Nguyễn Hoàng Long

Giới thiệu về bản thân

Chào mừng bạn đến với trang cá nhân của Nguyễn Hoàng Long
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
(Thường được cập nhật sau 1 giờ!)

Tiêu chí

Tế bào nhân sơ

Tế bào nhân thực

Kích thước

Nhỏ; dao động từ 1 – 5 µm; chỉ bằng 1/10 tế bào nhân thực.

Lớn hơn, thậm chí có những tế bào có thể quan sát bằng mắt thường.

Mức độ cấu tạo

Đơn giản.

Phức tạp.

Vật chất di truyền

Thường chỉ có 1 phân tử DNA trần, dạng vòng.

Thường có nhiều hơn 1 phân tử DNA dạng thẳng, liên kết với protein tạo nên các NST.

Nhân

Chưa có màng nhân bao bọc nên gọi là vùng nhân.

Có nhân được bao bọc bởi 2 lớp màng.

Hệ thống nội màng

Không có.

Có hệ thống nội màng chia tế bào chất thành các khoang riêng biệt.

Số lượng bào quan

Ít, chỉ có ribosome.

Nhiều, gồm cả bào quan có màng và không có màng.

Đại diện

Vi khuẩn

Tế bào động vật, tế bào thực vật.

Con người không tiêu hóa được cellulose nhưng cellulose lại giúp ích trong tiêu hóa thức ăn: Cellulose kích thích các tế bào niêm mạc ruột tiết ra dịch nhầy làm cho thức ăn được di chuyển trơn tru trong đường ruột đảm bảo cho quá trình tiêu hóa thức ăn diễn ra thuận lợi và hiệu quả. Đồng thời, cellulose cũng cuốn trôi những chất cặn bã bám vào thành ruột ngoài, vì thế, nếu trong khẩu phần thức ăn có quá ít cellulose sẽ rất dễ bị táo bón.


Con người không tiêu hóa được cellulose nhưng cellulose lại giúp ích trong tiêu hóa thức ăn: Cellulose kích thích các tế bào niêm mạc ruột tiết ra dịch nhầy làm cho thức ăn được di chuyển trơn tru trong đường ruột đảm bảo cho quá trình tiêu hóa thức ăn diễn ra thuận lợi và hiệu quả. Đồng thời, cellulose cũng cuốn trôi những chất cặn bã bám vào thành ruột ngoài, vì thế, nếu trong khẩu phần thức ăn có quá ít cellulose sẽ rất dễ bị táo bón.


câu 1

-Các chỉ dẫn sân khấu (nói lệch; vỉa; hát quả giang; đế)

câu2:

-Xúy Vân kể về bản thân: Cô là người có tài cao, hát hay nhưng vì say đắm Trần Phương mà đã phụ tình Kim Nham để rồi kết cục trở thành người điên dại.

-

Đặc điểm của sân khấu chèo thể hiện qua đoạn xưng danh của Xúy Vân:

- Xưng danh: nhân vật tự giới thiệu bản thân.

- Sự tương tác: nhân vật không diễn thao thao bất tuyệt mà có sự tương tác với khán giả thông qua các câu hỏi tu từ, lời tự sự.

câu3

“Chờ cho bông lúa chín vàng,
Để anh đi gặt, để nàng mang cơm.”

-Gợi ước mơ về một cuộc sống vợ chồng bình dị, hòa thuận, người chồng đi làm, người vợ chăm sóc, đầm ấm, hạnh phúc trong lao động.
-Đó là mong muốn gia đình yên ổn và yêu thương.

câu4

Cuộc sống của nàng buồn tủi, cô đơn, thiếu sự chia sẻ:

Kim Nham vắng nhà, lên kinh thi cử

Nàng phải chờ đợi mòn mỏi, sống trong “đắng cay” và “ức”.

Những câu hát diễn tả điều đó:

Đắng cay chẳng có chịu được, ức!”

“Láng giềng ai hay, ức bởi xuân huyên…” (ẩn ý khó khăn, cô độc trong cảnh làm dâu)

Giai điệu “con gà rừng” vốn dùng để bộc lộ uất ức, cay đắng

câu5

Cô đơn, thiếu tình cảm vì chồng xa nhà.

Làm dâu cực nhọc, bị gò bó.

Tâm hồn khao khát yêu thương, muốn được quan tâm, chiều chuộng.

Trần Phương là kẻ giàu có, phong tình, biết ve vãn, đánh trúng tâm lí yếu đuối của nàng.
-Tất cả khiến Xuý Vân dễ bị cám dỗ và lầm đường.

cau6

Xuý Vân vừa đáng thương vừa đáng trách, nhưng đáng thương nhiều hơn. Nàng sống trong cảnh chờ chồng cô độc, làm dâu vất vả nên khát khao hạnh phúc rất đỗi bình thường. Vì yếu đuối, nàng bị Trần Phương dụ dỗ và làm điều sai lầm. Tuy có lỗi khi phản bội chồng, Xuý Vân vẫn đáng cảm thông vì bi kịch của hoàn cảnh và thân phận người phụ nữ thời xưa

câu7

Trao đổi thẳng thắn với chồng về nỗi cô đơn, khó khăn.

Tự chủ kinh tế, tìm việc làm để bớt phụ thuộc.

Tìm sự hỗ trợ từ gia đình, bạn bè hoặc tư vấn tâm lí.

Nếu hôn nhân không hạnh phúc, nàng có thể ly hôn hợp pháp thay vì giả điên.

Lựa chọn một cuộc sống tự do và trách nhiệm, không dựa vào lừa dối hay bị lợi dụng

a. Dấu hiệu nổi bật giúp nhận ra lỗi về mạch lạc là lỗi dùng từ liên kết: mặc dù ... nên 

b. Các lỗi liên kết trong đoạn văn

- Về nội dung

+ câu 1: đề cập việc con người sử dụng điện thoại thay sách

+ câu 2: con người vứt bỏ thói quen đọc sách

+ câu 3: nó khó giúp con người tìm được yên tĩnh trong tâm hồn

=> Các câu không có mối quan hệ triển khai, bổ sung ý nghĩa cho nhau

- Về phép liên kết

+ Sử dụng từ nối không phù hợp: mặc dù ... nên

+ Sử dụng phép thế không phù hợp: Từ “nó” ở câu thứ 3 là điện thoại, nhưng lại được đặt sau câu 2 nói về sách sẽ khiến bạn đọc hiểu “nó” thay cho “sách” dẫn đến hiểu sai ý văn bản. 

c. Cách sửa

Bởi vì không thấy được lợi ích của sách trong việc bồi dưỡng tâm hồn, phát huy trí tưởng tượng và rèn luyện cách suy nghĩ nên không ít người hầu như đã vứt bỏ thói quen đọc sách. Thay vì cầm một cuốn sách để đọc, nhiều người bây giờ chỉ biết lăm lăm trong tay một chiếc điện thoại thông minh. Nó tuy rất tiện lợi trong việc đáp ứng nhu cầu của con người trong cuộc sống hiện đại, nhưng lại khó giúp ta tìm được sự yên tĩnh, lắng sâu trong tâm hồn”.

a. Phép lặp từ được sử dụng nhưng các câu kề nhau nhưng đoan văn vẫn rời rạc vì phương tiện nối giữa các câu không phù hợp và các câu chưa thống nhất cùng một chủ đề. 

b. Đoạn văn chưa có phương tiện kết nối hợp lí, các câu không nói về cùng một chủ đề. 

Câu 1 nói về việc nước ta rất trọng hiền tài. Câu 2 giải thích về người hiền tài. Vì vậy cần có phép nối phù hợp:  Nhà nước ta rất coi trọng hiền tài. Bởi người hiền tài có những năng lực vượt trội so với người bình thường và có thể làm được nhiều việc lớn.

Câu 3 và câu 4 không cùng chủ đề với câu 1. Câu 3 đề cập đến việc hiền tài đời nào cũng có và câu 4 khẳng định tên tuổi, sự nghiệp của họ được nhân dân ghi nhớ. Để thống nhất, mạch lạc, câu 3 và 4 nên giải thích việc “nhà nước ta rất trọng người hiền tài” như thế nào.

a. Về hình thức, đoạn văn bắt đầu bằng chữ cái viết hoa, thụt đầu hàng, là sự gắn kết của các câu văn và kết thúc bằng dấu ngắt câu. 

   Về nội dung, đoạn văn đã diễn đạt một ý hoàn chỉnh: quan niệm về người nghệ sĩ.

b. 

Mạch lạc về nội dung giữa các câu trong đoạn văn:

- Câu 1: khẳng định bản chất nghệ thuật của con người

- Câu 2: chỉ ra những tác động đến bản chất nghệ thuật ấy

- Câu 3: chỉ ra tinh thần không khuất phục những tác động trên

- Câu 4: khẳng định đó là nghệ sĩ

=> Mỗi câu văn đều phải dựa vào câu văn trước đó làm tiền đề để nêu ý nghĩa. 

Mạch lạc trong phép liên kết:

- Phép lặp: chỉ, đồng cảm

- Phép thế: tấm lòng ấy, những người ấy

- Phép nối: Nói cách khác

c. Dấu hiệu cho thấy mạch lạc giữa đoạn văn này và các đoạn văn khác của văn bản “Yêu và đồng cảm” là có từ nối: “Nói cách khác”. Điều này cho thấy đoạn văn trước đó tác giả đã đề cập đến nội dung về người nghệ sĩ. 

d. Trong đoạn văn, từ ngữ “người”, “đồng cảm”, “chỉ” được lặp lại nhiều lần. Việc lặp như vậy nhằm tạo ra mạch liên kết trong văn bản, giúp các câu trong đoạn văn cùng thống nhất một chủ đề.

Văn bản “Hiền tài là nguyên khí của quốc gia” có cách lập luận chặt chẽ, mạch lạc, giàu thuyết phục. Mở đầu, tác giả đưa ra khái niệm “hiền tài”, khẳng định hiền tài có ý nghĩa quan trọng đối với vận mệnh dân tộc thông qua cách trọng dụng, đối đãi của những đấng thánh đế minh vương và cuối cùng là nêu lên tác dụng to lớn của việc được khắc tên lên bia tiến sĩ đối với người đương thời và các thế hệ sau. Các luận điểm có mối liên hệ chặt chẽ, luận điểm trước là tiền đề để luận điểm sau phát triển.