K23_19_TO_Mạnh
Giới thiệu về bản thân
Câu 1: Đoạn văn Nghị luận xã hội (Khoảng 200 chữ)
Bài làm
Bàn về thái độ sống của con người trước những ngã rẽ cuộc đời, nhà văn Mark Twain từng đưa ra một lời khuyên sâu sắc: “Hai mươi năm sau bạn sẽ hối hận vì những gì bạn đã không làm, hơn là những gì bạn đã làm. Vậy nên hãy tháo dây, nhổ neo và ra khỏi bến đỗ an toàn.”. Lời nhận định là một lời thức tỉnh mạnh mẽ về lòng dũng cảm, khuyên chúng ta hãy dám dấn thân và thoát khỏi vùng an toàn của chính mình. "Bến đỗ an toàn" tượng trưng cho môi trường quen thuộc, những thói quen ổn định nhưng gò bó, khiến con người mất đi ý chí tiến thủ. Ngược lại, "tháo dây, nhổ neo" là ẩn dụ cho sự khởi hành, bứt phá, dám đối mặt với thử thách. Từ đây có thể hiểu rằng: Trong cuộc sống, nếu chỉ mãi co cụm trong lớp vỏ bọc an toàn, chúng ta sẽ dần trở nên trì trệ, bỏ lỡ muôn vàn cơ hội phát triển và cuối cùng là chìm trong sự nuối tiếc, ân hận vì những hoài bão chưa từng dám thực hiện.Trong khi đó ,khi chúng ta dám nghĩ, dám làm, dám theo đuổi mục tiêu đã đặt ra thì những sai lầm khi dám làm dẫu sao cũng mang lại bài học, còn sự hèn nhát không dám làm chỉ để lại khoảng trống vô nghĩa. Cùng với đó sẽ tạo hiểu ứng đặc biệt khi được mọi người tôn trọng, yêu quý khi tạo cho người khác động lực để có thể vươn xa hơn mà không sợ hãi khó khăn. Đặc biệt đối với tuổi trẻ, thế giới ngoài kia là một đại dương bao la vẫy gọi.Tiêu biểu như anh Trần Đặng Đăng Khoa là một chàng trai Việt Nam đã đưa ra một quyết định táo bạo: gác lại công việc văn phòng với mức lương ổn định, rời khỏi "vùng an toàn" để thực hiện giấc mơ đi vòng quanh thế giới bằng xe máy. Chúng ta phải luôn xác định được điều đó, dám đặt ra mục tiêu, cống hiến, theo đuổi đam mê, ước mơ đó mà không ngại trắc trở. Việc dám vươn mình ra biển lớn, dám thử sức với những đam mê rủi ro chính là chìa khóa để khai phá tiềm năng, tôi luyện bản lĩnh và kiến tạo nên một cuộc đời rực rỡ, không hối tiếc.
Câu 2: Bài văn Nghị luận văn học phân tích nhân vật người mẹ
Bài làm
Thạch Lam là một trong những cây bút xuất sắc, tiêu biểu của nhóm Tự lực văn đoàn. Các tác phẩm của ông thường hướng về đời sống bình dị, với tình cảm xót thương nghiêng về những người nghèo khổ, đặc biệt là người phụ nữ trong xã hội cũ. Truyện ngắn "Trở về" là một tác phẩm xuất sắc mang đậm phong cách trữ tình hướng nội ấy. Đọc đoạn trích từ "Khi vào đến sân nhà..." đến "...đã làm xong bổn phận", người đọc không khỏi xót xa và ám ảnh trước hình tượng nhân vật người mẹ – biểu tượng cho tình mẫu tử thiêng liêng, vị tha nhưng cũng đầy bi kịch trước sự băng hoại đạo đức của đứa con trai bị ánh sáng thị thành làm lóa mắt.
Thạch Lam (1910 - 1942) nổi tiếng với biệt tài viết truyện không có cốt truyện gay cấn mà chủ yếu đi sâu vào thế giới nội tâm nhân vật với những cảm giác, rung động tinh tế, tế vi. Văn phong của ông trong trẻo, giản dị nhưng thấm đượm chất thơ và tình thương người sâu sắc.Truyện ngắn "Trở về" được in trong tập "Gió đầu mùa" (1937). Tác phẩm ra đời trong bối cảnh xã hội Việt Nam thời kỳ giao thời, khi làn sóng đô thị hóa và lối sống thực dụng của thị thành bắt đầu xâm nhập, làm lung lay những giá trị đạo đức truyền thống tốt đẹp ở làng quê. Đoạn trích nằm ở phần cuối của truyện, khắc họa cảnh tượng người con trai sau nhiều năm lập nghiệp trên thành phố quay trở về thăm mẹ, từ đó bộc lộ sâu sắc tấn bi kịch trong mối quan hệ gia đình.
Truyện ngắn "Trở về" hướng về nhân vật chính tên là Tâm – một thanh niên nghèo ở nông thôn được người mẹ tần tảo sớm khuya nuôi dạy nên người. Tuy nhiên, biến cố xảy ra khi Tâm ra thành phố học tập, làm việc và dần bị cuốn vào lối sống giàu sang, thực dụng của thị thành. Suốt sáu năm trời, anh chỉ gửi tiền về một cách máy móc, giấu giếm việc cưới vợ giàu và hoàn toàn dửng dưng trước những bức thư đầy tình thương của mẹ. Diễn biến câu chuyện lên đến cao trào khi Tâm bất đắc dĩ phải về quê thăm nhà trong một tâm trạng khiên cưỡng, đối mặt với ngôi nhà cũ tàn tạ và người mẹ già luôn ngóng trông. Tại đây, nghịch cảnh được giải quyết bằng một sự lựa chọn tàn nhẫn: Tâm đáp lại sự săn sóc, yêu thương của mẹ bằng thái độ lạnh nhạt, rồi kiêu ngạo đưa cho mẹ hai mươi đồng bạc như để "bố thí" và nhanh chóng rời đi. Câu chuyện kết thúc đầy xót xa khi Tâm bước đi với cảm giác nhẹ nhõm vì nghĩ mình đã "làm xong bổn phận", bỏ lại phía sau người mẹ già cô đơn, ôm nỗi tủi hờn nghẹn ngào bên gói bạc run run.
Người mẹ xuất hiện trong bối cảnh không gian mang đậm sự nghèo khó, tàn tạ của làng quê: "Cái nhà cũ vẫn như trước, không thay đổi, chỉ có sụp thấp hơn một chút và mái gianh xơ xác hơn." , không gian bề trong thì "ẩm thấp hình như ở khắp tường lan xuống". Trong không gian ấy, ngoại hình của bà cụ hiện lên đầy khắc khổ, in hằn dấu vết phôi pha của thời gian và sự nghèo khó: "Bà cụ đã già đi nhiều, nhưng vẫn mặc cái bộ áo cũ kỹ như mấy năm về trước". Tiếng bước chân của bà cũng "thong thả và chậm hơn trước". Ngoại hình ấy không chỉ phản ánh cuộc sống lam lũ, thiếu thốn nơi thôn quê mà còn ngầm cho thấy cả một đời bà đã hy sinh, chắt chiu mọi thứ tốt đẹp nhất để gửi gắm cho cậu con trai trên tỉnh.
Qua những nét phác họa về không gian và ngoại hình, người đọc nhận ra phẩm chất đầu tiên của bà cụ chính là đức hy sinh và sự tần tảo trọn đời vì con. Sống trong cảnh nghèo túng, mái nhà sụp thấp, gian nhà ẩm thấp, bà cụ vẫn kiên nhẫn duy trì nhịp sống nông thôn, làm lụng không ngừng nghỉ. Dù cuộc sống "ngày một khó khăn ở làng", bà cụ chưa từng một lời oán trách hay đòi hỏi đứa con trai giàu sang ở thành phố phải bù đắp cho mình. Sự tần tảo của bà không chỉ là việc lo toan cơm áo, mà là sự dồn hết tâm sức, năng lượng sống của cuộc đời mình vào sự trưởng thành của Tâm. Bà mẹ ấy đại diện cho kiểu người phụ nữ nông thôn Việt Nam truyền thống: chịu đựng gian khổ, quên đi bản thân, lấy hạnh phúc và sự thành đạt của con làm mục đích sống duy nhất của đời mình.
Tuy vẻ ngoài tàn tạ, nhưng ẩn sâu bên trong người mẹ là một trái tim yêu thương con vô bờ bến và sự bao dung, vị tha sâu sắc. Tình mẫu tử ấy trước hết bộc lộ qua sự xúc động mãnh liệt khi bất ngờ thấy con về thăm: "Khi nhận ra con, bà cụ ứa nước mắt", "Câu nói như khó khăn mới ra khỏi miệng được", "Bà cụ cảm động đến nỗi không nói được". Bà mẹ quê mùa ấy luôn dõi theo con với một sự quan tâm, xót xa khôn tả. Bà âu yếm, săn sóc hỏi han: "Năm ngoái bác Cả lên tỉnh về bảo cậu ốm. Tôi lo quá... Bây giờ cậu đã khỏe hẳn chưa?". Đáng thương thay, tình thương của bà lại va phải sự lạnh nhạt, hờ hững, "dửng dưng", "khó chịu" và "trả lời qua loa lấy lệ" của đứa con. Dẫu vậy, bà không hề trách móc, ánh mắt bà nhìn theo Tâm chỉ tràn ngập sự "khẩn khoản" nài nỉ con ở lại: "Cậu hãy ở đây ăn cơm đã. Đến chiều hãy ra". Đặc biệt, chi tiết cuối đoạn trích, khi nhận những đồng tiền vô tri mang tính chất "bố thí" cốt để làm xong bổn phận của Tâm, bà cụ chỉ "run run đỡ lấy gói bạc, rơm rớm nước mắt". Nước mắt ấy vừa là sự tủi thân, ngậm ngùi, vừa là sự nhẫn nhịn cam chịu của một người mẹ sẵn sàng tha thứ cho mọi lỗi lầm của đứa con khúc ruột mình đẻ ra.
Thông qua nhân vật bà cụ, Thạch Lam đã phản ánh chân thực hình ảnh người phụ nữ, người mẹ nông thôn Việt Nam truyền thống: lam lũ, chịu thương chịu khó, trọn đời hiến dâng vì con.Đồng thời, tác phẩm phơi bày một hiện thực nhức nhối: sự băng hoại đạo đức, tình nghĩa gia đình dưới tác động của lối sống thị dân thực dụng, ích kỷ. Qua đó, nhà văn cũng gửi gắm tư tưởng nhân đạo sâu sắc: trân trọng tình mẫu tử thiêng liêng, đồng thời gián tiếp lên án gay gắt lối sống thị dân lai căng, thực dụng đã làm tha hóa nhân cách con người (như nhân vật Tâm), khiến họ quay lưng lại với gốc gác và cội nguồn. Từ đây, nhắc nhở mỗi chúng ta cần phải biết ơn, biết trân trọng người đã sinh thành, nuôi dưỡng mình. Dù có thành công ra sao thì phải luôn nhớ tới người đã tạo ra mình để mình đạt được thành công đó, không được phủ nhân công sức của mẹ, không vì nhữững xa hoa phú quý mà đánh mấất giá trị con người mà sống bạc bẽo, vô ơn
Tác phẩm viết về nhân vật người mẹ với khía cạnh ngợi ca tình mẫu tử thiêng liêng đồng thời đặt nó vào thế đối lập với sự tha hóa đạo đức, qua đó thể hiện sâu sắc chủ đề về tình cảm gia đình và cội nguồn quê hương trước những cám dỗ của đời sống hiện đại.Nhân vật người mẹ được Thạch Lam xây dựng thành công bằng bút pháp nghệ thuật tinh tế. Nhà văn không miêu tả quá nhiều về hành động, mà chủ yếu khắc họa nhân vật qua ngoại hình, cử chỉ (ứa nước mắt, run run), lời thoại rụt rè, đứt quãng mang đậm sắc thái chân quê. Đặc biệt là thủ pháp đối lập gay gắt giữa tình thương tha thiết của mẹ và sự tàn nhẫn, dửng dưng của Tâm đã làm nổi bật lên vẻ đẹp cũng như bi kịch của bà cụ.
Một tác phẩm hay là một tác phẩm không nằm ở những xung đột kịch tính mà ở những dư âm ngọt ngào. Đoạn trích khép lại nhưng hình ảnh người mẹ già "run run đỡ lấy gói bạc, rơm rớm nước mắt" vẫn để lại một niềm day dứt khôn nguôi trong lòng độc giả. Bằng trái tim nhạy cảm và ngòi bút trữ tình tinh tế, Thạch Lam đã tạc vào văn học Việt Nam một tượng đài đẹp đẽ, bi thương về tình mẫu tử. Từ đó, tác phẩm để lại cho mỗi chúng ta bài học sâu sắc về chữ hiếu, về sự trân trọng quê hương, gia đình trước những xô bồ, cám dỗ của cuộc đời.
Câu 1.
-Phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong văn bản là :Nghị luận luận (kết hợp Biểu cảm
-Do văn bản thuộc thể loại tản văn.Cùng với đó tác giả sử dụng các lí lẽ, hình ảnh ẩn dụ (dòng sông, đầm lầy, cái hồ) để bàn bạc, suy ngẫm và đưa ra quan điểm về một lối sống tích cực cho con người (đậm chất nghị luận), đồng thời bộc lộ tình cảm, thái độ tha thiết trước cuộc sống (đậm chất biểu cảm).
Câu 2. Hai lối sống mà con người đã từng đôi lần trải qua được tác giả nêu trong đoạn trích
-Dựa vào văn bản, hai lối sống đối lập mà con người từng trải qua là:
+Lối sống thụ động, trì trệ, né tránh: Khước từ sự vận động, trốn tránh thực tại ("tìm quên trong những giấc ngủ vùi"), chấp nhận sự an toàn giả tạo, đánh mất khát khao và giam hãm mình trong không gian chật hẹp (được ví như dòng sông lịm trong đầm lầy, cái hồ sống đời thực vật).
+Lối sống chủ động, tích cực, khát khao dấn thân: Luôn vận động, sẵn sàng trải nghiệm nắng gió, không ngừng đi tới và hướng bản thân đến những không gian, lý tưởng rộng lớn bao la (được ví như dòng sông tha thiết chảy ra biển rộng).
Câu 3. Phân tích tác dụng của biện pháp tu từ trong đoạn văn
-Trong đoạn "Sông như đời người. Và sông phải chảy. Như tuổi trẻ phải hướng ra biển rộng." tác giả đã sử dụng biện pháp tu từ So sánh: Sông được so sánh với đời người; hành động sông phải chảy hướng ra biển rộng được so sánh với việc tuổi trẻ phải hướng ra thế giới, cuộc đời lớn.
-Tác dụng:
+Về mặt nghệ thuật: Tạo nhịp điệu dồn dập, mạnh mẽ, tăng tính nhạc và sức gợi hình, gợi cảm,sức hấp dẫn, lôi cuốn cho lời văn; làm cho câu văn mang tính triết lý, lập luận trở nên sinh động, giàu hình ảnh hơn.
+Về mặt nội dung: Khẳng định quy luật tất yếu của tự nhiên và cuộc sống. Dòng sông sinh ra là để chảy, để ra với biển lớn;dù cho con đường có hẹp, có phải vượt qua những ngóc ngách xấu xí thì vẫn luôn phải tìm cách, giữ vững ý chí, tinh thần lạc quan để vươn tới được biển lớn mênh mông. Và con người cũng vậy– đặc biệt là tuổi trẻ – sinh ra là để vận động, dấn thân, trải nghiệm và vươn tới những ước mơ, lý tưởng cao đẹp.Chúng ta phải đặt mục tiêu, quết tâm theo đuổi với một tinh thần luôn hết mình, cống hiến mà không ngại bất cứ khó khắn nào. Từ đó, câu văn thôi thúc, truyền cảm hứng mạnh mẽ đến người đọc về một lối sống năng động, tích cực,luôn sống hết mình với đam mê.
Câu 4. Cách hiểu về cụm từ "tiếng gọi chảy đi sông ơi"
Cụm từ "tiếng gọi chảy đi sông ơi" trong câu văn “Không thể thế bởi mỗi ngày ta phải bước đi như nghe trong mình tiếng gọi chảy đi sông ơi.” Là một hình ảnh, một chi tiết đắt giá. Chi tiết này giúp cho văn bản thêm sinh động, hấp dẫn, lôi cuốn người đọc. Chi tiết này có vai trò vô cùng quan trọng được hiểu theo các khía cạnh sau: Dòng sông khi được tạo ra xuất phát giống như một con người, luôn không ngừng cố gắng để từ những dòng sông nhỏ có thể vươn ra biểển lớn bao la. Và tiếng gọi chảy đi sông ơi là hình ảnh ẩẩn dụ để ám chỉ rằng con người cũng vậy, trong nội tâm luôn phải nuôi hoài bão, ước mơ và khát vọng sống đích thực ẩn sâu bên trong mỗi con người, thúc giục chúng ta không được đầu hàng sự lười nhác, trì trệ mà luôn cố gắng, tìm mọi cách. cống hiến hết mình với mục tiêu đã đặt ra, không lùi bước mà không chỉ phát triển thân mà còn để đạt được ước mơ của mình sau nỗ lực không ngừng với một tinh thần tích cực. Ngoài ra,đó là tiếng gọi của cuộc sống ngoài kia, của thế giới bao la đầy trải nghiệm đang vẫy gọi tuổi trẻ bước ra khỏi vùng an toàn để khám phá và trưởng thành.Như vậy có thể thấy hình ảnh này khẳng định ý thức tự giác và bản lĩnh sống của con người: Mỗi ngày trôi qua, ta phải luôn lắng nghe và hành động theo lý tưởng sống tích cực, không ngừng tiến về phía trước để cống hiến và khẳng định giá trị bản thân.
Câu 5. Bài học rút ra từ nội dung văn bản và lý giải
-Văn bản “Ngày trong sương mù” đã nói về việc chúng ta nên lựa chọn lối sống chủ động, không ngại khó khăn với một minh chứng vừa gần gũi mà như muốn nhắc nhở, thôi thúc chúng ta vươn xa , đó chính là dòng sông. Tuy đã khép lại và mở ra cho chúng ta những bài học nhân sinh sâu sắc. Một trong số đó là: Cần từ bỏ lối sống giam mình trong vùng an toàn, trì trệ, thụ động và chọn cho mình lối sống chủ động, không ngừng trải nghiệm, cố gắng, theo đuổi đam mê để vươn tới những giá trị sống cao đẹp
-Bởi:
+Bởi vì nếu chọn lối sống thụ động (như "đầm lầy", "cái hồ lặng ngắt"), chúng ta sẽ tự làm thui chột tài năng, lãng phí thanh xuân, sống một cuộc đời vô nghĩa, tẻ nhạt và vô tình làm tổn thương những người thân yêu quanh mình khi mà chúng ta không có một ngọn lửa nào có thể cháy lên được nữa khi cứ mãi giam mình trong vùng an toàn
+Ngược lại, khi chấp nhận dấn thân vào "nắng gió", sẵn sàng trải nghiệm và đi tới, chúng ta mới tích lũy được vốn sống, mở rộng tầm nhìn, trưởng thành mạnh mẽ và đóng góp được những giá trị tốt đẹp cho cuộc đời, giống như dòng sông hòa mình vào biển rộng bao la. Ngoài ra, người có lối sống chủ động sẽ không ngừng cố gắng, nuôi hi vọng và phát triển bản thân không ngừng và sẽ giúp mọi người xung quan có tôn trọng, yêu quý có động lực để vươn tới mục tiêu đã chọn.Đặc biệt, một xã hội gồm những người có lối sống tích cực, không ngại khó khăn mà vươn xa sẽ ngày càng phát triển hơn
=>Như vậy lối sống chủ động là lối sống đáng để mọi người học hỏi để hướng bản thân tới những giá trị tốt đẹp trong cuộc sống hiện tại và tương lai.