Hồ Thanh Dũng

Giới thiệu về bản thân

Chào mừng bạn đến với trang cá nhân của Hồ Thanh Dũng
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
(Thường được cập nhật sau 1 giờ!)

họn mốc thế năng tại mặt đất. Theo định luật bảo toàn cơ năng ta có:

\(W=Wđ+Wt=32Wt+Wt=52WtW=Wđ​+Wt​=23​Wt​+Wt​=25​Wt​\)

\(⇒W=52.mgh⇒W=25​.mgh\)

\(⇒m=2W5gh=2.37,55.10.3=0,5⇒m=5gh2W​=5.10.32.37,5​=0,5\) kg

Ta có: \(Wđ=32Wt⇒12mv2=32mghWđ​=23​Wt​⇒21​mv2=23​mgh\)

\(⇒v=3gh=3.10.3=9,49⇒v=3gh​=3.10.3​=9,49\) m/s

\(m\) = 2 tấn = 2000 kg

\(v1v1​\) = 21,6 km/h = 6 m/s

Gia tốc của xe là: \(a=v1−v0t=6−015=0,4a=tv1​−v0​​=156−0​=0,4\) m/s2

Quãng đường mà xe di chuyển được là: \(s=12at2=12.0,4.152=45s=21​at2=21​.0,4.152=45\) m

a. Ma sát giữa bánh xe và đường nhỏ không đáng kể.

Lực kéo của động cơ xe là: \(Fk=ma=2000.0,4=800Fk​=ma=2000.0,4=800\) N

Công mà động cơ thực hiện là: \(A=Fk.s=800.45=36000A=Fk​.s=800.45=36000\) J

Công suất của động cơ là: \(P=At=3600015=2400P=tA​=1536000​=2400\) W

b. Ma sát giữa bánh xe và đường là 0,05.

Hợp lực tác dụng lên xe là: \(Fhl=ma=2000.0,4=800Fhl​=ma=2000.0,4=800\) N

Lực ma sát: \(Fms=μ.N=μmg=0,05.2000.10=1000Fms​=μ.N=μmg=0,05.2000.10=1000\) N

Ta có: \(Fhl=Fk−FmsFhl​=Fk​−Fms​\)

Vậy lực kéo của động cơ là: \(Fk=Fhl+Fms=800+1000=1800Fk​=Fhl​+Fms​=800+1000=1800\) N

Công mà động cơ thực hiện là: \(A=Fk.s=1800.45=81000A=Fk​.s=1800.45=81000\) J

Công suất của động cơ là: \(P=At=8100015=5400P=tA​=1581000​=5400\) W

Công của lực kéo vật: \(A=F.s=1200.5=6000A=F.s=1200.5=6000\) J

Công có ích là: \(Aci=A.H=6000.80%=4800Aci​=A.H=6000.80%=4800\) J

Mặt khác: \(Aci=P.h=m.g.hAci​=P.h=m.g.h\)

\(⇒h=Acimg=4800300.10=1,6⇒h=mgAci​​=300.104800​=1,6\) m

Chọn mốc thế năng tại mặt đất.

Gọi A là vị trí ném, B là mặt đất, ta có: \(vA=0;hA=45m;hB=0vA​=0;hA​=45m;hB​=0\)

a. Theo định luật bảo toàn cơ năng:

\(WA=WB⇒mghA=12mvB2WA​=WB​⇒mghA​=21​mvB2​\) \(⇒vB=2ghA=2.10.45=30⇒vB​=2ghA​​=2.10.45=30\) m/s

b. Gọi C là vị trí có \(Wđ=2Wt.Wđ​=2Wt​.\)

Theo định luật bảo toàn cơ năng:

\(WA=WC⇒WA=3WtC⇒mghA=3mghCWA​=WC​⇒WA​=3WtC​⇒mghA​=3mghC​\)

\(⇒hC=hA3=453=15⇒hC​=3hA​​=345​=15\) m.

c. Gọi D là vị trí để vật có vận tốc 20 m/s.

Theo định luật bảo toàn cơ năng:

\(WA=WD⇒mghA=mghD+12mvD2WA​=WD​⇒mghA​=mghD​+21​mvD2​\)

\(⇒hD=hA−vD22g=45−2022.10=25⇒hD​=hA​−2gvD2​​=45−2.10202​=25\) m

Vậy tại vị trí cách mặt đất 25 m thì vật có vận tốc 20 m/s.

a. Khi thùng trượt được 15 m trong 15 s và người kéo dây theo phương ngang

Công của lực kéo là: \(A=F.s=100.15=1500A=F.s=100.15=1500\) J

Công suất của lực kéo: \(P=At=150015=100P=tA​=151500​=100\) W

b. Khi thùng trượt được 10 m trong 10 s và người kéo dây theo phương hợp với phương nằm ngang một góc 45o

Công của lực kéo là: \(A=F.s.cos⁡α=100.10.cos⁡45o=707,1A=F.s.cosα=100.10.cos45o=707,1\) J

Công suất của lực kéo: \(P=At=707,110=70,7P=tA​=10707,1​=70,7\) W

câu 1 Trong dòng chảy hối hả của đại lộ toàn cầu hóa, “lối sống chủ động” không chỉ là một lựa chọn mà đã trở thành năng lực sinh tồn cốt lõi của mỗi cá nhân. Chủ động được hiểu là việc tự giác kiểm soát, dẫn dắt hành động và tư duy của bản thân thay vì phụ thuộc vào hoàn cảnh hay tác động ngoại cảnh. Tầm quan trọng của lối sống này trước hết nằm ở khả năng làm chủ vận mệnh. Khi chủ động học tập và làm việc, chúng ta không chỉ tích lũy tri thức mà còn tôi luyện được bản lĩnh để biến áp lực thành động lực, biến thách thức thành cơ hội bứt phá. Chẳng hạn, trong cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, chỉ những người chủ động tự học, cập nhật công nghệ mới không bị đào thải bởi ai . Hơn nữa, sự chủ động giúp con người sống có mục đích, thoát khỏi trạng thái trì trệ, từ đó lan tỏa năng lượng tích cực và giá trị hữu ích cho cộng đồng. Tuy nhiên, đáng buồn thay, một bộ phận giới trẻ hiện nay vẫn chọn lối sống “tầm gửi”, thụ động chờ đợi sự sắp đặt của số phận hoặc ỷ lại vào người thân. Lối sống ấy không chỉ làm thui chột tài năng mà còn khiến con người trở nên bạc nhược trước những biến động của cuộc đời. Tóm lại, chủ động chính là “động cơ” mạnh mẽ nhất để đưa con thuyền cuộc đời đi đúng hướng. Mỗi chúng ta cần rèn luyện tư duy phản biện, dám nghĩ dám làm và chịu trách nhiệm với mọi quyết định của chính mình.

câu 2

Nguyễn Trãi không chỉ là một nhà quân sự, nhà chính trị lỗi lạc mà còn là một thi sĩ với tâm hồn nhạy cảm, tinh tế. Trong tập "Quốc âm thi tập" – bông hoa đầu mùa của thơ ca tiếng Việt, bài thơ "Bảo kính cảnh giới" số 43 hiện lên như một bức tranh ngày hè rực rỡ, qua đó gửi gắm nỗi lòng ưu quốc ái dân sâu nặng của một bậc trượng phu.

Mở đầu bài thơ là tư thế của một con người đang tạm rời xa chốn quan trường xô bồ để tìm về với thiên nhiên: "Rồi hóng mát thuở ngày trường". Từ "rồi" ở đây hiểu là rảnh rỗi. Trong hoàn cảnh bị chèn ép, phải về ở ẩn tại Côn Sơn, Nguyễn Trãi đã chọn tâm thế an nhàn, tự tại để giao hòa với tạo hóa. Chính cái "ngày trường" (ngày dài) ấy đã cho ông cơ hội để quan sát trọn vẹn vẻ đẹp của sự sống.

Bức tranh thiên nhiên ngày hè hiện lên dưới ngòi bút của Nguyễn Trãi không hề tĩnh lặng, héo úa mà tràn đầy nhựa sống, đang trào dâng từ bên trong:

"Hoè lục đùn đùn tán rợp trương.

"Thạch lựu hiên còn phun thức đỏ.

Hồng liên trì đã tịn mùi hương."

Các động từ mạnh như "đùn đùn", "trương", "phun" đã diễn tả sức sống mãnh liệt của cây cỏ. Cây hòe xanh thẫm tán lá xòe rộng như che rợp cả không gian; hoa lựu đỏ rực như những đốm lửa đang tuôn trào; hương sen hồng dưới ao đã ngào ngạt khắp nơi. Cảnh vật không chỉ có màu sắc rực rỡ (xanh, đỏ, hồng) mà còn có hương thơm và sự chuyển động không ngừng. Thiên nhiên dưới con mắt Ức Trai là một thực thể sống động, căng tràn sức mạnh phát triển.

Không chỉ dừng lại ở cảnh vật, bức tranh ngày hè còn sống động hơn bởi âm thanh của cuộc sống con người:

"Lao xao chợ cá làng ngư phủ;

Dắng dỏi cầm ve lầu tịch dương."

Nghệ thuật đảo ngữ đưa các từ láy "lao xao", "dắng dỏi" lên đầu câu đã nhấn mạnh sự nhộn nhịp, vui tươi. Tiếng lao xao từ chợ cá xa xăm gợi lên sự ấm no, thanh bình của vùng quê ven biển. Tiếng ve kêu như tiếng đàn cầm vang dội dưới ánh nắng buổi chiều tà. Những âm thanh ấy chính là nhịp đập của cuộc đời thường nhật, cho thấy sự gắn bó sâu sắc của nhà thơ với nhân dân, với cuộc đời.

Khép lại bài thơ là khát vọng cháy bỏng và cao cả của Nguyễn Trãi:

"Lẽ có Ngu cầm đàn một tiếng,

Dân giàu đủ khắp đòi phương."

Sử dụng điển tích về chiếc đàn của vua Thuấn – biểu tượng của triều đại trị vì lí tưởng, nhà thơ mong muốn có được cây đàn ấy để gảy khúc Nam phong. Lời nguyện ước "dân giàu đủ khắp đòi phương" đã hé lộ nỗi lòng thực sự của Ức Trai. Dù thân đang "hóng mát" nhưng tâm chưa bao giờ thảnh thơi; cái đích cuối cùng mà ông hướng tới không phải là sự hưởng lạc cá nhân mà là cuộc sống ấm no của nhân dân toàn thiên hạ. Đây chính là tư tưởng "nhân nghĩa" xuyên suốt cuộc đời và sự nghiệp của ông.

Về nghệ thuật, bài thơ sử dụng thể thơ thất ngôn xen lục ngôn một cách linh hoạt, ngôn ngữ tiếng Việt giản dị nhưng giàu sức gợi. Cách ngắt nhịp biến hóa cùng việc sử dụng các động từ mạnh đã tạo nên nét độc đáo riêng biệt cho thi phẩm.

Tóm lại, "Bảo kính cảnh giới" bài 43 không chỉ là một bài thơ tả cảnh đặc sắc mà còn là một bài ca về lòng yêu đời và tình yêu nhân dân tha thiết. Qua đó, ta thấy được vẻ đẹp nhân cách của Nguyễn Trãi: một tâm hồn nghệ sĩ say đắm thiên nhiên gắn liền với một trái tim vĩ đại luôn đập cùng nhịp đập của nhân dân.


1 Thể thơ : thất ngôn bát cú Đường luật

2 Những hình ảnh nói về nét sinh hoạt hằng ngày đạm bạc, thanh cao của tác giả: ăn măng trúc , ăn giá , tắm hồ sen, tắm ao

3 Biện pháp tu từ liệt kê : một mai , một cuốc, một cần câu

-Tác dụng :

+ Làm tăng hiệu quả biểu đạt , diễn đạt ngăn gọn , dễ hiểu

+ Bức tranh thôn quê hiện lên qua cuộc sống giản dị không cần những thứ giàu sang hào nhoáng chỉ là sản vật từ nhiên nhiên “măng trúc” “giá”  để thấy được cuộc sống an nhàn, đạm bạc thanh cao, lối sống hòa nhập với thiên nhiên của tác giả.

+ Cái thú sống an nhàn ẩn dật, những con người có nhân cách cao đẹp khi sống trong thời loạn lạc ấy để giữ được phẩm giá cốt cách của mình chỉ có cách cáo quan về ẩn dật, an lòng với cảnh nghèo khó, sống chan hòa với thiên nhiên với vũ trụ.

4

- Quan niệm sống nhàn của Nguyễn Bỉnh Khiêm là xa lánh nơi quyền quý giữ cốt cách thanh cao, hòa hợp với tự nhiên.

- Đặt trong hoàn cảnh xã hội lúc bấy h thì đấy là một quan niệm tích cực. Bởi cuộc sống như thế bản thân mình sẽ không bị đồng tiền và quyền lực làm lu mờ đi nhân tâm , sẽ không ủng hộ những thế lực xấu và thói xấu trong xã hội, giữ cho cốt cách được trong sạch, thanh cao.

5 Qua bài thơ Nhàn Nguyễn bỉnh khiêm đã thể hiện một lối sống hòa hợp thuận theo tự nhiên. Ông ung dung thảnh thơi, lánh xa cuộc sống vật chất tầm thường. Để thể hiện cho sự giản dị trong lối sống của mình Nguyễn Bình khiêm đã sử dụng hàng loạt những sự vật giản dị, gần gũi. Ông ăn những món ăn giản dị, sinh hoạt tuần hoàn theo dòng chảy của thời gian. Mọi nhu cầu cuộc sống của ông dù không thừa nhưng cũng không thiếu. Nhàn đối với ông không chỉ thể hiện ở lối sống hòa hợp với thiên nhiên mà còn ở việc phải rời xa danh lợi để giữ cốt cách thanh cao. Ông tự nhận thấy bản thân mình chọn nơi vắng vẻ, tĩnh lặng đã làm cho tâm hồn trở nên thanh thản. Nguyễn bỉnh khiêm đã thể hiện rằng lối sống nhàn chính là lối sống để giữ gìn nhân cách, tu dưỡng tâm tính. Chính lối sống nhàn đã trở thành một triết lý một phương châm sống trong tâm hồn của ông cũng như là những người đời sau. Bài thơ " Nhàn" làm nổi bật nhân cách, trí tuệ sáng ngời, một quan niệm sống phù hợp với hoàn cảnh xã hội có nhiều biểu hiện suy vong thời bấy giờ.



a Ta có : áp lực bằng trọng lượng

=> F1=P1=m1*g=26000N

Áp suất của xe tăng lên mặt đường là

P1=F1/S1=26000/1,3=20000 Pa<1>

b Áp suất của người là

đổi 200 cm^2=0.02m^2

Trọng lượng của người

P2=m2*g=45*10=450 N

Áp suất của người lên mặt đất

P2=F2/S2=450/0,02=22500Pa<2>

từ 1 và 2 suy ra P1<P2

hay Áp suất của xe tăng lên mặt đường bé hơn Áp suất của người lên mặt đất