Bùi Khánh Huyền
Giới thiệu về bản thân
Trong phần 2, Lê Đạt triển khai hệ thống lập luận nhằm phản bác quan niệm “làm thơ là bốc đồng, nhờ thiên bẩm”, và khẳng định làm thơ đòi hỏi lao động nghệ thuật nghiêm túc, bền bỉ. Các lí lẽ chính:
(1) Thiên hạ hay đề cao sự bốc đồng và thiên phú của nhà thơ
- Quan niệm sai: nhà thơ giỏi là do “trời cho”, làm thơ tức khắc, không cần khổ luyện.
- → Tác giả chỉ ra định kiến quái gở khi ca tụng “nhà thơ thiên phú”, “nhà thơ chín sớm”.
(2) Cảm hứng bộc phát là nhất thời, không bền
- “Trời cho thì trời lại lấy đi.”
- “Những cơn bốc đồng thường ngắn ngủi.”
- → Cảm xúc là quan trọng nhưng không thể tạo nên sự nghiệp thơ bền vững.
(3) Thơ hay là kết quả của lao động nghệ thuật kiên trì
- Tác giả khẳng định: thơ hay là “kì ngộ”, nhưng là kì ngộ của sự kiên trì, đa mang, đắm đuối, không phải may rủi.
(4) Phải có kiến thức và rèn luyện thì mới có thể “vứt thánh bỏ trí”
- Dẫn triết lí Trang Tử: muốn đạt đến tự do sáng tạo phải có vốn liếng trước đã.
- → Phản bác hiểu lầm cho rằng thơ hay đến từ sự “tự nhiên”, “không học cũng được”.
(5) Phê phán kiểu nhà thơ sống bằng “vốn trời cho”
- “Trời… thường khí cũng bủn xỉn lắm.”
- Nhà thơ dựa vào thiên phú thì “tàn lụi sớm”.
- → Lập luận nhằm khẳng định thiên phú không đủ, cần lao động nghệ thuật miệt mài.
(6) Khẳng định giá trị của những nhà thơ lao động chữ nghĩa
- Ủng hộ những nhà thơ “một nắng hai sương… đổi bát mồ hôi lấy từng hạt chữ”.
- Đó mới là những người có “nội lực chữ”.
(7) Dẫn chứng các nhà thơ lớn vẫn sáng tác bền bỉ khi về già
- Lý Bạch, Saadi, Goethe, Tagore.
- Họ không dựa vào may mắn nhất thời mà là cả đời lao động nghệ thuật.
(8) Quan điểm “chữ bầu lên nhà thơ”
- Dẫn Ét-mông Gia-bét: nhà thơ phải “ứng cử” mỗi lần làm thơ.
- Không có “chức nhà thơ suốt đời”.
- → Thơ là cuộc thử thách nghiêm khắc, đòi hỏi chất lượng thật sự.
(9) Dẫn chứng về Victor Hugo bị “chữ” từ chối
- Câu: “Vích-to nhiều lần tưởng mình là Huy-gô.”
- Dù là thiên tài, vẫn có khi ông không được ngôn ngữ thừa nhận là nhà thơ.
- → Tô đậm luận điểm: lao động chữ nghĩa quan trọng hơn tên tuổi, danh xưng.
Hệ thống lập luận chặt chẽ, thuyết phục
- Tác giả kết hợp lí lẽ – dẫn chứng – giọng điệu châm biếm để phản bác quan niệm sai lầm.
- Dùng nhiều triết lí, hình ảnh gợi cảm, ví von độc đáo → tăng sức nặng cho lập luận.
Dẫn chứng phong phú, có giá trị
- Dẫn Tônxtôi, Flaubert, Trang Tử, Lý Bạch, Goethe, Tagore, Victor Hugo…
- Tất cả đều là các nhân vật lớn → làm cho luận điểm có tính thẩm quyền cao.
Thông điệp có ý nghĩa sâu sắc
- Khẳng định bản chất lao động nghiêm túc của “nghề thơ”.
- Đề cao giá trị học tập, rèn luyện, nội lực hơn là bốc đồng, thiên phú.
Tác giả đã triển khai quan niệm “Chữ bầu lên nhà thơ” theo cách:
- Dẫn ý kiến của các nhà thơ, nhà văn lớn trên thế giới (Ét-mông Gia-bét - Edmond Jabès, Gít-đơ - Gide, Pét-xoa - Pessoa), xem như đó là sự hậu thuẫn tích cực cho cách lí giải vấn đề của mình.
- Diễn giải ý kiến của Ét-mông Gia-bét theo hướng bám sát ý tưởng đã được đề cập từ nhan đề và phần đầu văn bản. Nếu trong phát biểu của mình, Ét-mông Gia-bét gần như chỉ nói đến vai trò của sáng tạo ngôn từ trong việc xác định danh vị đích thực của nhà thơ, thì Lê Đạt lại phát triển thêm, cho rằng mỗi lần sáng tạo tác phẩm mới lại một lần nhà thơ phải vật lộn với chữ. Rõ ràng, “nhà thơ” không phải là danh vị được tạo một lần cho mãi mãi. Nó có thể bị tước đoạt nếu nhà thơ không chịu khổ công lao động với ngôn từ mỗi khi viết một bài thơ mới.
Ý kiến này miêu tả nhà thơ như một người nông dân lam lũ, vất vả "một nắng hai sương" trên "cánh đồng giấy", không ngừng lao động và đổ mồ hôi để trau chuốt từng con chữ, bởi sáng tạo thi ca là một hành trình lao động đầy gian khổ và đòi hỏi sự tận tụy
Tác giả ghét cái định kiến quái gở, không biết xuất hiện từ bao giờ các nhà thơ Việt Nam thường chín sớm nên cũng tàn lụi sớm
Tác giả không mê những nhà thơ thần đồng
Tác giả ưa những nhà thơ một nắng hai sương, lầm lũi, lực điền trên cánh đồng giấy, đổi bát mồ hỡi lấy từng hạt chữ.