Khúc Đặng Trung Kiên
Giới thiệu về bản thân
-Trong quần thể tổ tiên của hươu cao cổ, vốn đã có sự biến dị cá thể về chiều dài cổ: có con cổ ngắn, có con cổ dài hơn một chút.
+Khi nguồn thức ăn (lá cây) chủ yếu nằm ở tầng cao, các cá thể có cổ dài hơn sẽ dễ lấy thức ăn hơn, nên sống sót tốt hơn.
+Những cá thể cổ dài có khả năng sinh sản cao hơn, truyền đặc điểm “cổ dài” cho thế hệ sau.
+Ngược lại, cá thể cổ ngắn khó kiếm thức ăn hơn, dễ bị đào thải.
-Qua nhiều thế hệ, chọn lọc tự nhiên tích lũy dần các biến dị có lợi (cổ dài), làm cho quần thể ngày càng có nhiều cá thể cổ dài hơn.
-Kết quả là từ một quần thể tổ tiên có biến dị, dần dần hình thành loài hiện nay với đặc điểm nổi bật là cổ rất dài.
=>Tóm lại: theo Darwin, hươu cao cổ cổ dài không phải do “vươn cổ mà dài ra”, mà do chọn lọc tự nhiên tích lũy biến dị có sẵn qua nhiều thế hệ.
.*Nhóm gen liên kết là gì?
-Nhóm gen liên kết là tập hợp các gen nằm trên cùng một nhiễm sắc thể, thường di truyền cùng nhau trong quá trình giảm phân vì chúng có xu hướng không phân li độc lập hoàn toàn.
→ Các gen trong cùng một nhóm liên kết thường được truyền từ bố mẹ sang con như một “khối”, trừ khi xảy ra hoán vị gen.
*Vì sao Morgan chọn ruồi giấm làm đối tượng nghiên cứu?
-Drosophila melanogaster (ruồi giấm) được Thomas Hunt Morgan chọn vì:
+Vòng đời ngắn: chỉ khoảng 10–14 ngày → dễ quan sát nhiều thế hệ trong thời gian ngắn.
+Sinh sản nhanh, số lượng con nhiều → thuận lợi cho thống kê di truyền.
+Dễ nuôi trong phòng thí nghiệm → chi phí thấp, điều kiện đơn giản.
+Có nhiều biến dị dễ quan sát (màu mắt, cánh, kích thước…) → thuận lợi cho nghiên cứu di truyền.
+Bộ NST đơn giản (2n = 8) → dễ phân tích và theo dõi.
=>Nhờ các đặc điểm này, Morgan đã phát hiện ra hiện tượng liên kết gen và hoán vị gen, đặt nền móng cho di truyền học hiện đại.
Đột biến gen được xem là nguồn nguyên liệu chính của quá trình tiến hóa vì nó tạo ra các biến dị di truyền mới – tức là các alen mới – làm phong phú vốn gen của quần thể. Cụ thể:
+Tạo ra alen mới: Đột biến làm thay đổi trình tự ADN, sinh ra các dạng gen mới mà trước đó chưa từng có. Đây là điều kiện tiên quyết để có biến dị di truyền.
+Có tính di truyền: Nếu đột biến xảy ra ở tế bào sinh dục, nó có thể được truyền cho đời sau, từ đó tích lũy qua nhiều thế hệ.
+Xuất hiện ngẫu nhiên và liên tục: Đột biến xảy ra không định hướng, thường xuyên, nên luôn cung cấp “nguyên liệu” mới cho chọn lọc tự nhiên.
+Là nguồn gốc của biến dị sơ cấp: Các cơ chế khác như tái tổ hợp gen chỉ sắp xếp lại vật chất di truyền sẵn có, còn đột biến tạo ra cái “mới hoàn toàn”.
+Cơ sở cho chọn lọc tự nhiên: Chọn lọc tự nhiên chỉ có thể tác động lên những biến dị đã có sẵn; vì vậy nếu không có đột biến thì sẽ không có nguyên liệu để tiến hóa diễn ra.
Tóm lại, đột biến gen là nguồn cung cấp biến dị nguyên thủy, liên tục và có tính di truyền, nên được coi là nguyên liệu chính của tiến hóa.
-Đạo đức sinh học là hệ thống các nguyên tắc, quy tắc và giá trị nhằm định hướng việc nghiên cứu và ứng dụng các thành tựu sinh học (đặc biệt trong y học và công nghệ sinh học) sao cho tôn trọng sự sống, con người, động vật và môi trường, đồng thời đảm bảo an toàn và công bằng cho xã hội.
- Tại vì Công nghệ di truyền (như chỉnh sửa gen, nhân bản, biến đổi gen…) có sức mạnh rất lớn, nên cần đạo đức sinh học để:
+Bảo vệ con người: tránh việc chỉnh sửa gen gây hại, tạo “con người thiết kế” hoặc vi phạm quyền tự nhiên.
+Đảm bảo an toàn sinh học: hạn chế rủi ro gây đột biến ngoài ý muốn, ảnh hưởng sức khỏe hoặc thế hệ sau.
+Bảo vệ môi trường và đa dạng sinh học: tránh sinh vật biến đổi gen gây mất cân bằng hệ sinh thái.
+Ngăn lạm dụng công nghệ: không dùng công nghệ di truyền cho mục đích xấu như phân biệt đối xử hoặc vũ khí sinh học.
+Đảm bảo công bằng xã hội: tránh chỉ một nhóm người được hưởng lợi từ tiến bộ khoa học.
-Khi giải thích sự hình thành loài hươu cao cổ, quan điểm của Darwin khác với Lamarck chủ yếu ở cơ chế hình thành đặc điểm “cổ dài”:
+ Lamarck cho rằng:Hươu cao cổ có cổ dài vì tổ tiên thường xuyên vươn cổ để ăn lá cây cao, cơ quan được sử dụng nhiều thì phát triển dài ra, và đặc điểm “cổ dài” này được di truyền cho thế hệ sau.
+ Darwin cho rằng:Trong quần thể ban đầu có biến dị di truyền (có con cổ dài, con cổ ngắn). Khi môi trường thay đổi, thức ăn ở cao, các cá thể cổ dài có lợi thế sống sót và sinh sản nhiều hơn, nên qua chọn lọc tự nhiên, đặc điểm cổ dài ngày càng phổ biến.
nội dung phân biệt | Nguyên phân | Giảm phân |
Tế bào thực hiện phân bào | Tế bào sinh dưỡng | Tế bào sinh dục chín (tế bào sinh dục sơ khai) |
Kết quả phân bào từ một tế bào mẹ (2n) | Tạo 2 tế bào con | Tạo 4 tế bào con |
Số lượng NST trong tế bào con | Giữ nguyên 2n (giống tế bào mẹ) | Giảm còn n (bằng một nửa tế bào mẹ) |
Các tế bào con có bộ NST giống hay khác tế bào mẹ | Giống tế bào mẹ | Khác tế bào mẹ (về số lượng NST) |
4(x+1)-5(-3+x)=7
4x+4+15-5x=7
4x-5x=7-4-15
-x=-12
x=12
86543 + 13334 = 99877
\(A=\frac{n}{n + 1}+\frac{2}{n + 1}=\frac{n + 2}{n + 1}\)
1.
Môi trường | Chất rắn | Chất lỏng | Chất khí | Chân không |
Cách truyền nhiệt chính | Dẫn nhiệt | Đối lưu | Đối lưu | Bức xạ nhiệt |
2. Khi rót nước sôi vào phích mà đậy nút ngay lại thì lượng không khí trong phích ở phía trên của nước do nhận được năng lượng nhiệt truyền từ nước, sẽ nóng lên, nhưng bị nút bịt kín nên không nở ra được, gây ra áp suất lớn và đẩy nút bung ra khỏi miệng phích.
Để tránh hiện tượng đó, sau khi rót nước sôi vào phích, cần chờ cho lượng khí này nở ra hết, một phần bay ra khỏi miệng phích, rồi mới đậy nút phích lại.