TRỊNH XUÂN PHÚC
Giới thiệu về bản thân
Câu 1.
a. Xác định được yêu cầu về hình thức, dung lượng của đoạn văn (0,25 điểm):
− Xác định đúng yêu cầu về hình thức và dung lượng (khoảng 150 chữ) của đoạn văn.
− Học sinh có thể trình bày đoạn văn theo cách diễn dịch, quy nạp, tổng − phân − hợp, móc xích hoặc song hành.
b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận (0,25 điểm): Nêu cảm nhận về bài thơ "Chợ quê" của Nguyễn Đức Mậu.
c. Đề xuất được hệ thống ý phù hợp để làm rõ vấn đề nghị luận (1,5 điểm):
Gợi ý:
− Bức tranh chợ quê bình dị, thân thương:
+ Chợ họp bên bờ đê với các mặt hàng quen thuộc như "rau dưa", "lá trầu", "chuối chín cây", "thúng khoai đầy",... gợi không khí mộc mạc, gần gũi, bình yên và đậm chất thôn quê.
+ Những người dân lam lũ "nắng thì đội nón, mưa về áo mưa" vẫn kiên trì mưu sinh.
→ Cảm nhận được hơi thở của cuộc sống nông thôn: Mộc mạc mà ấm áp, bình dị mà đáng quý; cảm phục sự cần cù, chịu thương chịu khó của người dân quê; chợ quê dù nghèo nhưng thấm đượm tình người và sức sống bền bỉ.
− Hình ảnh người dân làng quê cần cù, chịu thương chịu khó:
+ Hình ảnh mẹ giá "áo vá chắt bòn từng xu" thể hiện sự lam lũ, vất vả, nhọc nhằn mà đáng quý của người nông dân.
+ Tiếng hát ru não lòng của bác xẩm mù như tiếng thương cảm cho những kiếp người nghèo khổ.
→ Xót xa và trân trọng trước những phận đời nhỏ bé, dù nghèo vẫn giữ gìn nhân cách và nghị lực sống.
=> Bài thơ thể hiện tình yêu thương sâu sắc của nhà thơ đối với quê hương và những con người lao động chân chất. Bài thơ để lại trong lòng người đọc cảm giác tự hào về vẻ đẹp giản dị mà giàu tình người của làng quê Việt Nam, yêu quý và trân trọng giá trị của cuộc sống bình dị.
Câu 2.
a. Xác định được kiểu bài (0,25 điểm):
Xác định đúng kiểu bài: Bài văn tự sự.
b. Xác định được yêu cầu của kiểu bài (0,25 điểm):
Xác định đúng yêu cầu của đề: Kể lại một kỉ niệm sâu sắc của em với những người thân trong gia đình.
c. Đề xuất được hệ thống ý phù hợp để triển khai bài viết (3,5 điểm):
– Xác định được các ý chính của bài viết.
– Sắp xếp được các ý hợp lí theo bố cục 3 phần của bài văn tự sự:
* Mở bài:
– Giới thiệu về kỉ niệm em định kể.
– Nêu khái quát ấn tượng và cảm xúc của em về kỉ niệm đó.
* Thân bài: Kể lại chi tiết, cụ thể về kỉ niệm đó bằng cách làm rõ những nội dung sau:
– Nêu địa điểm và thời gian xảy ra câu chuyện, các nhân vật liên quan.
– Kể lại chi tiết, cụ thể diễn biến câu chuyện.
– Nêu ấn tượng, cảm xúc và suy nghĩ của em về kỉ niệm đó.
* Kết bài:
– Nêu cảm nghĩ và bài học của em về kỉ niệm đó.
– Nói lên mong muốn của bản thân từ kỉ niệm ấy.
Câu 1.
Văn bản được kể theo ngôi thứ nhất, người kể xưng "tôi" kể lại câu chuyện của mình.
Câu 2.
Trước khi vào học Trường Yên Phụ, nhân vật "tôi" được cha dạy chữ Nho rồi chữ Quốc ngữ tại nhà cùng với vài đứa em họ và con một người bạn của mẹ. Sau đó, cha nhờ một thầy kí có bằng Tiểu học Pháp Việt dạy vần Tây cho.
Câu 3.
− Bài Tựa của cuốn "Thế hệ ngày mai" ghi chép lại buổi học đầu tiên của tác giả và buổi học đầu tiên của con tác giả (ngoài hai chục năm sau).
− Từ chi tiết "hai thế hệ một tấm lòng, một tinh thần", tác giả muốn khẳng định truyền thống tốt đẹp của gia đình Việt Nam:
+ Tình yêu thương, sự quan tâm, săn sóc chu đáo hết lòng của cha mẹ dành cho con cái.
+ Tinh thần hiếu học, trách nhiệm của cha mẹ với con cái trong việc học tập được gìn giữ và tiếp nối qua nhiều thế hệ.
Câu 4.
Nhân vật người cha hiện lên với những phẩm chất đáng quý:
− Tầm nhìn xa trông rộng, coi trọng việc học:
+ Dạy con chữ Nho, chữ Quốc ngữ.
+ Nhờ thầy dạy vần Tây cho con.
+ Xin cho con vào học lớp dự bị của Trường Yên Phụ.
− Yêu thương, quan tâm con cái một cách tận tâm, chu đáo và tỉ mỉ:
+ Người cha dậy sớm, chuẩn bị đầy đủ sách vở, bút mực vào cặp da cho con trong buổi học đầu tiên.
+ Người cha thuê xe kéo đưa con đến trường, dắt đến chào thầy, gửi gắm con cho thầy giáo.
+ Người cha không ngại vất vả, buổi đầu đi học cả sáng lẫn chiều đều đón đưa con.
− Sâu sắc, tinh tế và vô cùng khéo léo: Nhờ người để đi chung với con để con có thêm bạn học và học dần được tính tự lập.
Câu 5.
Học sinh trình bày suy nghĩ của bản thân về trách nhiệm của cha mẹ đối với việc học tập của con cái. Gợi ý:
− Cha mẹ có trách nhiệm quan tâm, lo lắng cho con cái trong giai đoạn đầu của hành trình học tập.
− Cha mẹ không chỉ lo cho con vật chất mà còn là người định hướng con đường học tập đúng đắn.
− Tình thương, sự hi sinh và đồng hành của cha mẹ là chỗ dựa, nguồn động viên tinh thần để con vượt qua những khó khăn và dần tiến bộ hơn.
Trong kho tàng truyện thuyết Việt Nam, em rất ấn tượng với câu chuyện “Sơn Tinh, Thủy Tinh” – một truyền thuyết giải thích hiện tượng lũ lụt hằng năm ở nước ta và ca ngợi sức mạnh con người.
Ngày xưa, vua Hùng Vương thứ mười tám có một người con gái tên là Mị Nương, xinh đẹp, nết na. Vua muốn kén cho con một người chồng xứng đáng, nên mở hội kén rể. Hôm đó có hai chàng trai đến cầu hôn: Sơn Tinh – chúa vùng núi Tản Viên, có tài dời non lấp biển; và Thủy Tinh – chúa vùng nước, có phép gọi gió mưa, dâng nước lên cao. Cả hai đều tài giỏi, vua không biết chọn ai nên hẹn rằng: “Ai mang sính lễ đến trước sẽ được lấy Mị Nương.”
Hôm sau, Sơn Tinh đến sớm, mang đủ lễ vật nên cưới được Mị Nương về núi. Khi Thủy Tinh tới nơi thì đã muộn, tức giận dâng nước lên đánh Sơn Tinh. Nước sông, nước biển dâng ngập đồng ruộng, nhà cửa, nhưng Sơn Tinh vẫn vững vàng, dời núi, nâng đất chống lại. Cuối cùng, Thủy Tinh thua, rút quân về biển, nhưng vẫn hằng năm dâng nước lên trả thù.
Câu chuyện “Sơn Tinh, Thủy Tinh” không chỉ giải thích hiện tượng mưa lũ mà còn thể hiện ước mơ chế ngự thiên nhiên của nhân dân ta. Em rất khâm phục sức mạnh và tinh thần kiên cường của Sơn Tinh – biểu tượng cho con người Việt Nam trong cuộc đấu tranh với thiên nhiên để bảo vệ cuộc sống.
Câu 1.Câu chuyện trên được kể theo ngôi thứ ba.
Câu 2. Aưm có hoàn cảnh nghèo khổ, mồ côi cha, mẹ lại ốm đau, sống trong vùng hạn hán thiếu thốn.
Câu 3. Từ láy trong câu chuyện: thiêm thiếp.
- Đặt câu: Mẹ tôi nằm thiêm thiếp trên giường vì mệt.
Câu 4. Chi tiết "Hằng ngày, Aưm dậy sớm vào rừng kiếm măng, hái nấm, hái quả mang về cho mẹ."
→ Chứng minh Aưm là người con hiếu thảo, chăm chỉ, biết lo lắng và yêu thương mẹ.
Câu 5. Bài học rút ra:
Phải hiếu thảo với cha mẹ, biết yêu thương và chăm sóc gia đình, đồng thời siêng năng, chịu khó vượt qua khó khăn trong cuộc sống.