ĐẶNG THU TRANG
Giới thiệu về bản thân
Di tích lịch sử là "nhân chứng" vô giá của quá trình phát triển dân tộc, do đó, bảo vệ và phát huy giá trị của chúng là trách nhiệm cấp bách. Trước hết, nhà nước cần đầu tư, trùng tu bài bản, đảm bảo nguyên gốc di tích và xử phạt nghiêm các hành vi xâm hại. Song song đó, giáo dục nâng cao nhận thức cộng đồng, đặc biệt là thế hệ trẻ thông qua các hoạt động trải nghiệm thực tế tại di tích là rất cần thiết. Chúng ta cần đẩy mạnh tuyên truyền, kết hợp phát triển du lịch bền vững để quảng bá văn hóa, tôn trọng di sản. Hãy giữ gìn vệ sinh, không viết vẽ bậy khi tham quan. Sự kết hợp giữa bảo tồn nghiêm ngặt và khai thác hợp lý sẽ giúp di tích trường tồn, trở thành niềm tự hào và nguồn tài nguyên văn hóa vô giá của dân
Nguyên nhân: Việc Cố đô Huế được UNESCO công nhận là Di sản Văn hóa thế giới vào ngày 6-12-1993
Kết quả: Sự kiện này trở thành cột mốc khiến nơi đây trở thành một trong những di tích quan trọng nhất của Việt Nam và nhân loại
Từ nối: Sử dụng từ "do đó" để liên kết chặt chẽ giữa sự kiện lịch sử và giá trị tầm vóc của di tích.
Câu 4.Phương tiện: Văn bản sử dụng Hình ảnh (thường là ảnh chụp Hoàng Thành Huế hoặc Đại Nội về đêm).
Tác dụng:
Giúp người đọc dễ dàng hình dung trực quan về vẻ đẹp và quy mô kiến trúc của di tích.
Tăng tính sinh động, hấp dẫn và độ tin cậy cho các thông tin được trình bày trong văn bản.
Câu 5. Mục đích và nội dung văn bảnMục đích: Cung cấp thông tin khách quan về Cố đô Huế, khẳng định giá trị to lớn về lịch sử, văn hóa và nghệ thuật kiến trúc của di tích này đồng thời kêu gọi ý thức bảo tồn di sản.
Nội dung: Giới thiệu về vị trí địa lý, lịch sử hình thành dưới triều Nguyễn, đặc điểm kiến trúc độc đáo, các di tích tiêu biểu và sự công nhận của quốc tế đối với Cố đô Huế
cứ sau mỗi mùa du lịch hay kỳ nghỉ lễ, tình trạng rác thải ngập ngụa tại các bãi biển, điểm tham quan là hình ảnh quen thuộc. Hậu quả không chỉ là cảnh quan bị hủy hoại, hệ sinh thái bị tổn hại, mà còn tạo ra thói quen xấu, văn hóa ứng xử kém văn minh nơi công cộng. Nguyên nhân chính xuất phát từ ý thức kém của một bộ phận du khách: “tiện tay” vứt rác, sử dụng đồ nhựa một lần quá mức. Sự thiếu sót trong việc bố trí thùng rác hoặc thiếu hụt nhân viên vệ sinh tại một số điểm cũng góp phần làm tình trạng trầm trọng hơn
cứ sau mỗi mùa du lịch hay kỳ nghỉ lễ, tình trạng rác thải ngập ngụa tại các bãi biển, điểm tham quan là hình ảnh quen thuộc. Hậu quả không chỉ là cảnh quan bị hủy hoại, hệ sinh thái bị tổn hại, mà còn tạo ra thói quen xấu, văn hóa ứng xử kém văn minh nơi công cộng. Nguyên nhân chính xuất phát từ ý thức kém của một bộ phận du khách: “tiện tay” vứt rác, sử dụng đồ nhựa một lần quá mức. Sự thiếu sót trong việc bố trí thùng rác hoặc thiếu hụt nhân viên vệ sinh tại một số điểm cũng góp phần làm tình trạng trầm trọng hơn
- Kim Lân là cây bút hiện thực xuất sắc của nền văn học Việt Nam hiện đại, nổi tiếng với những tác phẩm viết về người nông dân trong kháng chiến. Ông am hiểu sâu sắc cuộc sống làng quê, có lối viết mộc mạc, chân tình mà thấm đượm chất nhân văn. Truyện ngắn “Làng” (1948) là một trong những tác phẩm tiêu biểu của ông, được viết trong thời kỳ đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp. Qua hình tượng nhân vật ông Hai, tác phẩm thể hiện tình yêu làng tha thiết, gắn bó với tình yêu nước sâu nặng của người nông dân Việt Nam. Đoạn trích miêu tả tâm trạng ông Hai khi nghe tin làng Chợ Dầu theo giặc là phần đặc sắc nhất, bộc lộ rõ chiều sâu tâm lý và phẩm chất cao đẹp của nhân vật
Kim Lân đã xây dựng một tình huống truyện giàu kịch tính: ông Hai người nông dân yêu làng, luôn tự hào và tin tưởng vào làng Chợ Dầu bỗng nghe tin làng mình theo giặc. Chính tình huống éo le ấy đã đặt nhân vật vào thử thách lớn, buộc ông phải bộc lộ rõ tình yêu làng, tình yêu nước, cũng như những chuyển biến nội tâm sâu sắc, chân thực đến ám ảnh. Từ sửng sốt đến đau đớn, tủi hổ: Khi nghe người đàn bà nói “Cả làng chúng nó Việt gian theo Tây”, ông Hai “nghẹn đắng, da mặt tê rân rân”, “lặng đi tưởng như đến không thở được”. Những chi tiết ấy diễn tả nỗi đau tinh thần tột độ ông bị xúc phạm sâu sắc, vì danh dự làng Chợ Dầu chính là niềm tự hào, là điểm tựa tinh thần của ông. Tin làng theo giặc chẳng khác nào một nhát dao cứa vào lòng yêu nước của người nông dân. Tâm trạng hoang mang, nghi ngờ, tự giằng xé: Sau phút choáng váng, ông Hai cố tìm cách phủ nhận: “Chả nhẽ cái bọn ở làng lại đốn đến thế được.Ông nhớ lại từng người, từng việc để minh chứng rằng làng mình không thể làm điều nhục nhã ấy. Nhưng rồi lý trí lại khiến ông bàng hoàng: “Không có lửa làm sao có khói Sự giằng co ấy thể hiện nỗi đau xen lẫn niềm tin một cuộc đấu tranh nội tâm đầy nhân bản của người dân chân chất. Nỗi xấu hổ và tuyệt vọng: Ông Hai cảm thấy nhục nhã, ê chề, “cúi gằm mặt xuống mà đi”, “về nhà nằm vật ra giường”. Nhìn con, ông lại càng tủi thân: “Chúng nó cũng là trẻ con làng Việt gian đấy ư Tình yêu làng của ông đã chuyển hóa thành tình yêu nước, bởi ông không thể chấp nhận làng mình đi ngược lại với dân tộc. Nỗi đau ấy là biểu hiện của một tấm lòng trung thành tuyệt đối với kháng chiến và Cụ HồKim Lân đã rất tinh tế trong việc khắc họa diễn biến tâm lý phức tạp của ông Hai: Ngôn ngữ kể chuyện linh hoạt, hòa nhập vào dòng ý nghĩ, cảm xúc của nhân vật. Nghệ thuật độc thoại nội tâm và đối thoại tự nhiên giúp người đọc cảm nhận được những thay đổi tinh vi trong cảm xú
Những bà mẹ Việt Nam anh hùng trong thời chiến là những người phụ nữ giàu đức hy sinh, kiên cường, bất khuất, hết lòng vì sự nghiệp giải phóng dân tộc. Họ là biểu tượng cao đẹp của lòng yêu nước và sức mạnh tiềm tàng của dân tộc Việt Nam.
Đoạn thơ thể hiện lòng yêu nước, tinh thần bất khuất của người dân Hậu Giang trong cuộc kháng chiến. Lời má dặn dò đã trở thành lời thề thiêng liêng, máu của má đã hòa vào đất trời quê hương, và hình ảnh của má đã trở thành biểu tượng bất tử, truyền cảm hứng cho thế hệ sau tiếp tục chiến đấu vì độc lập, tự do của dân tộc.