Vừ Thị Thu
Giới thiệu về bản thân
Câu 1 : Bài Làm
Trong bức tranh văn học giai đoạn giao thời, “Than đạo học” của Tú Xương nổi lên như một tiếng thở dài chua chát nhưng vô cùng sắc sảo trước sự suy tàn của Nho học. Về mặt nội dung, bài thơ đã tái hiện chân thực thực trạng nhức nhối của đạo học đương thời khi thế hệ trẻ không còn mặn mà, "mười người đi học, chín người thôi". Sĩ phu – tầng lớp vốn là rường cột quốc gia giờ đây lại mang tâm lý "rụt rè gà phải cáo", còn chốn văn trường thì trở nên thực dụng, "liều lĩnh đấm ăn xôi" chỉ để mưu cầu danh lợi tầm thường. Đằng sau những câu chữ trào phúng ấy là nỗi đau xót khôn nguôi của một nhà nho nặng lòng với văn hóa dân tộc. Về mặt nghệ thuật, bài thơ chứng minh bút lực tài hoa của Tú Xương trong việc sử dụng thể thơ Thất ngôn bát cú Đường luật một cách tự nhiên, thuần Việt. Tác giả đã vận dụng xuất sắc phép đối tài tình ở hai cặp câu luận và thực, kết hợp với các từ láy tạo hình, giàu sức gợi như lim dim, nhấp nhổm, rụt rè, liều lĩnh. Giọng điệu bài thơ vừa mỉa mai, châm biếm sâu cay lại vừa lắng đọng niềm u uất, tự trào. Tóm lại, bằng sự kết hợp hài hòa giữa nội dung hiện thực và nghệ thuật trào phúng độc đáo, “Than đạo học” không chỉ là khúc ca nức nở cho một thời đại tàn mạ mà còn là lời nhắc nhở sâu sắc về thiên chức và phẩm giá của người trí thức.
Câu 2 : Bài Làm
Nếu như trong bài thơ "Than đạo học", Tú Xương từng xót xa trước cảnh sĩ khí suy vi, việc học bị sa sút ở buổi giao thời, thì nhìn về xã hội hôm nay, câu chuyện về thái độ đối với tri thức vẫn luôn là một đề tài mang tính sống còn. Trong thời đại kỷ nguyên số, khi thế giới vận động với tốc độ chóng mặt, ý thức học tập của học sinh không chỉ định hình tương lai của chính các em mà còn là thước đo quyết định sự hưng thịnh của một quốc gia.
Trước hết, chúng ta cần hiểu "ý thức học tập" là gì? Ý thức học tập chính là thái độ chủ động, tự giác, lòng ham học hỏi và sự nghiêm túc của mỗi cá nhân trong việc tiếp thu tri thức, rèn luyện kỹ năng và hoàn thiện nhân cách. Nó không phải là một thế lực ép buộc từ bên ngoài mà là ngọn lửa tự phát sáng từ bên trong tâm thức của mỗi người học.
Nhìn vào bức tranh học đường hiện nay, thực trạng ý thức học tập đang có sự phân hóa rõ rệt thành hai mảng sáng tối. Ở mảng sáng: Đại bộ phận học sinh ngày nay vô cùng năng động, nhạy bén và có tinh thần tự học đáng khâm phục. Dẫn chứng rõ nét nhất chính là hình ảnh các bạn trẻ Việt Nam liên tục gặt hái thành tích cao trên đấu trường tri thức quốc tế, như việc đội tuyển Olympic Thiên văn và Vật lý thiên văn Việt Nam đạt thành tích xuất sắc, hay những tấm gương học sinh nghèo vượt khó tự học đạt điểm tuyệt đối trong kỳ thi Tốt nghiệp THPT. Họ chủ động săn học bổng, tự học ngoại ngữ và công nghệ qua internet để trở thành những công dân toàn cầu.Ở mảng tối: Ngược lại, một bộ phận không nhỏ học sinh đang rơi vào trạng thái thờ ơ, lười nhác. Thực trạng này biểu hiện qua những lớp học nơi học sinh ngủ gật, lén lút sử dụng điện thoại để lướt TikTok, chơi game trong giờ học. Dẫn chứng đau lòng là vấn nạn gian lận thi cử, sử dụng tài liệu bừa bãi, hay việc nhiều học sinh thụ động đến mức chỉ chờ chép văn mẫu, chép bài giải trên mạng thay vì tự suy nghĩ. Các bạn đến lớp với tâm lý uể oải, học đối phó chỉ để có một tấm bằng làm đẹp lòng cha mẹ.
Nguyên nhân của hiện trạng trên bắt nguồn từ cả hai phía. Về khách quan, áp lực từ những kỳ thi và căn bệnh thành tích đôi khi quá nặng nề, khiến việc học trở thành gánh nặng thay vì niềm vui. Thêm vào đó, sự bùng nổ của công nghệ và các hình thức giải trí trên mạng xã hội dễ làm học sinh mất tập trung. Về chủ quan, đây mới là yếu tố cốt lõi: nhiều bạn trẻ chưa xác định được lý tưởng và mục đích học tập đúng đắn cho mình, thiếu bản lĩnh để vượt qua các cám dỗ và chưa xây dựng được tính kỷ luật tự giác.
Việc thiếu ý thức học tập sẽ kéo theo những hậu quả vô cùng khôn lường. Đối với bản thân học sinh, nó làm trì trệ tư duy, khiến các em bị rỗng kiến thức, thiếu hụt kỹ năng thực tế. Dẫn chứng thực tế từ các báo cáo tuyển dụng cho thấy, có rất nhiều cử nhân ra trường nhưng thất nghiệp hoặc phải làm trái ngành vì thiếu kỹ năng mềm và tư duy chủ động – hệ quả trực tiếp từ lối học đối phó thời phổ thông. Đối với gia đình và xã hội, một thế hệ học sinh lười nhác sẽ tạo ra một nguồn nhân lực kém chất lượng, kìm hãm sự phát triển kinh tế và làm suy giảm sức mạnh cạnh tranh của quốc gia trên trường quốc tế.
Để thay đổi thực trạng này, chúng ta cần những giải pháp đồng bộ. Nhà trường cần đổi mới phương pháp giảng dạy, giảm bớt áp lực lý thuyết nặng nề để kích thích tư duy sáng tạo của học sinh. Gia đình cần đồng hành, động viên thay vì ép buộc con em theo đuổi điểm số ảo. Quan trọng nhất, xã hội cần tạo ra những sân chơi tri thức lành mạnh để thu hút giới trẻ.
Nhìn nhận một cách thẳng thắn, dù ở thời đại nào đi chăng nữa, ý thức học tập vẫn là gốc rễ của mọi sự thành bại. Sự lười nhác trong học tập hôm nay chính là sự tụt hậu của ngày mai; không một giải pháp hay công nghệ nào có thể cứu vãn nếu người học không tự thân vận động.
Từ những chiêm nghiệm sâu sắc đó, mỗi thế hệ học trò chúng ta cần tự rút ra cho mình bài học nhận thức sống còn: Học tập là một đặc quyền, một cơ hội để làm giàu giá trị bản thân và mở rộng thế giới quan, chứ tuyệt đối không phải là một nhiệm vụ học thuê cho người khác.
Từ nhận thức đúng đắn, hãy chuyển hóa thành hành động quyết liệt. Mỗi bạn trẻ cần tự thiết lập cho mình một mục tiêu rõ ràng, xây dựng thời gian biểu khoa học và phương pháp tự học phù hợp. Chúng ta có thể học tập phương pháp quản lý thời gian Pomodoro của các thủ khoa, hoặc cách đọc sách ghi chú khoa học. Hãy biến internet và công nghệ thành công cụ đắc lực để tra cứu kiến thức thay vì để các thuật toán giải trí thao túng thời gian của mình.
Là một chủ nhân tương lai của đất nước , bản thân em cũng từng có những lúc nản lòng trước bài tập khó, từng bị cuốn hút bởi những video giải trí vô bổ trên mạng xã hội. Thế nhưng, mỗi lần nhìn thấy giọt mồ hôi của cha mẹ và sự tâm huyết của thầy cô, em tự nhắc nhở mình phải chấn chỉnh lại thái độ. Em đang nỗ lực từng ngày để rèn luyện tính tự giác, chủ động đọc thêm sách, chuẩn bị bài trước khi đến lớp và nghiêm túc trong từng giờ học để không phụ công ơn của những người kỳ vọng vào mình.
Kết lại , ý thức học tập chính là chiếc chìa khóa vạn năng để mở ra cánh cửa tương lai. Đứng trước dòng chảy mãnh liệt của thời đại mới, học sinh chúng ta hãy dũng cảm bước ra khỏi vùng an toàn, rũ bỏ sự lười nhác để đón nhận tri thức bằng một thái độ chủ động nhất. Bởi lẽ, rễ của học hành thì cay đắng, nhưng quả của nó thì luôn ngọt ngào.
Câu 1: Thể thơ của bài thơ trên là : Thất ngôn bát cú đường luật
Câu 2 : Đề tài của bài thơ trên là : Nho học và đạo học thời kì nho học suy tàn
Câu 3 : : Tác giả đưa ra nhận định này vì ông đang chứng kiến sự suy tàn, sụp đổ của nền Nho học (Đạo học) dưới thời thuộc Pháp:
- Chế độ thi cử bằng chữ Hán bị thực dân Pháp chèn ép, thay đổi luật lệ, khiến Nho học mất đi vị thế tôn nghiêm vốn có.
- Người theo học không còn mặn mà, kiên trì với con đường khoa bảng chân chính: "Mười người đi học, chín người thôi".
- Mục đích học tập bị biến tướng, việc học không còn để tu thân hay giúp đời mà trở thành công cụ mưu sinh tầm thường, thực dụng.
- Câu 4 :
- Các từ láy được sử dụng: lim dim, nhấp nhổm, rụt rè, liều lĩnh
- Hiệu quả:
- Về mặt nội dung: Các từ láy có tính định hình và gợi tả rất cao. Chúng khắc họa sinh động trạng thái mỏi mệt, uể oải, chán chường của cả người bán sách (lim dim) lẫn sự bấp bênh, bất an của người dạy học (nhấp nhổm). Đồng thời, lột tả sâu sắc sự suy vi về nhân cách, bản lĩnh của tầng lớp tri thức đương thời (rụt rè, liều lĩnh).
- Về mặt nghệ thuật: Làm tăng tính tạo hình, tăng sức biểu cảm và đậm chất trào phúng, cay đắng đặc trưng của giọng thơ Tú Xương.
- câu 5 ;
- Đáp án: Bài thơ là tiếng thở dài ngao ngán, chua chát của Tú Xương trước thực trạng suy tàn của nền đạo học (Nho học) đương thời. Qua đó, tác giả gián tiếp bộc lộ niềm xót xa cho sự sa sút của sĩ khí, văn phong và sự đảo lộn các giá trị tinh thần trong xã hội buổi giao thời, đồng thời thể hiện tấm lòng gắn bó, ưu tư sâu sắc đối với vận mệnh văn hóa dân tộc.
Câu 1 :
Bài Làm
Trong kỷ nguyên số, trí tuệ nhân tạo (AI) đã trở thành một phần không thể thiếu, nhưng việc con người quá phụ thuộc vào nó đang đặt ra nhiều vấn đề đáng suy ngẫm. Một mặt, AI là công cụ hỗ trợ tuyệt vời giúp tối ưu hóa hiệu quả công việc, như cách Nhật Bản dùng "Sakura AI Camera" để bảo tồn hoa anh đào. Tuy nhiên, nếu "phụ thuộc" trở thành "lệ thuộc", chúng ta sẽ đối mặt với những hệ lụy khôn lường. Khi giao phó tư duy cho máy móc, con người dễ rơi vào trạng thái lười suy nghĩ, thui chột khả năng sáng tạo và kỹ năng giải quyết vấn đề độc lập. Hơn thế nữa, sự lệ thuộc vào công nghệ có thể làm rạn nứt các kết nối cảm thực giữa người với người, khi chúng ta nhìn thế giới qua màn hình nhiều hơn qua đôi mắt. AI nên là một "trợ thủ" đắc lực chứ không được phép trở thành "chủ nhân" của trí tuệ con người. Chúng ta cần sử dụng AI một cách tỉnh táo: tận dụng sức mạnh tính toán của nó để phục vụ cuộc sống nhưng vẫn phải giữ vững bản lĩnh, sự nhạy cảm và tư duy phản biện độc lập – những giá trị duy nhất tạo nên bản chất người.
Câu 2 :
Bài Làm
Văn học vốn là nơi lưu giữ những mảnh ký ức và những góc khuất tâm hồn con người trước sự tàn phá của thời gian và nhịp sống hiện đại vội vã. Có những nỗi đau không nằm ở thể xác, có những khoảng cách không đo được bằng dặm dài địa lý, mà nó nằm ở sự lệch nhịp giữa các thế hệ. Bài thơ "Đừng chạm tay" là một tác phẩm đầy ám ảnh như thế. Bằng ngòi bút giàu tính triết lý và sự thấu cảm sâu sắc, tác giả đã mở ra một thế giới nội tâm tĩnh lặng, cô độc của người già trong sự đối lập gắt gao với thực tại đô thị hóa lạnh lùng.
Trước khi đi sâu vào khám phá những tầng nấc ý nghĩa của văn bản, ta cần dừng lại một chút trước chân dung tâm hồn của người nghệ sĩ. Bài thơ "Đừng chạm tay" là một sáng tác mang đậm dấu ấn của lối viết chiêm nghiệm, nơi tác giả không đi tìm những điều lớn lao, kỳ vĩ mà lặng lẽ quan sát những chuyển động tinh tế trong tâm cảm con người. Tác phẩm không chỉ đơn thuần là một bài thơ trữ tình mà còn là một lát cắt đầy ám ảnh về thực tại xã hội. Nó ra đời trong bối cảnh những giá trị truyền thống đang dần bị che lấp bởi tốc độ đô thị hóa và sự lên ngôi của công nghệ. Qua hình tượng cụ già và người khách lạ, tác giả đã gửi gắm một thông điệp nhân văn sâu sắc về sự tôn trọng thế giới nội tâm và những di sản ký ức của thế hệ đi trước – điều mà đôi khi chúng ta, trong sự vội vã của thời đại, đã vô tình lãng quên.
Con dốc ấy không chỉ là địa lý, mà là ranh giới giữa hai thế giới, là điểm cuối của một hành trình dài của đời người. Hình ảnh cụ già chỉ đường cho khách nhưng lại khiến họ "lạc trong thế giới một người già" chứa đựng một nghịch lý đầy thú vị. Thế giới đó là một "con đường khách không mong đợi", bởi nó không có những thông điệp thời đại, không có sự hào nhoáng của "bản đồ du lịch". Đó là con đường của ký ức, của những giá trị cũ xưa, nơi chỉ có "tiếng gió reo" và sự nguyên sơ thanh khiết. Nghệ thuật ẩn dụ về "con đường" đã khắc họa rõ nét sự lệch pha giữa người khách đại diện cho sự hiện đại, thực dụng và người già đại diện cho quá khứ và sự chiêm nghiệm.
Sức hấp dẫn của bài thơ tiếp tục được đẩy lên cao khi tác giả đặt thế giới ký ức ấy bên cạnh thực tại trần trụi. Hình ảnh "Núi sẻ, đồng san, cây vừa bật gốc" gợi lên sự tàn phá khủng khiếp của quá trình đô thị hóa. Đặc biệt, câu thơ "Những khối bê tông đông cứng ánh nhìn" là một sáng tạo nghệ thuật độc đáo. Phép nhân hóa kết hợp với sự đối lập giữa cái "nắng" ấm áp trên đầu dốc với cái "đông cứng" của bê tông đã lột tả sự vô cảm, khô khốc của đời sống hiện đại. Người khách tìm đến nhưng chẳng thể nhận ra "có gì mà lưu luyến", bởi tâm hồn họ đã quen với những giá trị hữu hình, còn cụ già lại sống bằng những giá trị vô hình trong hoài niệm.
Làm nên sức nặng cho bài thơ chính là giọng điệu trầm buồn, chậm rãi cùng những biện pháp tu từ tinh tế. Cách sử dụng các từ ngữ như "thưa thớt", "nguyên sơ", "lưu luyến" tạo nên một không gian nghệ thuật bảng lảng sương khói, đầy hoài niệm. Điểm rơi cảm xúc nằm ở khổ thơ cuối: khi nắng tắt và sương rơi, người khách định nói gì đó nhưng rồi chợt dừng lại. Lời tự nhủ "Đừng khuấy lên kí ức một người già" vang lên như một mệnh lệnh của trái tim. Đó là sự tỉnh ngộ đầy nhân văn. Tác giả khuyên ta "đừng chạm tay", không phải vì thờ ơ, mà vì sự tôn trọng tuyệt đối dành cho những miền ký ức thiêng liêng, nơi người già tìm thấy sự an ủi cuối cùng trước khi về với cát bụi.
Sâu sắc hơn cả, bài thơ không chỉ là câu chuyện của một cụ già, mà còn là lời cảnh báo về sự đứt gãy văn hóa. Khi những khối bê tông mọc lên cũng là lúc những con đường ký ức bị xóa sổ trên bản đồ thực tại. Nghệ thuật đối lập giữa "nắng bắt đầu" và "sương rơi xuống" ở cuối bài thơ gợi sự lụi tàn tất yếu của thời gian, khiến thông điệp về sự thấu cảm trở nên khẩn thiết hơn bao giờ hết.
Tóm lại, qua bài thơ "Đừng chạm tay", tác giả đã thành công trong việc sử dụng hình ảnh đối lập và giọng điệu chiêm nghiệm để khơi gợi những suy ngẫm sâu sắc về lòng nhân hậu. Tác phẩm nhắc nhở chúng ta rằng: đằng sau vẻ ngoài tĩnh lặng của người già là cả một đại dương ký ức cần được tôn trọng và che chở. Hãy học cách "đừng chạm tay" bằng sự thô bạo của thực tại, mà hãy chạm bằng sự rung cảm của trái tim, để những giá trị tâm hồn không bị "đông cứng" trước những khối bê tông của cuộc đời.
Câu 1 : Bài Làm
Trên tấm bản đồ rộng lớn và đầy biến động của cuộc đời, mỗi cá nhân đều cần có một "điểm neo" cho riêng mình. "Tấm bản đồ" chính là hành trình nhân sinh với vô vàn ngã rẽ, cơ hội và cả những cạm bẫy chông chênh. Trong khi đó, "điểm neo" là biểu tượng của những giá trị cốt lõi, là niềm tin, lý tưởng sống hay đơn giản là tình yêu gia đình, quê hương. "Điểm neo" đóng vai trò là điểm tựa tinh thần vững chắc, giúp con người giữ được sự thăng bằng và bản lĩnh giữa những cơn "bão lòng" hay những áp lực bủa vây của xã hội hiện đại. Khi có một điểm tựa vững vàng, chúng ta không bị cuốn trôi theo những giá trị ảo, không lạc lối trước những cám dỗ phù phiếm và biết cách đứng dậy sau mỗi lần vấp ngã. Tuy nhiên, "điểm neo" không phải là sự cố chấp hay đứng yên một chỗ, mà là nền tảng để ta tự tin vươn xa hơn. Mỗi người trẻ cần tự xây dựng cho mình một hệ giá trị đạo đức và mục tiêu sống đúng đắn để "điểm neo" ấy luôn đủ sức giữ con thuyền cuộc đời ta cập bến bình an và hạnh phúc.
Câu 2 : Bài Làm
"Đất nước" vốn là một tiếng gọi thiêng liêng, là mạch nguồn cảm hứng chưa bao giờ vơi cạn trong dòng chảy văn học dân tộc. Nếu như Nguyễn Khoa Điềm tìm về một Đất Nước gắn liền với những gì gần gũi như cái kèo, cái cột; nếu Nguyễn Đình Thi thấy một đất nước đau thương nhưng hiên ngang "rũ bùn đứng dậy sáng lòa", thì nhà thơ Huy Tùng trong tác phẩm "Việt Nam ơi" lại chọn cho mình một lối đi riêng đầy cảm xúc. Bằng những nét đặc sắc về nghệ thuật ngôn từ, hình ảnh giàu tính biểu tượng cùng giọng điệu vừa tha thiết vừa hào hùng, tác giả đã khắc họa một chân dung đất nước Việt Nam vừa dịu dàng trong lời ru truyền thuyết, vừa kiêu hùng qua suốt bốn ngàn năm thăng trầm lịch sử.
Để hiểu trọn vẹn những vần thơ đầy tâm huyết này, trước hết ta cần điểm qua đôi nét về chân dung người nghệ sĩ đứng sau những con chữ. Huy Tùng (tên thật là Vũ Minh Quyến) là một người con của vùng đất Hoa Lư, Ninh Bình đầy truyền thống lịch sử. Ông không chỉ là một nhà thơ mà còn từng là một người lính, một giáo viên quân đội, chính vì vậy trong thơ ông luôn có sự kết hợp giữa tâm hồn nhạy cảm của người nghệ sĩ và hào khí mạnh mẽ của người chiến sĩ. Từ chính sự hòa quyện giữa tình yêu quê hương và tinh thần quật cường đó, bài thơ "Việt Nam ơi" đã ra đời. Trích trong tập Thuở ấy (2017), bài thơ không chỉ là lời tự sự về tình yêu quê hương mà còn là sự chiêm nghiệm sâu sắc về hành trình gian khổ nhưng đầy vinh quang của dân tộc, đã được nhạc sĩ Hoàng Mạnh Toàn phổ nhạc thành ca khúc cùng tên vang vọng khắp nơi.
Đi sâu vào khám phá tác phẩm, ta thấy nét nghệ thuật gây ấn tượng đầu tiên chính là việc xây dựng hệ thống điệp khúc và nhịp điệu biến hóa. Cụm từ "Việt Nam ơi!" được đặt ở đầu mỗi khổ thơ không chỉ đơn thuần là một lời gọi đáp, mà nó đóng vai trò như một sợi dây liên kết cảm xúc, tạo nên cấu trúc song hành cho toàn bài. Nhịp thơ tự do linh hoạt, lúc trầm lắng, tha thiết khi nhắc về kỷ niệm tuổi thơ, lúc lại dồn dập, mạnh mẽ như nhịp đập của lịch sử. Cách ngắt nhịp này giúp tác giả truyền tải trọn vẹn sự chuyển biến từ tình cảm cá nhân nhỏ bé hòa vào tình yêu đất nước rộng lớn.
Không chỉ dừng lại ở nhịp điệu âm vang, sức hấp dẫn của bài thơ còn nằm ở cách Huy Tùng khéo léo đan cài các hình ảnh giàu tính biểu tượng và đậm chất văn hóa. Ở những khổ thơ đầu, tác giả khai thác triệt để các hình ảnh truyền thống như "lời ru của mẹ", "cánh cò bay", "truyện thuyết mẹ Âu Cơ". Những hình ảnh này không chỉ gợi lên vẻ đẹp thanh bình của làng quê Việt Nam mà còn kết nối tâm hồn người đọc với cội nguồn lịch sử thiêng liêng. Đặc biệt, sự xuất hiện của hình ảnh đối lập giữa "những con người đấu tranh chân đất" với "kỳ tích bốn ngàn năm" là một sáng tạo nghệ thuật đặc sắc. Nó làm nổi bật vẻ đẹp của chủ nghĩa anh hùng cách mạng: cái vĩ đại được kiến tạo từ những điều bình dị nhất, sức mạnh dân tộc được tôi luyện qua những biến cố "bể dâu" và "thăng trầm".
Làm nên linh hồn cho những hình ảnh ấy chính là lớp ngôn ngữ thơ giàu tính nhạc kết hợp cùng các biện pháp tu từ đầy tinh tế. Phép điệp cấu trúc "Từ lúc..." lặp đi lặp lại gợi mở một dòng thời gian chảy trôi từ quá khứ đến hiện tại, khẳng định sự gắn bó máu thịt của mỗi cá nhân với vận mệnh quốc gia ngay từ khi còn "chập chững". Các từ láy như "vang vọng", "thênh thang", "day dứt" được đan cài khéo léo, vừa tạo nên nhạc điệu da diết, vừa khắc họa rõ nét những trăn trở, khát khao của tác giả. Biện pháp ẩn dụ "vận nước thịnh suy", "vượt những đảo điên" cho thấy tầm vóc tư duy mang tính thời đại, thể hiện niềm tin sắt đá vào tương lai rạng rỡ của Việt Nam trên con đường hội nhập.
Sâu sắc hơn cả, mọi thủ pháp nghệ thuật trên đều tập trung làm nổi bật nét đặc sắc cuối cùng: sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa chất trữ tình và chất sử thi. Tiếng nói của cá nhân "đất nước tôi yêu" đã hòa chung vào nhịp thở của cộng đồng, của lịch sử dân tộc. Điều này khiến bài thơ không chỉ là một lời tự sự mà trở thành một khúc tráng ca hùng tráng, vừa mềm mại như lời ru, vừa đanh thép như lời thề bảo vệ chủ quyền và khát vọng vươn mình.
Tóm lại, bằng tài năng sử dụng ngôn từ và các thủ pháp nghệ thuật điêu luyện, Huy Tùng đã dệt nên một bức tranh "Việt Nam" đa diện và đầy sức sống. Bài thơ không chỉ thành công về mặt hình thức mà còn hoàn thành sứ mệnh khơi gợi lòng tự hào dân tộc trong lòng mỗi chúng ta. Gấp trang sách lại, âm hưởng "Việt Nam ơi!" vẫn còn vang vọng mãi, nhắc nhở thế hệ hôm nay về trách nhiệm giữ gìn và xây dựng tổ quốc thêm giàu đẹp.
Câu 1 : Phương thức biểu đạt trên là thuyết minh
Câu2 : Do sự thiếu hụt lao động và ngân sách để thu thập dữ liệu bảo vệ thủ công , đồng thời nhiều cây anh đào đang giai đoạn già cần được chăm sóc . Nhật Bản là nước nổi danh với vẻ đẹp tuyệt sắc của hoa anh đào . Chính nhờ vậy, mới có sự ra đời của ứng dụng Sakura AI Camera.
Câu 3 : Nhan đề sapo của bài viết , như một lời kêu gọi của dân đến dân sứ sở hoa anh đào chung tay bảo vệ loài hoa trên điện thoại thông minh. .
Tác dụng : Với việc sử dụng sapo như vậy giúp độc giả dễ dàng nhận diện được nội dung của câu truyện app bảo vệ loài hoa anh đào . Lời kêu gọi người dân hưởng ứng tận dụng trí tuệ nhân tạo để bảo vệ , đánh giá sức khoẻ của cây
Câu 4 : Tác phẩm trên sử dụng phương tiện phi ngôn ngữ bằng năm , các cấp và hình ảnh cụ thể .
Việc sử dụng các phương tiện phi ngôn ngữ có tác dụng : Cung cấp thông tin chính xác , đánh giá các cấp độ của cây và hình ảnh màn hình ứng dụng Sakura AI Camera càng tăng tính thuyết phục cho ứng dụng . Cụ thể hoá thông tin , tăng tính trực quan
Câu 5 :
Dựa trên sự phát triển của công nghệ, em đề xuất ý tưởng về Hệ thống trợ lý AI cá nhân hóa lộ trình học tập. Ứng dụng này sẽ phân tích các bài viết, vốn từ và phong cách diễn đạt riêng biệt của từng học sinh để phát hiện những mảng kiến thức còn thiếu như kỹ năng dùng từ, tư duy lập luận hay lỗi logic. Từ đó, AI sẽ tự động gợi ý các nguồn tài liệu đọc thêm hoặc bài tập thực hành phù hợp với năng lực của mỗi bạn. Ý tưởng này giúp việc học tập không còn là "mặc đồng phục" về kiến thức mà trở nên thú vị, hiệu quả và khơi gợi được bản sắc cá nhân của mỗi người học.
Câu 1 : Bài Làm
Trong truyện ngắn "Trẻ con không được ăn thịt chó", Nam Cao đã tái hiện một bi kịch gia đình đau đớn dưới sức ép tàn khốc của cái đói. Bi kịch ấy hiện hữu ngay từ sự đối lập đầy xót xa: trên nhà là bữa tiệc rượu nô nức của người cha và khách khứa, trong khi dưới bếp là sự chờ đợi tuyệt vọng của năm mẹ con. Dưới ngòi bút hiện thực sắc sảo, Nam Cao ví những đứa trẻ như những con "sâu kiến" sống mòn mỏi dưới ách thống trị của người cha "bạo chúa". Cái đói không chỉ hành hạ thể xác qua những cơn cào xé, cộng hưởng với mùi thơm thịt chó trêu ngươi, mà còn mài mòn nhân tính con người. Hình ảnh người mẹ ngồi bắt chấy cho con để giết thời gian, nhằm quên đi cái đói là một nỗ lực tuyệt vọng đầy tội nghiệp. Đỉnh điểm của bi kịch là sự tàn nhẫn, vô trách nhiệm của người cha – kẻ vì miếng ăn và cơn say mà quên mất vợ con đang khát khổ. Khi niềm hy vọng của những đứa trẻ bị dập tắt bằng chiếc bát không nằm trên mâm, sự phản kháng dữ dội qua tiếng khóc oà của thằng cu Con và sự bất lực của người mẹ đã đẩy bi kịch lên đến cao trào. Qua đó, Nam Cao không chỉ tố cáo cái đói mà còn xót xa cho những giá trị gia đình bị bóp nghẹt trong cảnh bần cùng.
Câu 2: Bài Làm
Người ta thường nói về đá như một biểu tượng của sự khô cằn và tĩnh lặng. Thế nhưng, có một vùng đất mà đá biết kể chuyện về lịch sử hàng triệu năm của Trái Đất, và đá cũng biết ấp ôm những mầm xanh của sự sống. Đó chính là Cao nguyên đá Đồng Văn – nơi được mệnh danh là "thiên đường xám" của cực Bắc Tổ quốc. Đến với nơi đây, ta không chỉ thấy sự hùng vĩ của tạo hóa mà còn thấy cả một bản anh hùng ca về sức sống mãnh liệt của con người giữa muôn trùng đá dựng.
Để hiểu vì sao vùng đất này lại mang trong mình vẻ đẹp kỳ bí đến vậy, trước hết ta cần nhìn lại những giá trị địa chất và quy mô rộng lớn của nó. Cao nguyên đá Đồng Văn không phải là một địa điểm đơn lẻ mà là một vùng di sản rộng lớn, trải dài trên bốn huyện: Quản Bạ, Yên Minh, Đồng Văn và Mèo Vạc của tỉnh Hà Giang cũ . Với diện tích gần 2.356 km^2 và độ cao trung bình trên 1.000 mét, nơi đây sở hữu một hệ sinh thái núi đá vôi đặc trưng. Chính nhờ sự độc đáo hiếm có ấy, vào năm 2010, nơi này đã chính thức được UNESCO công nhận là Công viên Địa chất toàn cầu đầu tiên của Việt Nam, ghi danh vào bản đồ di sản thế giới.
Không chỉ gây ấn tượng bởi những danh hiệu quốc tế, diện mạo của cao nguyên đá còn thực sự khiến bất cứ ai đặt chân đến cũng phải trầm trồ kinh ngạc. Nhìn từ trên cao, Đồng Văn hiện ra với những dãy núi đá tai mèo nhọn hoắt, đen thẫm chen chúc nhau. Các nhà khoa học gọi đây là "bảo tàng địa chất ngoài trời" bởi nơi đây lưu giữ những hóa thạch của các loài sinh vật biển từ cách đây khoảng 400 đến 600 triệu năm. Điều đó có nghĩa là vùng cao nguyên đá khô cằn hôm nay từng là đáy đại dương mênh mông trong quá khứ xa xôi. Rời xa những con số địa chất khô khan, thiên nhiên còn hào phóng ban tặng cho nơi này những tuyệt tác đầy chất thơ: là đèo Mã Pì Lèng hiểm trở, là hẻm vực Tu Sản sâu nhất Đông Nam Á, hay dòng sông Nho Quế xanh như ngọc bích uốn lượn dưới chân những vách đá dựng đứng.
Thế nhưng, nếu chỉ dừng lại ở cảnh sắc thiên nhiên thì chưa đủ để nói hết về linh hồn của vùng đất này, bởi điều kỳ diệu nhất lại nằm ở chính đôi bàn tay con người. Giữa cái "ma trận" đá xám xịt ấy, ta vẫn thấy những nương ngô xanh mướt mọc lên từ những hốc đá nhỏ nhoi. Người dân nơi đây đã có một sức sáng tạo kỳ diệu khi thực hiện kỹ thuật "thổ canh hốc đá" – họ gùi từng chút đất đổ vào kẽ đá để gieo hạt. Nhìn những mầm ngô vươn mình trong gió rét, ta mới thấu hiểu thế nào là sự kiên cường. Hòa cùng nhịp sống lao động bền bỉ ấy còn là những nét đẹp văn hóa rực rỡ sắc màu. Đó là màu váy thổ cẩm của thiếu nữ vùng cao, là tiếng khèn H’Mông réo rắt gọi bạn tình, và đặc biệt là sắc hồng dịu dàng của hoa tam giác mạch khi mùa đông về. Đá vẫn cứ cứng cỏi, nhưng đá cũng đã "nở hoa" từ chính tâm hồn và ý chí của con người.
Nhìn về dòng chảy của thời gian, Cao nguyên đá Đồng Văn hôm nay không chỉ là nơi lưu giữ quá khứ mà còn đang vươn mình mạnh mẽ hướng tới tương lai. Dẫu còn nhiều khó khăn, nhưng với sự phát triển của du lịch bền vững và ý thức bảo tồn của cộng đồng, vùng di sản này đang dần thay da đổi thịt. Cột cờ Lũng Cú trên đỉnh núi Rồng vẫn sừng sững tung bay lá cờ đỏ sao vàng, khẳng định chủ quyền thiêng liêng và ý chí bền bỉ của một dân tộc luôn biết vươn lên từ gian khó.
Khép lại hành trình khám phá vùng cao biên giới, lòng mỗi người không khỏi bồi hồi những niềm cảm mến. Cao nguyên đá không chỉ là niềm tự hào của người dân Hà Giang mà còn là biểu tượng cho vẻ đẹp kỳ vĩ và tâm hồn Việt Nam. Dẫu thời gian có tàn phá, dẫu gió sương có mài mòn, thì bản tình ca giữa đá và người nơi đây sẽ mãi còn ngân vang, nhắc nhở chúng ta về tình yêu quê hương và khát vọng chinh phục mọi nghịch cảnh của con người.
Câu1: Phương thức biểu đạt chính của văn bản trên: là Văn bản thông tin
câu 2 : Đối tượng thông tin của văn bản trên là "hệ sao T Coronae Borealis"
Câu 3 ; Cách trình bày trên thực sự hiệu quả theo một chu kì thời gian cụ thể từ thời gian phát hiện năm 1866 một cách khoa học, tăng tính xác thực giúp độc giả dễ dàng quan sát hiện tượng và nhìn nhận vấn đề
Câu4 : mục đích: Cung cấp thông tin về hiện tượng thiên văn , giúp người đọc nắm bắt thông tin về hệ sao T Coronae Borealis
Nội dung : cho biết quá trình phát hiện , quy trình hoạt đông của hệ sao và nhận định sự bùng nổi của hệ sao trong thời gian sắp tới
Câu 5: Tác phẩm trên đã sử dung những biện pháp phi ngôn ngữ qua : Những số liệu , từng năm cụ thể và hình ảnh cụ thể .
Tác dụng : Giúp người đọc dễ dàng nhận diện vấn đề biết chính xác hiện tượng , qua từng mốc thời gian và hình ảnh minh chứng trong văn bản
câu1 : Phương thức biểu đạt chính của văn bản trên là tự sự
Câu2 : Người mẹ để đánh lạc hướng lũ trẻ bằng cách sổ tóc ra cho mấy đứa con bắt chấy để tạm quên đi cơn đói.
Biểu hiện : qua đoạn "thị sổ tóc ra cho chúng xúm vào bắt chấy. Úi chà! Nhiều chấy quá! Chỉ việc rẽ một đám tóc ra là đủ thấy bốn, năm con bò lổm ngổm. Cái Gái và cu Nhớn, cu Nhỡ thi nhau bắt. Chúng cho cu Con mấy con chấy kềnh làm trâu. "
Câu 3 : Hình ảnh "cái bát không " ở đoạn trích trên có ý nghĩa khắc hoạ tính cách một người cha vô trách nhiệm với vợ con của chính mình . Qua đó tác giả đã khắc hoạ được hình ảnh người nông dân nghèo trong một xã hội đầy tăm tối, một người đàn ông nghiện ngập xa đoạ .
Câu 4: Từ đoạn trích trên ta có thể thấy tâm trạng, những đứa trẻ khi nghe cha gọi dọn mâm vừa háo hức , vui mừng với cái bụng gọi cồn cào và mong mỏi từ lâu với bữa thịt , sự trông chờ có phần ăn lót dạ của những đứa trẻ . Cho đến khi người bố gọi vào dọn xong ra chỉ còn mỗi bát trắng , sự suy sụp của người mẹ, tiếng khóc của những người con thể hiện trạng thái suy sụp với tâm lí vui vẻ trước phần thừa của bố nay lại oà lên khóc với nỗi tuyệt vọng , cơn đói nheo nhao của những người con gầy trơ sương. Diễn biến tâm trạng này thể hiện nỗi chua sót , đau đáu của những người con , sự vô tâm của người bố trước những đứa con của mình
Câu 5 : Gia đình là một thành phần hình thành nên xã hội , gia đình là cái nôi nuôi dưỡng của những đứa con , hình thành nên nhân cách của mỗi con người .Qua văn bản trên ta có thể thấy , tác hại của sự nghèo đói đối với hạnh phục của một gia đình . Từ một người đầy tham vọng vì cái nghèo đói đến bước đường cùng , rơi vào nghiện ngập . Cái nghèo đánh mất đi nhân cách , tuổi thơ của những đứa trẻ , đáng nhẽ phải được ăn học đầy đủ nhưng cái nghèo đói đã để lại những hậu quả đầy khốc liệt với con người.Những đứa trẻ với cái bụng đói nheo mong mỏi phần chờ của người cha , cảm xúc tuyệt vọng bất lực của người mẹ . Sự no ấm là một phần tạo nên gia đình hạnh phúc
câu1 : Phương thức biểu đạt chính của văn bản trên là tự sự
Câu2 : Người mẹ để đánh lạc hướng lũ trẻ bằng cách sổ tóc ra cho mấy đứa con bắt chấy để tạm quên đi cơn đói.
Biểu hiện : qua đoạn "thị sổ tóc ra cho chúng xúm vào bắt chấy. Úi chà! Nhiều chấy quá! Chỉ việc rẽ một đám tóc ra là đủ thấy bốn, năm con bò lổm ngổm. Cái Gái và cu Nhớn, cu Nhỡ thi nhau bắt. Chúng cho cu Con mấy con chấy kềnh làm trâu. "
Câu 3 : Hình ảnh "cái bát không " ở đoạn trích trên có ý nghĩa khắc hoạ tính cách một người cha vô trách nhiệm với vợ con của chính mình . Qua đó tác giả đã khắc hoạ được hình ảnh người nông dân nghèo trong một xã hội đầy tăm tối, một người đàn ông nghiện ngập xa đoạ .
Câu 4: Từ đoạn trích trên ta có thể thấy tâm trạng, những đứa trẻ khi nghe cha gọi dọn mâm vừa háo hức , vui mừng với cái bụng gọi cồn cào và mong mỏi từ lâu với bữa thịt , sự trông chờ có phần ăn lót dạ của những đứa trẻ . Cho đến khi người bố gọi vào dọn xong ra chỉ còn mỗi bát trắng , sự suy sụp của người mẹ, tiếng khóc của những người con thể hiện trạng thái suy sụp với tâm lí vui vẻ trước phần thừa của bố nay lại oà lên khóc với nỗi tuyệt vọng , cơn đói nheo nhao của những người con gầy trơ sương. Diễn biến tâm trạng này thể hiện nỗi chua sót , đau đáu của những người con , sự vô tâm của người bố trước những đứa con của mình
Câu 5 : Gia đình là một thành phần hình thành nên xã hội , gia đình là cái nôi nuôi dưỡng của những đứa con , hình thành nên nhân cách của mỗi con người .Qua văn bản trên ta có thể thấy , tác hại của sự nghèo đói đối với hạnh phục của một gia đình . Từ một người đầy tham vọng vì cái nghèo đói đến bước đường cùng , rơi vào nghiện ngập . Cái nghèo đánh mất đi nhân cách , tuổi thơ của những đứa trẻ , đáng nhẽ phải được ăn học đầy đủ nhưng cái nghèo đói đã để lại những hậu quả đầy khốc liệt với con người.Những đứa trẻ với cái bụng đói nheo mong mỏi phần chờ của người cha , cảm xúc tuyệt vọng bất lực của người mẹ . Sự no ấm là một phần tạo nên gia đình hạnh phúc