Huỳnh Trịnh Mỹ Dung

Giới thiệu về bản thân

Chào mừng bạn đến với trang cá nhân của Huỳnh Trịnh Mỹ Dung
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
(Thường được cập nhật sau 1 giờ!)

Câu 1:Hình ảnh "cơm" trong đoạn trích biểu tượng cho tình yêu thương vô bờ bến, sự hy sinh thầm lặng của người mẹ dành cho con. Từ "cà mèn cơm" đầy ắp, đến lời dặn "Không ai thương bằng cơm thương", và cả miếng cơm cháy thơm lừng, tất cả đều là những biểu hiện cụ thể, chân thực của tình mẫu tử. Nó nhắc nhở người con phải biết trân trọng những giá trị giản dị, tình cảm thiêng liêng ấy, và hiểu rằng sự quan tâm của mẹ là vĩnh cửu, không gì có thể thay thế được. Biểu tượng của tình yêu thương và sự hy sinh: Cụm từ "cà mèn cơm" đầy ắp, "chén cơm" ấm áp và cả "miếng cơm" cháy giòn đều thể hiện rõ tình yêu thương và sự chăm sóc của người mẹ dành cho con. Tình yêu đó không chỉ là trong bữa ăn, mà còn là lời dặn dò, là sự hy sinh thầm lặng và bao dung. Lời nhắc nhở về giá trị sống: Câu nói "Không ai thương bằng cơm thương" của mẹ là một lời dặn dò sâu sắc, ẩn chứa ý nghĩa lớn lao về giá trị của tình cảm gia đình, đặc biệt là tình mẫu tử. Nó nhắc nhở người con phải biết trân trọng những gì mình đang có, đừng để tình cảm thiêng liêng ấy bị phai nhạt theo thời gian. Biểu tượng của quê hương và ký ức: "Miếng cơm cháy" với "mùi hương đồng, mùi nước quê, cả mùi khói bếp" là biểu tượng của ký ức tuổi thơ, của quê hương mà người con không thể nào quên. Tình yêu và sự hy sinh của mẹ gắn liền với những kỷ niệm đẹp đẽ đó.

Câu 2:Trong thời buổi công nghiệp hóa, hiện đại hóa như hiện nay. Học sinh chúng ta có nhiều cơ hội hơn để được trau dồi, tiếp thu kiến thức, mở mang tầm hiểu biết và hội nhập với thế giới. Tuy nhiên, để hoàn thiện bản thân mình hơn trong cách sống cũng như tâm hồn, chúng ta cần phải tích cực tìm hiểu, bảo vệ và giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc.

Bản sắc văn hóa dân tộc là gì? Bản sắc văn hóa là những nét văn hóa từ lâu đời của dân tộc được truyền từ đời này sang đời khác đã trở thành những phong tục tập quán, những đặc trưng vùng miền của cả đất nước ta. Bên cạnh đó, bản sắc văn hóa dân tộc còn là những giá trị tạo nên sự khác biệt của mỗi quốc gia, sự phong phú trong lối sống, sinh hoạt tập thể của con người và tạo nên sự đa dạng màu sắc cho cuộc sống. Bản sắc văn hóa dân tộc có tầm quan trọng lớn lao đối với cuộc sống của mỗi người nói riêng và sự phát triển của đất nước nói chung. Bản sắc văn hóa dân tộc hay cụ thể hơn là văn hóa vùng miền là nơi con người giao lưu văn hóa, cùng nhau tôn vinh vẻ đẹp của quê hương mình, cũng là nơi con người gắn kết với nhau, vui đùa. Bản sắc văn hóa dân tộc còn là những đặc trưng về văn hóa của quốc gia đó, là nét làm cho đất nước mình không bị nhầm lẫn với bất kì đất nước nào khác.

Tuy nhiên, bên cạnh đó, trong xã hội hiện nay, chúng ta vẫn dễ dàng bắt gặp những thanh niên với lối sống xa rời bản sắc dân tộc. Họ thờ ơ với những giá trị truyền thống ở cả vật chất cũng như tinh thần; và đề cao những giá trị văn hóa du nhập ở nước ngoài qua sự thần tượng, sính ngoại vượt ngưỡng cho phép. Chẳng hạn như việc các bạn trẻ vô tư sử dụng những ngôn từ nước ngoài xen kẽ vào tiếng Việt, tạo nên những cách diễn đạt khó hiểu và ảnh hưởng đến sự trong sáng của tiếng Việt. Những hành động đó đã vô tình tác động xấu đến việc duy trì, phát huy nền văn hóa dân tộc.

Tóm lại, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc là một việc làm quan trọng đối với mỗi quốc gia. Thế hệ trẻ hôm nay - những con người luôn dễ dàng tiếp thu với cái mới, hãy sống có ý thức bảo vệ những nét đẹp chân quý của đất nước.

Câu 1:Đoạn trích trên được viết theo thể thơ tự do

Câu 2: Hai hình ảnh thể hiện sự khắc nghiệt của thiên nhiên miền Trung là: + Câu ví dặm nằm nghiêng/ Trên nắng và dưới cát (chỉ một vùng đất đầy nắng gắt và cát bao phủ, thể hiện một vùng đất khô cằn và khắc nghiệt) + Chỉ có gió bão là tốt tươi như cỏ/ Không ai gieo mọc trắng mặt người. (Chỉ một hiện tượng thiên nhiên đặc trưng của vùng đất miền Trung: nhiều bão lũ, mưa giông.)

Câu 3: Những dòng thơ trên gợi ta nghĩ đến mảnh đất và con người miền Trung: + Câu thơ Eo đất này thắt đáy lưng ong gợi ra một mảnh đất miền Trung bé nhỏ, dài và hẹp, bị chia cắt thành nhiều đồng bằng nhỏ, đất đai cằn cỗi, không màu mỡ. Tất cả các yếu tố đó khiến cho mảnh đất miền Trung trở nên khó sống, khó phát triển. + Câu thơ Cho tình người đọng mật dường như tạo nên một sự đối lập với câu trước đó. Có thể thiên nhiên nghiệt ngã nhưng tình người thì không. Cũng như những giọt mật dâng hiến cho đời, con người nơi đây đậm tình đậm nghĩa, giàu yêu thương, giàu nghị lực, ý chí vươn lên, không ngại khó ngại khổ. Con người vẫn gắn bó với nhau với mảnh đất nơi đây bằng tình yêu chân thành, giản dị.

Câu 4: việc sử dụng thành ngữ mồng tơi không kịp rơi có tác dụng khắc họa và nhấn mạnh,thành ngữ "nghèo rớt mồng tơi" vốn để miêu tả tình trạng cực kỳ nghèo khó. Khi kết hợp với hình ảnh "không kịp rớt", tác giả đã tạo ra một cách diễn đạt mới mẻ, đầy sức gợi để nhấn mạnh sự khốn cùng, thiếu thốn đến mức mồng tơi – một loại rau dễ trồng – cũng không có đủ điều kiện để phát triển và chín rụng.

Câu 5:Trước hết, đó là một tình thương mến, một sự đồng cảm dành cho Miền Trung. Những câu thơ như Mảnh đất nghèo mồng tơi không kịp rớt hay Đến câu hát cũng hai lần sàng lại … gợi một nỗi trăn trở, day dứt, một niềm thương cảm sâu sắc đối với mảnh đất khô cằn, thiên nhiên không ưu đãi, luôn gieo bao nỗi tai ương lên cuộc sống vốn đã nhọc nhằn của người dân nơi đây. Đó còn là niềm cảm phục về ý chí, nghị lực của người dân miền Trung.Ta còn cảm nhận được một sự khắc khoải, một khát khao về một lối thoát cho miền Trung qua đoạn thơ cuối… Một sự hi vọng về những người con rồi sẽ trở về gây dựng quê hương, làm cho quê hương thức dậy những tiềm năng…


Trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay, các quốc gia và nền văn hóa trên thế giới đang chịu tác động mạnh mẽ từ sự giao thoa và hội nhập. Mặc dù hội nhập mang đến nhiều cơ hội phát triển, nhưng nó cũng tiềm ẩn nguy cơ làm mất đi bản sắc văn hóa của từng dân tộc. Vì vậy, việc giữ gìn bản sắc văn hóa trong thời đại hội nhập không chỉ là nhiệm vụ của mỗi cá nhân mà còn là trách nhiệm của cả cộng đồng và quốc gia.

Những điều thuộc về bản sắc văn hoá luôn mang những giá trị lâu đời, phổ quát và tự hào đối với mỗi con người. Nói về bản sắc văn hoá là nói về những điều có tính chất lặp đi lặp lại, đặc trưng cho từng khu vực quốc gia. Tức là kết hợp của tất cả những gì tốt đẹp đã trải qua trong các giai đoạn lịch sử. Chúng làm nên bản sắc riêng, truyền lại cho các thế hệ mai sau và theo quy luật của thời gian được bổ sung những giá trị mới. Khi bàn về những bản sắc văn hoá dân tộc thì dường như chẳng có giới hạn nào cho những nét đẹp xưa cũ, lâu đời của một quốc gia, dân tộc. Ví như là những nét riêng của văn hoá ngày Tết, lễ hội mỗi dân tộc, là truyền thống phong tục, tập quán mang màu sắc đặc trưng của mỗi vùng miền. Bản sắc văn hoá dân tộc vừa có tính ổn định thống nhất vừa có tính vận động biến đổi theo quy luật của thời gian, lại vừa có giá trị lịch sử nhưng cũng đặt ra nhiều yêu cầu cho con người. Suy cho cùng, bản về bản sắc văn hoá là bàn về những giá trị riêng của mỗi dân tộc, có bề dày lịch sử lâu đời.Bản sắc văn hoá dân tộc tạo nên vẻ đẹp linh hồn của một quốc gia, dân tộc. Đó có thể là những giá trị vật chất, giá trị tinh thần. Gọi là linh hồn bởi lẽ nó mang những nét tinh túy của những gì đặc sắc nhất, lâu đời nhất, ý nghĩa nhất của dân tộc. Bản sắc văn hoá mang hơi thở của những giai đoạn lịch sử, là sự kết tinh của những tinh hoa văn hoá dân tộc trải qua hàng nghìn năm mà cha ông đã dày công vun đắp. Nó như là cuốn sổ lưu giữ lại những gì đặc sắc, bền vững trong đời sống văn hoá của một đất nước. Để rồi, khi nhắc một khía cạnh, một phương diện, hay một hình ảnh liên quan đến văn hoá của dân tộc, con người ta có thể biết nó thuộc về vùng miền nào. Chẳng hạn khi nhắc đến lễ hội cồng chiêng người ta biết đến là nét đẹp văn hoá của người dân tộc Ê – đê, nhắc đến văn hoá nhuộm răng, người ra biết đến con người Việt Nam của thời xưa. Đặc biệt những giá trị ấy không chỉ tạo nên sự gắn kết, điểm chung giữa con người với con người trong phạm vi cộng đồng rộng lớn mà còn là cơ hội để phát triển du lịch, quảng bá vẻ đẹp của đất nước đến với mọi người. Những vẻ đẹp văn hoá tựa như sợi dây vô hình gắn kết những con người xa lạ lại với nhau, kích thích sự khám phá, tìm tòi và phát triểBản sắc văn hoá thể hiện và khẳng định bề dày lịch sử của nền văn hoá mỗi dân tộc. Nguyễn Trãi đã từng viết: “Như nước Đại Việt ta từ trước/ Vốn xưng nền văn hiến đã lâu”. Sự lâu đời của một đất nước không chỉ thể hiện qua bề dày lịch sử mà còn về bề dày của những văn hiến. Từ đó xây dựng niềm tự hào cho mỗi con người. Tự hào về những tinh hoa văn hoá dân tộc có sự kết tinh lâu đời, mang tính kiểm nghiệm, sàng lọc. Đây còn là nỗi nhớ khôn nguôi của những người con xa xứ sở. Bởi lẽ, vẻ đẹp của bản sắc văn hoá dân tộc khiến con người ta ghi nhớ, khắc sâu trong mỗi trái tim. Những bản sắc văn hoá dân tộc còn như là một loại vũ khí, một phương diện khẳng định bản ngã của một dân tộc. Đó chính là điều đầu tiên mà tác giả Nguyễn Trãi nhấn mạnh trong bài cáo – một tác phẩm được ví như “bản tuyên ngôn độc lập thứ hai của dân tộc”.Bản sắc văn hoá dân tộc tồn tại sâu căn và bền vững trong đời sống của con người. Ngay từ khi chào đời, thuở còn chõng tre đung đưa à ơi lời ru của mẹ, văn hoá đã thấm nhuần và đi sâu vào giấc ngủ của trẻ thơ. Nói đến bản sắc văn hoá dân tộc là nói đến những điều đã hoà vào sinh hoạt hằng ngày. Để nói rằng, bản sắc văn hoá không phải chỉ là những điều lớn lao hiện hữu như những lễ hội, nghi thức truyền thống mà ngay trong chính bản thân mỗi con người chính là kết quả của quá trình văn hoá kết tinh. Đến nước Indonesia, bạn sẽ thấy những người phụ nữ khăn che kín đầu hay là ngay trong 54 dân tộc anh em ta cũng thấy rõ những màu sắc văn hoá riêng. Một dân tộc Thái với đặc trưng văn hoá ẩm thực, dân tộc Mông có kho tàng âm nhạc dân gian giàu bản sắc,… Bản sắc văn hoá chính là cuộc sống, là hơi thở để cho đất nước, con người có thể tự hào và phát triển.Đặt trong bối cảnh hiện đại khi xã hội hóa có sự mở cửa hội nhập thì những bản sắc văn hoá dân tộc vừa có những thời cơ vừa có những thách thức. Trước hết đó là cơ hội quảng bá nền văn hóa dân tộc đến bạn bè năm châu nhưng cũng như thách thức trước sự pha trộn, phai nhạt, đánh mất đi bản sắc văn hoá dân tộc. Vũ Đình Liên đã từng nuối tiếc khôn nguôi về nghệ thuật thư pháp – câu đối đỏ khi đã bị mất đi vị trí văn hóa, bản sắc ngày Tết vốn có. Vì vậy, vấn đề đặt ra cho mỗi con người là cần hoà nhập nhưng không hoà tan làm đánh mất bản sắc văn hoá dân tộc. Chúng ta cần có hành động thiết thực bảo vệ giá trị truyền thống như tuyên truyền nét đẹp văn hoá, tổ chức các lễ hội mang đúng bản chất, trân quý và tích cực khám phá những nền văn hoá của các dân tộc anh em. Sẽ ra sao nếu như một đất nước lại đánh mất đi bản sắc văn hoá dân tộc? Nó tất thảy là linh hồn, là niềm tự hào của một dân tộc. Mất đi bản sắc văn hoá cũng giống như con người mất đi bản ngã, đời sống văn minh của chính mình. Bản sắc văn hoá hình thành qua những phong tục tập quán, qua lao động sản xuất và qua những sáng tạo của con người. Nó như là điều vốn có, là điều quan trọng chi phối đến đời sống sinh hoạt và tinh thần của con người. Theo lẽ đó, đặt ra cho mỗi con người chúng ta thái độ trân trọng, bồi đắp và ngày càng làm phong phú hơn những giá trị văn hoá cao đẹp ấy.Và tôi luôn cảm thấy tự hào khi mình là một con người Việt Nam. Tôi cũng ý thức được trách nhiệm về việc giữ gìn, phát triển bản sắc văn hoá dân tộc. Đó có thể là duy trì những phong tục, tập quán ở quê hương như tảo mộ, thờ cúng tổ tiên ngày Tết, ăn Rằm tháng giêng, tháng bảy, tham gia các hội diễn các làn điệu dân ca ví dặm. Những nét đẹp văn hoá ấy như là một phần không thể thiếu trong đời sống tinh thần và làm phong phú thêm tâm hồn tôi.

Giữ gìn bản sắc văn hoá không chỉ là điều cần thiết mà còn thuộc về trách nhiệm của mỗi con người Việt Nam. Để có được bề dày về bản sắc văn hoá tốt đẹp là cả một quá trình của ông cha. Đó là quá trình “bốn ngàn năm Đất nước” mà nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm đã gợi nhắc cho mọi thế hệ qua lời thơ giàu cảm xúc:

“Em ơi em

Hãy nhìn rất xa

Vào bốn ngàn năm Đất Nước”

Không ai khác, chính chúng ta sẽ là người giữ gìn và viết tiếp những trang tiếp theo cho bản sắc văn hoá dân tộc. Hãy bắt đầu ngay từ việc điều chỉnh hành vi, ý thức của bản thân mình.

Bài thơ nhắc đến loại trang phục sau: khăn nhung, quần lĩnh, áo cài khuy bấm, yếm lụa sồi, dây lưng đũi, áo tứ thân, khăn mỏ quạ, quần nái đen.

 

Theo em những loại trang phục này đại diện cho hai phong cách ăn mặc: trang phục hiện đại, cầu kì của thành thị (khăn nhung, quần lĩnh, áo cài khuy bấm) và trang phục truyền thống, giản dị của nông thôn (yếm lụa sồi, dây lưng đũi, áo tứ thân, khăn mỏ quạ, quần nái đen). Sự đối lập này phản ánh sự thay đổi trong phong cách sống và gu thẩm mỹ của nhân vật "em" khi tiếp xúc với cuộc sống thành thị. Tác giả ngầm đề cao vẻ đẹp giản dị, chân quê của người con gái.

Nhan đề Chân quê gợi lên những liên tưởng về sự giản dị, mộc mạc, gần gũi với thiên nhiên và con người thôn quê. Từ "chân" trong tiếng Việt mang nghĩa là chân thực, nguyên bản, không bị lai tạp hay pha trộn. Còn "quê" gợi lên hình ảnh làng quê yên bình, nơi gắn bó với tuổi thơ, với những giá trị truyền thống. Nhan đề này có thể khiến người đọc cảm nhận được sự trân trọng đối với vẻ đẹp bình dị của làng quê Việt Nam, đồng thời gợi mở nội dung về sự đối lập giữa cái giản dị, chân chất của nông thôn với sự đổi thay của con người khi tiếp xúc với lối sống thành thị.

Nhân vật "em" trong Chân Quê của Nguyễn Bính là hình ảnh tiêu biểu cho vẻ đẹp mộc mạc, giản dị của người con gái thôn quê. Ban đầu, "em" gắn bó với "hương đồng gió nội," nhưng sau một lần lên tỉnh, vẻ chân quê ấy đã thay đổi. Sự thay đổi ấy thể hiện rõ qua trang phục: "Khăn nhung quần lĩnh rộn ràng / Áo cài khuy bấm," khác xa với hình ảnh cô thôn nữ chân chất ngày nào. Những món đồ mang hơi hướng thành thị làm "em" trở nên xa lạ, khiến tác giả không khỏi tiếc nuối. Nhân vật "em" không chỉ là một cá nhân mà còn tượng trưng cho sự biến chuyển của làng quê trước nhịp sống mới. Qua đó, Nguyễn Bính bày tỏ nỗi bâng khuâng, hoài niệm về những giá trị truyền thống đang dần bị mai một, đồng thời gửi gắm thông điệp về việc trân trọng và giữ gìn bản sắc quê hương.

Biện pháp tu từ:

 

- Ấn dụ: "Hương đồng gió nội" là hình ảnh ẩn dụ cho vẻ đẹp mộc mạc, giản dị, những giá trị văn hóa truyền thống của làng quê.

 

- Nói giảm, nói tránh: Cụm từ "bay đi ít nhiều" thể hiện sự thay đổi, sự mai một của những giá trị truyền thống một cách nhẹ nhàng, tinh tế, thay vì nói thẳng ra sự mất mát hoàn toàn.

 

Tác dụng của biện pháp tu từ:

 

- Gợi hình, gợi cảm: Hình ảnh "hương đồng gió nội" mang đến cho người đọc cảm nhận về vẻ đẹp đặc trưng của làng quê Việt Nam: hương lúa, hương đất, làn gió mát lành... Sự "bay đi ít nhiều" của hương đồng gió nội gợi lên sự tiếc nuối, xót xa trước sự thay đổi của quê hương.

 

- Thể hiện tâm trạng nhân vật: Câu thơ thể hiện sự hụt hẫng, lo lắng của chàng trai khi nhận ra những giá trị truyền thống đang dần phai nhạt. Đồng thời, nó cũng thể hiện sự nuối tiếc về những kỷ niệm đẹp đẽ của quá khứ.

 

- Góp phần thể hiện chủ đề: Câu thơ góp phần thể hiện chủ đề chính của bài thơ: sự thay đổi của làng

- Nói giảm, nói tránh: Cụm từ "bay đi ít nhiều" thể h sự thay đổi, sự mai một của những giá trị truyền trivity một cách nhẹ nhàng, tinh tế, thay vì nói thẳng ra sự mất mát hoàn toàn.

 

Tác dụng của biện pháp tu từ:

 

- Gợi hình, gợi cảm: Hình ảnh "hương đồng gió nội" mang đến cho người đọc cảm nhận về vẻ đẹp đặc trưng của làng quê Việt Nam: hương lúa, hương đất, làn gió mát lành... Sự "bay đi ít nhiều" của hương đồng gió nội gợi lên sự tiếc nuối, xót xa trước sự thay đổi của quê hương.

 

- Thể hiện tâm trạng nhân vật: Câu thơ thể hiện sự hụt hẫng, lo lắng của chàng trai khi nhận ra những giá trị truyền thống đang dần phai nhạt. Đồng thời, nó cũng thể hiện sự nuối tiếc về những kỷ niệm đẹp đẽ của quá khứ.

 

- Góp phần thể hiện chủ đề: Câu thơ góp phần thể hiện chủ đề chính của bài thơ: sự thay đổi của làng quê trước tác động của cuộc sống hiện đại và nỗi lo lắng về sự mai một của những giá trị văn hóa truyền thống.

 

- Tăng tính hàm súc, gợi hình: Việc sử dụng biện pháp tu từ giúp câu thơ trở nên hàm súc, giàu hình ảnh và gợi cảm xúc, giúp người đọc cảm nhận sâu sắc hơn về thông điệp mà tác giả muốn truyền tải.

Bài thơ "Chân quê" của Nguyễn Bính mang đến một thông điệp sâu sắc về việc giữ gìn và trân trọng những giá trị văn hóa truyền thống của quê hương. Qua hình ảnh cô gái thay đổi sau khi lên tỉnh, tác giả ca ngợi vẻ đẹp mộc mạc, giản dị của người phụ nữ nông thôn, đồng thời thể hiện sự lo lắng về sự mai một của những giá trị truyền thống trước tác động của cuộc sống hiện đại. Bài thơ như một lời nhắn nhủ đến mỗi người về việc trân trọng bản sắc văn hóa, bởi đó là cội nguồn của mỗi con người.

Bài thơ "Chân quê" của Nguyễn Bính mang đến một thông điệp sâu sắc về việc giữ gìn và trân trọng những giá trị văn hóa truyền thống của quê hương. Qua hình ảnh cô gái thay đổi sau khi lên tỉnh, tác giả ca ngợi vẻ đẹp mộc mạc, giản dị của người phụ nữ nông thôn, đồng thời thể hiện sự lo lắng về sự mai một của những giá trị truyền thống trước tác động của cuộc sống hiện đại. Bài thơ như một lời nhắn nhủ đến mỗi người về việc trân trọng bản sắc văn hóa, bởi đó là cội nguồn của mỗi con người.