Hoàng Đức Lưu

Giới thiệu về bản thân

Chào mừng bạn đến với trang cá nhân của Hoàng Đức Lưu
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
(Thường được cập nhật sau 1 giờ!)

câu 1
Lối sống chủ động là khả năng tự kiểm soát, tự quyết định và chịu trách nhiệm về cuộc đời mình thay vì đợi chờ hoàn cảnh tác động. Trong nhịp sống hiện đại đầy biến động, sự chủ động đóng vai trò như một "chiếc la bàn" định hướng cho mỗi cá nhân. Trước hết, người chủ động luôn nắm bắt được thời cơ; họ không đợi cơ hội gõ cửa mà tự tạo ra hoặc sẵn sàng đón nhận nó với tâm thế tốt nhất. Điều này giúp rút ngắn con đường đi đến thành công và tạo ra sự khác biệt giữa người dẫn đầu và kẻ theo sau. Thứ hai, chủ động giúp chúng ta làm chủ cảm xúc và hành vi, từ đó dễ dàng thích nghi với mọi nghịch cảnh hay sự thay đổi của công nghệ và thị trường lao động. Thay vì than vãn "tại sao việc này xảy ra với tôi", người chủ động sẽ hỏi "tôi có thể làm gì để cải thiện tình hình". Tuy nhiên, chủ động không đồng nghĩa với hấp tấp hay độc đoán, mà là sự chuẩn bị kỹ lưỡng và tư duy tích cực. Ngược lại, lối sống thụ động sẽ khiến con người trở nên trì trệ, dễ bị đào thải và luôn sống trong trạng thái hối tiếc. Tóm lại, rèn luyện tính chủ động ngay từ những việc nhỏ nhất như học tập, giao tiếp chính là chìa khóa để mỗi người tự viết nên kịch bản hạnh phúc cho chính mình.

câu2
Bài thơ “Bảo kính cảnh giới” (bài 43) của Nguyễn Trãi là một bức tranh thiên nhiên mùa hè sinh động, đồng thời thể hiện sâu sắc tâm hồn và lý tưởng sống cao đẹp của tác giả. Qua cảm nhận về đoạn thơ, có thể thấy nổi bật hai phương diện: vẻ đẹp của cảnh và tấm lòng vì dân của Nguyễn Trãi.

Trước hết, bức tranh thiên nhiên hiện lên rực rỡ, tràn đầy sức sống. Mở đầu là hình ảnh một con người thư thái: “Rồi hóng mát thuở ngày trường” – một trạng thái ung dung, hòa mình với thiên nhiên. Cảnh vật mùa hè được miêu tả qua những gam màu tươi sáng và những hình ảnh giàu sức gợi: “Hoè lục đùn đùn tán rợp trương” gợi tán cây xanh um, xòe rộng; “Thạch lựu hiên còn phun thức đỏ” như những bông hoa lựu đỏ rực đang bung nở; “Hồng liên trì đã tịn mùi hương” đem đến cảm giác thanh khiết, dịu nhẹ. Thiên nhiên không tĩnh lặng mà tràn đầy sức sống, vận động không ngừng.

Không chỉ có màu sắc, bức tranh còn có âm thanh sinh động: “Lao xao chợ cá làng ngư phủ” và “Dắng dỏi cầm ve lầu tịch dương”. Những âm thanh ấy vừa gần gũi, đời thường, vừa làm nổi bật nhịp sống lao động của con người. Cảnh thiên nhiên vì thế không tách rời cuộc sống mà gắn bó mật thiết với sinh hoạt của nhân dân, tạo nên một bức tranh hài hòa giữa thiên nhiên và con người.

Đặc biệt, hai câu thơ cuối đã bộc lộ rõ tấm lòng và lý tưởng của Nguyễn Trãi:
“Lẽ có Ngu cầm đàn một tiếng,
Dân giàu đủ khắp đòi phương.”
Tác giả mượn điển tích “Ngu cầm” (cây đàn của vua Thuấn) để bày tỏ ước mong có thể đem lại cuộc sống ấm no, hạnh phúc cho nhân dân khắp nơi. Dù đang sống trong cảnh nhàn, tâm hồn ông vẫn hướng về dân, lo cho dân. Đây chính là biểu hiện của tư tưởng nhân nghĩa, yêu nước thương dân sâu sắc – nét đẹp lớn trong nhân cách của Nguyễn Trãi.

Về nghệ thuật, bài thơ sử dụng ngôn ngữ giản dị mà giàu hình ảnh, kết hợp hài hòa giữa tả cảnh và biểu cảm. Các từ láy như “đùn đùn”, “lao xao”, “dắng dỏi” góp phần tăng sức gợi hình, gợi cảm. Thể thơ thất ngôn xen lục ngôn linh hoạt cũng tạo nên nhịp điệu tự nhiên, phù hợp với cảm xúc.

Tóm lại, đoạn thơ không chỉ là một bức tranh mùa hè rực rỡ mà còn là tiếng lòng của một con người luôn trăn trở vì dân, vì nước. Qua đó, Nguyễn Trãi hiện lên như một nhân cách lớn, một tấm gương sáng về lòng yêu nước và tinh thần nhân nghĩa.

Câu 1: Thể thơ của văn bản là Thất ngôn bát cú Đường luật. Câu 2: Những hình ảnh nói về nét sinh hoạt hàng ngày đạm bạc, thanh cao của tác giả:
  • Công cụ lao động: Một mai, một cuốc, một cần câu.
  • Thức ăn dân dã theo mùa: Măng trúc (mùa thu), giá (mùa đông).
  • Sinh hoạt tự nhiên: Tắm hồ sen (mùa xuân), tắm ao (mùa hạ).
  • Thú vui tao nhã: Uống rượu bên cội cây.
Câu 3:
  • Biện pháp liệt kê: mai, cuốc, cần câu.
  • Tác dụng:
    • Gợi ra cuộc sống lao động thuần hậu, giản dị của một lão nông tri điền.
    • Thể hiện phong thái ung dung, tự tại, chủ động và sự chuẩn bị sẵn sàng cho cuộc sống điền viên, xa rời danh lợi của nhà thơ.
Câu 4: Quan niệm "dại – khôn" của tác giả có sự đảo ngược thú vị và sâu sắc:
  • Thông thường, người ta cho rằng "khôn" là phải đến "chốn lao xao" (nơi quyền quý, cửa quyền) để cầu danh lợi; còn "dại" là tìm đến "nơi vắng vẻ" (nơi tĩnh lặng, ẩn dật).
  • Ở đây, Nguyễn Bỉnh Khiêm tự nhận mình "dại" nhưng thực chất là cái khôn của bậc đại trí. Ông thấu hiểu quy luật vinh nhục, hiểu rằng phú quý chỉ là giấc chiêm bao nên chọn lối sống hòa hợp với thiên nhiên để giữ cốt cách sạch trong. Cái "khôn" của người đời thực chất lại là sự đánh đổi bình yên để lấy những thứ phù du.
Câu 5:
Vẻ đẹp nhân cách của Nguyễn Bỉnh Khiêm qua bài thơ là sự kết hợp giữa trí tuệ uyên thâm và tâm hồn cao khiết. Ông hiện lên với thái độ sống tích cực, không oán thán mà tự tại, an nhiên giữa chốn thôn quê. Nhân cách ấy thể hiện ở bản lĩnh rời bỏ danh lợi để giữ gìn sự thanh cao, không để mình cuốn vào vòng xoáy tranh giành quyền lực. Qua cách sống thuận theo tự nhiên "thu ăn măng trúc, đông ăn giá", ta thấy một tâm hồn yêu thiên nhiên tha thiết và một triết lý sống lánh đục tìm trong, luôn giữ vững thiên lương trước những cám dỗ của vật chất.