Phạm Thị Hồng Ngọc
Giới thiệu về bản thân
Câu 1 Truyện cổ tích Thạch Sanh thể hiện giá trị nhân văn sâu sắc, ca ngợi cái thiện và công lý. Hình tượng Thạch Sanh – chàng trai nghèo nhưng dũng cảm, nhân hậu – là biểu tượng của con người lương thiện, biết chiến đấu chống lại cái ác. Nhờ sức mạnh và lòng chính trực, chàng diệt chằn tinh, cứu công chúa, cứu người bị hại, đồng thời chịu gian truân nhưng cuối cùng được đền đáp xứng đáng. Truyện gửi gắm thông điệp: ở hiền gặp lành, ở ác gặp dữ, người lương thiện dù khó khăn vẫn sẽ chiến thắng gian ác. Qua đó, truyện không chỉ giải trí mà còn dạy đạo lý làm người, phản ánh niềm tin của nhân dân vào cái thiện, vào công lý, vẫn còn giá trị cho thế hệ hôm nay. Câu 2 Trong thời đại số hóa, công nghệ đã thay đổi hoàn toàn cách con người giao tiếp. Nhờ Internet, điện thoại thông minh, mạng xã hội…, chúng ta có thể liên lạc với bất kỳ ai, bất cứ nơi đâu, bất cứ lúc nào. Khoảng cách địa lý không còn là trở ngại, công việc, học tập và kết nối bạn bè trở nên thuận tiện và nhanh chóng hơn. Công nghệ mang lại nhiều mặt tích cực. Nhờ mạng xã hội và các ứng dụng gọi video, con người dễ dàng duy trì mối quan hệ, chia sẻ thông tin và học hỏi kiến thức mới. Công nghệ còn giúp con người kết nối toàn cầu, mở rộng hiểu biết về văn hóa và ngôn ngữ, tạo cơ hội hợp tác, giao lưu quốc tế. Trong công việc, học tập trực tuyến và họp qua Zoom giúp tiết kiệm thời gian và chi phí đi lại. Tuy nhiên, công nghệ cũng có mặt tiêu cực. Nhiều người quá phụ thuộc vào điện thoại, mạng xã hội, khiến kỹ năng giao tiếp trực tiếp bị giảm sút. Thông tin giả mạo, lời lẽ thiếu chuẩn mực, hoặc thói quen sống ảo dễ dẫn đến mối quan hệ hời hợt, thiếu cảm xúc. Một số người thậm chí cảm thấy cô lập, mặc dù vẫn kết nối online với nhiều người. Để tận dụng tối đa lợi ích và giảm thiểu tác hại, chúng ta cần sử dụng công nghệ thông minh, có chọn lọc. Công nghệ nên được coi là công cụ hỗ trợ, không thay thế hoàn toàn giao tiếp trực tiếp. Mỗi người cần duy trì kỹ năng nói chuyện, lắng nghe và đồng cảm trong đời thực, đồng thời sử dụng mạng xã hội một cách văn minh, tích cực. Như vậy, công nghệ vừa là cầu nối, vừa là thách thức. Biết sử dụng đúng cách, công nghệ sẽ giúp con người kết nối, chia sẻ và phát triển, đồng thời duy trì các giá trị giao tiếp truyền thống trong đời sống hàng ngày.
Câu 1. Thể loại văn bản → Truyện cổ tích. Câu 2. → Truyện kể về Thạch Sanh – chàng trai nghèo nhưng dũng cảm, nhân hậu, diệt chằn tinh, cứu công chúa, diệt đại bàng, bị Lý Thông hãm hại nhưng cuối cùng được minh oan, lấy công chúa và trở thành vua. Câu 3. Tóm tắt ngắn gọn: Thạch Sanh mồ côi cha mẹ, sống nghèo khổ nhưng có sức mạnh phi thường. Chàng diệt chằn tinh, cứu công chúa, diệt đại bàng, nhiều lần bị Lý Thông lừa hãm hại. Cuối cùng, Thạch Sanh được minh oan, lấy công chúa, trở thành vua. Mô hình cốt truyện: → Cốt truyện người anh hùng – “từ thân phận thấp bé đến vinh quang”.
Câu 4. Ví dụ: “Ai đã cứu công chúa, ai đã giết chằn tinh?” - Tác dụng: Nhấn mạnh công lao của Thạch Sanh. Gây ấn tượng, tăng sức biểu cảm. Thể hiện niềm phẫn nộ trước kẻ gian trá, khơi dậy tình cảm công lý.
Câu 5. Yếu tố hoang đường, kì ảo và tác dụng Yếu tố hoang đường: Thạch Sanh có sức mạnh phi thường. Chằn tinh, đại bàng biết bắt người. Các phép màu, thần thánh trong truyện. Tác dụng: Làm truyện hấp dẫn, li kì. Thể hiện ước mơ về cái thiện chiến thắng cái ác. Tôn vinh hình tượng anh hùng dân gian.
Câu 1 > Gốm Bát Tràng là một trong những sản phẩm thủ công nổi tiếng của Việt Nam. Để tạo ra một sản phẩm gốm hoàn chỉnh, người thợ phải trải qua nhiều công đoạn tỉ mỉ. Trước hết, họ chọn loại đất sét trắng mịn, lọc bỏ tạp chất rồi nhào kỹ cho thật dẻo. Sau đó, đất được tạo hình bằng bàn xoay hoặc khuôn mẫu. Khi sản phẩm có hình dáng mong muốn, người thợ đem phơi khô, trau chuốt lại rồi phủ men. Công đoạn cuối cùng là nung trong lò ở nhiệt độ cao khoảng 1200 độ C. Khi ra lò, sản phẩm được kiểm tra, trang trí bằng hoa văn tinh tế. Mỗi chiếc bình, chén hay ấm gốm đều chứa đựng bàn tay khéo léo và tâm hồn người nghệ nhân. Nghề làm gốm không chỉ mang giá trị kinh tế mà còn thể hiện nét đẹp văn hóa truyền thống của dân tộc Việt Nam. Câu 2 Đề: Viết bài nghị luận (khoảng 600 chữ) bày tỏ suy nghĩ về vấn đề “chảy máu chất xám” ở Việt Nam hiện nay. > Trong thời đại hội nhập và toàn cầu hóa, “chảy máu chất xám” đang là một vấn đề đáng lo ngại đối với Việt Nam. Hiện tượng này chỉ việc những người có tài năng, trình độ cao rời bỏ quê hương để sinh sống và làm việc ở nước ngoài, khiến đất nước mất đi nguồn nhân lực quý giá. Nguyên nhân của tình trạng này đến từ nhiều phía. Trước hết, môi trường làm việc trong nước vẫn còn hạn chế: chế độ đãi ngộ chưa tương xứng, cơ hội thăng tiến chưa nhiều, đôi khi còn tồn tại tư tưởng trọng bằng cấp hơn năng lực. Bên cạnh đó, các nước phát triển có điều kiện nghiên cứu, mức sống và thu nhập cao hơn nên thu hút người tài Việt Nam. Một số người trẻ cũng lựa chọn ở lại nước ngoài vì mong muốn có cuộc sống ổn định, tiện nghi. Hậu quả của “chảy máu chất xám” thật sự đáng lo. Đất nước mất đi lực lượng trí thức tinh hoa, giảm khả năng cạnh tranh và phát triển. Trong khi đó, công sức đào tạo của xã hội lại vô tình phục vụ cho quốc gia khác. Để khắc phục, Việt Nam cần có chính sách trọng dụng nhân tài công bằng, minh bạch và thực chất hơn, đồng thời tạo môi trường làm việc sáng tạo, khuyến khích nghiên cứu và đổi mới. Mỗi người trẻ cũng cần nuôi dưỡng tinh thần yêu nước, ý thức cống hiến, đem trí tuệ của mình phục vụ cho quê hương. Giữ chân người tài không chỉ là việc của Nhà nước, mà là trách nhiệm của toàn xã hội. Khi trí tuệ Việt được trân trọng và phát huy, đất nước ta mới có thể phát triển bền vững và sánh vai cùng bạn bè năm châu.
Câu 1. Phương thức biểu đạt chính: -Nghị luận. Câu 2. Văn bản đã làm sáng tỏ chủ nghĩa hiện thực của Nam Cao trên các phương diện: Nội dung phản ánh: Cuộc sống khổ cực, bất công, bế tắc của người nông dân và trí thức nghèo trước Cách mạng. Nghệ thuật thể hiện: Cái nhìn chân thực, sâu sắc, thấm đượm tinh thần nhân đạo; đi sâu vào phân tích tâm lý con người. Giá trị hiện thực và nhân đạo: Phản ánh chân thực đời sống, tố cáo xã hội cũ và bênh vực phẩm giá con người. Câu 3. > “Người đọc lắm lúc có cảm giác như đứa trẻ trong rạp xiếc lo lắng nhìn bước chân người tài tử đang diễn trò leo dây giữa khoảng không.” → Biện pháp tu từ: So sánh. Tác dụng: Gợi cảm giác hồi hộp, ngưỡng mộ và thán phục của người đọc trước nghệ thuật tinh tế, tài hoa và đầy mạo hiểm của Nam Cao trong việc thể hiện hiện thực; đồng thời khẳng định sức hấp dẫn và độ khó của nghệ thuật hiện thực. Câu 4. Nhận xét về ngôn ngữ nghị luận trong phần (2): Ngôn ngữ chặt chẽ, giàu cảm xúc, vừa có lý lẽ, vừa có hình ảnh gợi cảm. Kết hợp hài hòa giữa phân tích và bình luận, tạo sức thuyết phục cao. Thể hiện phong cách nghị luận văn học vừa trí tuệ, vừa tinh tế. Câu 5. Nhận xét về cách lập luận của tác giả: Logic, mạch lạc, triển khai theo trình tự hợp lý (từ nội dung đến nghệ thuật). Có lí lẽ sắc sảo, dẫn chứng tiêu biểu từ tác phẩm của Nam Cao. Kết hợp phân tích, so sánh và bình luận, giúp người đọc hiểu rõ đặc điểm chủ nghĩa hiện thực trong sáng tác của ông.
Câu 1. (2,0 điểm) Viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) ghi lại cảm nhận của em sau khi đọc văn bản “Dặm đường thanh xuân” của Băng Sơn. > Đọc văn bản “Dặm đường thanh xuân” của Băng Sơn, em cảm nhận được vẻ đẹp trong trẻo, rộn ràng và chan chứa tình người của mùa xuân quê hương. Bằng ngòi bút tinh tế, giàu cảm xúc, tác giả đã khắc họa hình ảnh làng quê trong ngày Tết thật sinh động: tiếng cười nói của người dân, sắc xuân tràn đầy khắp đồng lúa, nếp nhà, con đường. Qua từng câu chữ, em cảm nhận được niềm yêu đời, yêu quê hương tha thiết của tác giả, đồng thời nhận ra rằng mùa xuân không chỉ là sự đổi mới của thiên nhiên mà còn là biểu tượng cho hi vọng, hạnh phúc và lòng nhân ái của con người Việt Nam. Bài viết khiến em thêm yêu quê hương, thêm trân trọng những giá trị văn hóa dân tộc và thấy lòng mình rạo rực mỗi khi xuân về, Tết đến.
Câu 2. (4,0 điểm) Đề: Viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) bày tỏ suy nghĩ của anh/chị về trách nhiệm của thế hệ trẻ trong việc gìn giữ những nét đẹp bản sắc văn hóa dân tộc. Bài làm Trong thời đại toàn cầu hóa hôm nay, khi văn hóa các quốc gia giao thoa mạnh mẽ, việc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc trở thành một nhiệm vụ quan trọng. Và chính thế hệ trẻ – những chủ nhân tương lai của đất nước – có trách nhiệm lớn lao trong việc bảo vệ, gìn giữ và lan tỏa những giá trị tốt đẹp ấy. Bản sắc văn hóa dân tộc là toàn bộ những giá trị tinh thần, đạo đức, phong tục, tập quán, ngôn ngữ, trang phục, nghệ thuật… tạo nên bản lĩnh và linh hồn của một dân tộc. Đó là những gì giúp chúng ta khác biệt và tự hào giữa muôn vàn nền văn hóa trên thế giới. Nếu đánh mất bản sắc, dân tộc sẽ mất đi cội nguồn và bản lĩnh tồn tại. Trong bối cảnh hiện nay, văn hóa nước ngoài du nhập ngày càng nhiều. Giới trẻ dễ bị cuốn vào những xu hướng hiện đại mà quên đi nét đẹp truyền thống. Chính vì vậy, trách nhiệm của thế hệ trẻ là biết tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại nhưng không hòa tan, phải giữ vững những giá trị tốt đẹp của dân tộc mình. Mỗi bạn trẻ cần bắt đầu từ những hành động giản dị: nói năng lễ phép, giữ gìn tiếng Việt trong sáng, mặc áo dài trong những dịp đặc biệt, tham gia các hoạt động lễ hội, trân trọng di sản, và sống nhân ái, nghĩa tình – những phẩm chất đã làm nên con người Việt Nam. Bên cạnh đó, người trẻ cần biết lan tỏa văn hóa dân tộc bằng cách sáng tạo: kết hợp truyền thống với hiện đại, đưa văn hóa Việt đến gần bạn bè quốc tế qua nghệ thuật, du lịch, phim ảnh, mạng xã hội. Nhiều bạn trẻ ngày nay đã làm được điều đó: sáng tạo nội dung về áo dài, ẩm thực, ca dao, dân ca… khiến thế giới biết đến Việt Nam nhiều hơn. Giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc không chỉ là bổn phận mà còn là niềm tự hào của tuổi trẻ Việt Nam. Khi mỗi người biết yêu và trân trọng giá trị văn hóa dân tộc, đất nước ta sẽ càng thêm giàu đẹp, vững vàng trên con đường hội nhập. >thế hệ trẻ của Tổ quốc hôm nay, em hiểu rằng giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc chính là cách thể hiện lòng yêu nước thiết thực nhất – là sợi dây nối quá khứ, hiện tại và tương lai của dân tộc Việt Nam.
Câu 1. Xác định thể loại của văn bản. -Văn bản thuộc thể loại tùy bút. Câu 2. Thời điểm nào trong năm gợi cảm hứng sáng tác cho tác giả? -Mùa xuân, thời điểm Tết đến – năm mới về là nguồn cảm hứng sáng tác của tác giả. Câu 3. Khung cảnh làng quê khi mùa xuân về được miêu tả trong văn bản như thế nào? -Khung cảnh làng quê hiện lên tươi đẹp, rộn ràng và đầy sức sống: Cây cối xanh tươi, đồng lúa bát ngát. Người dân háo hức chuẩn bị Tết, chợ xuân đông vui, rộn rã tiếng cười. Tất cả hòa quyện tạo nên bức tranh mùa xuân thanh bình, ấm áp, đậm đà hương vị quê hương. Câu 4. Phân tích tác dụng của biện pháp tu từ liệt kê trong câu văn: > “Ông lĩnh nhiệm vụ mới Thiên đình giao cho ra sao, sẽ khuyên nhủ gia chủ ăn ngay ở thẳng thế nào, cho ba trăm sáu mươi ngày đều vui như ngày hội, cho cô gái tựa tóc vào vai người yêu, cho chàng trai soi vào mắt người tình mà run quả tim trong sạch, cho con chim khách không bao giờ sai, cho những chú bé đi ‘hôi’ cá cứ cười như nắc nẻ, dù chỉ được con tôm hay chú cá rô ron, cho chợ Tết người chen người, cho đồng lúa rờn rờn bát ngát, cho những con người lầm lạc sớm hoàn lương,...” -Biện pháp liệt kê có tác dụng: Gợi ra bức tranh mùa xuân phong phú, sinh động, chan chứa niềm vui và hạnh phúc. Thể hiện ước vọng chân thành của tác giả về cuộc sống an lành, con người sống nhân hậu, ngay thẳng, biết yêu thương nhau. Làm cho câu văn giàu cảm xúc, nhịp điệu dâng trào và đầy sức gợi hình. Câu 5. Nội dung chính của văn bản. -Văn bản thể hiện tình yêu tha thiết của tác giả với mùa xuân, với quê hương đất nước và con người Việt Nam. Tác giả gửi gắm niềm tin, ước vọng về cuộc sống tươi đẹp, tràn đầy nhân ái và niềm vui.
Câu 1. Xác định thể loại của văn bản. -Văn bản thuộc thể loại tùy bút. Câu 2. Thời điểm nào trong năm gợi cảm hứng sáng tác cho tác giả? -Mùa xuân, thời điểm Tết đến – năm mới về là nguồn cảm hứng sáng tác của tác giả. Câu 3. Khung cảnh làng quê khi mùa xuân về được miêu tả trong văn bản như thế nào? -Khung cảnh làng quê hiện lên tươi đẹp, rộn ràng và đầy sức sống: Cây cối xanh tươi, đồng lúa bát ngát. Người dân háo hức chuẩn bị Tết, chợ xuân đông vui, rộn rã tiếng cười. Tất cả hòa quyện tạo nên bức tranh mùa xuân thanh bình, ấm áp, đậm đà hương vị quê hương. Câu 4. Phân tích tác dụng của biện pháp tu từ liệt kê trong câu văn: > “Ông lĩnh nhiệm vụ mới Thiên đình giao cho ra sao, sẽ khuyên nhủ gia chủ ăn ngay ở thẳng thế nào, cho ba trăm sáu mươi ngày đều vui như ngày hội, cho cô gái tựa tóc vào vai người yêu, cho chàng trai soi vào mắt người tình mà run quả tim trong sạch, cho con chim khách không bao giờ sai, cho những chú bé đi ‘hôi’ cá cứ cười như nắc nẻ, dù chỉ được con tôm hay chú cá rô ron, cho chợ Tết người chen người, cho đồng lúa rờn rờn bát ngát, cho những con người lầm lạc sớm hoàn lương,...” -Biện pháp liệt kê có tác dụng: Gợi ra bức tranh mùa xuân phong phú, sinh động, chan chứa niềm vui và hạnh phúc. Thể hiện ước vọng chân thành của tác giả về cuộc sống an lành, con người sống nhân hậu, ngay thẳng, biết yêu thương nhau. Làm cho câu văn giàu cảm xúc, nhịp điệu dâng trào và đầy sức gợi hình. Câu 5. Nội dung chính của văn bản. -Văn bản thể hiện tình yêu tha thiết của tác giả với mùa xuân, với quê hương đất nước và con người Việt Nam. Tác giả gửi gắm niềm tin, ước vọng về cuộc sống tươi đẹp, tràn đầy nhân ái và niềm vui.