Lục Kim Hiên

Giới thiệu về bản thân

Chào mừng bạn đến với trang cá nhân của Lục Kim Hiên
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
(Thường được cập nhật sau 1 giờ!)

Câu 1

Hình ảnh Sông Hồng trong đoạn thơ hiện lên với vẻ đẹp vừa thiêng liêng, vừa giàu chiều sâu cảm xúc qua cảm nhận của nhân vật trữ tình. Trước hết, Sông Hồng được gọi bằng tiếng gọi thân thương “mẹ của ta ơi”, gợi lên mối quan hệ ruột thịt, gắn bó máu thịt giữa con người và dòng sông. Dòng sông ấy không chỉ là một thực thể thiên nhiên mà còn là nơi “chứa chất trong lòng” bao bí mật, bao kho vàng cổ tích của lịch sử và văn hóa dân tộc. Sông Hồng mang trong mình những nhọc nhằn, đau đớn với “bao tiếng rên”, “bao xoáy nước réo sôi”, “bao doi cát ngầm” – đó là hình ảnh ẩn dụ cho những gian lao, thử thách mà dòng sông và con người phải trải qua. Dù quằn quại dưới “mưa dầm nắng gắt”, Sông Hồng vẫn âm thầm hiến dâng, nuôi dưỡng sự sống, mang đến mùa xuân, hạt gạo trắng ngần, nhành dâu bé xanh và “nhựa ấm”. Qua đó, Sông Hồng hiện lên như biểu tượng của người mẹ tảo tần, chịu thương chịu khó, giàu đức hi sinh, gắn bó bền chặt với cuộc sống và tâm hồn con người Việt Nam.

Câu 2

Trong cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, nơi trí tuệ nhân tạo, tự động hóa và dữ liệu lớn đang làm thay đổi sâu sắc mọi lĩnh vực của đời sống, thế hệ trẻ được xem là lực lượng trung tâm và cũng là động lực quan trọng nhất. Từ góc nhìn của người trẻ, việc làm chủ công nghệ không chỉ là cơ hội mà còn là trách nhiệm của tuổi trẻ trong thời đại mới.

Trước hết, công nghệ mở ra cho người trẻ không gian học tập, sáng tạo và khẳng định bản thân chưa từng có. Chỉ với một thiết bị thông minh và kết nối internet, người trẻ có thể tiếp cận tri thức toàn cầu, học tập các kỹ năng mới, tham gia vào những lĩnh vực tiên tiến như lập trình, trí tuệ nhân tạo, phân tích dữ liệu hay khởi nghiệp số. Việc làm chủ công nghệ giúp tuổi trẻ nâng cao năng lực cạnh tranh, thích nghi với thị trường lao động đang biến đổi nhanh chóng, đồng thời góp phần thúc đẩy sự phát triển của đất nước trong bối cảnh hội nhập quốc tế.

Tuy nhiên, làm chủ công nghệ không đồng nghĩa với việc lệ thuộc vào công nghệ. Thực tế cho thấy, không ít người trẻ đang bị cuốn vào thế giới ảo, lạm dụng mạng xã hội, thiếu kỹ năng chọn lọc thông tin và đánh mất khả năng tư duy độc lập. Điều đó đặt ra yêu cầu rằng người trẻ phải sử dụng công nghệ một cách thông minh, có mục đích và có trách nhiệm. Công nghệ cần được xem là công cụ hỗ trợ con người, chứ không phải là thứ chi phối hay điều khiển lối sống, suy nghĩ và các giá trị đạo đức.

Bên cạnh đó, để thực sự làm chủ công nghệ, tuổi trẻ cần không ngừng rèn luyện bản lĩnh, đạo đức và tinh thần học hỏi suốt đời. Công nghệ có thể thay đổi nhanh chóng, nhưng những giá trị cốt lõi như trách nhiệm xã hội, lòng nhân ái, ý thức cống hiến vẫn là nền tảng giúp người trẻ sử dụng công nghệ đúng hướng. Khi kết hợp tri thức công nghệ với khát vọng cống hiến, người trẻ không chỉ phát triển bản thân mà còn góp phần giải quyết các vấn đề của cộng đồng và xã hội.

Tóm lại, trong kỷ nguyên công nghiệp 4.0, làm chủ công nghệ là chìa khóa để tuổi trẻ khẳng định vai trò, vị thế của mình. Một thế hệ trẻ năng động, sáng tạo, biết làm chủ công nghệ và giữ vững giá trị nhân văn sẽ chính là nền tảng vững chắc cho sự phát triển bền vững của đất nước trong tương lai.

Câu 1

Dấu hiệu xác định thể thơ của đoạn trích là thể thơ tự do: số chữ mỗi dòng không đều, không gò bó vần luật, nhịp điệu linh hoạt, cảm xúc tuôn chảy tự nhiên.

Câu 2

Trong đoạn trích, con sông đã làm nên và tạo ra cho cuộc sống con người: xóm thôn, hoa trái, nhà cửa; sắc áo, màu cây, tiếng Việt; giống nòi dân tộc; đất nước; hạt gạo, nhành dâu, nguồn sống và nhựa ấm cho con người.

Câu 3

Biện pháp tu từ điệp ngữ “một con sông” được lặp lại nhiều lần nhằm nhấn mạnh vai trò to lớn, đa diện của Sông Hồng. Con sông hiện lên vừa dịu dàng, giàu chất văn hóa (“như lục bát”), vừa mang sức sống mãnh liệt, gắn bó máu thịt với con người (“phập phồng muôn bắp thịt”), vừa dữ dội, khắc sâu dấu ấn lịch sử (“đỏ rực / nhuộm hồng nâu da người”). Điệp ngữ tạo nhịp điệu dồn dập, giàu cảm xúc, làm nổi bật sự thiêng liêng của con sông đối với dân tộc.

Câu 4

Nhân vật trữ tình dành cho Sông Hồng tình cảm thiết tha, kính yêu, biết ơn và gắn bó máu thịt. Con sông được cảm nhận như người mẹ hiền, chứa đựng lịch sử, văn hóa, nỗi nhọc nhằn và nguồn sống của dân tộc, thể hiện niềm tự hào sâu sắc về cội nguồn quê hương, đất nước.

Câu 5 :

Từ đoạn trích, có thể thấy thế hệ trẻ hôm nay cần ý thức rõ trách nhiệm với quê hương, đất nước. Đó là trân trọng cội nguồn, giữ gìn thiên nhiên, môi trường sống và các giá trị văn hóa dân tộc. Người trẻ cần học tập, rèn luyện nhân cách, sống có lý tưởng và khát vọng cống hiến. Mỗi hành động nhỏ nhưng tích cực sẽ góp phần xây dựng đất nước ngày càng bền vững, giàu đẹp.

Câu 1.

Nhân vật Ác-pa-gông trong văn bản Lão hà tiện là hình tượng tiêu biểu cho kiểu người keo kiệt, thực dụng đến mức đánh mất nhân tính. Trước hết, Ác-pa-gông hiện lên như một kẻ tôn thờ tiền bạc tuyệt đối. Với ông ta, “không của hồi môn” trở thành lí lẽ duy nhất, đủ sức phủ nhận mọi giá trị khác như tuổi trẻ, tình yêu, danh dự hay hạnh phúc của con gái. Điều đó cho thấy tiền bạc đã chi phối toàn bộ suy nghĩ và hành động của Ác-pa-gông. Bên cạnh đó, lão còn là người độc đoán, gia trưởng, sẵn sàng áp đặt hôn nhân để trục lợi, coi con cái như công cụ tiết kiệm tiền. Ngoài ra, Ác-pa-gông luôn sống trong trạng thái nghi kị, sợ hãi mất tiền, thể hiện qua những lời độc thoại đầy ám ảnh. Qua nhân vật này, Mô-li-e-rơ không chỉ phê phán thói keo kiệt vô độ mà còn lên án lối sống đặt đồng tiền lên trên con người, từ đó khẳng định những giá trị nhân văn như tình cảm, tự do và hạnh phúc cá nhân.

Câu 2.

Benjamin Franklin từng nói: “Tri thức là con mắt của đam mê và có thể trở thành hoa tiêu của tâm hồn.” Đây là một quan điểm sâu sắc, nhấn mạnh vai trò to lớn của tri thức đối với con người trong hành trình sống, học tập và theo đuổi ước mơ. Trước hết, tri thức là “con mắt của đam mê” bởi nó giúp con người nhìn rõ con đường mình đang đi. Đam mê nếu không được soi sáng bởi tri thức dễ trở nên mù quáng, cảm tính và dẫn đến sai lầm. Khi có tri thức, con người hiểu rõ bản chất của sự việc, nhận ra điểm mạnh, điểm yếu của bản thân, từ đó nuôi dưỡng đam mê một cách đúng đắn và bền vững. Bên cạnh đó, tri thức còn là “hoa tiêu của tâm hồn”, tức là người dẫn đường cho suy nghĩ và hành động. Trong cuộc sống đầy biến động, tri thức giúp con người phân biệt đúng sai, thiện ác, biết lựa chọn những giá trị tốt đẹp để theo đuổi. Nhờ tri thức, con người không chỉ sống cho bản thân mà còn biết sống có trách nhiệm với cộng đồng và xã hội. Tuy nhiên, tri thức chỉ thực sự có ý nghĩa khi được gắn với đam mê và đạo đức. Tri thức khô cứng, thiếu nhân văn có thể khiến con người trở nên lạnh lùng, vô cảm. Vì vậy, mỗi người cần không ngừng học hỏi để mở rộng hiểu biết, đồng thời nuôi dưỡng đam mê lành mạnh và tâm hồn trong sáng. Có như vậy, tri thức mới thực sự trở thành ánh sáng dẫn đường, giúp con người sống ý nghĩa và hoàn thiện hơn mỗi ngày.

Câu 1.

Tình huống kịch trong văn bản là cuộc đối thoại giữa Ác-pa-gông và Va-le-rơ xoay quanh việc Ác-pa-gông quyết định gả con gái Ê-li-dơ cho một người giàu có, lớn tuổi nhưng không đòi của hồi môn, bất chấp mong muốn và hạnh phúc của con gái.

Câu 2.

Một lời độc thoại trong văn bản là: “Úi chà! Hình như có tiếng chó sủa. Có kẻ muốn lấy trộm tiền của mình chăng?”

Câu 3.

Mục đích giao tiếp của Va-le-rơ là khéo léo lấy lòng Ác-pa-gông bằng cách tỏ ra đồng tình với ông, đồng thời gián tiếp bày tỏ quan điểm coi trọng hạnh phúc, tình cảm và tương lai của Ê-li-dơ. Qua lời thoại vòng vo, Va-le-rơ vừa tránh làm phật ý Ác-pa-gông, vừa phơi bày sự phi lí trong cách suy nghĩ của lão.

Câu 4.

Việc lặp lại chi tiết “Không của hồi môn” có tác dụng nhấn mạnh bản chất keo kiệt, thực dụng đến cực đoan của Ác-pa-gông, tạo hiệu quả hài hước, châm biếm và làm nổi bật việc ông ta coi tiền bạc cao hơn mọi giá trị tinh thần khác.

Câu 5.

Nội dung văn bản là phê phán thói keo kiệt, ích kỉ và vô nhân đạo của Ác-pa-gông, đồng thời lên án quan niệm đặt tiền bạc lên trên hạnh phúc con người, qua đó khẳng định giá trị của tình cảm, hạnh phúc và tự do trong hôn nhân.

Câu 1.

Tình huống kịch trong văn bản là cuộc đối thoại giữa Ác-pa-gông và Va-le-rơ xoay quanh việc Ác-pa-gông quyết định gả con gái Ê-li-dơ cho một người giàu có, lớn tuổi nhưng không đòi của hồi môn, bất chấp mong muốn và hạnh phúc của con gái.

Câu 2.

Một lời độc thoại trong văn bản là: “Úi chà! Hình như có tiếng chó sủa. Có kẻ muốn lấy trộm tiền của mình chăng?”

Câu 3.

Mục đích giao tiếp của Va-le-rơ là khéo léo lấy lòng Ác-pa-gông bằng cách tỏ ra đồng tình với ông, đồng thời gián tiếp bày tỏ quan điểm coi trọng hạnh phúc, tình cảm và tương lai của Ê-li-dơ. Qua lời thoại vòng vo, Va-le-rơ vừa tránh làm phật ý Ác-pa-gông, vừa phơi bày sự phi lí trong cách suy nghĩ của lão.

Câu 4.

Việc lặp lại chi tiết “Không của hồi môn” có tác dụng nhấn mạnh bản chất keo kiệt, thực dụng đến cực đoan của Ác-pa-gông, tạo hiệu quả hài hước, châm biếm và làm nổi bật việc ông ta coi tiền bạc cao hơn mọi giá trị tinh thần khác.

Câu 5.

Nội dung văn bản là phê phán thói keo kiệt, ích kỉ và vô nhân đạo của Ác-pa-gông, đồng thời lên án quan niệm đặt tiền bạc lên trên hạnh phúc con người, qua đó khẳng định giá trị của tình cảm, hạnh phúc và tự do trong hôn nhân.

Câu 1.

Tình huống kịch trong văn bản là cuộc đối thoại giữa Ác-pa-gông và Va-le-rơ xoay quanh việc Ác-pa-gông quyết định gả con gái Ê-li-dơ cho một người giàu có, lớn tuổi nhưng không đòi của hồi môn, bất chấp mong muốn và hạnh phúc của con gái.

Câu 2.

Một lời độc thoại trong văn bản là: “Úi chà! Hình như có tiếng chó sủa. Có kẻ muốn lấy trộm tiền của mình chăng?”

Câu 3.

Mục đích giao tiếp của Va-le-rơ là khéo léo lấy lòng Ác-pa-gông bằng cách tỏ ra đồng tình với ông, đồng thời gián tiếp bày tỏ quan điểm coi trọng hạnh phúc, tình cảm và tương lai của Ê-li-dơ. Qua lời thoại vòng vo, Va-le-rơ vừa tránh làm phật ý Ác-pa-gông, vừa phơi bày sự phi lí trong cách suy nghĩ của lão.

Câu 4.

Việc lặp lại chi tiết “Không của hồi môn” có tác dụng nhấn mạnh bản chất keo kiệt, thực dụng đến cực đoan của Ác-pa-gông, tạo hiệu quả hài hước, châm biếm và làm nổi bật việc ông ta coi tiền bạc cao hơn mọi giá trị tinh thần khác.

Câu 5.

Nội dung văn bản là phê phán thói keo kiệt, ích kỉ và vô nhân đạo của Ác-pa-gông, đồng thời lên án quan niệm đặt tiền bạc lên trên hạnh phúc con người, qua đó khẳng định giá trị của tình cảm, hạnh phúc và tự do trong hôn nhân.

Hội chứng ếch luộc" là lời cảnh báo đắt giá về sự nguy hiểm của vùng an toàn. Con ếch không chết vì nước sôi, nó chết vì sự chủ quan trong nước ấm cho đến khi quá muộn. Đối với người trẻ, nếu chọn lối sống an nhàn quá sớm, chúng ta cũng sẽ giống như con ếch kia, dần đánh mất bản lĩnh và khả năng thích ứng trước biến động của thời đại.

Giữa sự ổn định giả tạo và việc sẵn sàng thay đổi để phát triển, tôi lựa chọn sự dấn thân.

Thứ nhất, sự ổn định ở tuổi trẻ thường là biểu hiện của sự dừng lại. Trong kỷ nguyên trí tuệ nhân tạo và hội nhập toàn cầu, thế giới thay đổi từng giờ. Nếu ta không tự làm mới mình, ta sẽ bị đào thải. Thay đổi môi trường sống, dám thử sức ở những lĩnh vực mới chính là cách để ta "nâng cấp" hệ điều hành của bản thân, mở rộng tư duy và rèn luyện kỹ năng sinh tồn.

Thứ hai, giá trị của con người không nằm ở chỗ ta đứng yên một chỗ bao lâu, mà ở việc ta đã vượt qua bao nhiêu thử thách. Sự an nhàn có thể mang lại cảm giác dễ chịu nhất thời, nhưng nó cũng là liều thuốc độc làm thui chột ý chí và khát vọng. Chỉ khi dám bước ra khỏi vùng an toàn, đối mặt với áp lực, ta mới khám phá ra những giới hạn mới của chính mình.

Tuy nhiên, thay đổi không có nghĩa là mù quáng hay xốc nổi. Đó phải là sự chuyển mình có định hướng và mục đích. Thay vì sợ hãi những "nồi nước" đang nóng dần, người trẻ hãy chủ động rèn luyện đôi chân để có thể nhảy ra bất cứ lúc nào.

Tóm lại, tuổi trẻ ngắn ngủi không phải để tìm nơi trú ẩn bình yên, mà là để tôi luyện. Đừng để sự an nhàn "luộc chín" tương lai của bạn. Hãy dũng cảm lựa chọn thay đổi, vì đó là con đường duy nhất dẫn đến sự trưởng thành thực thụ.

Trong kỷ nguyên số, Gen Z (những người sinh từ năm 1997 đến 2012) hiện hiện như một thế hệ đầy màu sắc nhưng cũng đầy rẫy những thị phi. "Ngông cuồng", "thiếu kiên nhẫn", "thế hệ bông tuyết" (dễ vỡ) hay "thích nhảy việc" là những nhãn dán tiêu cực mà xã hội thường dùng để định kiến về người trẻ. Tuy nhiên, từ góc nhìn của một người trong cuộc, đã đến lúc chúng ta cần tháo gỡ những cái mác này để nhìn nhận Gen Z một cách công bằng hơn.

Trước hết, cần hiểu rằng mọi định kiến thường bắt nguồn từ sự khác biệt về hệ giá trị giữa các thế hệ. Việc Gen Z bị coi là "lười biếng" hay "thiếu trách nhiệm" thực chất thường là hệ quả của việc thay đổi ưu tiên trong cuộc sống. Nếu thế hệ trước đề cao sự ổn định và lòng trung thành tuyệt đối với tổ chức, thì Gen Z lại đề cao sức khỏe tinh thần và sự cân bằng giữa công việc - cuộc sống (work-life balance). Việc một người trẻ sẵn sàng nghỉ việc khi môi trường độc hại không phải là sự hèn nhát, mà là sự dũng cảm để bảo vệ giá trị bản thân.

Định kiến về "thế hệ bông tuyết" cho rằng Gen Z yếu đuối, không chịu được áp lực. Nhưng thực tế, Gen Z đang đối mặt với những áp lực vô hình mà các thế hệ trước chưa từng trải qua: áp lực đồng trang lứa (peer pressure) từ mạng xã hội, sự bất ổn của kinh tế toàn cầu và những biến đổi khí hậu cấp bách. Việc chúng ta cởi mở hơn về các vấn đề tâm lý không đồng nghĩa với việc chúng ta yếu đuối, mà là sự tiến bộ trong nhận thức để tìm kiếm sự chữa lành đúng cách.

Hơn nữa, nếu gạt bỏ những định kiến, ta sẽ thấy một thế hệ Gen Z đầy tiềm năng. Đây là thế hệ bản địa số (digital natives), sở hữu tư duy phản biện sắc bén và khả năng thích nghi cực cao. Gen Z không làm việc theo kiểu "bảo gì nghe nấy" mà luôn đặt câu hỏi "tại sao", từ đó thúc đẩy sự đổi mới và sáng tạo. Những phong trào bảo vệ môi trường, thúc đẩy quyền bình đẳng hay các dự án khởi nghiệp xanh hiện nay phần lớn đều có dấu ấn đậm nét của những người trẻ đầy nhiệt huyết này.

Tuy nhiên, cũng phải thẳng thắn thừa nhận rằng một bộ phận nhỏ người trẻ đang có lối sống lệch lạc, quá đề cao cái tôi cá nhân mà quên đi trách nhiệm cộng đồng, dẫn đến những cái nhìn khắt khe từ xã hội. Thay vì phản kháng tiêu cực, Gen Z cần chứng minh năng lực bằng hành động và thái độ cầu tiến.

Thay cho những lời chỉ trích, xã hội cần một cái nhìn thấu cảm và sự đối thoại giữa các thế hệ. Định kiến là những bức tường ngăn cách sự phát triển. Khi những nhãn dán tiêu cực được gỡ bỏ, Gen Z sẽ không còn là "thế hệ gây tranh cãi" mà sẽ là lực lượng nòng cốt, mang hơi thở mới cho sự phát triển của nhân loại.

Tóm lại, mỗi thế hệ đều có sứ mệnh và những khó khăn riêng. Gen Z có thể khác biệt, nhưng không hề "lỗi thời" hay "hư hỏng". Hãy đánh giá người trẻ bằng thành quả họ tạo ra thay vì nhìn họ qua lăng kính của những định kiến hạn hẹp.

Góp ý là việc đưa ra những lời nhận xét, đánh giá về thiếu sót của người khác với mục đích giúp họ hoàn thiện hơn. Đám đông là môi trường công khai, nơi có sự hiện diện của nhiều người. Việc góp ý trước đám đông thường mang lại hiệu ứng tiêu cực nhiều hơn tích cực, bởi nó chạm đến lòng tự trọng và "phần diện" của mỗi cá nhân.

Tại sao chúng ta nên hạn chế việc phê bình người khác công khai? Trước hết, mỗi người đều có nhu cầu được tôn trọng. Khi bị chỉ trích trước mặt nhiều người, phản ứng tâm lý tự nhiên của con người là tự vệ hoặc cảm thấy bị xúc phạm, thay vì tiếp thu. Thay vì tập trung vào nội dung góp ý, người nghe sẽ rơi vào trạng thái xấu hổ, tự ti, thậm chí là nảy sinh tâm lý thù ghét đối với người góp ý. Điều này khiến mục đích tốt đẹp ban đầu của việc góp ý hoàn toàn thất bại.

Thứ hai, việc nhận xét người khác trước đám đông dễ tạo ra hiệu ứng đám đông tiêu cực. Những người xung quanh có thể nhìn vào người bị phê bình bằng ánh mắt phán xét, gây ra áp lực tâm lý nặng nề cho họ. Trong môi trường công sở hay trường học, điều này có thể dẫn đến việc cô lập một cá nhân, làm rạn nứt tinh thần đoàn kết.

Tuy nhiên, nói như vậy không có nghĩa là chúng ta hoàn toàn im lặng. Trong một số trường hợp đặc biệt như các cuộc họp chuyên môn, các buổi thảo luận nhóm, việc góp ý công khai về công việc (chứ không phải cá nhân) là cần thiết để làm sáng tỏ vấn đề. Nhưng ngay cả khi đó, thái độ "tôn trọng sự thật, chân thành khi góp ý" vẫn là kim chỉ nam.

Để việc góp ý đạt hiệu quả, chúng ta cần tuân thủ nguyên tắc: "Khen ngợi công khai, góp ý riêng tư". Nếu muốn giúp ai đó sửa đổi, hãy chọn một không gian yên tĩnh, dùng lời lẽ hòa nhã và mang tính xây dựng. Thay vì khẳng định "Bạn đã sai", hãy nói "Tôi nghĩ cách này có thể tốt hơn". Sự tinh tế trong cách chọn thời điểm và ngôn từ chính là thước đo sự trưởng thành và văn hóa của mỗi người.

Tóm lại, lời nói có thể là liều thuốc chữa lành nhưng cũng có thể là con dao gây sát thương. Biết cách góp ý tinh tế, bảo vệ danh dự cho người khác không chỉ giúp họ tiến bộ mà còn khẳng định giá trị bản thân của chính mình. Hãy để sự góp ý xuất phát từ lòng tốt và được truyền tải bằng sự tử tế.

Bài thơ “Chân quê” đã thể hiện một tình cảm rất nhẹ nhàng và mộc mạc của nhân vật trữ tình dành cho cô gái quê. Qua bài thơ, ta thấy được vẻ đẹp hồn hậu của người con gái nông thôn và cả sự trân trọng của chàng trai dành cho nét đẹp giản dị ấy.Nội dung nổi bật của bài thơ là nỗi “khổ tâm” đáng yêu của chàng trai khi thấy em thay đổi cách ăn mặc. Hôm qua đi tỉnh về, em mặc đồ đẹp, khăn nhung quần lĩnh, trông rất “rộn ràng”. Nhưng chính vì vậy mà anh lại thấy… lo, vì em đã không còn giữ dáng vẻ chân quê ngày thường nữa. Những câu hỏi liên tiếp “Nào đâu cái yếm lụa sồi?”, “Nào đâu cái áo tứ thân?” cho thấy anh nhớ và yêu cái vẻ mộc mạc xưa cũ của em. Anh không chê cách ăn mặc mới, nhưng trong lòng lại thích hình ảnh em dịu dàng, giản dị như lúc đi lễ chùa.Điều làm bài thơ hay chính là tình cảm chân thành của nhân vật “anh”. Anh không dám nói thẳng “sợ mất lòng em”, nhưng vẫn thành thật van nài: “Em hãy giữ nguyên quê mùa”. Ở đây, quê mùa không có nghĩa xấu, mà là chỉ nét đẹp thuần khiết, không phô trương. Anh thấy sự mộc mạc đó mới thật sự hợp với em, giống như “hoa chanh nở giữa vườn chanh”, tự nhiên mà vẫn đẹp.Về nghệ thuật, bài thơ sử dụng giọng điệu tâm tình, tha thiết như lời thủ thỉ. Các hình ảnh gần gũi như áo tứ thân, yếm lụa sồi, khăn mỏ quaj.gợi ra cuộc sống thôn quê rất rõ. Cách tác giả dùng điệp từ, câu hỏi liên tiếp khiến cảm xúc của nhân vật thể hiện chân thật hơn. Bài thơ mang đậm chất dân gian, gợi không khí làng quê thanh bình và giản dị.Tóm lại, “Chân quê” là một bài thơ đẹp, thể hiện tình cảm mộc mạc của người con trai dành cho cô gái quê và hơn nữa là sự trân trọng nét đẹp truyền thống. Qua đó, ta thấy được vẻ đẹp trong trẻo của tình yêu và của chính tâm hồn người dân quê Việt Nam.