Bùi Hoàng Anh

Giới thiệu về bản thân

Chào mừng bạn đến với trang cá nhân của Bùi Hoàng Anh
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
(Thường được cập nhật sau 1 giờ!)

Tôi là một cây tre nhỏ trong bụi tre ở cuối làng. Tôi đã sống ở đó rất lâu và chứng kiến nhiều chuyện trong làng, nhưng câu chuyện khiến tôi nhớ nhất là chuyện của anh nông dân hiền lành và lão phú ông tham lam.


Ngày ấy, có một anh nông dân nghèo làm thuê cho lão phú ông. Anh chăm chỉ làm việc suốt ngày ngoài đồng. Trước khi bắt anh làm, lão phú ông hứa rằng nếu anh làm việc chăm chỉ trong ba năm thì lão sẽ gả con gái cho anh. Anh nông dân tin lời nên làm việc rất vất vả mà không hề than phiền.


Ba năm trôi qua rất nhanh. Đến ngày hẹn, anh nông dân đến hỏi cưới con gái lão phú ông. Nhưng lão vốn gian xảo nên không muốn giữ lời hứa. Lão liền bảo anh phải đi tìm một cây tre trăm đốt thì mới cho cưới con gái.


Anh nông dân buồn bã đi vào rừng tìm tre. Tôi và các cây tre xung quanh đều nghe thấy tiếng anh than thở vì không thể tìm được cây tre nào có đủ một trăm đốt. Nhìn anh thật tội nghiệp. Lúc ấy, Bụt hiện lên và dạy anh câu thần chú: “Khắc nhập! Khắc nhập!”.


Anh liền chặt chúng tôi thành từng đốt tre rồi đọc câu thần chú. Thật kỳ diệu! Tất cả các đốt tre lập tức dính lại với nhau thành một cây tre đủ một trăm đốt. Chúng tôi cũng ngạc nhiên vì phép màu ấy.


Anh nông dân vui mừng mang cây tre trăm đốt về cho lão phú ông xem. Lão phú ông thấy vậy liền tò mò lại gần. Khi lão vừa chạm vào cây tre, anh nông dân đọc tiếp: “Khắc nhập!”. Lập tức lão phú ông bị dính chặt vào cây tre, không thể rời ra được.


Lão phú ông hoảng sợ, vội xin anh tha thứ và hứa sẽ giữ lời gả con gái cho anh. Thấy lão đã biết lỗi, anh nông dân đọc “Khắc xuất! Khắc xuất!” để tách lão ra khỏi cây tre.


Cuối cùng, anh nông dân cưới được con gái phú ông. Từ đó họ sống hạnh phúc bên nhau. Còn tôi vẫn đứng trong bụi tre, nhớ mãi câu chuyện ấy. Câu chuyện đã dạy tôi rằng: người chăm chỉ và thật thà sẽ luôn được giúp đỡ, còn người tham lam và gian dối cuối cùng cũng phải nhận bài học thích đáng. 


Câu 9.

- Biện pháp tu từ: liệt kê “Khi đám cưới, lúc tang ma, trong các dịp lễ hội”. (0.25 điểm)

- Tác dụng:

+ Giúp câu văn sinh động, tạo nhịp điệu cho câu văn.(0.25 điểm)

+ Làm rõ các thời điểm, các dịp mà người Việt ăn trầu cau. (0.25 điểm)

+ Tác giả dân gian cho thấy sự gắn bó, ăn sâu bén rễ của tục trầu cau trong tâm thức người Việt. (0.25 điểm) 

(GV cần linh hoạt khi chấm; trân trọng những ý kiến, phát hiện đúng của học sinh).

Câu 10.

* Đảm bảo hình thức của một đoạn văn với dung lượng 5 - 7 câu.

* Triển khai hợp lí nội dung đoạn văn:  

- Bài học rút ra từ câu chuyện: 

+ Biết trân quý, yêu thương người thân trong gia đình.  

+ Biết tâm sự, trò chuyện để giải thích hiểu lầm, khúc mắc. 

+ Gìn giữ, đề cao sự thủy chung trong tình nghĩa vợ chồng.

   …

Trong tâm trí tôi, ký ức về năm lớp 1 luôn hiện về như một thước phim trong trẻo. Đó là một buổi sáng mùa thu, khi tôi lần đầu tiên rời xa vòng tay của mẹ để bước vào một thế giới hoàn toàn xa lạ: trường tiểu học.

Ngày hôm đó, nắng vàng trải nhẹ trên sân trường nhộn nhịp. Trong khi các bạn khác tự tin chạy nhảy, tôi lại thấy mình nhỏ bé và lạc lõng vô cùng. Tôi nắm chặt lấy gấu áo mẹ, đôi mắt đỏ hoe vì sắp phải chia xa. Khi tiếng trống trường vang lên giòn giã báo hiệu giờ vào lớp, tôi đã oà khóc nức nở, mặc cho mẹ dỗ dành thế nào tôi cũng không chịu buông tay.

Đúng lúc ấy, một bàn tay mềm mại và ấm áp đặt nhẹ lên vai tôi. Đó là cô Hiên, giáo viên chủ nhiệm lớp 1 của tôi. Cô không hề nghiêm nghị như tôi tưởng tượng. Cô cúi xuống, ngang bằng với tầm mắt của tôi, nụ cười hiền hậu như bà tiên trong truyện cổ tích. Cô khẽ nói: "Con tên là gì nhỉ? Đừng sợ, vào lớp cô sẽ cho con xem những điều kỳ diệu nhé!". Rồi cô lấy từ trong túi ra một chiếc kẹo nhỏ màu xanh, nhẹ nhàng lau nước mắt cho tôi.

Bàn tay cô dắt tôi vào lớp, cảm giác ấm áp và tin cậy lạ kỳ khiến nỗi sợ hãi trong tôi tan biến từ lúc nào không hay. Suốt buổi học hôm đó, cô đã dạy tôi cách cầm bút, cách viết những nét chữ đầu đời một cách kiên nhẫn. Mỗi khi tôi lúng túng, cô lại đến bên cạnh khích lệ bằng một cái gật đầu tán thưởng.

Trải nghiệm nhỏ bé ấy đã trở thành một dấu ấn sâu đậm trong lòng tôi. Cô Hà không chỉ dạy tôi những con chữ đầu tiên mà còn giúp tôi hiểu rằng, trường học chính là ngôi nhà thứ hai hạnh phúc. Cho đến bây giờ, dù đã lớn hơn, tôi vẫn luôn nhớ về bàn tay ấm áp của cô ngày hôm ấy – bàn tay đã giúp tôi tự tin bước những bước đầu tiên trên con đường tri thức.

Câu 1. Thể thơ: lục bát.

Câu 2. Tiếng “mây” hiệp vần với tiếng “hây”.

Câu 3. Giải nghĩa từ “thơ thẩn”: thong thả và nhởn nhơ, không để ý đến thời gian, không gian xung quanh.

Câu 4. 

Biện pháp tu từ nhân hoá: “điệu”, “mặc áo”, “thướt tha”.

Tác dụng:

– Tăng tính sinh động, gợi hình cho sự diễn đạt.

– Nhấn mạnh vẻ đẹp của dòng sông, làm cho hình ảnh dòng sông trở nên gần gũi với con người.

Câu 5. Nội dung chính của đoạn trích: vẻ đẹp của dòng sông.

Câu 6. 

HS nêu được những điều mình cần làm để bảo vệ môi trường, bảo vệ thiên nhiên.

Ví dụ:

– Vứt rác đúng nơi quy định, không vứt rác bừa bãi.

– Tích cực trồng cây, gây rừng.

– Tuyên truyền đến mọi người xung quanh để cùng nhau bảo vệ môi trường, bảo vệ thiên nhiên

a. Yêu cầu chung: xác định đúng vấn đề nghị luận; bảo đảm yêu cầu về hình thức, dung lượng. (1.0 điểm)

– Vấn đề nghị luận: một trải nghiệm đáng nhớ khi còn học Tiểu học.

– Hình thức: bài văn.

– Dung lượng: khoảng 300 – 400 chữ.

b. Yêu cầu cụ thể:

b1. Viết được mở bài, kết bài: (1.0 điểm)

– Mở bài: giới thiệu được câu chuyện.

– Kết bài: kết thúc câu chuyện và nêu cảm xúc của người viết.

b2. Kể lại trải nghiệm với các yêu cầu sau: (2.5 điểm)

– Giới thiệu không gian, thời gian xảy ra câu chuyện và các nhân vật liên quan.

– Kể lại sự việc trong câu chuyện theo trình tự hợp lí.

– Sử dụng ngôi thứ nhất để kể lại câu chuyện.

b3. Rút ra bài học cho bản thân từ trải nghiệm đã kể. (1.0 điểm)

b4. Sáng tạo: (0.5 điểm)

– Có những ý đột phá, vượt ra ngoài đáp án nhưng vẫn có sức thuyết phục.

– Có cách diễn đạt tinh tế, độc đáo.

Hướng dẫn chấm:

– HS có thể trình bày và diễn đạt giống đáp án hoặc tương tự, miễn là thuyết phục.

– Trừ điểm mắc lỗi (diễn đạt lủng củng, sai chính tả, dùng từ sai, chữ viết cẩu thả): trừ 0.5 điểm nếu bài văn mắc từ 6 – 9 lỗi, trừ 1.0 điểm nếu bài văn mắc từ 10 – 13 lỗi; mắc trên 13 lỗi không cho vượt quá nửa số điểm cả câu.

Câu 1. Câu chuyện được kể theo ngôi thứ ba.

Câu 2. Theo câu chuyện, không rõ ai là người trồng cây hoàng lan.

Câu 3.

– Biện pháp tu từ nhân hoá: “khoác trên mình” – vốn là cụm từ chỉ hoạt động của con người, trong trường hợp này được gán cho vật (cây hoàng lan).

– Tác dụng:

+ Làm cho hình ảnh cây hoàng lan trở nên sinh động, gần gũi.

+ Nhấn mạnh sự hồi sinh, sức sống căng tràn của cây hoàng lan khi mùa xuân tới.

Câu 4. HS giải thích được việc Hà “run run đỡ những cánh hoa hoàng lan từ trong tay bà” và “ngước đôi mắt tròn xoe nhìn lên ban thờ” là do:

– Hà xúc động, bất ngờ khi thấy kỉ vật của ông còn lưu giữ – những cánh hoa đã héo khô nhưng vẫn phảng phất hương thơm.

– Hà cảm nhận được sự thiêng liêng của kỉ niệm, thấu hiểu tình yêu thương sâu nặng mà bà dành cho ông.

– Hà biết trân trọng, chia sẻ với bà tình cảm gắn bó với cây hoàng lan.

Câu 5. Đoạn văn cần đảm bảo yêu cầu:

– Nội dung: tập trung nêu suy nghĩ về vai trò của gia đình đối với cuộc sống của mỗi người (là cái nôi nuôi dưỡng về mặt vật chất và tinh thần của con người; là động lực để mỗi người phấn đấu, cố gắng;...).

– Hình thức: viết theo hình thức đoạn văn, dung lượng khoảng 3 – 5 câu