Phạm Minh Triết

Giới thiệu về bản thân

Chào mừng bạn đến với trang cá nhân của Phạm Minh Triết
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
(Thường được cập nhật sau 1 giờ!)

Bài văn biểu cảm về một sự việc để lại ấn tượng sâu sắc

Trong cuộc sống, mỗi chúng ta đều có những sự việc đã xảy ra nhưng không bao giờ phai mờ trong ký ức. Đối với em, sự việc để lại ấn tượng sâu sắc nhất chính là lần em bị ốm nặng và được mẹ chăm sóc suốt đêm.

Hôm đó, em bị sốt cao, người mệt lả, đầu đau như búa bổ. Cả đêm em trằn trọc không ngủ được. Mẹ ngồi bên cạnh giường, hết lau người cho em lại đo nhiệt độ, cho em uống thuốc đúng giờ. Đôi mắt mẹ thâm quầng vì thiếu ngủ, khuôn mặt hiện rõ vẻ lo lắng. Mỗi lần em trở mình, mẹ lại giật mình hỏi: “Con có mệt lắm không?”. Giọng mẹ dịu dàng nhưng đầy yêu thương.

Có lúc em tỉnh giấc giữa đêm, thấy mẹ gục đầu bên giường, tay vẫn nắm chặt tay em. Khoảnh khắc ấy khiến tim em nghẹn lại. Em bỗng nhận ra rằng, bao lâu nay mình vô tư, chưa từng nghĩ đến những hi sinh thầm lặng của mẹ. Mẹ luôn là người lo lắng cho em từng bữa ăn, giấc ngủ, dù mệt mỏi vẫn không một lời than vãn.

Sau lần ốm đó, em khỏe lại nhưng trong lòng em đã thay đổi rất nhiều. Em biết yêu thương mẹ hơn, biết quan tâm và giúp đỡ mẹ những việc nhỏ trong gia đình. Sự việc ấy không chỉ là một kỷ niệm buồn vì bệnh tật, mà còn là bài học sâu sắc về tình mẫu tử thiêng liêng.

Đến bây giờ, mỗi khi nhớ lại, em vẫn cảm thấy ấm áp và xúc động. Đó sẽ mãi là sự việc khắc sâu trong trái tim em, nhắc nhở em phải sống tốt hơn và yêu thương mẹ nhiều hơn mỗi ngày.

Bài văn biểu cảm về một sự việc để lại ấn tượng sâu sắc

Trong cuộc sống, mỗi chúng ta đều có những sự việc đã xảy ra nhưng không bao giờ phai mờ trong ký ức. Đối với em, sự việc để lại ấn tượng sâu sắc nhất chính là lần em bị ốm nặng và được mẹ chăm sóc suốt đêm.

Hôm đó, em bị sốt cao, người mệt lả, đầu đau như búa bổ. Cả đêm em trằn trọc không ngủ được. Mẹ ngồi bên cạnh giường, hết lau người cho em lại đo nhiệt độ, cho em uống thuốc đúng giờ. Đôi mắt mẹ thâm quầng vì thiếu ngủ, khuôn mặt hiện rõ vẻ lo lắng. Mỗi lần em trở mình, mẹ lại giật mình hỏi: “Con có mệt lắm không?”. Giọng mẹ dịu dàng nhưng đầy yêu thương.

Có lúc em tỉnh giấc giữa đêm, thấy mẹ gục đầu bên giường, tay vẫn nắm chặt tay em. Khoảnh khắc ấy khiến tim em nghẹn lại. Em bỗng nhận ra rằng, bao lâu nay mình vô tư, chưa từng nghĩ đến những hi sinh thầm lặng của mẹ. Mẹ luôn là người lo lắng cho em từng bữa ăn, giấc ngủ, dù mệt mỏi vẫn không một lời than vãn.

Sau lần ốm đó, em khỏe lại nhưng trong lòng em đã thay đổi rất nhiều. Em biết yêu thương mẹ hơn, biết quan tâm và giúp đỡ mẹ những việc nhỏ trong gia đình. Sự việc ấy không chỉ là một kỷ niệm buồn vì bệnh tật, mà còn là bài học sâu sắc về tình mẫu tử thiêng liêng.

Đến bây giờ, mỗi khi nhớ lại, em vẫn cảm thấy ấm áp và xúc động. Đó sẽ mãi là sự việc khắc sâu trong trái tim em, nhắc nhở em phải sống tốt hơn và yêu thương mẹ nhiều hơn mỗi ngày.

Trong văn bản “Cậu bé nạo ống khói” (trích Những tấm lòng cao cả của Edmondo De Amicis), nhân vật cậu bé nạo ống khói đã để lại trong lòng người đọc nhiều xúc động sâu sắc.

Trước hết, cậu bé là một đứa trẻ nghèo khổ, bất hạnh. Em phải đi làm nghề nạo ống khói – một công việc nặng nhọc, bẩn thỉu, nguy hiểm, không phù hợp với lứa tuổi. Hình ảnh cậu “đen ngòm những bồ hóng”, quần áo và đồ nghề lấm lem cho thấy cuộc sống vất vả, thiếu thốn của em. Số tiền em kiếm được chỉ là ba hào ít ỏi nhưng lại vô cùng quan trọng, bởi mất số tiền đó đồng nghĩa với việc em có thể bị chủ đánh đập.

Không chỉ nghèo, cậu bé còn là người hiền lành, đáng thương. Khi bị rơi mất tiền, em không than trách ai mà chỉ biết đứng khóc nức nở, tuyệt vọng. Gương mặt “hiền hậu” và nỗi sợ không dám trở về nhà chủ cho thấy em là một đứa trẻ ngoan, cam chịu và yếu đuối trước hoàn cảnh khắc nghiệt.

Đặc biệt, qua phản ứng của cậu bé trước sự giúp đỡ của các nữ sinh, người đọc càng thêm xót xa và cảm động. Cậu không đòi hỏi, không van xin mà chỉ âm thầm nhận sự giúp đỡ bằng những giọt nước mắt. Hình ảnh cậu đứng một mình trên đường phố, tay đầy xu và hoa nhỏ sau khi các nữ sinh chạy đi, càng làm nổi bật số phận đáng thương nhưng cũng rất đáng trân trọng của em.

Qua việc xây dựng nhân vật cậu bé nạo ống khói, tác giả đã bày tỏ niềm cảm thương sâu sắc đối với trẻ em nghèo và lên án những bất công trong xã hội. Đồng thời, nhân vật này góp phần làm nổi bật vẻ đẹp của tình người, khơi dậy trong lòng người đọc lòng nhân ái và tinh thần sẻ chia.

Tóm lại, cậu bé nạo ống khói là hình ảnh tiêu biểu cho những đứa trẻ nghèo khổ nhưng hiền lành, đáng thương. Nhân vật đã để lại bài học sâu sắc về lòng yêu thương và sự cảm thông giữa con người với con người.

Qua văn bản “Cậu bé nạo ống khói”, em rút ra được bài học về lòng nhân ái, sự cảm thông và tinh thần sẻ chia giữa con người với con người. Câu chuyện nhắc nhở chúng ta cần biết quan tâm, giúp đỡ những người có hoàn cảnh khó khăn, dù chỉ bằng những việc làm nhỏ bé, bởi sự sẻ chia chân thành có thể mang lại niềm an ủi và hạnh phúc cho người khác cũng như cho chính mình.

Biện pháp tu từ được sử dụng trong câu văn là so sánh (“đổ ra như mưa”).

Tác dụng:
Cách so sánh này làm nổi bật hình ảnh những đồng xu rơi ra rất nhiều, liên tục, gợi cảm giác dồi dào, không dứt. Qua đó, câu văn trở nên sinh động hơn và nhấn mạnh mức độ nhiều đến bất ngờ của số tiền được đổ ra.

bài làm:

Bài thơ Chiều đồng nội của Nguyễn Lãm Thắng gợi lên trong lòng người đọc một bức tranh quê hương bình dị nhưng vô cùng đẹp đẽ và thấm đượm tình cảm. Từ những câu thơ đầu tiên, hình ảnh “những giọt thu trong veo” đã mở ra một không gian mùa thu nhẹ nhàng, trong trẻo. Mùa thu không chỉ được nhìn thấy bằng mắt mà còn được cảm nhận bằng cả tâm hồn, bởi nó rắc đều lên cánh đồng một vẻ đẹp mát lành, thanh sạch. Hình ảnh “cánh chim bay xuống chiều” hay “cánh cò trôi nhanh nhanh” càng làm cho khung cảnh ấy trở nên sinh động, gợi nhớ đến những buổi chiều đồng quê thanh bình quen thuộc.

Tác giả sử dụng nhiều chi tiết gợi cảm, khiến thiên nhiên hiện lên thật mềm mại và đầy sức sống. Gió, nắng, chim trời, hoa dại và sóng lúa đều hòa vào nhau, tạo nên một bản hòa ca của làng quê Việt Nam. Sự xuất hiện của “đàn trâu về chậm rãi” làm bức tranh thêm gần gũi với đời sống lao động, gợi hình ảnh bao thế hệ người nông dân lam lũ mà hiền hậu. Mùa thu trong bài thơ không chỉ đẹp về cảnh sắc mà còn gợi ra sự yên bình, ấm áp—như một bàn tay mềm đang khẽ chạm vào từng “thảm lụa” của sóng lúa.

Khổ thơ cuối tạo nên một điểm nhấn đầy xúc động. “Bếp nhà ai tỏa khói, gọi trăng thu xuống gần” là hình ảnh rất thơ, rất tình, vừa thực vừa ảo. Khói bếp quê bao đời đã nuôi dưỡng tuổi thơ của biết bao người. Nó không chỉ gợi sự ấm cúng của mái nhà mà còn gợi vẻ đẹp bình dị, chân chất của cuộc sống nơi đồng nội. Nhờ biện pháp nhân hóa, cảnh vật như có linh hồn, có cảm xúc, biết trò chuyện với con người. Qua đó, ta cảm nhận được tấm lòng yêu quê sâu sắc của tác giả dành cho cánh đồng, cho những điều giản dị mà quý giá.

Bài thơ không chỉ miêu tả một buổi chiều thu trên cánh đồng, mà còn gợi dậy trong mỗi người nỗi nhớ quê tha thiết. Đọc bài thơ, ta như được trở về với tuổi thơ, nơi có khói bếp lam chiều, có sóng lúa nhấp nhô và có những chiều quê yên bình đến lạ. Đó chính là vẻ đẹp mà Nguyễn Lãm Thắng muốn gửi gắm: quê hương luôn hiện hữu trong những điều giản dị nhất, và mỗi chúng ta cần biết trân trọng, gìn giữ những giá trị ấy.

câu 1 : Văn bản trên được viết theo thể thơ 4 chữ

câu 2 :

  1. “Những giọt thu trong veo / Rắc ngang qua đồng nội” – gợi hình ảnh mùa thu nhẹ nhàng, trong trẻo trải rộng trên cánh đồng.
  2. “Cánh chim bay xuống chiều / Nâng nắng lên kẻo mỏi” – hình ảnh cánh chim trong buổi chiều thu.
  3. “Cỏ thơm cùng hoa dại” miêu tả đồng cỏ xanh, thơm và những bông hoa dại.

câu 3 : Từ láy trong hai khổ thơ cuối:
“chậm rãi” (khổ 2) hoặc “nhấp nhô” (khổ 3) hoặc “mướt xanh” (khổ 2).
câu 4 : Bài thơ viết về khung cảnh đồng nội vào mùa nào?
Mùa thu thể hiện qua các từ: “thu”, “giọt thu”, “trăng thu”.

câu 5 : biện pháp tu từ:
Nhân hoá (Khói “gọi” trăng như hành động của con người).

Phân tích tác dụng:
Biện pháp nhân hoá làm cho cảnh vật trở nên sống động, gần gũi, có hồn. Việc “khói” biết “gọi trăng thu xuống gần” gợi lên khung cảnh chiều quê yên bình, thơ mộng. Đồng thời thể hiện tình cảm trân trọng vẻ đẹp bình dị của đồng nội, làm nổi bật sự giao hòa giữa con người và thiên nhiên trong buổi chiều thu.

câu 6 : Khi đọc bài thơ, em chợt nhớ về những buổi chiều theo mẹ ra cánh đồng quê để nhặt lúa và ngắm hoàng hôn buông xuống. Mùi khói bếp lan nhẹ trong gió và tiếng chim gọi bầy khiến em cảm thấy thật bình yên. Kỉ niệm ấy giúp em hiểu rằng tác giả muốn truyền tải thông điệp: vẻ đẹp của quê hương luôn hiện hữu trong những điều rất đỗi bình dị. Chỉ cần ta biết ngắm nhìn và trân trọng, ta sẽ thấy tình quê ấm áp và sâu nặng trong từng cảnh vật quen thuộc.

Giải

Số hàng hoa trồng theo chiều dài mảnh vườn là

5,5 : 1/4 +1 = 23 hàng

Số hàng hoa trồng theo chiều rộng mảnh vườn là

3,75 : 1/4 + 1 = 16 hàng

Số khóm hoa trồng là

23 x 16 = 368 khóm hoa

a, \(\frac15+\frac45:x=\frac34\)

= \(\frac45:x=\frac34-\frac15\)

\(\lrArr\frac45:x=\frac{11}{20}\)

\(\lrArr x=\frac45:\frac{11}{20}\)

\(\lrArr x=\frac{80}{55}=\frac{16}{11}\)

b, \(x+\frac12=1-x\)

\(\lrArr x+x=1-\frac12\)

\(\lrArr2x=1-\frac12\)

\(\lrArr2x=\frac12\)

\(\lrArr x=\frac14\)

a, ( 2/3 x 5/4 ) - ( 3/4 x 2/3 )

= 10/12 - 6/12

= 1/4

b, 2 x ( -3/2 )2 - 7/2

= 2 x 9/4 - 7/2

= 9/2 - 7/2

= 1

c, -3/4 x 68/13 - 3/4 x 36/13

= -3/4 x ( 68/13 + 36/13 )

= -3/4 x 114/13

= - 342/52