Hoàng Bình An
Giới thiệu về bản thân
Câu 1 Bài thơ Than đạo học của Trần Tế Xương đã phản ánh sâu sắc sự suy tàn của nền Nho học cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX. Qua hình ảnh “Mười người đi học, chín người thôi”, tác giả cho thấy cảnh học hành sa sút, người học ngày càng thờ ơ với đạo học. Không chỉ vậy, hình ảnh “Cô hàng bán sách lim dim ngủ”, “Thầy khoá tư lương nhấp nhổm ngồi” còn gợi nên sự ế ẩm, thất thế của nghề dạy học và sách vở Nho học. Từ đó, nhà thơ bộc lộ nỗi chán chường, đau xót trước thực trạng xã hội và nền giáo dục đương thời. Về nghệ thuật, bài thơ được viết theo thể thất ngôn bát cú Đường luật với giọng điệu châm biếm sâu cay nhưng vẫn thấm đượm nỗi buồn. Tác giả sử dụng nhiều từ láy giàu giá trị biểu cảm như “lim dim”, “nhấp nhổm”, “rụt rè”, “liều lĩnh” làm nổi bật sự nhếch nhác của cảnh thi cử lúc bấy giờ. Nghệ thuật đối lập cùng cách nói mỉa mai đã góp phần tạo nên sức tố cáo mạnh mẽ cho bài thơ.
Câu 2 Học tập là con đường quan trọng giúp con người mở mang tri thức, hoàn thiện bản thân và xây dựng tương lai. Vì vậy, ý thức học tập của học sinh luôn là vấn đề được xã hội quan tâm. Trong cuộc sống hiện nay, bên cạnh nhiều học sinh chăm chỉ, tự giác vẫn còn không ít bạn có thái độ học tập chưa đúng đắn. Ý thức học tập là sự tự giác, tinh thần trách nhiệm và thái độ nghiêm túc của học sinh đối với việc học. Người có ý thức học tập luôn chủ động tiếp thu kiến thức, chăm chỉ rèn luyện và không ngừng cố gắng để tiến bộ. Ngược lại, thiếu ý thức học tập sẽ dẫn đến lười biếng, chán học, học đối phó hay sa đà vào các thú vui vô bổ. Hiện nay, nhiều học sinh có tinh thần học tập rất đáng khen ngợi. Các bạn chăm chỉ đến trường, chủ động tìm tòi kiến thức mới, tích cực tham gia các hoạt động học tập và rèn luyện kỹ năng sống. Không ít học sinh dù hoàn cảnh khó khăn vẫn cố gắng vươn lên để đạt thành tích cao. Chính tinh thần ham học ấy đã góp phần tạo nên nhiều tấm gương đẹp trong học tập và cuộc sống. Tuy nhiên, bên cạnh đó vẫn tồn tại một bộ phận học sinh thiếu ý thức học tập. Có bạn lười học, thường xuyên đi học muộn, không làm bài tập, chỉ học đối phó để qua môn. Một số khác quá phụ thuộc vào điện thoại, mạng xã hội, trò chơi điện tử nên xao nhãng việc học. Thậm chí có học sinh quay cóp trong kiểm tra, thiếu trung thực trong học tập. Những biểu hiện ấy không chỉ ảnh hưởng đến kết quả học tập mà còn làm suy giảm nhân cách của bản thân. Nguyên nhân của thực trạng này xuất phát từ nhiều phía. Trước hết là do bản thân học sinh chưa nhận thức được tầm quan trọng của việc học nên thiếu mục tiêu và động lực phấn đấu. Ngoài ra, sự quản lí chưa chặt chẽ từ gia đình, tác động tiêu cực của mạng xã hội và môi trường sống cũng ảnh hưởng không nhỏ đến ý thức học tập của học sinh hiện nay. Ý thức học tập có vai trò vô cùng quan trọng. Khi có tinh thần tự giác học tập, học sinh sẽ tích lũy được kiến thức, rèn luyện kỹ năng và hình thành nhân cách tốt đẹp. Đây cũng là nền tảng giúp mỗi người thực hiện ước mơ và đóng góp cho xã hội trong tương lai. Ngược lại, nếu thiếu ý thức học tập, con người sẽ dễ tụt hậu, khó đạt được thành công trong cuộc sống. Để nâng cao ý thức học tập của học sinh, mỗi người cần xác định rõ mục tiêu học tập của bản thân, xây dựng kế hoạch học tập hợp lí và rèn luyện tính tự giác. Gia đình và nhà trường cũng cần quan tâm, động viên và tạo môi trường học tập tích cực cho học sinh. Đồng thời, học sinh cần biết sử dụng mạng xã hội đúng cách, tránh để những thú vui giải trí ảnh hưởng đến việc học. Là học sinh, em nhận thấy bản thân cần cố gắng học tập chăm chỉ hơn mỗi ngày. Chỉ khi có ý thức học tập đúng đắn, chúng ta mới có thể phát triển bản thân và xây dựng tương lai tốt đẹp. Học tập không chỉ vì điểm số mà còn để trở thành người có ích cho gia đình và xã hội.
Câu 1. Bài thơ được viết theo thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật. Câu 2. Đề tài của bài thơ là: sự suy tàn, sa sút của nền Nho học (đạo học) thời bấy giờ. Câu 3. Tác giả cho rằng “Đạo học ngày nay đã chán rồi” vì: Người đi học ngày càng ít, nhiều người bỏ học: “Mười người đi học, chín người thôi”. Việc học hành, thi cử trở nên sa sút, thiếu nghiêm túc. Thầy đồ thất nghiệp, nghèo túng; người bán sách cũng ế ẩm. Sĩ tử mất ý chí, trường thi đầy sự liều lĩnh và thực dụng. → Qua đó cho thấy nền Nho học đang xuống dốc và mất dần vị thế trong xã hội. Câu 4. Tác giả sử dụng nhiều từ láy như: “lim dim”, “nhấp nhổm”, “rụt rè”, “liều lĩnh”. Tác dụng: Gợi hình ảnh sinh động, cụ thể. Thể hiện rõ trạng thái chán nản, bất an, sa sút của giới học hành và thi cử. Tăng giá trị châm biếm, mỉa mai sâu sắc cho bài thơ. Giúp giọng thơ vừa hài hước vừa cay đắng. Câu 5. Nội dung bài thơ: Bài thơ phản ánh thực trạng suy tàn của nền Nho học và cảnh thi cử nhốn nháo ở xã hội đương thời. Qua đó, tác giả bày tỏ tâm trạng chán chường, đau xót và thái độ châm biếm sâu cay trước sự xuống cấp của đạo học thời cuối mùa.
Câu 1 (khoảng 200 chữ): Trong thời đại số, việc ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) vào quảng bá văn hoá truyền thống Việt Nam đang trở thành một xu hướng nổi bật. AI có khả năng hỗ trợ phân tích dữ liệu, cá nhân hoá trải nghiệm và tạo ra các nền tảng tương tác thông minh, từ đó giúp người dùng dễ dàng tiếp cận các giá trị văn hoá dân tộc. Chẳng hạn, trong các lễ hội ẩm thực như Festival Phở, chatbot AI có thể tư vấn món ăn phù hợp với sở thích của từng du khách, đồng thời cung cấp thông tin về nguồn gốc, cách chế biến và ý nghĩa văn hoá của món ăn. Ngoài ra, AI còn được ứng dụng trong việc số hoá di sản, tái hiện không gian văn hoá xưa qua công nghệ thực tế ảo, giúp người trẻ hiểu hơn về truyền thống. Việc kết hợp giữa công nghệ hiện đại và văn hoá truyền thống không chỉ nâng cao hiệu quả quảng bá mà còn góp phần bảo tồn các giá trị lâu đời trong bối cảnh toàn cầu hoá. Tuy nhiên, cần sử dụng AI một cách hợp lý để đảm bảo giữ được bản sắc nguyên gốc của văn hoá dân tộc. Câu 2 (khoảng 600 chữ): Đoạn trích “Rừng miền Đông, một đêm trăng” của Nguyễn Văn Tàu đã tái hiện chân thực và xúc động cuộc sống gian khổ của người lính trong những năm tháng kháng chiến chống Pháp ở miền Đông Nam Bộ. Qua đó, tác phẩm làm nổi bật vẻ đẹp ý chí kiên cường và tinh thần vượt khó của họ. Trước hết, đoạn trích khắc họa bối cảnh thiên nhiên rừng Hắc Dịch vừa hùng vĩ vừa khắc nghiệt. Đó là một khu rừng già với “nhiều cây to, tàn cao”, nhưng cũng đầy thử thách: mùa mưa thì “đất đỏ dẻo quánh, đường trơn trượt”, “con vắt nằm đầy trên lá mục”. Những chi tiết miêu tả cụ thể, chân thực đã làm nổi bật sự khắc nghiệt của môi trường sống, nơi người lính phải đối mặt với muôn vàn khó khăn từ thiên nhiên. Tuy nhiên, trong hoàn cảnh hiện tại là mùa khô, con đường trở nên “dễ đi”, tạo điều kiện cho nhân vật “tôi” nhanh chóng lên đường, thể hiện rõ tâm trạng háo hức khi sắp được gặp lại gia đình. Nổi bật trong đoạn trích là hình ảnh người lính với cuộc sống thiếu thốn, gian khổ đến cùng cực. Bữa ăn của họ chỉ là “một sét chén cơm”, thậm chí có khi phải ăn “cơm thúi”, “cháo loãng”, hay củ mì sống cầm hơi. Những chi tiết như “ăn xong mà cảm thấy như chưa ăn” hay “có thể ăn thêm năm sáu phần nữa cũng chưa thấm tháp gì” đã cho thấy sự đói khát triền miên. Đặc biệt, tác giả hồi tưởng về những năm 1952 với hoàn cảnh còn khắc nghiệt hơn: gạo bị ẩm mốc, phải “nín hơi mà nuốt”, ăn củ mì đến “ghẻ lở, ung nhọt”, thậm chí không thể cầm súng đúng tư thế. Những chi tiết ấy không chỉ phản ánh chân thực sự thiếu thốn vật chất mà còn làm nổi bật ý chí chịu đựng phi thường của người lính. Bên cạnh nội dung hiện thực sâu sắc, đoạn trích còn gây ấn tượng bởi nghệ thuật kể chuyện chân thực, giàu sức gợi. Ngôn ngữ giản dị, mộc mạc, mang đậm chất khẩu ngữ, giúp tái hiện sinh động đời sống chiến trường. Việc sử dụng ngôi kể thứ nhất tạo cảm giác gần gũi, chân thực, như lời tâm sự của người trong cuộc. Các chi tiết được lựa chọn tiêu biểu, cụ thể, có sức ám ảnh mạnh mẽ, đặc biệt là những hình ảnh về bữa ăn và bệnh tật. Ngoài ra, sự đan xen giữa hiện tại và quá khứ giúp làm nổi bật sự so sánh, từ đó khắc sâu hơn mức độ gian khổ mà người lính đã trải qua. Qua đoạn trích, Nguyễn Văn Tàu không chỉ tái hiện hiện thực chiến tranh gian khổ mà còn ca ngợi tinh thần kiên cường, bền bỉ của người lính cách mạng. Dù sống trong điều kiện thiếu thốn, họ vẫn kiên trì chiến đấu, giữ vững ý chí và niềm tin. Tác phẩm vì thế mang giá trị nhân văn sâu sắc, góp phần giúp thế hệ sau hiểu và trân trọng hơn những hy sinh của cha anh. Tóm lại, đoạn trích “Rừng miền Đông, một đêm trăng” là một bức tranh chân thực về cuộc sống gian khổ của người lính trong kháng chiến, đồng thời làm nổi bật vẻ đẹp phẩm chất cao quý của họ. Đây là một tác phẩm có giá trị cả về nội dung và nghệ thuật, để lại nhiều ấn tượng sâu sắc trong lòng người đọc.
Câu 1. Phương thức biểu đạt chính: Thuyết minh (kết hợp thông tin – giới thiệu). Câu 2. Hai điểm nổi bật của Festival Phở 2025: Quy tụ hơn 50 gian hàng phở từ ba miền, giới thiệu đa dạng phong cách phở Việt. Ứng dụng công nghệ AI (chatbot) để hỗ trợ du khách tìm kiếm món ăn và trải nghiệm lễ hội. Câu 3. Thông tin phần sa-pô: Giới thiệu thời gian, địa điểm, chủ đề lễ hội và hoạt động trải nghiệm AI cho du khách. Tác dụng: Khái quát nội dung chính, thu hút người đọc và định hướng thông tin của toàn bài. Câu 4. Điểm mới: Ứng dụng công nghệ AI vào lễ hội ẩm thực để tư vấn, hỗ trợ khách tham quan. Tác dụng: Làm nổi bật sự hiện đại, sáng tạo của lễ hội; thể hiện sự kết hợp giữa truyền thống và công nghệ, tăng sức hấp dẫn với công chúng. Câu 5. Thế hệ trẻ có vai trò quan trọng trong việc giữ gìn và lan tỏa giá trị ẩm thực truyền thống. Trước hết, cần hiểu và trân trọng những món ăn mang bản sắc dân tộc như phở. Bên cạnh đó, cần chủ động quảng bá văn hóa ẩm thực qua mạng xã hội, du lịch và giao lưu quốc tế. Việc kết hợp truyền thống với công nghệ hiện đại cũng là cách giúp ẩm thực Việt tiếp cận rộng rãi hơn. Ngoài ra, giới trẻ cần có ý thức bảo tồn hương vị nguyên bản, tránh làm mai một giá trị cốt lõi. Qua đó, góp phần đưa ẩm thực Việt vươn tầm thế giới.
Câu 1: Đoạn trích trong Truyện Kiều của Nguyễn Du thể hiện nhiều đặc sắc nghệ thuật tiêu biểu. Trước hết, tác giả sử dụng thể thơ lục bát giàu nhạc điệu, mềm mại, phù hợp với việc miêu tả tâm trạng và đối thoại của nhân vật. Ngôn ngữ thơ tinh tế, giàu hình ảnh và tính ước lệ, thể hiện qua các hình ảnh như “đội trời đạp đất”, “gươm đàn nửa gánh”, “cá chậu chim lồng”… góp phần khắc họa rõ nét khí phách anh hùng của Từ Hải và thân phận của Thúy Kiều. Bên cạnh đó, đoạn trích nổi bật với nghệ thuật miêu tả nhân vật qua đối thoại. Qua những lời trò chuyện giữa hai nhân vật, người đọc thấy được sự hào sảng, trọng nghĩa của Từ Hải và sự thông minh, khiêm nhường, tinh tế của Thúy Kiều. Ngoài ra, tác giả còn sử dụng nhiều điển cố, điển tích như “Bình Nguyên Quân”, “Tấn Dương”, làm tăng tính trang trọng và chiều sâu văn hóa cho tác phẩm. Sự kết hợp hài hòa giữa ngôn ngữ, hình ảnh, điển tích và nghệ thuật đối thoại đã giúp đoạn trích khắc họa sinh động cuộc gặp gỡ giữa hai con người tri kỷ, đồng thời thể hiện tài năng nghệ thuật bậc thầy của Nguyễn Du. Câu 2 : Trong cuộc sống, lòng tốt luôn là một trong những phẩm chất đáng quý nhất của con người. Có ý kiến cho rằng: “Lòng tốt của con người có thể chữa lành các vết thương nhưng lòng tốt cũng cần đôi phần sắc sảo, nếu không chẳng khác nào con số không tròn trĩnh.”. Ý kiến này gợi ra một bài học sâu sắc về cách sống và cách trao đi sự tử tế. Trước hết, lòng tốt là sự yêu thương, sự quan tâm và mong muốn giúp đỡ người khác một cách chân thành. Lòng tốt có khả năng chữa lành những vết thương trong cuộc sống. Một lời động viên, một hành động giúp đỡ đúng lúc có thể mang lại niềm tin, hi vọng cho những người đang gặp khó khăn. Trong xã hội, rất nhiều tấm gương sẵn sàng giúp đỡ người nghèo, hỗ trợ những người gặp thiên tai, bệnh tật. Chính những việc làm ấy đã làm cho cuộc sống trở nên ấm áp và nhân văn hơn. Tuy nhiên, lòng tốt không nên chỉ xuất phát từ cảm xúc đơn thuần, mà cần có sự tỉnh táo và sắc sảo. Nếu giúp đỡ người khác mà không suy xét đúng sai, không phân biệt hoàn cảnh thật giả thì đôi khi lòng tốt lại bị lợi dụng. Trong thực tế, có những trường hợp giả vờ khó khăn để lừa đảo, trục lợi từ sự thương cảm của người khác. Nếu chúng ta chỉ hành động theo cảm xúc mà thiếu suy nghĩ thì lòng tốt ấy sẽ trở nên vô nghĩa, thậm chí gây ra hậu quả không mong muốn. Vì vậy, lòng tốt cần đi cùng sự hiểu biết, bản lĩnh và sự sáng suốt. Bên cạnh đó, lòng tốt đúng nghĩa là khi ta giúp đỡ đúng người, đúng cách và đúng thời điểm. Ví dụ, thay vì chỉ cho tiền một người lười lao động, ta có thể giúp họ tìm công việc hoặc tạo cơ hội để họ tự vươn lên. Như vậy, lòng tốt không chỉ giải quyết khó khăn trước mắt mà còn giúp con người thay đổi cuộc sống lâu dài. Một lòng tốt có suy nghĩ và trách nhiệm sẽ tạo ra giá trị bền vững cho xã hội. Đối với mỗi người trẻ, đặc biệt là học sinh, bài học từ ý kiến trên rất đáng suy ngẫm. Chúng ta cần biết yêu thương và giúp đỡ người khác, nhưng đồng thời cũng phải biết suy nghĩ, quan sát và lựa chọn cách giúp phù hợp. Lòng tốt không phải là sự yếu mềm hay dễ dãi, mà là sự tử tế đi cùng với trí tuệ. Tóm lại, lòng tốt là điều vô cùng quý giá, có thể mang lại niềm vui và hạnh phúc cho con người. Tuy nhiên, lòng tốt cần được đặt trong sự tỉnh táo và hiểu biết để không bị lợi dụng và để phát huy giá trị thật sự. Khi con người biết sống tử tế nhưng vẫn sáng suốt, xã hội sẽ trở nên tốt đẹp và nhân văn hơn.
Câu 1: Văn bản được viết theo thể thơ lục bát. Câu 2 : Hai nhân vật Từ Hải và Thúy Kiều gặp nhau ở lầu xanh (lầu hồng) – nơi Kiều đang sống khi bị bán vào chốn lầu xanh. Câu 3 : Qua những câu thơ trên, có thể thấy Thúy Kiều là người: Khiêm tốn, tự trọng, luôn tự nhận mình là thân “bèo bọt”. Khéo léo, tinh tế trong lời nói, thể hiện sự thông minh và hiểu lễ nghĩa. Đồng thời cho thấy tấm lòng chân thành và biết ơn, khi được Từ Hải quan tâm và coi trọng. Câu 4 : Qua đoạn trích, Từ Hải hiện lên là: Một bậc anh hùng mạnh mẽ, có chí lớn, sống tự do ngang tàng “đội trời đạp đất”. Tài giỏi và khí phách, giỏi võ nghệ và mưu lược. Trọng nghĩa, trọng tài và biết trân trọng Thúy Kiều, nhanh chóng nhận ra Kiều là người tri kỷ. Câu 5 : Văn bản gợi cho em sự cảm phục và xúc động: Cảm phục Từ Hải vì khí phách anh hùng và tấm lòng trân trọng người tài. Thương cảm cho Thúy Kiều vì dù tài sắc nhưng số phận long đong. Đồng thời ngưỡng mộ mối tri kỷ giữa hai người, họ nhanh chóng hiểu và đồng cảm với nhau.
Thì có ai bảo mày khôn đâu
Câu 1. Viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) phân tích những nét đặc sắc về nội dung và nghệ thuật của đoạn trích ở phần Đọc hiểu Đoạn trích ở phần Đọc hiểu mang những nét đặc sắc cả về nội dung lẫn nghệ thuật, thể hiện rõ giá trị tư tưởng của truyện thơ Thạch Sanh. Về nội dung, đoạn trích tập trung khắc họa cuộc đấu tranh giữa cái thiện và cái ác. Thạch Sanh là hiện thân của người anh hùng dân gian hiền lành, nhân hậu, dù bị hãm hại, oan khuất vẫn không oán hận, sẵn sàng tha thứ cho kẻ thù. Trái ngược với chàng là Lý Thông – kẻ tham lam, gian xảo, cuối cùng phải nhận kết cục bi thảm, thể hiện quan niệm dân gian “ác giả ác báo”. Bên cạnh đó, đoạn trích còn đề cao niềm tin vào công lí và sức mạnh của cái thiện: sự thật dù bị che giấu vẫn sẽ được sáng tỏ. Về nghệ thuật, văn bản được viết bằng thể thơ lục bát giàu nhạc điệu, đậm chất dân gian. Các chi tiết kì ảo như tiếng đàn của Thạch Sanh có sức cảm hóa lòng người góp phần làm tăng tính hấp dẫn và giá trị nhân văn cho tác phẩm. Câu 2. Viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) bàn về việc sống chậm trong xã hội hiện đại Trong xã hội hiện đại ngày nay, nhịp sống diễn ra ngày càng nhanh, con người luôn phải chạy đua với thời gian, công việc và những áp lực vô hình. Chính trong bối cảnh đó, việc sống chậm trở thành một nhu cầu cần thiết, giúp con người tìm lại sự cân bằng và ý nghĩa thực sự của cuộc sống. Sống chậm không có nghĩa là sống thụ động, trì trệ hay né tránh trách nhiệm. Sống chậm là biết điều chỉnh nhịp sống phù hợp, biết dừng lại đúng lúc để suy ngẫm, cảm nhận và trân trọng những giá trị xung quanh mình. Đó là khi con người không quá vội vàng trong suy nghĩ và hành động, biết lắng nghe bản thân cũng như những người xung quanh. Trong guồng quay gấp gáp của xã hội hiện đại, nhiều người rơi vào trạng thái căng thẳng, mệt mỏi vì áp lực học tập, công việc và mạng xã hội. Việc chạy theo thành công vật chất đôi khi khiến con người đánh mất sức khỏe tinh thần, sự gắn kết gia đình và những niềm vui giản dị. Khi đó, sống chậm giúp con người có thời gian nhìn lại bản thân, nhận ra điều gì là quan trọng và đáng trân quý trong cuộc sống. Sống chậm mang lại nhiều giá trị tích cực. Trước hết, nó giúp con người sống sâu sắc hơn, biết trân trọng từng khoảnh khắc đời thường như một bữa cơm gia đình, một lời hỏi han hay giây phút yên bình cho riêng mình. Bên cạnh đó, sống chậm còn giúp con người suy nghĩ thấu đáo trước khi hành động, từ đó hạn chế sai lầm và sống có trách nhiệm hơn với bản thân và xã hội. Khi biết sống chậm, con người cũng trở nên nhân ái hơn, biết chia sẻ, thấu hiểu và cảm thông với người khác. Tuy nhiên, cần phê phán những quan niệm sai lệch cho rằng sống chậm là lười biếng hay thiếu ý chí vươn lên. Ngược lại, sống chậm đúng nghĩa giúp con người làm việc hiệu quả hơn, biết sắp xếp thời gian hợp lí và giữ được sự cân bằng giữa công việc và cuộc sống. Đó là nền tảng để con người phát triển bền vững cả về trí tuệ lẫn tinh thần. Tóm lại, sống chậm trong xã hội hiện đại không phải là đi ngược lại sự phát triển mà là cách để con người sống trọn vẹn và sâu sắc hơn. Trong một thế giới ngày càng vội vã, sống chậm chính là nghệ thuật giúp con người giữ gìn hạnh phúc và giá trị bản thân.
Câu 1. Viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) phân tích những nét đặc sắc về nội dung và nghệ thuật của đoạn trích ở phần Đọc hiểu Đoạn trích ở phần Đọc hiểu mang những nét đặc sắc cả về nội dung lẫn nghệ thuật, thể hiện rõ giá trị tư tưởng của truyện thơ Thạch Sanh. Về nội dung, đoạn trích tập trung khắc họa cuộc đấu tranh giữa cái thiện và cái ác. Thạch Sanh là hiện thân của người anh hùng dân gian hiền lành, nhân hậu, dù bị hãm hại, oan khuất vẫn không oán hận, sẵn sàng tha thứ cho kẻ thù. Trái ngược với chàng là Lý Thông – kẻ tham lam, gian xảo, cuối cùng phải nhận kết cục bi thảm, thể hiện quan niệm dân gian “ác giả ác báo”. Bên cạnh đó, đoạn trích còn đề cao niềm tin vào công lí và sức mạnh của cái thiện: sự thật dù bị che giấu vẫn sẽ được sáng tỏ. Về nghệ thuật, văn bản được viết bằng thể thơ lục bát giàu nhạc điệu, đậm chất dân gian. Các chi tiết kì ảo như tiếng đàn của Thạch Sanh có sức cảm hóa lòng người góp phần làm tăng tính hấp dẫn và giá trị nhân văn cho tác phẩm. Câu 2. Viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) bàn về việc sống chậm trong xã hội hiện đại Trong xã hội hiện đại ngày nay, nhịp sống diễn ra ngày càng nhanh, con người luôn phải chạy đua với thời gian, công việc và những áp lực vô hình. Chính trong bối cảnh đó, việc sống chậm trở thành một nhu cầu cần thiết, giúp con người tìm lại sự cân bằng và ý nghĩa thực sự của cuộc sống. Sống chậm không có nghĩa là sống thụ động, trì trệ hay né tránh trách nhiệm. Sống chậm là biết điều chỉnh nhịp sống phù hợp, biết dừng lại đúng lúc để suy ngẫm, cảm nhận và trân trọng những giá trị xung quanh mình. Đó là khi con người không quá vội vàng trong suy nghĩ và hành động, biết lắng nghe bản thân cũng như những người xung quanh. Trong guồng quay gấp gáp của xã hội hiện đại, nhiều người rơi vào trạng thái căng thẳng, mệt mỏi vì áp lực học tập, công việc và mạng xã hội. Việc chạy theo thành công vật chất đôi khi khiến con người đánh mất sức khỏe tinh thần, sự gắn kết gia đình và những niềm vui giản dị. Khi đó, sống chậm giúp con người có thời gian nhìn lại bản thân, nhận ra điều gì là quan trọng và đáng trân quý trong cuộc sống. Sống chậm mang lại nhiều giá trị tích cực. Trước hết, nó giúp con người sống sâu sắc hơn, biết trân trọng từng khoảnh khắc đời thường như một bữa cơm gia đình, một lời hỏi han hay giây phút yên bình cho riêng mình. Bên cạnh đó, sống chậm còn giúp con người suy nghĩ thấu đáo trước khi hành động, từ đó hạn chế sai lầm và sống có trách nhiệm hơn với bản thân và xã hội. Khi biết sống chậm, con người cũng trở nên nhân ái hơn, biết chia sẻ, thấu hiểu và cảm thông với người khác. Tuy nhiên, cần phê phán những quan niệm sai lệch cho rằng sống chậm là lười biếng hay thiếu ý chí vươn lên. Ngược lại, sống chậm đúng nghĩa giúp con người làm việc hiệu quả hơn, biết sắp xếp thời gian hợp lí và giữ được sự cân bằng giữa công việc và cuộc sống. Đó là nền tảng để con người phát triển bền vững cả về trí tuệ lẫn tinh thần. Tóm lại, sống chậm trong xã hội hiện đại không phải là đi ngược lại sự phát triển mà là cách để con người sống trọn vẹn và sâu sắc hơn. Trong một thế giới ngày càng vội vã, sống chậm chính là nghệ thuật giúp con người giữ gìn hạnh phúc và giá trị bản thân.
Câu 1
Bé em trong " áo tết " là hình ảnh tiêu biểu của sự hồn nhiên trong sáng và giàu lòng nhân ái Tuy sống trong cảnh nghèo khó thiếu thốn em là biểu tượng của một tâm hồn đẹp đẽ vượt lên hoàn cảnh bằng hành động biết nhường nhịn thương mẹ hơn cả chính mình tác giả Nguyễn Ngọc tư đã khắc hoạ thành công vẽ đẹp nội tâm của em thể hiện qua sự hiểu biết lòng vị tha và khao khát giản dị qua đó gửi gắm thông điệp về tình yêu thương sự sẻ chia và đẹp tâm hồn của con người .