Trương Ngọc Ánh
Giới thiệu về bản thân
Trong vở kịch "Kim tiền", nhân vật Trần Thiết Chung hiện lên là hình ảnh tiêu biểu cho bi kịch của người trí thức nghèo trong xã hội cũ. Trước hết, Thiết Chung là một nhà khoa học đầy tài năng, tâm huyết và mang trong mình lý tưởng sống cao đẹp. Anh miệt mài nghiên cứu phương thuốc chữa bệnh ung thư với mong muốn cứu người, giúp đời, không màng danh lợi. Tuy nhiên, hiện thực nghiệt ngã của sức mạnh đồng tiền ("kim tiền") đã đẩy anh vào bước đường cùng. Sự đối lập gay gắt giữa một bên là khát vọng cống hiến thanh cao và một bên là nỗi lo cơm áo gạo tiền đè nặng đã tạo nên một tấn bi kịch tâm lý sâu sắc. Thiết Chung không chỉ đấu tranh với ngoại cảnh mà còn đấu tranh quyết liệt với chính bản thân mình khi đứng trước sự cám dỗ của tiền bạc để duy trì đam mê. Qua nhân vật này, tác giả Vi Huyền Đắc đã khéo léo phản ánh sự tha hóa của con người dưới áp lực vật chất, đồng thời bày tỏ niềm xót xa cho những giá trị tinh thần cao quý bị rẻ rúng. Nhân vật Trần Thiết Chung chính là lời cảnh tỉnh về sức mạnh tàn phá của đồng tiền đối với nhân cách và ước mơ của con người.
Văn bản "Kim tiền" thuộc thể loại bi kịch. Câu 2. (0,5 điểm)
Theo ông Cự Lợi, ông Trần Thiết Chung thất bại vì ông quá khinh rẻ đồng tiền, cố chấp và không chịu kiếm tiền. Câu 3. (1,0 điểm)
– Hình ảnh "phân, bẩn, rác" được so sánh với "tiền":
- Bản chất của chúng "phân, bẩn, rác" là sự ô uế, bẩn thỉu nhưng vẫn là "vật liệu rất quý", là nguồn dưỡng chất thiết yếu để tạo nên những cánh đồng lúa trĩu nặng, những bông hoa thơm ngát.
- "Tiền" có thể bị coi là thấp kém, đê tiện vì sự vụ lợi nhưng nếu biết dùng đúng cách nó cũng tạo ra những điều tốt đẹp, giúp ích cho đời.
– Qua đó, ông Cự Lợi muốn thuyết phục ông Trần Thiết Chung: - Bản chất của đồng tiền không hoàn toàn xấu và tiêu cực như cách ông Trần Thiết Chung đang suy nghĩ, nó phụ thuộc vào cách sử dụng và kiểm soát của mỗi cá nhân.
- Muốn Trần Thiết Chung hiểu rằng dù việc kiếm tiền có thể vất vả và trần tục nhưng tiền là công cụ cần thiết để nuôi sống bản thân, gia đình và thực hiện những lí tưởng cao đẹp.
– Cuộc trò chuyện giữa ông Cự Lợi và ông Trần Thiết Chung kết thúc trong sự bế tắc và bất đồng quan điểm Kết thúc của văn bản mang tính biểu tượng cao, phản ánh những tầng sâu ý nghĩa sau:
- Xung đột tư tưởng: Phản ánh sự mâu thuẫn gay gắt, không thể dung hòa giữa hai hệ tư tưởng trong xã hội giao thời. Một bên đại diện cho lý tưởng đạo đức nho sĩ (giữ khí tiết, khinh tài lợi) và một bên là lối sống thực dụng (coi trọng sức mạnh đồng tiền).
- Chủ đề văn bản: Làm nổi bật sự lựa chọn khốc liệt giữa tiền bạc và nhân cách, giữa lý tưởng sống cao đẹp và nhu cầu vật chất thực tế của đời sống.
- Giá trị chiêm nghiệm: Gợi suy ngẫm về những thử thách khi con người muốn giữ vững đạo đức và ước mơ trong một xã hội đang chạy theo lợi ích kinh tế.
Câu 1. (0,5 điểm)Văn bản "Chén thuốc độc" thuộc thể loại bi kịch.Câu 2. (0,5 điểm)Hình thức ngôn ngữ chủ yếu: Độc thoại (nhân vật nói với chính mình để bộc lộ nội tâm).Câu 3. (1,0 điểm)Các chỉ dẫn sân khấu trong văn bản:"Bóp trán nghĩ ngợi"."Nâng cốc nâng lên sắp uống lại đặt xuống."."Lấy dao mở hộp thuốc phiện, rót vào cốc, lấy que khuấy."."Đứng dậy lấy chai dấm thanh giấu ở dưới gầm tủ, rót vào cốc. Thò tay vào tủ lấy hộp thuốc phiện."....Tác dụng của các chỉ dẫn sân khấu:Giúp người đọc hình dung được hành động, cử chỉ và trạng thái cảm xúc cụ thể của nhân vật.Thể hiện xung đột nội tâm, giằng xé gay gắt của Thông Thu (sự do dự giữa sống và chết qua hành động nâng cốc lên rồi lại đặt xuống).Câu 4. (1,0 điểm)Tâm lí thầy Thông Thu trong hồi thứ Hai: Tâm lí hối hận và tự sỉ vả. Thông Thu nhận thức được sai lầm của bản thân sau khi tiêu tán gia sản, cảm thấy nhục nhã vì không làm được gì ích quốc lợi dân mà lại làm "nhơ...nhuốc" thanh danh gia đình.Tâm lí thầy Thông Thu trong hồi thứ Ba: Tâm lí tuyệt vọng và bế tắc. Khi đối mặt với cảnh tù tội, Thông Thu vô cùng sợ hãi. Hắn quyết định tìm đến cái chết để giải thoát ("Thà rằng một thác cho xong!").Sự thay đổi: Từ việc hối hận về quá khứ (Hồi II) chuyển sang sự hoảng loạn trước tương lai và đi đến hành động cực đoan (Hồi III). Tuy nhiên, trong sự tuyệt vọng vẫn nhen nhóm chút trách nhiệm muộn màng với gia đình (dừng lại để viết thư cho em trai).Câu 5. (1,0 điểm)Học sinh đưa ra quan điểm không đồng tình với quyết định của thầy Thông Thu và giải thích hợp lý. Gợi ý:Tự tử là một hành động trốn chạy hèn nhát trước sai lầm của chính mình thay vì đối mặt để sửa chữa.Cái chết không giải quyết được vấn đề mà đôi khi còn gây ảnh hưởng và liên lụy đến những người thân xung quanh.Thầy Thông Thu nên chọn cách sống trách nhiệm hơn, lao động để trả nợ và làm lại cuộc đời, như vậy mới thực sự là "thác trong còn hơn sống đục". Cái chết trong sự bế tắc này chỉ là sự kết thúc của một nhân cách bạc nhược.
Câu 1. (0,5 điểm)Văn bản "Chén thuốc độc" thuộc thể loại bi kịch.Câu 2. (0,5 điểm)Hình thức ngôn ngữ chủ yếu: Độc thoại (nhân vật nói với chính mình để bộc lộ nội tâm).Câu 3. (1,0 điểm)Các chỉ dẫn sân khấu trong văn bản:"Bóp trán nghĩ ngợi"."Nâng cốc nâng lên sắp uống lại đặt xuống."."Lấy dao mở hộp thuốc phiện, rót vào cốc, lấy que khuấy."."Đứng dậy lấy chai dấm thanh giấu ở dưới gầm tủ, rót vào cốc. Thò tay vào tủ lấy hộp thuốc phiện."....Tác dụng của các chỉ dẫn sân khấu:Giúp người đọc hình dung được hành động, cử chỉ và trạng thái cảm xúc cụ thể của nhân vật.Thể hiện xung đột nội tâm, giằng xé gay gắt của Thông Thu (sự do dự giữa sống và chết qua hành động nâng cốc lên rồi lại đặt xuống).Câu 4. (1,0 điểm)Tâm lí thầy Thông Thu trong hồi thứ Hai: Tâm lí hối hận và tự sỉ vả. Thông Thu nhận thức được sai lầm của bản thân sau khi tiêu tán gia sản, cảm thấy nhục nhã vì không làm được gì ích quốc lợi dân mà lại làm "nhơ...nhuốc" thanh danh gia đình.Tâm lí thầy Thông Thu trong hồi thứ Ba: Tâm lí tuyệt vọng và bế tắc. Khi đối mặt với cảnh tù tội, Thông Thu vô cùng sợ hãi. Hắn quyết định tìm đến cái chết để giải thoát ("Thà rằng một thác cho xong!").Sự thay đổi: Từ việc hối hận về quá khứ (Hồi II) chuyển sang sự hoảng loạn trước tương lai và đi đến hành động cực đoan (Hồi III). Tuy nhiên, trong sự tuyệt vọng vẫn nhen nhóm chút trách nhiệm muộn màng với gia đình (dừng lại để viết thư cho em trai).Câu 5. (1,0 điểm)Học sinh đưa ra quan điểm không đồng tình với quyết định của thầy Thông Thu và giải thích hợp lý. Gợi ý:Tự tử là một hành động trốn chạy hèn nhát trước sai lầm của chính mình thay vì đối mặt để sửa chữa.Cái chết không giải quyết được vấn đề mà đôi khi còn gây ảnh hưởng và liên lụy đến những người thân xung quanh.Thầy Thông Thu nên chọn cách sống trách nhiệm hơn, lao động để trả nợ và làm lại cuộc đời, như vậy mới thực sự là "thác trong còn hơn sống đục". Cái chết trong sự bế tắc này chỉ là sự kết thúc của một nhân cách bạc nhược.
Chỉ với 12 câu thơ ngắn ngủi, Hàn Mặc Tử đã gói trọn những cung bậc cảm xúc chân thành và sâu sắc về nỗi sầu đau của một thân phận bất hạnh. Trước hết, đó là nỗi buồn đầy trắc ẩn, sự bận lòng khôn nguôi khi hoàn cảnh nghiệt ngã khiến thi nhân không thể đáp lại trọn vẹn tình cảm của những người xung quanh. Tiếng khóc ấy không chỉ dành cho bản thân mà còn là tiếng khóc vì những người yêu quý mình. Tiếp đến, nỗi đau ấy càng trở nên nhức nhối qua khát khao yêu và được yêu mãnh liệt, nhưng trớ trêu thay, ông lại phải chứng kiến sự ra đi của người thương và sự tan vỡ của hạnh phúc. Đó là tiếng khóc cho những đau khổ, mất mátcủa chính mình. Cuối cùng, bao trùm lên tất cả là nỗi cô đơn, bơ vơ đến tuyệt vọng giữa cuộc đời rộng lớn, một tiếng khóc cho số kiếp đầy bi kịch. Tóm lại, bằng ngôn ngữ giàu sức gợi, đoạn thơ không chỉ là tiếng lòng đau đớn mà còn cho thấy một tâm hồn luôn khao khát được gắn bó thiết tha với cuộc đời của "ngôi sao lạ" trên thi đàn Việt Nam.
Câu 1
Những phương thức biểu đạt trong bài thơ:
Biểu cảm, miêu tả.
Câu 2
Đề tài: Nỗi buồn
Câu 3
HS xác định được một hình ảnh mang tính tượng trưng trong bài thơ. Chẳng hạn như một số hình ảnh:
mặt nhựt tan thành máu, hồn (
một nửa hồn tôi mất, một nửa hồn tôi bỗng dại khờ
), bông phượng nở trong màu huyết, giọt châu.
Nhận xét: HS nêu cảm nhận cá nhân về hình ảnh đó và đưa ra lí giải hợp lí. Ví dụ: Hình ảnh hồn
tượng trưng cho cái tôi cá nhân, cho sự cô đơn, tuyệt vọng của chính thi nhân gắn liền với mặc cảm chia lìa. Khát khao yêu và được yêu, nhưng tình yêu của Hàn Mặc Tử vẫn tan vỡ, người kia vẫn ra đi, khiến cho thi sĩ ngậm ngùi, đau đớn, thất vọng.
Câu 4
Câu hỏi tu từ: Tôi vẫn còn đây hay ở đâu?/ Sao bông phượng nở trong màu huyết,/ Nhỏ xuống lòng tôi
những giọt châu?
Tác dụng:
+ Thể hiện sự bơ vơ, lạc lõng của thi nhân giữa
+ Thể hiện sự nhạy cảm của thi nhân trước thiên nhiên, cuộc đời: Dường như thiên nhiên, cuộc đời cũng thương cho số kiếp đáng thương, hoàn cảnh lạc lõng của thi nhân mà xúc động, nghẹn ngào, khóc thương cho cuộc đời chàng Hàn Mặc Tử. Câu 5 (1,0 điểm).
HS dựa vào nội dung, mạch cảm xúc để rút ra nhận xét về cấu tứ.
Ví dụ: Trước hết, bài thơ đi từ nỗi buồn vì không thể hồi đáp lại hết tình thương yêu, quý mến của mọi người dành cho thi nhân. Nhà thơ rất muốn đền đáp nhưng bệnh tật khiến chàng không thể đền đáp nổi những điều trân quý ấy. Tiếp đó là nỗi đau đớn, bất lực vì tình yêu không trọn vẹn. Và cuối cùng là nỗi khổ sở, bơ vơ, lạc lõng giữa cuộc đời mênh mông. Như vậy, bài thơ là sự vận động từ sự phiền muộn, khát khao yêu và được yêu sang nỗi khổ sở, bơ vơ, lạc lõng giữa trần thế bao la của thi nhân.
Trong bài thơ "Tống biệt hành", Thâm Tâm đã khắc họa thành công hình tượng li khách – một người ra đi vì nghĩa lớn với vẻ đẹp bi tráng đầy ám ảnh. Trước hết, li khách hiện thân cho một bậc trượng phu có chí nam nhi lẫm liệt, sẵn sàng rũ bỏ bụi đường để theo đuổi khát vọng: "Chí nhớn chưa về bàn tay không/ Thì không bao giờ nói trở lại". Sự dứt khoát ấy mang âm hưởng của những tráng sĩ thời xưa, thể hiện một cái tôi cá nhân khao khát khẳng định mình giữa cuộc đời. Tuy nhiên, hình tượng này không hề khô khan mà lại vô cùng chân thực qua những giằng xé nội tâm. Đằng sau thái độ dửng dưng, "không nhìn", "không màng" là một trái tim nặng lòng tình nghĩa. Anh ra đi mà lòng đau xót khi nghĩ đến mẹ già, chị gái và em nhỏ. Chính sự đối lập giữa cái vẻ ngoài lạnh lùng và nỗi lòng thầm kín đầy lưu luyến, nghẹn ngào đã tạo nên chiều sâu nhân bản cho hình tượng. Li khách không chỉ là một người anh hùng lý tưởng hóa mà còn là một con người bằng xương bằng thịt, biết yêu thương và biết hy sinh. Bằng ngôn từ cổ kính và nhịp điệu gân guốc, Thâm Tâm đã tạc vào lòng người đọc một bức chân dung li khách vừa hào hùng, vừa bi thiết, đại diện cho lý tưởng của một thế hệ thanh niên lúc bấy giờ.
Nhân vật trữ tình trong bài thơ là "ta" – người đưa tiễn. Câu 2
Cuộc chia tay không xác định không gian. Thời gian là trong chiều hôm nay. Câu 3
-Chỉ ra được hiện tượng phá vỡ quy tắc ngôn ngữ thông thường là kết hợp từ bất bình thường: "đầy hoàng hôn trong mắt"; "đầy" (tính từ): ở trạng thái không còn chứa thêm được nữa, có nhiều và khắp cả; "hoàng hôn" chỉ thời điểm mặt trời lặn, ánh sáng yếu ớt và mở dần.
-Tác giả đã để cho hoàng hôn rộng lớn, man mác buồn đong đầy đôi mắt của người ra đi. —Tác dụng: góp phần thể hiện một cách kín đáo tâm trạng của người li khách; thể hiện nỗi buồn man mác vấn vương của li khách một cách đầy lãng mạn; cho ta thấy dường như con người đang cố gắng dùng lí trí kìm nén những xúc cảm trong lòng mình; gợi ra khung cảnh những cuộc chia li thời cổ, góp phần thổi vào câu thơ hơi thở Đường thi.
Câu 4 Hình ảnh "tiếng sóng" xuất hiện trong hai câu thơ: Đưa người, ta không đưa qua sông,Sao có tiếng sóng ở trong lòng?
-"Tiếng sóng" trong lòng tượng trưng cho tâm trạng xáo động, bâng khuâng, lưu luyến và vấn vương cùng nỗi buồn man mác khó tả tựa như những lớp sóng đang trào dâng vô hồi vô hạn trong lòng người tiễn đưa.
-Gợi ra khung cảnh những cuộc chia li thời cổ. Góp phần thổi vào câu thơ hơi thở Đường thi.
Câu 5 (1,0 điểm). Nêu được một thông điệp mà HS thấy có ý nghĩa nhất đối với cuộc sống:-Lí trí và tình cảm có mối quan hệ chặt chẽ, nhưng trong nhiều tình huống, lí trí và tình cảm không thống nhất, khiến con người sẽ hành động, cư xử theo các cách khác nhau, thậm chí đối lập nhau, buộc phải lựa chọn.
-Con người và nhất là người trẻ cần phải tự lập và có trách nhiệm với cuộc đời của mình. -Mỗi người cần có ước mơ, hoài bão, lí tưởng và biết cố gắng phấn đấu vì những ước mơ, khát vọng, lí tưởng ấy.
-Những cuộc chia li không tránh khỏi buồn thương, nhưng sẽ cho ta hiểu hơn về những tình cảm thật sự chân thành của con người.