LÊ THỊ THÙY LINH
Giới thiệu về bản thân
Bài tản văn "Người ngồi đợi trước hiên nhà" của tác giả Huỳnh Như Phương là một câu chuyện đầy xúc động về tình yêu và sự thủy chung. Trong đó, nhân vật dì Bảy hiện lên như một biểu tượng của sự hy sinh thầm lặng, một tượng đài về lòng kiên trinh của người phụ nữ Việt Nam trong thời hậu chiến.
Dì Bảy và dượng Bảy cưới nhau vỏn vẹn mới được một tháng thì dượng phải lên đường ra Bắc tập kết. Khoảng thời gian hạnh phúc ngắn ngủi ấy chỉ đủ để lại trong lòng người phụ nữ trẻ những kỷ niệm mong manh nhưng lại là sợi dây gắn kết cả một đời người.
Điều khiến em xúc động nhất chính là hoàn cảnh trớ trêu của dì: cưới nhau rồi xa nhau, không một tin tức, không một lời hứa hẹn ngày về chính xác. Thế nhưng, dì vẫn chọn cách ở lại, thay dượng chăm sóc mẹ già, gánh vác việc nhà chồng với tất cả sự tận tụy của một người con dâu hiền thảo.
Sự hy sinh của dì Bảy không phải là những hành động lớn lao, ồn ào mà nó nằm ở sự kiên trì đến đáng sợ. Suốt hai mươi năm dượng đi chiến đấu, cũng là chừng ấy năm dì ngồi đợi trước hiên nhà.
- Đợi chờ trong vô vọng: Dì chờ đợi từ khi tóc còn xanh cho đến khi đầu bạc. Mỗi khi có ai từ chiến trường về, dì lại hỏi thăm tin tức của dượng, để rồi lại nhận về những cái lắc đầu.
- Lời từ chối những cơ hội mới: Khi còn trẻ, có những người ngỏ ý muốn chăm sóc, đưa vai cho dì tựa vào, nhưng dì đều từ chối. Dì chọn cách cô đơn để giữ trọn lời thề nguyền với người chồng phương xa. Đó là một sự hy sinh tự nguyện, xuất phát từ một tâm hồn thánh thiện và một tình yêu son sắt.
Đọc đến đoạn cuối của bài tản văn, em không cầm được nước mắt khi biết tin dượng Bảy đã hy sinh ngay trước ngày hòa bình. Ngày đất nước trọn niềm vui cũng là ngày hy vọng cuối cùng của dì tan biến.
Nhưng đau đớn thay, ngay cả khi biết dượng không bao giờ trở về nữa, dì Bảy vẫn tiếp tục "ngồi đợi". Dì ngồi đó không phải để đợi một người bằng xương bằng thịt, mà là để canh giữ những kỷ niệm, để tâm hồn mình luôn được ở bên cạnh người chồng quá cố. Hình ảnh dì ngồi trước hiên nhà trong bóng hoàng hôn là một hình ảnh đẹp nhưng buồn đến nao lòng.
Nhân vật dì Bảy đã cho em hiểu thêm về cái giá của hòa bình. Đằng sau những trang sử hào hùng của dân tộc là nỗi đau xé lòng của những người phụ nữ ở hậu phương. Sự hy sinh của dì không chỉ là hy sinh tuổi trẻ, hạnh phúc cá nhân mà còn là sự hy sinh thầm lặng, bền bỉ mà không cần một tấm huy chương nào ghi nhận.
Qua bài văn, em càng thêm trân trọng những người phụ nữ Việt Nam – những người đã sống "như ngọn lửa không bao giờ tắt", âm thầm tỏa sáng và sưởi ấm cho gia đình và đất nước bằng tình yêu và sự thủy chung đức độ.
Cô Nhung không có vẻ ngoài lộng lẫy, nhưng ở cô toát ra một sự gần gũi lạ kỳ. Năm nay cô khoảng gần bốn mươi tuổi. Dáng người cô mảnh khảnh, thường xuất hiện trong những bộ áo dài nhã nhặn mỗi khi lên lớp.
Điểm khiến em nhớ nhất chính là đôi mắt. Đôi mắt cô hiền từ, đen láy và dường như có thể "đọc" được tâm tư của chúng em. Mỗi khi chúng em đạt điểm cao, đôi mắt ấy nheo lại lấp lánh niềm vui. Ngược lại, khi cả lớp xao nhãng học tập, ánh mắt cô lại đượm vẻ buồn rầu, khiến chúng em cảm thấy hối lỗi mà tự nhủ phải cố gắng hơn.
Cô dạy môn Ngữ văn – môn học mà trước đây em từng cảm thấy rất khô khan. Thế nhưng, qua giọng đọc truyền cảm, lúc trầm lúc bổng của cô, những bài thơ, bài văn như sống dậy. Cô không chỉ dạy chúng em kiến thức trong sách vở mà còn dạy cách làm người, cách yêu thương và chia sẻ với những người xung quanh.
Em vẫn nhớ như in một lần em bị ốm, phải nghỉ học nhiều ngày. Cô đã gọi điện hỏi thăm và dành thời gian sau giờ dạy để giảng lại bài cho em. Bàn tay cô gầy gầy, ấm áp đặt lên vai em như tiếp thêm động lực. Lúc đó, em cảm thấy cô không còn là một giáo viên đứng trên bục giảng nữa, mà giống như một người mẹ hiền đang chăm chút cho đứa con nhỏ của mình.
Dưới sự dìu dắt của cô, lớp chúng em từ một tập thể nghịch ngợm đã trở nên đoàn kết và gắn bó hơn. Cô không bao giờ dùng những lời lẽ nặng nề để trách phạt. Thay vào đó, cô luôn lắng nghe, thấu hiểu và dùng sự chân thành để cảm hóa chúng em. Cô thường bảo:
Câu nói ấy đã trở thành kim chỉ nam cho em trong suốt những năm tháng học trò.
ồ Chí Minh – hai tiếng gọi thân thương ấy từ lâu đã trở thành nhịp đập trong trái tim mỗi người con đất Việt. Người không chỉ là vị lãnh tụ thiên tài, người cha già kính yêu của dân tộc, mà còn là biểu tượng rực rỡ nhất cho khát vọng tự do và lòng yêu nước nồng nàn. Trong cuộc đời đầy rẫy những hy sinh của Người, có một dấu mốc lịch sử luôn khiến lòng ta trào dâng niềm xúc động nghẹn ngào: đó là khoảnh khắc Người rời bến Nhà Rồng, ra đi tìm đường cứu nước.
Người thanh niên với trái tim đầy trăn trở
Lật lại những trang sử vàng, ta ngược dòng thời gian trở về năm 1911. Khi ấy, đất nước ta đang chìm trong đêm trường nô lệ, lầm than dưới gót giày viễn chinh của thực dân Pháp. Chứng kiến cảnh đồng bào bị áp bức, các cuộc khởi nghĩa của cha ông đều lần lượt thất bại, người thanh niên Nguyễn Tất Thành đã mang trong mình một nỗi đau đáu khôn nguôi.
Người không chọn con đường đi sang Nhật như cụ Phan Bội Châu, cũng chẳng chọn cách cải cách ôn hòa như cụ Phan Châu Trinh. Với nhãn quan chính trị sắc bén và lòng can đảm phi thường, Người quyết định đi sang phương Tây – nơi khởi nguồn của kẻ thù – để tìm hiểu xem họ làm thế nào, rồi trở về giúp đồng bào mình.
Chuyến hành trình vạn dặm từ đôi bàn tay trắng
Hình ảnh anh Ba – người thanh niên mảnh khảnh với đôi mắt sáng ngời – đứng trên boong tàu Amiral Latouche-Tréville vào ngày 5 tháng 6 năm 1911 mãi là một biểu tượng bất tử. Thật xúc động biết bao khi nghĩ về hành trang của Người lúc bấy giờ. Không tiền bạc, không người thân thích, Người ra đi chỉ với "hai bàn tay trắng" và một ý chí sắt đá:
"Tôi muốn đi ra ngoài, xem nước Pháp và các nước khác. Sau khi xem xét họ làm như thế nào, tôi sẽ trở về giúp đồng bào chúng ta."
Chỉ với một công việc phụ bếp vất vả trên tàu, Người đã dấn thân vào đại dương mênh mông, đối mặt với bão táp và những ngày đông giá rét ở xứ người. Đọc những vần thơ của Chế Lan Viên trong bài "Người đi tìm hình của Nước", ta không khỏi xót xa:
"Đêm xa nước đầu tiên, ai nỡ ngủ Sóng dưới thân tàu đâu phải sóng quê hương Trời từ đây chẳng xanh màu xứ sở Xa nước rồi, càng hiểu nỗi đau thương."