Đinh Thị Thuỳ Chi

Giới thiệu về bản thân

Chào mừng bạn đến với trang cá nhân của Đinh Thị Thuỳ Chi
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
(Thường được cập nhật sau 1 giờ!)

Nhân vật Lọ Lem trong truyện cổ tích cùng tên là hình ảnh tiêu biểu cho người hiền lành, chăm chỉ và giàu lòng nhân hậu. Dù mồ côi mẹ, bị dì ghẻ và hai chị kế đối xử tàn nhẫn, Lọ Lem vẫn nhẫn nhịn, chịu khó làm việc, không oán trách hay làm điều xấu. Bên cạnh đó, cô còn là người giàu ước mơ và khát vọng hạnh phúc, dám mong muốn được đi dự hội và có một cuộc sống tốt đẹp hơn. Chính nhờ tấm lòng trong sáng, lối sống tốt bụng ấy mà Lọ Lem được giúp đỡ và cuối cùng tìm được hạnh phúc xứng đáng. Qua nhân vật Lọ Lem, truyện khẳng định rằng cái thiện sẽ chiến thắng cái ác, người tốt rồi sẽ được đền đáp.

Nhân vật người thợ mộc trong truyện ngụ ngôn Đẽo cày giữa đường là hình ảnh của người thiếu chính kiến, dễ a dua theo ý kiến người khác. Nghe ai góp ý, anh ta cũng cho là đúng và làm theo, khi thì đẽo cày to cao, lúc lại đẽo nhỏ thấp mà không suy nghĩ xem có phù hợp hay không. Không những vậy, anh còn cả tin, nghe tin đẽo cày cho voi sẽ có lãi liền làm theo, dẫn đến gỗ bị hỏng hết, vốn liếng tiêu tan. Qua đó, truyện phê phán thói nghe theo người khác một cách mù quáng và nhắc nhở con người cần có suy nghĩ, chính kiến riêng.

Câu 1. Phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong văn bản là nghị luận (ngoài ra còn kết hợp tự sự và miêu tả để làm rõ vấn đề). Câu 2. Nhân vật trong truyện Buổi học cuối cùng được người viết xem là hiện thân cho tình yêu tiếng nói dân tộc là thầy Ha-men. Câu 3. Văn bản bàn luận về vai trò và ý nghĩa của tiếng nói (ngôn ngữ) dân tộc đối với quê hương, đất nước và lòng yêu nước. Nhan đề “Buổi học cuối cùng: Tiếng nói dân tộc là hiện thân quê hương” phù hợp và gắn chặt với vấn đề bàn luận, vì nhấn mạnh ý nghĩa thiêng liêng của tiếng nói dân tộc, coi đó là biểu tượng của quê hương. Câu 4. Hai bằng chứng tiêu biểu và tác dụng: Hình ảnh thầy Ha-men nghiêm khắc nhưng đầy yêu thương, coi tiếng Pháp là “vũ khí”, là “chìa khóa” để giữ gìn bản sắc dân tộc. → Tác dụng: Làm nổi bật tinh thần yêu nước và ý thức bảo vệ tiếng nói dân tộc. Lời trích dẫn của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Tiếng nói là thứ của cải vô cùng lâu đời và vô cùng quý báu của dân tộc.” → Tác dụng: Tăng sức thuyết phục, khẳng định tầm quan trọng của ngôn ngữ dân tộc bằng dẫn chứng uy tín. Câu 5. (Gợi ý bài làm 6–8 dòng) Qua Buổi học cuối cùng, em hiểu rằng ngôn ngữ dân tộc có vai trò vô cùng quan trọng đối với vận mệnh đất nước. Tiếng nói không chỉ là công cụ giao tiếp mà còn là linh hồn, bản sắc của dân tộc. Khi một dân tộc còn giữ được tiếng nói của mình thì vẫn còn hi vọng giữ được tự do. Em nhận thấy mỗi người cần trân trọng, gìn giữ và sử dụng đúng tiếng Việt, nhất là trong học tập và giao tiếp hằng ngày. Đó cũng là một cách thể hiện lòng yêu quê hương, đất nước.

Câu 1. Bài thơ được viết theo thể thơ năm chữ, mỗi câu thơ có năm tiếng. Câu 2.

Phương thức biểu đạt chính là biểu cảm Văn bản chủ yếu bộc lộ cảm xúc, tâm tư của nhân vật trữ tình đối với người ngoại đã khuất. Câu 3. Biện pháp: điệp từ

Tác dụng: Tạo nhịp điệu, nhấn mạnh cảm xúc chủ đạo là nỗi nhớ thương, sự day dứt của người cháu khi trở về tìm ngoại. Thể hiện sự lặp lại của hành động "đi tìm ngoại", cho thấy sự khao khát mãnh liệt được gặp lại người thân yêu, dù biết là không thể. Câu 4. Khổ thơ thứ năm thể hiện sự mất mát, chia ly vĩnh viễn. "Mười năm" là khoảng thời gian dài, "Ngoại nằm kia, nơi đó" chỉ nơi an nghỉ của ngoại. Câu thơ cuối "Nơi giấc mơ tôi nằm" cho thấy ngoại luôn sống mãi trong tâm trí, ký ức và giấc mơ của người cháu. Câu 5. Bài học về tình cảm gia đình thiêng liêng, lòng hiếu thảo và sự trân trọng những giây phút bên người thân khi còn có thể. Câu 6. Bài thơ "Thưa ngoại con mới về" của Lam chạm đến trái tim người đọc bằng tình cảm chân thành, sâu sắc của người cháu dành cho ngoại. Xuyên suốt tác phẩm là nỗi nhớ da diết, sự day dứt khôn nguôi khi trở về quê hương mà ngoại đã không còn nữa. Hình ảnh "cây khô khóc giữa rừng" hay "buồng chuối ngự còn xanh" là những chi tiết giàu sức gợi, thể hiện sự trống vắng, mất mát lớn lao. Bài thơ nhắc nhở mỗi người về giá trị của tình thân, cần trân trọng những khoảnh khắc hiện tại và luôn giữ hình bóng người thương yêu trong tim.