua đó, chúng ta cũng hiểu được giá trị to lớn của tiếng Việt đối với dân tộc, đồng thời nhận thức được rằng việc giữ gìn sự trong sáng của Tiếng Việt là trách nhiệm của mỗi người. Vì vậy, mỗi người cần rèn luyện cách nói và viết đúng tiếng Việt, sử dụng ngôn ngữ văn minh trên mạng xã hội và trong giao tiếp hàng ngày, đồng thời thường xuyên đọc sách, báo, mở rộng vốn từ để góp phần giữ gìn phát huy vẻ đẹp của tiếng Việt. Có thể thấy, giữ gìn sự trong sáng của ngôn ngữ dân tộc là một vấn đề rất quan trọng và mỗi người trong chúng ta cần thể hiện sự giữ gìn ấy bằng những việc làm cụ thể và thiết thực để góp phần bảo tồn và phát huy tiếng Việt cũng như bản sắc văn hóa của dân tộc.

Câu 2:

Bài làm

Trong dòng chảy lịch sử dân tộc, tiếng Việt luôn là một niềm tự hào, là linh hồn và bản sắc văn hóa của dân tộc Việt Nam. Để bày tỏ tình yêu tha thiết đối với tiếng mẹ đẻ, PGS.TS Phạm Văn Tình đã sáng tác bài thơ "Tiếng Việt của chúng mình trẻ lại trước mùa xuân". Bài thơ không chỉ thể hiện vẻ đẹp và sức sống bền bỉ của tiếng Việt mà còn gửi gắm niềm tự hào cùng tình yêu sâu nặng của tiếng Việt đối với ngôn ngữ dân tộc.

Bài thơ "Tiếng Việt của chúng mình trẻ lại trước mùa xuân" được thầy Tình sáng tác nhân dịp tham dự tọa đàm "Tiếng Việt ân tình" chào mừng ngày Tôn vinh Tiếng Việt 8/9/2024. Tác phẩm được viết theo thể thơ tự do giản dị, giàu cảm xúc. Nhan đề bài thơ ngắn gọn, trực tiếp giúp làm nổi bật đối tượng được đề cập đến là tiếng Việt, đồng thời thể hiện tình yêu của tác giả đối với ngôn ngữ dân tộc. Bài thơ có thể được chia thành ba phần.

Trước hết, khổ thơ một đã thể hiện nguồn cội lâu đời và sự gắn bó của tiếng Việt với dân tộc qua dòng chảy lịch sử.

"Tiếng Việt của chúng mình có từ thời xa lắm

Thuở mang gươm mở cõi dựng thành

Vó ngựa hãm Cổ Loa mũi tên thần bắn trả

Vẽ nên hồn Lạc Việt giữa trời xanh.

Bao thế hệ đam mê sống lại thời chiến trận

Bài Hịch năm nào hơn mười vạn tinh binh

Cả dân tộc thương nàng Kiều rơi lệ

Lời Bác truyền gọi ta biết sống vượt lên mình."

Mở đầu khổ thơ là cụm từ chỉ thời gian "từ thời xa lắm" cùng với các hình ảnh "mang gươm mở cõi dựng thành", "vó ngựa hãm Cổ Loa, mũi tên thần bắn trả" giản dị mà giàu sức gợi, đã góp phần khẳng định bề dày sức sống của tiếng Việt qua thời gian. Bên cạnh đó, tác giả còn sử dụng biện pháp tu từ liệt kê với các hình ảnh "Bài Hịch", "nàng Kiều", "lời Bác" đã phần nào làm nổi bật giá trị văn học, văn hóa hay tư tưởng trong tiếng Việt. Các từ ngữ trong thơ được tác giả chọn lọc tinh tế, giàu sức gợi giúp cho khổ thơ thêm sâu lắng và giàu cảm xúc. Qua đó, ta thấy được bề dày lịch sử và sức sống bền bỉ của tiếng Việt đối với dân tộc. Đồng thời, tác giả cũng bày tỏ niềm tự hào, sự trân trọng và ngợi ca những giá trị lịch sử, văn hóa của dân tộc được lưu giữ trong tiếng Việt.

Tiếp nối mạch cảm xúc ấy, ở khổ thơ hai, tác giả đã thể hiện sự gắn bó, gần gũi của tiếng Việt với đời sống hàng ngày.

"Tiếng Việt ngàn năm trong ta là tiếng mẹ

Là tiếng em thơ bập bẹ hát theo bà

Xốn sang lời ru tình cờ qua xóm nhỏ

Ơi tiếng Việt mãi nồng nàn trong câu hát Dân ca!

Anh lại cùng em bước vào thiên niên kỷ

Bỗng gặp lại quê hương qua lời chúc mặn mà

Lời chúc sớm mai, ngày mồng một Tết

Qua tấm thiếp gửi thăm thầy, thăm mẹ, thăm cha."

Trong khổ thơ hai, điệp ngữ "tiếng Việt" được lặp lại hai lần, nhằm nhấn mạnh vai trò, sự hiện diện của tiếng Việt trong đời sống. Đồng thời, biện pháp tu từ liệt kê "là tiếng mẹ"," là tiếng em thơ bập bẹ hát theo bà"," lời ru"," câu hát dân ca" hay "lời chúc" tiếp tục được sử dụng đã làm nổi bật sự gần gũi của tiếng Việt với đời sống hàng ngày. Không chỉ vậy, tác giả còn sử dụng biện pháp tu từ điệp ngữ "thăm" được lặp lại ba lần trong câu thơ "Qua tấm thiếp gửi thăm thầy, thăm mẹ, thăm cha" đã càng khẳng định sự gắn bó sâu sắc của tiếng Việt với con người. Ngoài ra, hình ảnh và từ ngữ trong thơ gần gũi, giản dị, giàu sức gợi đã làm nổi bật sự thân thuộc giữa tiếng Việt với đời sống. Gần cuối khổ thơ, tác giả còn sử dụng cụm từ chỉ thời gian "ngày mồng một Tết" cho thấy tiếng Việt còn được sử dụng trong các dịp lễ quan trọng và đặc biệt của đất nước. Qua đó, khổ thơ muốn làm nổi bật lên sự gần gũi, thân thuộc của tiếng Việt với con người, với đời sống sinh hoạt hàng ngày, là tiếng mẹ, lời ru, là tiếng em thơ bập bẹ hát theo bà, là câu hát dân ca hay lời chúc tốt lành mà mỗi người dành cho người thân. Không chỉ vậy, qua khổ thơ, tác giả còn thể hiện sự yêu mến, nâng niu và gắn bó sâu sắc với tiếng mẹ đẻ.

Từ vẻ đẹp gần gũi, thân thuộc ấy, ở khổ thơ thứ ba, tác giả tiếp tục khẳng định sức sống trẻ trung và sự phát triển không ngừng của tiếng Việt trong cuộc sống hôm nay.

"Tiếng Việt ngàn đời hôm nay như trẻ lại

Bánh chưng xanh, xanh đến tận bây giờ

Bóng chim Lạc bay ngang trời, thả hạt vào lịch sử

Nảy lộc đâm chồi, thức dậy những vần thơ."

Trong khổ thơ thứ ba, tác giả đã sử dụng một số cụm từ chỉ thời gian "hôm nay","ngàn đời","đến tận bây giờ","lịch sử" đã cho thấy sức sống bền bỉ của tiếng Việt qua năm tháng. Không chỉ vậy, ở khổ thơ này, tiếng Việt còn được tác giả nhân hóa "trẻ lại", qua đó càng khẳng định được sự trẻ trung của tiếng Việt. Đồng thời, hình ảnh "bóng chim Lạc" cũng được tác giả nhân hóa khi "thả hạt vào lịch sử". Thêm vào đó là biện pháp tu từ đảo ngữ và cả nhân hóa trong câu thơ cuối, được thể hiện qua hình ảnh "thức dậy những vần thơ" cho thấy sự phát triển của tiếng Việt trong ngôn ngữ, văn học. Từ ngữ và hình ảnh trong khổ thơ đều gần gũi và giàu sức gợi. Qua đó làm nổi bật sức sống trẻ trung, mãnh liệt và khả năng phát triển không ngừng của tiếng Việt. Không chỉ vậy, tác giả còn muốn khẳng định rằng tiếng Việt luôn được kế thừa, làm giàu và đổi mới qua thời gian. Đồng thời, tác giả còn gửi gắm niềm tin, sự lạc quan và kỳ vọng vào tương lai của tiếng Việt.

Không chỉ thành công về nội dung, bài thơ còn để lại ấn tượng bởi những nét nghệ thuật đặc sắc. Bài thơ được viết theo thể thơ tự do nên có nhịp và cách gieo vần linh hoạt, hài hòa. Ngôn ngữ, hình ảnh trong thơ mộc mạc, giản dị, tự nhiên mà sâu lắng. Ngoài ra, tác giả còn thành công sử dụng các biện pháp tu từ đặc sắc và độc đáo. Một trong số đó có thể kể đến biện pháp tu từ điệp ngữ "tiếng Việt" được lặp lại bốn lần, nhằm nhấn mạnh và khẳng định vai trò, sự hiện diện của tiếng Việt. Không chỉ vậy, tác giả còn sử dụng biện pháp liệt kê trong bài thơ với các hình ảnh "mang gươm ở cõi dựng thành","vó ngựa hãm Cổ Loa, mũi tên thần bắn trả","Bài Hịch","nàng Kiều"," lời Bác",... Biện pháp tu từ ấy đã làm nổi bật các giá trị văn hóa, văn học hay tư tưởng trong tiếng Việt và nguồn cội lâu đời của ngôn ngữ dân tộc. Thêm vào sự thành công ấy là một số biện pháp tu từ như nhân hóa hay đảo ngữ trong khổ thơ cuối: "Tiếng Việt ngàn đời hôm nay như trẻ lại/ Bánh chưng xanh, xanh đến tận bây giờ/ Bóng chim Lạc bay ngang trời, thả hạt vào lịch sử /Nảy lộc đâm chồi, thức dậy những vần thơ" đã giúp đoạn thơ giàu sức gợi, giàu sức biểu cảm. Tất cả những giá trị nghệ thuật ấy đã góp phần tạo nên bài thơ và phần nào khẳng định được thêm những giá trị của tiếng Việt.

Cùng viết về đề tài ấy, tác giả Lưu Quang Vũ cũng đã góp nhặt một hạt giống vào khu vườn văn học với tác phẩm "Tiếng Việt".

"...

Ôi tiếng Việt suốt đời tôi mắc nợ

Quên nỗi mình quên áo mặc cơm ăn

Trời xanh quá môi tôi hồi hộp quá

Tiếng Việt ơi tiếng Việt xót xa tình."

Nếu bài thơ "Tiếng Việt" của Lưu Quang Vũ chủ yếu thiên về cảm xúc và tình yêu sâu sắc đối với tiếng Việt, thì với "Tiếng Việt của chúng mình trẻ lại trước mùa xuân", PGS.TS Phạm Văn tình không chỉ bày tỏ tình yêu tiếng Việt mà còn khắc họa hành trình phát triển của tiếng Việt từ khóa cứ đến hiện tại và hướng tới tương lai. Nhưng qua cả hai tác phẩm, ta đều cảm nhận được giá trị to lớn của tiếng Việt và tình yêu tha thiết của các tác giả dành cho tiếng mẹ đẻ, đồng thời nhận thức được trách nhiệm gìn giữ trân trọng và phát huy vẻ đẹp tiếng Việt của bản thân.

Bài thơ "Tiếng Việt của chúng mình trẻ lại chúc mùa xuân" của PGS.TS soạn văn tình khép lại nhưng giữ ấm của nó vẫn còn đọng lại mãi trong lòng người đọc. Bằng những hình ảnh, ngôn ngữ giản dị, giàu sức gợi cùng với các biện pháp tu từ đặc sắc và độc đáo, tác giả đã thành công xây dựng nội dung của bài thơ nói về giá trị to lớn và sức sống bền bỉ của tiếng Việt. Qua đó giúp em thêm yêu trân trọng và có ý thức giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt.

Câu 1:

- Văn bản trên thuộc thể loại văn bản nghị luận.

Câu 2:

- Vấn đề được đề cập đến trong văn bản là việc cần giữ gìn, đề cao tiếng Việt.

Câu 3:

- Lí lẽ:

- Dẫn chứng:

+"Ai cũng biết Hàn Quốc phát triển kinh tế khá nhanh, vào loại “con rồng nhỏ”, có quan hệ chặt chẽ với các nước phương Tây, một nền kinh tế thị trường nhộn nhịp, có quan hệ quốc tế rộng rãi."

+" Khắp nơi đều có quảng cáo nhưng không bao giờ quảng cáo thương mại được đặt ở những công sở, hội trường lớn, danh lam thắng cảnh."

+" Chữ nước ngoài, chủ yếu là tiếng Anh, nếu có thì viết nhỏ, đặt dưới chữ Hàn Quốc to hơn phía trên."

+" Đi đâu, nhìn đâu cũng thấy nổi bật những bảng hiệu chữ Hàn Quốc."

+" Trong khi đó thì ở một vài thành phố của ta, nhìn vào đâu cũng thấy tiếng Anh, có bảng hiệu của các cơ sở của ta hẳn hoi mà chữ nước ngoài phải lớn hơn cả chữ Việt, có lúc ngỡ ngàng tưởng như mình lạc sang một nước khác."

+" Rồi báo chí ở Hàn Quốc khá nhiều. Tôi không biết chữ Hàn Quốc nhưng cũng xem qua khá nhiều tờ báo."

+" Có một số tờ báo, tạp chí, số báo xuất bản bằng tiếng nước ngoài, in rất đẹp."

+" Những các tờ báo phát hành ở trong nước đều không có mấy trang cuối viết bằng tiếng nước ngoài, trừ một số tạp chí khoa học, ngoại thương có in ở trang cuối mục lục bằng tiếng nước ngoài để người đọc nước ngoài nhờ dịch những bài cần đọc."

+" Trong khi đó, ở ta, khá nhiều báo, kể cả một số tờ báo của các ngành của nhà nước ta, có cái “mốt” là tóm tắt một số bài chính bằng tiếng nước ngoài ở trang cuối, xem ra để cho “oai”, trong khi đó, người đọc trong nước lại bị thiệt mất mấy trang thông tin.

Câu 4:

- Thông tin khách quan: " Ai cũng biết Hàn Quốc phát triển kinh tế khá nhanh, vào loại"con rồng nhỏ ", có quan hệ chặt chẽ với các nước phương Tây , một nền kinh tế thị trường nhộn nhịp , có quan hệ quốc tế rộng rãi."

- Ý kiến chủ quan:" Phải chăng, đó cũng là thái độ tự trọng của một quốc gia khi mở cửa với bên ngoài, mà ta nên suy ngẫm."

Câu 5:

- Tác giả sử dụng phương pháp lập luận so sánh, đối chiếu thực trạng sử dụng chữ viết ở Hàn Quốc và Việt Nam, kết hợp với các bằng chứng, lý lẽ xác đáng và cụ thể. Cách lập luận ấy giúp tăng sức thuyết phục cho văn bản, và làm nổi bật được nội dung của văn bản là cần giữ gìn, đề cao tiếng Việt.

Câu 1:

- Văn bản trên thuộc kiểu văn bản thông tin.

Câu 2:

- Đối tượng thông tin được đề cập đến trong văn bản là Đô thị cổ Hội An.

Câu 3:

- Cách trình bày thông tin trong câu văn được sắp xếp theo trật tự thời gian.

Tác dụng: Giúp người đọc nắm bắt thông tin một cách nhanh chóng, dễ dàng về sự phát triển thăng trầm của Thương cảng Hội An qua từng giai đoạn.

Câu 4:

- Phương tiện phi ngôn ngữ trong văn bản là Ảnh: Phố cổ Hội An.

-Tác dụng của phương tiện phi ngôn ngữ trong việc biểu đạt thông tin: Giúp cụ thể và trực quan hoá vấn đề mà tác giả đang đề cập đến. Từ đó, thông tin đến với người đọc một cách dễ hiểu. Ngoài ra, phương tiện phi ngôn ngữ còn có tác dụng làm bằng chứng cho những thông tin mà tác giả cung cấp trong văn bản cũng như giúp cho văn bản trở nên thẩm mĩ và thu hút người đọc.

Câu 5:

- Mục đích của văn bản là cung cấp và mở rộng thêm thông tin cho người đọc về Đô thị cổ Hội An.

Nội dung của văn bản là giới thiệu, cung cấp cho người đọc những thông tin tin cậy về Đô thị cổ Hội An.