Trần Minh Đức

Giới thiệu về bản thân

Chào mừng bạn đến với trang cá nhân của Trần Minh Đức
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
(Thường được cập nhật sau 1 giờ!)

câu 1

Thiên nhiên và tạo hóa đã ban tặng cho chúng ta một vô vàn những kho báu quý báu. Nhờ có sự hiện diện của thiên nhiên, đất nước của chúng ta đã phát triển và thịnh vượng như ngày hôm nay. Thiên nhiên đóng vai trò không thể thiếu và quan trọng đối với cuộc sống của con người. Thiên nhiên, theo một cách đơn giản, là tất cả những gì tồn tại tự nhiên và không phụ thuộc vào tác động của con người. Nó bao gồm đất đai, nước, rừng, động thực vật và tài nguyên thiên nhiên. Thiên nhiên đóng vai trò to lớn bởi nó cung cấp những điều quý báu mà cuộc sống của chúng ta dựa vào. Đầu tiên, thiên nhiên là nguồn cung cấp nước cho chúng ta, là nguồn sống cho cuộc sống con người. Nếu không có nước, cuộc sống sẽ không thể tồn tại. Nước là yếu tố quan trọng trong mọi khía cạnh của cuộc sống, từ việc uống nước hàng ngày cho đến việc trồng trọt và sản xuất. Nó còn giữ vai trò quan trọng trong việc duy trì môi trường tự nhiên và sinh thái hệ. Ngoài ra, thiên nhiên còn cung cấp đất đai cho việc trồng trọt và xây dựng. Đất đai là nguồn tài nguyên thiết yếu để sản xuất thực phẩm và xây dựng cơ sở hạ tầng. Nó là nền tảng cho sự phát triển của một quốc gia và nền kinh tế. Tuy nhiên, bên cạnh những người hiểu rõ giá trị của thiên nhiên và bảo vệ nó, vẫn còn tồn tại một số người tham lam và thiếu ý thức bảo vệ môi trường. Họ tiếp tục phá rừng, chặt phá cây cối một cách bất hợp pháp để tìm kiếm lợi nhuận ngắn hạn, làm mất cân bằng môi trường và gây ra thiệt hại nghiêm trọng. Điều này đòi hỏi sự can thiệp mạnh mẽ hơn từ phía chính phủ và các cơ quan chức năng, cần phải thiết lập các biện pháp răn đe và xử lý kịp thời để ngăn chặn những hành vi này. Về cơ bản, thiên nhiên là nguồn tài nguyên quý báu của chúng ta và đóng một vai trò quan trọng trong cuộc sống của con người. Chúng ta cần nâng cao ý thức và đảm bảo bảo vệ và duy trì thiên nhiên cho tương lai của chúng ta và thế hệ sau.

câu 2 :

Nguyễn Bỉnh Khiêm là một nhà tri thức nho học lỗi lạc của nước ta thế kỉ XVI, được tôn làm trạng trình. Ông là người có khí tiết, có nhân cách, có trí tuệ hơn người. Nhắc đến Nguyễn Bỉnh Khiêm người ta thường nghĩ đến triết lí sống nhàn như một kiểu phản ứng với thời thế nhiễu nhương. Tác phẩm Nhàn được rút trong tập Bạch Vân quốc ngữ thi, một tác phẩm nói lên được quan niệm sống của Nguyễn Bỉnh Khiêm. Bài thơ vẽ ra một nhà trí sĩ, ẩn sĩ với lối sống nhàn.

Nhàn là một chủ đề lớn trong thơ chữ Hán và rất đậm nét trong thơ chữ Nôm của Nguyễn Bỉnh Khiêm. Nhàn là nhàn nhã, thảnh thơi không vướng bận hay còn có thể hiểu là thuận theo tự nhiên, là đối lập với lợi danh, người ẩn sĩ sẵn sàng để rẻ công danh chỉ nhầm đổi lấy nhàn. “Nhàn” chính là một triết lí sống của tri thức thời trước. Với tác giả, lối sống đó cũng là một cách để lánh đục tìm trong. Khi về nhà, thi nhân có điều kiện rộng mở tâm hồn mình, hoà vào cuộc sống thiên nhiên nơi thôn quê, vượt lên mọi thế tục tầm thường.

Hai câu thơ đầu mở ra hoàn cảnh sống thanh nhàn của người tri sĩ ẩn dật.

Một mai, một cuốc, một cần câu
Thơ thẩn dầu ai vui thú nào

Cách dùng số đếm “Một... một... một...”, cùng cách ngắt nhịp chậm 2/2/3 diễn tả trạng thái ung dung, thanh nhàn của kẻ sĩ khi trở về thôn quê. Đi kèm với số từ là danh từ: mai, cuốc, cần câu là dụng cụ lao động của nhà nông, câu thơ đưa người đọc trở về với cuộc sống chất phác, nguyên sơ, dùng mai để đào đất, cuốc để xới đất trồng rau. Tuy nhiên, câu thơ không diễn tả sự vất vả, khổ cực mà là một thái độ ung dung,là niềm vui, niềm hạnh phúc trong cuộc sống lao động hàng ngày. Từ “thơ thẩn” chính là sự thảnh thơi, tự do, được tận hưởng cuộc sống, được làm điều mình thích, hòa mình vào với cuộc sống thôn quê mặc cho những ai chạy theo danh lợi, còn ta vẫn kiên định lối sống ung dung, thư thái với thú chơi lành mạnh, tao nhã.

Ở hai câu thực, người đọc sẽ hiểu rõ hơn được quan niệm sống của tác giả:

Ta dại ta tìm nơi vắng vẻ
Người khôn người tới chốn lao xao

Tác giả đã khẳng định sự đối lập giữa quan niệm sống của “ta“và “người”. Ta thì ta muốn sống tại nơi “vắng vẻ” là một miền thôn dã, yên tĩnh, là một chốn thiên nhiên thuần khiết thanh thản. Người thì tới những “chốn lao xao”, nơi ồn ã, xô bồ, nơi mà có sự bon chen cướp đoạt danh lợi, có khi là hàng hùm để chém giết hại lẫn nhau. “Ta” bỏ đi những cái danh hão, chỉ mong được trở về với thôn quê sống cuộc sống giản dị,dù có là người “dại” còn người “khôn” người bon chen, thi nhau vào vòng danh lợi Nhưng ai dại? Ai mới là khôn? Như vậy, Nguyễn Bỉnh Khiêm mới là người tỉnh táo, dứt khoát bỏ nơi quyền quý hỗn tạp để làm bạn với thiên nhiên, đây cũng là phản ứng của tác giả đối với thực tại, xã hội rối ren và cũng là để thể hiện một trí tuệ uyên thâm, thấu hiểu quy luật cuộc đời:

Thu ăn măng trúc đông ăn giá
Xuân tắm hồ sen hạ tắm ao

Câu thơ luận như một lời tâm sự mộc mạc, tự nhiên về cách sinh hoạt của tác giả. Sự đạm bạc là những món ăn dân dã lấy từ thiên nhiên như “măng trúc”, “giá đỗ”, mùa nào thức ấy. Việc ăn đã vậy, việc tắm cũng rất tự nhiên: tắm hồ, tắm ao. Tuy nhiên, đạm bạc giản dị không phải là khắc khổ, hơn nữa, khi nhắc tới “trúc, sen” người đọc có thể liên tưởng tới phẩm trong sạch của quân tử: ngay thẳng như trúc, trong sạch như sen. Hai câu thơ như là bức tranh hiện lên cảnh sinh hoạt bốn mùa xuân, hạ, thu, đông đủ mùi vị, màu sắc. Có thể nói, hai câu luận đã thể hiện rõ cái thú của con người khi được sống hòa mình với thiên nhiên, nhịp sống của con người đã thích nghi được với nhịp sống của thiên nhiên

Nhàn không chỉ thể hiện ở lối sống mà còn thể hiện ở triết lí sống:

Rượu đến cội cây ta sẽ uống
Nhìn xem phú quý tựa chiêm bao

Từ “rượu” được đưa lên dầu cầu khi đọc phải nhấn mạnh, ngắt thành một nhịp để thấy được tư thế ung dung, nhâm nhi thưởng thức hương vị của cuộc sống. Trong hai câu kết, còn được viết theo lối dùng điển quen thuộc. Trong lời thơ của tác giả có nhắc tới rượu nhưng không phải là đẻ say, cũng không cần vào mộng mà vẫn biết phú quý chỉ là tựa chiêm bao. Giọng thơ nhẹ nhàng, thể hiện tác giả là một con người coi thường công danh, coi thường các thế tục tầm thường. Hai câu kết như khẳng định về trí tuệ uyên thâm, vô cùng tỉnh táo nhìn cuộc sống, ông chọn cách sống để giữ gìn phẩm chất hơn là huỷ hoại nó.

Bài thơ Nhàn được viết bằng các ngôn từ giản dị, cô đọng nhưng giàu ý vị. Cách ngắt nhịp thơ linh hoạt, giọng điệu vừa hóm hỉnh, vừa thăng trầm sâu sắc, kết hợp với các hình ảnh trong bài thể hiện tư tưởng nhàn dật, thanh cao. Là con người nhập thế, phải lựa chọn lối sống ẩn dật. Về nhàn là để cho nhân cách không bị vấy bẩn, để vượt qua khỏi vòng danh lợi, Như vậy, dù có chọn lối sống nhàn thì đối với nhà văn vừa không nhẫn tâm lại vẫn có thể lo cho việc đời, việc nước.

Bài Nhàn là tiêu biểu cho đặc điểm thơ của Nguyễn Bỉnh Khiêm. Ngôn từ giản dị nhưng giàu hàm súc, giàu ý nghĩa, đậm đà tính triết lí về dại khôn, về danh lợi. Qua bài thơ, người đọc cảm nhận được một trí tuệ lớn, một nhân cách lớn và quan niệm sống của thi nhân còn có tác dụng hướng ta tới niềm thanh tịnh của tâm hồng, bồi đắp cho con người thêm tri thức.


câu 1

Thiên nhiên và tạo hóa đã ban tặng cho chúng ta một vô vàn những kho báu quý báu. Nhờ có sự hiện diện của thiên nhiên, đất nước của chúng ta đã phát triển và thịnh vượng như ngày hôm nay. Thiên nhiên đóng vai trò không thể thiếu và quan trọng đối với cuộc sống của con người. Thiên nhiên, theo một cách đơn giản, là tất cả những gì tồn tại tự nhiên và không phụ thuộc vào tác động của con người. Nó bao gồm đất đai, nước, rừng, động thực vật và tài nguyên thiên nhiên. Thiên nhiên đóng vai trò to lớn bởi nó cung cấp những điều quý báu mà cuộc sống của chúng ta dựa vào. Đầu tiên, thiên nhiên là nguồn cung cấp nước cho chúng ta, là nguồn sống cho cuộc sống con người. Nếu không có nước, cuộc sống sẽ không thể tồn tại. Nước là yếu tố quan trọng trong mọi khía cạnh của cuộc sống, từ việc uống nước hàng ngày cho đến việc trồng trọt và sản xuất. Nó còn giữ vai trò quan trọng trong việc duy trì môi trường tự nhiên và sinh thái hệ. Ngoài ra, thiên nhiên còn cung cấp đất đai cho việc trồng trọt và xây dựng. Đất đai là nguồn tài nguyên thiết yếu để sản xuất thực phẩm và xây dựng cơ sở hạ tầng. Nó là nền tảng cho sự phát triển của một quốc gia và nền kinh tế. Tuy nhiên, bên cạnh những người hiểu rõ giá trị của thiên nhiên và bảo vệ nó, vẫn còn tồn tại một số người tham lam và thiếu ý thức bảo vệ môi trường. Họ tiếp tục phá rừng, chặt phá cây cối một cách bất hợp pháp để tìm kiếm lợi nhuận ngắn hạn, làm mất cân bằng môi trường và gây ra thiệt hại nghiêm trọng. Điều này đòi hỏi sự can thiệp mạnh mẽ hơn từ phía chính phủ và các cơ quan chức năng, cần phải thiết lập các biện pháp răn đe và xử lý kịp thời để ngăn chặn những hành vi này. Về cơ bản, thiên nhiên là nguồn tài nguyên quý báu của chúng ta và đóng một vai trò quan trọng trong cuộc sống của con người. Chúng ta cần nâng cao ý thức và đảm bảo bảo vệ và duy trì thiên nhiên cho tương lai của chúng ta và thế hệ sau.

câu 2 :

Nguyễn Bỉnh Khiêm là một nhà tri thức nho học lỗi lạc của nước ta thế kỉ XVI, được tôn làm trạng trình. Ông là người có khí tiết, có nhân cách, có trí tuệ hơn người. Nhắc đến Nguyễn Bỉnh Khiêm người ta thường nghĩ đến triết lí sống nhàn như một kiểu phản ứng với thời thế nhiễu nhương. Tác phẩm Nhàn được rút trong tập Bạch Vân quốc ngữ thi, một tác phẩm nói lên được quan niệm sống của Nguyễn Bỉnh Khiêm. Bài thơ vẽ ra một nhà trí sĩ, ẩn sĩ với lối sống nhàn.

Nhàn là một chủ đề lớn trong thơ chữ Hán và rất đậm nét trong thơ chữ Nôm của Nguyễn Bỉnh Khiêm. Nhàn là nhàn nhã, thảnh thơi không vướng bận hay còn có thể hiểu là thuận theo tự nhiên, là đối lập với lợi danh, người ẩn sĩ sẵn sàng để rẻ công danh chỉ nhầm đổi lấy nhàn. “Nhàn” chính là một triết lí sống của tri thức thời trước. Với tác giả, lối sống đó cũng là một cách để lánh đục tìm trong. Khi về nhà, thi nhân có điều kiện rộng mở tâm hồn mình, hoà vào cuộc sống thiên nhiên nơi thôn quê, vượt lên mọi thế tục tầm thường.

Hai câu thơ đầu mở ra hoàn cảnh sống thanh nhàn của người tri sĩ ẩn dật.

Một mai, một cuốc, một cần câu
Thơ thẩn dầu ai vui thú nào

Cách dùng số đếm “Một... một... một...”, cùng cách ngắt nhịp chậm 2/2/3 diễn tả trạng thái ung dung, thanh nhàn của kẻ sĩ khi trở về thôn quê. Đi kèm với số từ là danh từ: mai, cuốc, cần câu là dụng cụ lao động của nhà nông, câu thơ đưa người đọc trở về với cuộc sống chất phác, nguyên sơ, dùng mai để đào đất, cuốc để xới đất trồng rau. Tuy nhiên, câu thơ không diễn tả sự vất vả, khổ cực mà là một thái độ ung dung,là niềm vui, niềm hạnh phúc trong cuộc sống lao động hàng ngày. Từ “thơ thẩn” chính là sự thảnh thơi, tự do, được tận hưởng cuộc sống, được làm điều mình thích, hòa mình vào với cuộc sống thôn quê mặc cho những ai chạy theo danh lợi, còn ta vẫn kiên định lối sống ung dung, thư thái với thú chơi lành mạnh, tao nhã.

Ở hai câu thực, người đọc sẽ hiểu rõ hơn được quan niệm sống của tác giả:

Ta dại ta tìm nơi vắng vẻ
Người khôn người tới chốn lao xao

Tác giả đã khẳng định sự đối lập giữa quan niệm sống của “ta“và “người”. Ta thì ta muốn sống tại nơi “vắng vẻ” là một miền thôn dã, yên tĩnh, là một chốn thiên nhiên thuần khiết thanh thản. Người thì tới những “chốn lao xao”, nơi ồn ã, xô bồ, nơi mà có sự bon chen cướp đoạt danh lợi, có khi là hàng hùm để chém giết hại lẫn nhau. “Ta” bỏ đi những cái danh hão, chỉ mong được trở về với thôn quê sống cuộc sống giản dị,dù có là người “dại” còn người “khôn” người bon chen, thi nhau vào vòng danh lợi Nhưng ai dại? Ai mới là khôn? Như vậy, Nguyễn Bỉnh Khiêm mới là người tỉnh táo, dứt khoát bỏ nơi quyền quý hỗn tạp để làm bạn với thiên nhiên, đây cũng là phản ứng của tác giả đối với thực tại, xã hội rối ren và cũng là để thể hiện một trí tuệ uyên thâm, thấu hiểu quy luật cuộc đời:

Thu ăn măng trúc đông ăn giá
Xuân tắm hồ sen hạ tắm ao

Câu thơ luận như một lời tâm sự mộc mạc, tự nhiên về cách sinh hoạt của tác giả. Sự đạm bạc là những món ăn dân dã lấy từ thiên nhiên như “măng trúc”, “giá đỗ”, mùa nào thức ấy. Việc ăn đã vậy, việc tắm cũng rất tự nhiên: tắm hồ, tắm ao. Tuy nhiên, đạm bạc giản dị không phải là khắc khổ, hơn nữa, khi nhắc tới “trúc, sen” người đọc có thể liên tưởng tới phẩm trong sạch của quân tử: ngay thẳng như trúc, trong sạch như sen. Hai câu thơ như là bức tranh hiện lên cảnh sinh hoạt bốn mùa xuân, hạ, thu, đông đủ mùi vị, màu sắc. Có thể nói, hai câu luận đã thể hiện rõ cái thú của con người khi được sống hòa mình với thiên nhiên, nhịp sống của con người đã thích nghi được với nhịp sống của thiên nhiên

Nhàn không chỉ thể hiện ở lối sống mà còn thể hiện ở triết lí sống:

Rượu đến cội cây ta sẽ uống
Nhìn xem phú quý tựa chiêm bao

Từ “rượu” được đưa lên dầu cầu khi đọc phải nhấn mạnh, ngắt thành một nhịp để thấy được tư thế ung dung, nhâm nhi thưởng thức hương vị của cuộc sống. Trong hai câu kết, còn được viết theo lối dùng điển quen thuộc. Trong lời thơ của tác giả có nhắc tới rượu nhưng không phải là đẻ say, cũng không cần vào mộng mà vẫn biết phú quý chỉ là tựa chiêm bao. Giọng thơ nhẹ nhàng, thể hiện tác giả là một con người coi thường công danh, coi thường các thế tục tầm thường. Hai câu kết như khẳng định về trí tuệ uyên thâm, vô cùng tỉnh táo nhìn cuộc sống, ông chọn cách sống để giữ gìn phẩm chất hơn là huỷ hoại nó.

Bài thơ Nhàn được viết bằng các ngôn từ giản dị, cô đọng nhưng giàu ý vị. Cách ngắt nhịp thơ linh hoạt, giọng điệu vừa hóm hỉnh, vừa thăng trầm sâu sắc, kết hợp với các hình ảnh trong bài thể hiện tư tưởng nhàn dật, thanh cao. Là con người nhập thế, phải lựa chọn lối sống ẩn dật. Về nhàn là để cho nhân cách không bị vấy bẩn, để vượt qua khỏi vòng danh lợi, Như vậy, dù có chọn lối sống nhàn thì đối với nhà văn vừa không nhẫn tâm lại vẫn có thể lo cho việc đời, việc nước.

Bài Nhàn là tiêu biểu cho đặc điểm thơ của Nguyễn Bỉnh Khiêm. Ngôn từ giản dị nhưng giàu hàm súc, giàu ý nghĩa, đậm đà tính triết lí về dại khôn, về danh lợi. Qua bài thơ, người đọc cảm nhận được một trí tuệ lớn, một nhân cách lớn và quan niệm sống của thi nhân còn có tác dụng hướng ta tới niềm thanh tịnh của tâm hồng, bồi đắp cho con người thêm tri thức.


Câu 1: Ngôi kể thứ nhất (nhân vật "tôi" - Chi-hon, người con gái thứ ba

Câu 2: Điểm nhìn nhân vật "tôi" (Chi-hon)

Câu 3

  • Biện pháp nghệ thuật: Liệt kê địa điểm (Bắc Kinh, Seoul, ga tàu điện ngầm, quầy sách) và đối lập không gian/thời gian (lúc mẹ lạc - lúc con đang thư thái làm việc).
  • Tác dụng:
  • làm cho câu văn trở nên sinh động hấp dẫn tăng sức gợi hình gợi cảm cho bài
  •  Nhấn mạnh sự tương phản giữa sự vô tâm của con và sự khổ cực của mẹ, làm nổi bật hoàn cảnh mẹ bị lạc, đồng thời gợi cảm xúc xót xa, day dứt và sự ân hận tột cùng của nhân vật "tôi".
  • Câu 4 : Những phẩm chất của người mẹ: Yêu thương con sâu sắc, hy sinh thầm lặng, sống giản dị, luôn nghĩ cho người khác trước bản thân.
  • câu 5: Những hành động vô tâm, thờ ơ của con cái đôi khi trở thành nhát dao vô hình khiến người thân tổn thương sâu sắc mà ta không hề hay biết. Chúng ta thường có thói quen xem sự hi sinh của cha mẹ là lẽ đương nhiên, để rồi quên mất việc quan tâm, chia sẻ. Chỉ khi biến cố xảy ra, khi người thân rời xa, ta mới thấm thía sự hối tiếc muộn màng. Sự vô tâm không chỉ làm giảm đi tình cảm gia đình mà còn khiến chính bản thân ta sống trong day dứt, ân hận cả đời. Vì vậy, hãy học cách trân trọng, thấu hiểu và chăm sóc người thân khi còn có thể, vì "thời gian không bao giờ quay trở lại". 

câu 1 : Phương thức biểu đạt chính của văn bản trên : Tự sự

câu 2: Theo văn bản , cậu bé Ngạn chạy sang nhà bà để trốn những trận đòn của ba. Cậu chạy đến bên bà, hớt hải kêu "Ba đánh!" để được bà dịu dàng trấn an, bảo vệ và che chở khỏi sự roi vọt của ba. 

câu 3 : Dấu ba chấm (...) trong câu trên có tác dụng tạo sự bất ngờ, thú vị và nhấn mạnh, kéo dài giọng điệu khi kể về người bạn "đặc biệt" là mẹ và bà. Nó tạo ra một khoảng lặng hài hước, khiến người đọc tưởng nhân vật có bạn gái nhưng thực chất chỉ chơi với người thân, thể hiện sự hồn nhiên, đáng yêu. 

câu 4 : Nhân vật người bà trong các văn bản văn học thường được khắc họa là người phụ nữ nông thôn Việt Nam truyền thống: tần tảo, chịu thương chịu khó, giàu lòng vị tha và tình yêu thương con cháu vô bờ bến. Bà là biểu tượng của sự che chở, đảm đang, thường gắn liền với những kỷ niệm tuổi thơ yên bình, ấm áp và là người giữ lửa truyền thống gia đình. 

câu 5: Gia đình là nền tảng cốt lõi, thiêng liêng nhất đối với mỗi người, đóng vai trò là "bến đỗ" an yên, cung cấp tình yêu thương vô điều kiện và là trường học đầu đời hình thành nhân cách. Đó là nơi tiếp thêm sức mạnh để vượt qua giông bão cuộc đời và là động lực để vững bước tương lai. 

câu 1 đoạn trích trên được viết theo thể thơ : 8 chữ

câu 3 Biện pháp tu từ so sánh:
 "Mẹ Tổ quốc vấn luôn ở bên ta"  "máu ấm trong màu cờ nước Việt" ( từ so sánh : "như"  so sánh ngang bằng )

Tác dụng : tăng sức gợi hình gợi cảm cho bài làm cho câu thơ trở nên sinh động hấp dẫn tăng sức gợi hình gợi cảm cho bài

 Nhấn mạnh về tình cảm gắn bó sâu sắc và mãnh liệt, mạnh mẽ giữa nơi đảo xa, nơi biển đảo quê hương và quyết tâm bảo vệ, gìn giữ độc lập chủ quyền cho dân tộc của những người giữ biển. Qua đó, cho thấy được tình cảm sâu sắc, sự trân trọng, biết ơn của chính tác giả đối với những người giữ biển. Đồng thời, còn cho thấy chính tinh thần lạc quan của họ, sự mạnh mẽ, dũng cảm của họ, họ được "mẹ Tổ quốc" chở che, tình yêu đó ấm áp, là nguồn sống, là màu máu đỏ ấm trong chính màu cờ, sắc áo nước Việt.

câu 4 Đoạn thơ thể hiện tình yêu biển đảo, tình yêu ngư dân nơi biển đảo, tình yêu, sự gắn bó sâu sắc  của chính nhà thơ đối với biển đảo Tổ quốc.

câu 5

Từ đoạn thơ, em nhận ra được trách nhiệm bảo vệ biển đảo quê hương của mỗi công dân trong hoàn cảnh hiện tại . Mỗi công dân nên có ý thức khẳng định và bảo vệ biển đảo quê hương không chỉ qua hành động mà còn qua lời nói. Mỗi công dân cần có ý thức nâng cao trách nhiệm để gìn giữ và bảo vệ biển đảo. Nâng cao ý thức trong việc bảo vệ môi trường, giảm thiểu ô nhiễm môi trường đất, nước và môi trường biển để khi đi tới bất cứ nơi nào em cũng có thể tung hô và tự hào với mọi người quê hương , đất nước em đang sinh sống đây cũng có những bãi biển xanh cát trắng không thua kém gì những châu lục khác.

câu 2 Dựa vào khổ thơ thứ hai và thứ ba, một số từ ngữ tiêu biểu thể hiện hình ảnh biển đảo và đất nước là "hoàng sa", "máu ngư dân" (biển đảo), và "mẹ tổ quốc", "bài ca giữ nước" (đất nước). Hình ảnh biển đảo được khắc họa qua những cụm từ gợi sự gian truân, mất mát như "sóng dữ phía Hoàng Sa

câu 1 Văn bản thể hiện tâm trạng, cảm xúc của nhân vật trữ tình trong hoàn cảnh :Trong hoàn cảnh xa xứ, sống ở nơi đất khách quê người nhớ về quê hương của mình.

câu 2 những hình ảnh khiến nhân vật trữ tình ngỡ như quê ta

+Những dáng phố phường xa lạ kiểu
Nhưng nếp nhà dân khác lạ thềm..

Câu 3 cảm hứng chủ đạo của bài thơ Quê người của tác giả Vũ Quần Phương là miêu tả quang cảnh đồng quê Việt Nam qua góc nhìn của một người xa quê. Tác giả nhớ lại những cảnh quan quen thuộc của quê hương mình dù đang ở nơi xa, tác giả vẫn cảm thấy bình yên và ấm áp như đang ở chính quê hương của mình. Bài thơ nhấn mạnh sự quyến luyến, tình cảm với quê hương, nơi mà dù thời gian trôi qua, cảnh quan vẫn vô cùng đẹp đẽ và bình dị biết bao.

câu 4  Tâm trạng của nhân vật “tôi” khi cảm nhận các hình ảnh nắng vàng, mây trắng  trong khổ thơ 1 và khổ thơ 3 khác nhau ở:

Ngỡ như mình đang ở quê nhà (khổ thơ 1) và ý thức rõ mình đang ở quê người, ngắm cảnh cho khuây nỗi nhớ quê hương (khổ thơ 3)

câu 5 : Bài thơ “Quê người” của tác giả Vũ Quần Phương đã giúp em hiểu thêm phần nào về tâm tư, tình cảm của những người con xa xứ khi nhớ về quê hương của mình. Quê hương trong nỗi nhớ của họ thật sâu sắc, thấm thía, ngọt ngào. Đó đơn giản chỉ là một áng mây, một vạt nắng, hay đỉnh đồi nhuộm sắc ánh vàng,… Quê hương góp phần tạo nên những tiên đề đầu tiên để ta vững bước vào đời. Bởi vậy khi đi xa, người ta thường hay nhớ về như là một điểm tựa tình thần giúp ta vượt qua nhiều gian nan, thử thách trên đường đời.Bài thơ trên đã góp phần đem tới cho người đọc những lắng đọng, trầm tư khi nhắc đến quê hương với nỗi nhớ dạt dào. Qua đây, ta thấy được nhà thơ đã thay mặt để gửi gắm hết tâm tư, tình cảm của mình, nói lên tiếng lòng đau đáu của những người ở nơi đất khách quê người.


câu 1 phương thức biểu đạt chính của văn bản trên : biểu cảm

câu 2 văn bản trên được nhắc tới những tác phẩm của nhà văn Andecxen như : nàng tiên cá, cô bé bán diêm

câu 3: việc gợi nhắc các tác phẩm của nhà văn Andecxen trong văn bản có tác dụng. Gợi dẫn đến những truyện cổ tích của nhà văn Andecxen, mang đến cho người đọc những cảm nhận nhẹ nhàng mà thấm thía từ những câu chuyện cổ.

+ Mang đến màu sắc cổ tích cho bài thơ.

câu 4 tác dụng:

+ làm cho câu thơ trở nên sinh động hấp dẫn làm tăng sức gợi hình gợi cảm cho bài

+ Là cách nói hình ảnh nhắc đến nàng tiên cá trong câu chuyện cổ của Andecxen nhưng cũng là người phụ nữ hiền dịu, sẵn sàng vượt qua những khó khăn gian khổ trong đời sống thực. Việc sử dụng so sánh khiến hình ảnh thơ gần gũi, sinh động, hấp dẫn, giàu sức gợi hơn

câu 5 Nhân vật trữ tình trong bài thơ là một người đam mê truyện cổ tích, những câu chuyện đem đến những bài học ý nghĩa của cuộc đời, gắn bó với cuộc đời thật.Đây là một con người giàu ước mơ, hi vọng vào tương lai. Cách nói “Dẫu tuyết lạnh vào ngày mai bão tố/ Dẫu thạch thảo nở hoa bốn mùa dang dở” khẳng định cuộc đời vẫn có thể có nhiều khó khăn, gian khổ nhưng nếu con người giữ vững niềm đam mê cuộc sống, tin tưởng vào một cuộc đời tốt đẹp thì vẫn có thể vượt qua.Nhân vật trữ tình còn là một người giàu tình yêu cuộc sống, yêu con người: “Que diêm cuối cùng sẽ cháy trọn tình yêu”. Vừa gợi lại câu chuyện cổ Cô bé bán diêm, tác giả cũng xây dựng hình ảnh nhân vật trữ tình luôn hướng về những điều tốt đẹp trong tình yêu cuộc sống.

câu 1 : đoạn trích trên được viết theo thể tự do

câu 2 hình ảnh cho thấy sự khắc nghiệt của miền trung

+Eo đất này thắt đáy lưng ong
Cho tình người đọng mật

câu 3 Thiên nhiên miền Trung hiện lên với đặc trưng khô cằn, khắc nghiệt, thường xuyên phải gánh chịu thiên tai, khiến cuộc sống làm ăn của người dân vô cùng khó khăn. Nhưng không vì vậy mà họ chán nản và với tinh thần không chịu khuất phục trước thiên tại người dân miền trung đã kiên cường đứng dậy gây dựng lại và làm cho mảnh đất chính nơi mình sinh sống ngày càng tươi đẹp

Câu 5 tác giả có 1 tình yêu dành cho quê hương rất đậm sâu và mãnh liệt :Thương mến vùng đất khô cằn, thiên nhiên không ưu đãi .Cảm thông sâu sắc với những mất mát, vất vả của người dân nơi đây .Ngợi ca, trân trọng những phẩm chất cao đẹp như kiên cường, nghĩa tình, cần cù, mến khách…Khắc khoải, trăn trở, mong muốn miền Trung ngày một phát triển, thoát khỏi khó khăn. Tình cảm ấy vừa mang tính cá nhân sâu sắc, vừa giàu ý nghĩa nhân văn xã hội. Khiến cho người đọc bị lôi cuốn vào những dòng thơ đầy cảm xúc vào nhà thơ đã gửi gắm vào đây
Câu 4

 Việc vận dụng thành ngữ trong dòng thơ Mảnh đất nghèo mồng tơi không kịp rớt có tác dụng làm cho người đọc thấy được những khó khăn mà người dân miền trung gặp phải . người dân miền trung đã phải chống trọi những thiên tai khắc nghiệt tới mức nào . tuy khó khăn là vậy nhưng người dân nơi đây với ý chí tự cường không chịu khuất phục trước nghịch cảnh mà họ đã vực dậy lại tinh thần yêu quê hương đất nước trong trái tim mình . nhà thơ dùng hình ảnh cây rau mùng tơi cũng có lí do rất tinh ý là vì mùng tơi là 1 loại rau có thể phát triển và sinh trưởng được trên nhiều loại đất thế nhưng đối với nơi đây lại khó có thể được....


câu 1 : đoạn trích trên được viết theo thể tự do

câu 2 hình ảnh cho thấy sự khắc nghiệt của miền trung

+Eo đất này thắt đáy lưng ong
Cho tình người đọng mật

câu 3 Thiên nhiên miền Trung hiện lên với đặc trưng khô cằn, khắc nghiệt, thường xuyên phải gánh chịu thiên tai, khiến cuộc sống làm ăn của người dân vô cùng khó khăn. Nhưng không vì vậy mà họ chán nản và với tinh thần không chịu khuất phục trước thiên tại người dân miền trung đã kiên cường đứng dậy gây dựng lại và làm cho mảnh đất chính nơi mình sinh sống ngày càng tươi đẹp

Câu 5 tác giả có 1 tình yêu dành cho quê hương rất đậm sâu và mãnh liệt :Thương mến vùng đất khô cằn, thiên nhiên không ưu đãi .Cảm thông sâu sắc với những mất mát, vất vả của người dân nơi đây .Ngợi ca, trân trọng những phẩm chất cao đẹp như kiên cường, nghĩa tình, cần cù, mến khách…Khắc khoải, trăn trở, mong muốn miền Trung ngày một phát triển, thoát khỏi khó khăn. Tình cảm ấy vừa mang tính cá nhân sâu sắc, vừa giàu ý nghĩa nhân văn xã hội. Khiến cho người đọc bị lôi cuốn vào những dòng thơ đầy cảm xúc vào nhà thơ đã gửi gắm vào đây
Câu 4

 Việc vận dụng thành ngữ trong dòng thơ Mảnh đất nghèo mồng tơi không kịp rớt có tác dụng làm cho người đọc thấy được những khó khăn mà người dân miền trung gặp phải . người dân miền trung đã phải chống trọi những thiên tai khắc nghiệt tới mức nào . tuy khó khăn là vậy nhưng người dân nơi đây với ý chí tự cường không chịu khuất phục trước nghịch cảnh mà họ đã vực dậy lại tinh thần yêu quê hương đất nước trong trái tim mình . nhà thơ dùng hình ảnh cây rau mùng tơi cũng có lí do rất tinh ý là vì mùng tơi là 1 loại rau có thể phát triển và sinh trưởng được trên nhiều loại đất thế nhưng đối với nơi đây lại khó có thể được....