Trịnh Thị Ngọc Hà
Giới thiệu về bản thân
Câu 1.
Hiện tượng tiếc thương sinh thái là trạng thái tâm lí đau buồn, lo lắng trước những mất mát về môi trường, hệ sinh thái do biến đổi khí hậu gây ra (đã xảy ra hoặc có thể xảy ra trong tương lai).
Câu 2.
Bài viết trình bày thông tin theo trình tự:
- Nêu vấn đề (biến đổi khí hậu và tác động tâm lí).
- Giải thích khái niệm “tiếc thương sinh thái”.
- Đưa ra dẫn chứng thực tế (các cộng đồng Inuit, người bản địa, cháy rừng Amazon…).
- Mở rộng phạm vi ảnh hưởng (đến cả người trẻ, số liệu khảo sát).
→ Trình tự: từ khái quát → cụ thể → mở rộng.
Câu 3.
Các bằng chứng tác giả sử dụng gồm:
- Ý kiến, định nghĩa của các nhà khoa học.
- Dẫn chứng thực tế từ các cộng đồng trên thế giới.
- Sự kiện cụ thể (cháy rừng Amazon).
- Số liệu khảo sát (tỉ lệ người trẻ lo lắng về biến đổi khí hậu).
Câu 4.
Cách tiếp cận của tác giả:
- Mới mẻ, nhân văn: nhìn biến đổi khí hậu từ góc độ tâm lí con người.
- Kết hợp khoa học và thực tiễn (lí thuyết + dẫn chứng).
- Có sức thuyết phục và gợi suy ngẫm sâu sắc
Câu 5.
Thông điệp:
Con người cần nhận thức rõ tác động nghiêm trọng của biến đổi khí hậu không chỉ với môi trường mà còn với đời sống tinh thần, từ đó nâng cao ý thức bảo vệ thiên nhiên và hành động kịp thời để gìn giữ Trái Đất.
Câu 1:
Biến đổi khí hậu đang ngày càng tác động mạnh mẽ đến cuộc sống con người, không chỉ làm tổn hại môi trường mà còn gây ra những khủng hoảng về tâm lí. Vì vậy, việc bảo vệ môi trường trở nên vô cùng quan trọng. Trước hết, môi trường là nền tảng của sự sống, cung cấp không khí, nước và tài nguyên thiết yếu. Khi môi trường bị hủy hoại, con người cũng phải đối mặt với thiên tai, dịch bệnh và nhiều nguy cơ khác. Không chỉ vậy, như văn bản đã chỉ ra, những mất mát về thiên nhiên còn khiến con người rơi vào trạng thái lo âu, đau buồn – một dạng “tiếc thương sinh thái”. Điều đó cho thấy bảo vệ môi trường không chỉ là bảo vệ sự sống vật chất mà còn là giữ gìn sự cân bằng tinh thần. Mỗi người có thể góp phần bằng những hành động nhỏ như tiết kiệm điện, giảm rác thải nhựa, trồng cây xanh hay nâng cao ý thức cộng đồng. Khi con người sống hài hòa với thiên nhiên, cuộc sống sẽ bền vững hơn. Bảo vệ môi trường chính là bảo vệ tương lai của chính chúng ta.
Câu 2 :
Trong văn học trung đại, hình tượng người ẩn sĩ thường gắn với lối sống thanh cao, hòa mình vào thiên nhiên, tránh xa danh lợi. Qua hai bài thơ, hình ảnh này hiện lên vừa có điểm tương đồng, vừa mang những sắc thái riêng.
Trước hết, ở bài thơ “Nhàn”, người ẩn sĩ hiện lên với lối sống giản dị, ung dung: “Một mai, một cuốc, một cần câu”. Cuộc sống lao động tự nhiên, không vướng bận bon chen cho thấy một tâm thế chủ động lựa chọn “nơi vắng vẻ”. Tác giả khẳng định quan niệm sống rõ ràng: xa lánh danh lợi, coi thường phú quý. Những hình ảnh “thu ăn măng trúc, đông ăn giá”, “xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao” gợi cuộc sống thuận theo tự nhiên, thanh đạm mà thanh cao. Đặc biệt, câu thơ cuối thể hiện thái độ dứt khoát: coi phú quý chỉ như giấc chiêm bao. Người ẩn sĩ ở đây mang vẻ đẹp trí tuệ, bản lĩnh và sự tỉnh táo trước vòng danh lợi.
Trong khi đó, bài thơ thứ hai lại khắc họa người ẩn sĩ với tâm trạng tinh tế hơn. Cảnh thu hiện lên qua những hình ảnh nhẹ nhàng: “trời thu xanh ngắt”, “cần trúc lơ phơ”, “nước biếc”… tạo nên không gian yên tĩnh, thanh sạch. Con người hòa vào thiên nhiên, cảm nhận vẻ đẹp trong trẻo của đất trời. Tuy nhiên, ẩn sau đó là nỗi niềm trăn trở: tiếng chim, bóng trăng, hoa cũ… đều gợi cảm giác thời gian trôi, lòng người man mác buồn. Câu kết “nghĩ ra lại thẹn với ông Đào” thể hiện sự tự vấn, chưa đạt được sự thanh thản tuyệt đối như những bậc ẩn sĩ xưa. Như vậy, người ẩn sĩ ở đây không chỉ sống ẩn dật mà còn mang nỗi niềm suy tư, day dứt.
So sánh hai bài thơ, có thể thấy điểm giống nhau là đều ca ngợi lối sống hòa hợp với thiên nhiên, đề cao sự thanh cao, tránh xa danh lợi. Cả hai đều xây dựng hình ảnh con người gắn bó với cảnh vật, lấy thiên nhiên làm nơi nương tựa tinh thần. Tuy nhiên, điểm khác biệt nằm ở sắc thái cảm xúc: nếu bài “Nhàn” thể hiện sự ung dung, dứt khoát thì bài thơ còn lại lại thiên về cảm xúc trữ tình, có chút băn khoăn, tự vấn. Một bên là sự lựa chọn rõ ràng, một bên là sự chiêm nghiệm nội tâm.
Qua đó, có thể thấy hình tượng người ẩn sĩ trong văn học trung đại không hề đơn giản. Đó không chỉ là con người lánh đời mà còn là người có nhân cách cao đẹp, biết sống thuận tự nhiên và luôn suy ngẫm về chính mình. Hai bài thơ đã góp phần làm phong phú thêm vẻ đẹp của hình tượng này, đồng thời gửi gắm những triết lí sâu sắc về lẽ sống.
Câu 1: Ngôi kể : thứ nhất
Câu 2:
Điểm nhìn: Từ nhân vật “tôi” – người con gái Chi-hon.
Câu 3:
Biện pháp nghệ thuật được sử dụng: Liệt kê (Bắc Kinh, Trung Quốc; ga tàu điện ngầm Seoul; quầy sách ở triển lãm…).
Tác dụng:
• Làm nổi bật hoàn cảnh và các địa điểm liên quan đến sự việc mẹ bị lạc.
• Giúp câu chuyện trở nên cụ thể, chân thực.
• Thể hiện sự bối rối, lo lắng và suy nghĩ của người con khi nhớ lại sự việc.
Câu 4:
Qua lời kể của người con gái, người mẹ hiện lên là người phụ nữ tần tảo, hi sinh, giản dị và luôn yêu thương gia đình.
Câu 5:
Chi-hon hối tiếc vì đã chưa quan tâm, chăm sóc mẹ nhiều hơn khi mẹ còn ở bên. Những hành động vô tâm trong cuộc sống có thể khiến người thân bị tổn thương mà ta không nhận ra. Nhiều khi ta mải bận rộn với công việc, cuộc sống mà quên dành thời gian quan tâm đến cha mẹ. Chỉ đến khi mất đi hoặc xảy ra chuyện, ta mới cảm thấy hối hận. Vì vậy, mỗi người cần biết yêu thương, quan tâm và trân trọng những người thân khi họ còn ở bên cạnh.
Câu 1: Ngôi kể : thứ nhất
Câu 2:
Điểm nhìn: Từ nhân vật “tôi” – người con gái Chi-hon.
Câu 3:
Biện pháp nghệ thuật được sử dụng: Liệt kê (Bắc Kinh, Trung Quốc; ga tàu điện ngầm Seoul; quầy sách ở triển lãm…).
Tác dụng:
• Làm nổi bật hoàn cảnh và các địa điểm liên quan đến sự việc mẹ bị lạc.
• Giúp câu chuyện trở nên cụ thể, chân thực.
• Thể hiện sự bối rối, lo lắng và suy nghĩ của người con khi nhớ lại sự việc.
Câu 4:
Qua lời kể của người con gái, người mẹ hiện lên là người phụ nữ tần tảo, hi sinh, giản dị và luôn yêu thương gia đình.
Câu 5:
Chi-hon hối tiếc vì đã chưa quan tâm, chăm sóc mẹ nhiều hơn khi mẹ còn ở bên. Những hành động vô tâm trong cuộc sống có thể khiến người thân bị tổn thương mà ta không nhận ra. Nhiều khi ta mải bận rộn với công việc, cuộc sống mà quên dành thời gian quan tâm đến cha mẹ. Chỉ đến khi mất đi hoặc xảy ra chuyện, ta mới cảm thấy hối hận. Vì vậy, mỗi người cần biết yêu thương, quan tâm và trân trọng những người thân khi họ còn ở bên cạnh.
Câu 1:
Văn bản thể hiện nỗi nhớ quê hương và cảm xúc bâng khuâng của người xa quê khi ngắm cảnh nơi đất khách.
Câu 2:
Hình ảnh: nắng, mây, đồi, cây, lá, phố phường, nếp nhà, trăng, con đường, người ta.
Câu 3:
Cảm hứng chủ đạo: tình yêu và nỗi nhớ tha thiết với quê hương..
Câu 4:
- Ở khổ đầu, hình ảnh nắng vàng, mây bay, đồi nhuộm vàng gợi cảm giác ấm áp, yên bình, thể hiện niềm vui xen lẫn tự hào khi nhớ về quê hương tươi đẹp.
- Ở khổ ba, khi ngắm ánh trăng, nếp nhà, con đường, người ta, nhân vật trữ tình lại thấy buồn, cô đơn, nhớ nhung vì khoảng cách xa quê.
- Cảm xúc chuyển từ êm đềm, bâng khuâng sang sâu lắng, da diết.
Câu 5:
Em ấn tượng nhất với hình ảnh “Như nắng hằng vàng trên núi xa” vì hình ảnh này vừa gợi vẻ đẹp quen thuộc của quê hương, vừa biểu tượng cho nỗi nhớ dịu dàng mà sâu sắc của người con xa xứ.Câu thơ làm nổi bật tình yêu quê và tâm hồn tinh tế của nhân vật trữ tình.
Câu 1:
Văn bản thể hiện nỗi nhớ quê hương và cảm xúc bâng khuâng của người xa quê khi ngắm cảnh nơi đất khách.
Câu 2:
Hình ảnh: nắng, mây, đồi, cây, lá, phố phường, nếp nhà, trăng, con đường, người ta.
Câu 3:
Cảm hứng chủ đạo: tình yêu và nỗi nhớ tha thiết với quê hương..
Câu 4:
- Ở khổ đầu, hình ảnh nắng vàng, mây bay, đồi nhuộm vàng gợi cảm giác ấm áp, yên bình, thể hiện niềm vui xen lẫn tự hào khi nhớ về quê hương tươi đẹp.
- Ở khổ ba, khi ngắm ánh trăng, nếp nhà, con đường, người ta, nhân vật trữ tình lại thấy buồn, cô đơn, nhớ nhung vì khoảng cách xa quê.
- Cảm xúc chuyển từ êm đềm, bâng khuâng sang sâu lắng, da diết.
Câu 5:
Em ấn tượng nhất với hình ảnh “Như nắng hằng vàng trên núi xa” vì hình ảnh này vừa gợi vẻ đẹp quen thuộc của quê hương, vừa biểu tượng cho nỗi nhớ dịu dàng mà sâu sắc của người con xa xứ.Câu thơ làm nổi bật tình yêu quê và tâm hồn tinh tế của nhân vật trữ tình.
Câu 1: Phương thức biểu đạt chính: biểu cảm
Câu 2:
Các tác phẩm được gợi nhắc: Nàng tiên cá, Cô bé bán diêm ...
Câu 3:
- Tác dụng:
+ Gợi dẫn đến những truyện cổ tích của nhà văn Andecxen, mang đến cho người đọc những cảm nhận nhẹ nhàng mà thấm thía từ những câu chuyện cổ.
+ Mang đến màu sắc cổ tích cho bài thơ.
Câu 4:
- Biện pháp tu từ so sánh:Biển mặn mòi với nước mắt của em qua từ "như"
- Tác dụng : + Làm cho câu văn trở lên sinh động, hấp dẫn, tăng
sức diễn đạt
+ Câu thơ cho thấy được hình ảnh nàng tiên cá trong
câu chuyện cổ của Andecxen nhưng cũng là người phụ nữ hiền dịu, sẵn sàng vượt
qua những khó khăn gian khổ trong đời sống thực
Câu 5:
Nhân vật trữ tình trong bài thơ là một người đam mê truyện cổ tích, những câu chuyện đem đến những bài học ý nghĩa của cuộc đời, gắn bó với cuộc đời thật.Đây là một con người giàu ước mơ, hi vọng vào tương lai. Cách nói “Dẫu tuyết lạnh vào ngày mai bão tố/ Dẫu thạch thảo nở hoa bốn mùa dang dở” khẳng định cuộc đời vẫn có thể có nhiều khó khăn, gian khổ nhưng nếu con người giữ vững niềm đam mê cuộc sống, tin tưởng vào một cuộc đời tốt đẹp thì vẫn có thể vượt qua. Ngoài ra, nhân vật trữ tình còn là một người giàu tình yêu cuộc sống, yêu con người: “Que diêm cuối cùng sẽ cháy trọn tình yêu”. Vừa gợi lại câu chuyện cổ Cô bé bán diêm, tác giả cũng xây dựng hình ảnh nhân vật trữ tình luôn hướng về những điều tốt đẹp trong tình yêu cuộc sống.
Câu 1: Phương thức biểu đạt chính: biểu cảm
Câu 2:
Các tác phẩm được gợi nhắc: Nàng tiên cá, Cô bé bán diêm ...
Câu 3:
- Tác dụng:
+ Gợi dẫn đến những truyện cổ tích của nhà văn Andecxen, mang đến cho người đọc những cảm nhận nhẹ nhàng mà thấm thía từ những câu chuyện cổ.
+ Mang đến màu sắc cổ tích cho bài thơ.
Câu 4:
- Biện pháp tu từ so sánh:Biển mặn mòi với nước mắt của em qua từ "như"
- Tác dụng : + Làm cho câu văn trở lên sinh động, hấp dẫn, tăng
sức diễn đạt
+ Câu thơ cho thấy được hình ảnh nàng tiên cá trong
câu chuyện cổ của Andecxen nhưng cũng là người phụ nữ hiền dịu, sẵn sàng vượt
qua những khó khăn gian khổ trong đời sống thực
Câu 5:
Nhân vật trữ tình trong bài thơ là một người đam mê truyện cổ tích, những câu chuyện đem đến những bài học ý nghĩa của cuộc đời, gắn bó với cuộc đời thật.Đây là một con người giàu ước mơ, hi vọng vào tương lai. Cách nói “Dẫu tuyết lạnh vào ngày mai bão tố/ Dẫu thạch thảo nở hoa bốn mùa dang dở” khẳng định cuộc đời vẫn có thể có nhiều khó khăn, gian khổ nhưng nếu con người giữ vững niềm đam mê cuộc sống, tin tưởng vào một cuộc đời tốt đẹp thì vẫn có thể vượt qua. Ngoài ra, nhân vật trữ tình còn là một người giàu tình yêu cuộc sống, yêu con người: “Que diêm cuối cùng sẽ cháy trọn tình yêu”. Vừa gợi lại câu chuyện cổ Cô bé bán diêm, tác giả cũng xây dựng hình ảnh nhân vật trữ tình luôn hướng về những điều tốt đẹp trong tình yêu cuộc sống.
Câu 1: Phương thức biểu đạt chính: biểu cảm
Câu 2:
Các tác phẩm được gợi nhắc: Nàng tiên cá, Cô bé bán diêm ...
Câu 3:
- Tác dụng:
+ Gợi dẫn đến những truyện cổ tích của nhà văn Andecxen, mang đến cho người đọc những cảm nhận nhẹ nhàng mà thấm thía từ những câu chuyện cổ.
+ Mang đến màu sắc cổ tích cho bài thơ.
Câu 4:
- Biện pháp tu từ so sánh:Biển mặn mòi với nước mắt của em qua từ "như"
- Tác dụng : + Làm cho câu văn trở lên sinh động, hấp dẫn, tăng
sức diễn đạt
+ Câu thơ cho thấy được hình ảnh nàng tiên cá trong
câu chuyện cổ của Andecxen nhưng cũng là người phụ nữ hiền dịu, sẵn sàng vượt
qua những khó khăn gian khổ trong đời sống thực
Câu 5:
Nhân vật trữ tình trong bài thơ là một người đam mê truyện cổ tích, những câu chuyện đem đến những bài học ý nghĩa của cuộc đời, gắn bó với cuộc đời thật.Đây là một con người giàu ước mơ, hi vọng vào tương lai. Cách nói “Dẫu tuyết lạnh vào ngày mai bão tố/ Dẫu thạch thảo nở hoa bốn mùa dang dở” khẳng định cuộc đời vẫn có thể có nhiều khó khăn, gian khổ nhưng nếu con người giữ vững niềm đam mê cuộc sống, tin tưởng vào một cuộc đời tốt đẹp thì vẫn có thể vượt qua. Ngoài ra, nhân vật trữ tình còn là một người giàu tình yêu cuộc sống, yêu con người: “Que diêm cuối cùng sẽ cháy trọn tình yêu”. Vừa gợi lại câu chuyện cổ Cô bé bán diêm, tác giả cũng xây dựng hình ảnh nhân vật trữ tình luôn hướng về những điều tốt đẹp trong tình yêu cuộc sống.