Lưu Kim Cương

Giới thiệu về bản thân

Chào mừng bạn đến với trang cá nhân của Lưu Kim Cương
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
(Thường được cập nhật sau 1 giờ!)

Câu 1

Bài thơ "Bàn giao" của Vũ Quần Phương đã để lại trong tôi nhiều cảm xúc sâu lắng và suy ngẫm về sự chuyển giao thế hệ. Với thể thơ tự do, ngôn ngữ giản dị, chân thành, bài thơ đã vẽ nên một bức tranh đẹp về tình cảm gia đình, về sự kế thừa và phát huy những giá trị tốt đẹp của dân tộc. Hình ảnh người ông ân cần, chu đáo bàn giao cho cháu những điều bình dị, thân thương như gió heo may, góc phố, hương bưởi, cỏ mùa xuân đã gợi lên trong tôi những ký ức đẹp về quê hương, về tuổi thơ. Đặc biệt, chi tiết người ông không bàn giao những tháng ngày vất vả, đau thương mà chỉ bàn giao "một chút buồn, ngậm ngùi, chút cô đơn" đã khiến tôi xúc động. Điều đó cho thấy sự yêu thương, che chở mà người ông dành cho cháu, mong muốn cháu có một tương lai tươi sáng hơn. Câu thơ "Cắn răng mà chịu thiệt, vững gót để làm người" được bàn giao lại như một lời nhắn nhủ, một bài học quý giá về cách sống, cách làm người. Bài thơ đã khơi gợi trong tôi lòng tự hào về truyền thống tốt đẹp của dân tộc và ý thức trách nhiệm của thế hệ trẻ trong việc gìn giữ, phát huy những giá trị ấy.

Câu 2

Tuổi trẻ là quãng thời gian đẹp nhất trong đời người – khoảng thời gian của nhiệt huyết, của ước mơ bay xa và của những khát khao khám phá thế giới. Nhưng để tuổi trẻ không trôi qua một cách vô nghĩa, mỗi người cần phải biết sống sao cho xứng đáng, mà một trong những điều quan trọng nhất chính là trải nghiệm. Trải nghiệm không chỉ giúp ta trưởng thành hơn mà còn là hành trang quý báu giúp mỗi người vững bước trên hành trình cuộc sống.

Trải nghiệm là quá trình ta dấn thân vào những điều mới mẻ, thử thách bản thân, học hỏi từ thực tế, từ thất bại và cả thành công. Với tuổi trẻ – lứa tuổi còn nhiều bỡ ngỡ và chưa có nhiều va vấp – thì trải nghiệm lại càng quan trọng. Nó không chỉ giúp ta tích lũy kỹ năng, kiến thức sống, mà còn rèn luyện bản lĩnh, giúp ta hiểu mình là ai và mình muốn gì.

Trong xã hội hiện đại, có rất nhiều cơ hội để tuổi trẻ trải nghiệm: tham gia các hoạt động ngoại khóa, làm tình nguyện, đi làm thêm, học tập và sinh sống ở những môi trường khác nhau. Mỗi trải nghiệm, dù nhỏ bé, đều là một viên gạch góp phần xây dựng nên con người ta. Ví dụ, khi một sinh viên làm thêm ở quán cà phê, bạn ấy không chỉ học cách pha chế hay phục vụ khách hàng, mà còn học được sự kiên nhẫn, kỹ năng giao tiếp và quản lý thời gian. Những điều tưởng chừng đơn giản ấy lại chính là nền tảng cho sự trưởng thành sau này.

Tuy nhiên, trải nghiệm không phải lúc nào cũng “màu hồng”. Sẽ có thất bại, có sai lầm, có cả những lúc nản lòng. Nhưng chính những va vấp ấy lại là bài học quý giá nhất. Có lẽ không ai trưởng thành mà chưa từng vấp ngã. Cái quan trọng là sau mỗi lần ngã, ta biết đứng dậy, rút ra bài học cho riêng mình. Như câu nói nổi tiếng của Thomas Edison: “Tôi không thất bại. Tôi chỉ tìm ra 10.000 cách không hoạt động.” Đó là tinh thần mà tuổi trẻ cần có khi đối diện với thử thách.

Mặt khác, trong xã hội ngày nay, không ít bạn trẻ sống quá an toàn, ngại thay đổi, chỉ muốn đi trên con đường được vạch sẵn. Họ ngại va chạm, sợ thất bại, và vì thế, tự đánh mất cơ hội phát triển bản thân. Đó là một sự lãng phí rất lớn. Tuổi trẻ chỉ đến một lần, và nếu không dám sống hết mình, không dám thử, dám sai, thì đến khi nhìn lại, có thể chỉ còn lại sự tiếc nuối.

Tuổi trẻ là thời điểm đẹp nhất để trải nghiệm – vì ta còn thời gian, còn sức khỏe và còn cơ hội làm lại từ đầu. Đừng sợ sai, đừng ngại thử. Hãy mạnh dạn bước ra khỏi vùng an toàn, sống trọn vẹn với đam mê, hoài bão và không ngừng học hỏi từ thực tế. Bởi chính những trải nghiệm ấy sẽ là hành trang vô giá, giúp ta bước vững vàng vào tương lai.

Câu 1.

- Thể thơ tự do.

Câu 2.

- Trong bài thơ, nhân vật người ông sẽ bàn giao cho cháu những thứ sau:

  • Gió heo may
  • Góc phố có mùi ngô nướng bay
  • Tháng giêng hương bưởi
  • Cỏ mùa xuân xanh dưới chân giày
  • Những mặt người đẫm nắng, đẫm yêu thương trên trái đất này
  • Một chút buồn, ngậm ngùi, chút cô đơn

Câu 3.

-Người ông không muốn bàn giao những tháng ngày vất vả, sương muối đêm bay lạnh mặt người, đất rung chuyển, xóm làng loạn lạc, ngọn đèn mờ, mưa bụi rơi.

- Bởi vì đây là những ký ức đau thương, mất mát, khó khăn, gian khổ mà người ông đã trải qua. Ông muốn cháu mình có một tương lai tươi sáng, tốt đẹp hơn, không phải gánh chịu những nỗi đau mà ông đã từng trải qua. Ông muốn bảo vệ cháu khỏi những điều tồi tệ của quá khứ, để cháu có thể sống một cuộc đời bình yên và hạnh phúc.

Câu 4. 

-Biện pháp điệp ngữ được sử dụng trong bài thơ là điệp ngữ "Bàn giao".

-Phân tích tác dụng :

  • Nhấn mạnh hành động bàn giao, chuyển giao từ thế hệ trước sang thế hệ sau.
  • Tạo nhịp điệu cho bài thơ, làm cho bài thơ trở nên da diết, sâu lắng hơn.
  • Thể hiện sự trân trọng, nâng niu những giá trị mà thế hệ trước muốn truyền lại cho thế hệ sau.
  • Góp phần thể hiện chủ đề của bài thơ: sự kế thừa và phát huy những giá trị tốt đẹp của dân tộc từ thế hệ này sang thế hệ khác.

Câu 5. 

Chúng ta, thế hệ hôm nay, đã nhận bàn giao từ thế hệ cha ông đi trước rất nhiều điều quý giá và thiêng liêng. Đó là lịch sử, văn hóa, truyền thống, là những giá trị đạo đức tốt đẹp và cả những bài học xương máu. Trước những điều được bàn giao ấy, chúng ta cần có thái độ trân trọng, biết ơn và ý thức gìn giữ, phát huy. Chúng ta cần học hỏi, tìm hiểu sâu sắc về lịch sử, văn hóa của dân tộc, kế thừa và phát huy những giá trị tốt đẹp của cha ông. Đồng thời, chúng ta cũng cần phê phán, loại bỏ những hủ tục lạc hậu, những thói hư tật xấu để xây dựng một xã hội ngày càng tốt đẹp hơn. Chúng ta cần nỗ lực học tập, rèn luyện, đóng góp sức mình vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, xứng đáng với những gì mà cha ông đã gây dựng và trao truyền lại.

Câu 1

Đoạn thơ "Trăng hè" của Đoàn Văn Cừ đã vẽ nên một bức tranh quê thanh bình, yên ả, đậm chất trữ tình. Vẻ đẹp của bức tranh hiện lên qua những hình ảnh quen thuộc, gần gũi của làng quê Việt Nam. Tiếng võng kẽo kẹt đưa, con chó ngủ lơ mơ, bóng cây lơi lả bên hàng dậu tạo nên một không gian tĩnh lặng, êm đềm. Ánh trăng ngân lấp loáng trên tàu cau, hình ảnh ông lão nằm chơi giữa sân, thằng cu ngắm bóng mèo gợi lên một cuộc sống thanh bình, giản dị, đầy ắp tình người. Đoàn Văn Cừ đã sử dụng ngôn ngữ thơ trong sáng, giản dị, giàu sức gợi hình, gợi cảm để khắc họa bức tranh quê. Những từ ngữ như "kẽo kẹt", "lơ mơ", "lơi lả", "lấp loáng", "quyện" đã góp phần diễn tả sinh động vẻ đẹp của cảnh vật và con người nơi thôn quê. Bức tranh không chỉ đẹp ở cảnh vật mà còn đẹp ở tình người, ở sự gắn bó giữa con người với thiên nhiên. Đọc đoạn thơ, người đọc như được hòa mình vào không gian làng quê, cảm nhận được sự bình yên, thư thái trong tâm hồn.

Câu 2

Tuổi trẻ là giai đoạn đẹp nhất của đời người, là thời kỳ của những ước mơ, hoài bão và khát vọng vươn lên. Trong xã hội hiện đại, sự nỗ lực hết mình của tuổi trẻ càng trở nên quan trọng hơn bao giờ hết, khi thế giới đang thay đổi nhanh chóng và đầy cạnh tranh. Tuy nhiên, thực tế cho thấy, không phải ai cũng nhận thức được tầm quan trọng của sự nỗ lực và có những hành động thiết thực để đạt được mục tiêu của mình.

Thực tế cho thấy, sự nỗ lực của tuổi trẻ hiện nay có cả mặt tích cực và tiêu cực. Về mặt tích cực, nhiều bạn trẻ ngày nay có ý thức vươn lên mạnh mẽ, không ngừng học hỏi, trau dồi kiến thức, kỹ năng để đáp ứng yêu cầu của xã hội. Họ có khát vọng thành công lớn, dám nghĩ, dám làm, dám đối mặt với khó khăn và thử thách để đạt được mục tiêu của mình. Tuổi trẻ là lực lượng tiên phong trong việc sáng tạo và đổi mới, đưa ra những ý tưởng độc đáo và giải pháp đột phá để giải quyết các vấn đề của xã hội. Nhiều bạn trẻ tích cực tham gia các hoạt động xã hội, tình nguyện, góp phần xây dựng cộng đồng và giúp đỡ những người có hoàn cảnh khó khăn. Tuy nhiên, bên cạnh đó, vẫn còn tồn tại những mặt tiêu cực. Một bộ phận không nhỏ các bạn trẻ còn mơ hồ về mục tiêu của mình, sống thiếu định hướng và không biết mình muốn gì. Nhiều bạn trẻ có tâm lý lười biếng, ỷ lại vào gia đình, không chịu cố gắng vươn lên bằng chính sức lực của mình. Một số bạn trẻ sợ thất bại, không dám đối mặt với khó khăn và dễ dàng bỏ cuộc khi gặp phải thử thách. Nhiều bạn trẻ sống ảo trên mạng xã hội, chỉ quan tâm đến hình thức bên ngoài mà không chú trọng đến việc trau dồi kiến thức, kỹ năng và giá trị đạo đức.

Thực trạng trên có nhiều nguyên nhân. Áp lực từ gia đình, nhà trường và xã hội về thành tích, địa vị có thể khiến một số bạn trẻ cảm thấy căng thẳng, mệt mỏi và mất đi động lực phấn đấu. Sự phát triển của công nghệ, đặc biệt là mạng xã hội, có thể khiến một số bạn trẻ bị cuốn vào thế giới ảo, xao nhãng việc học tập và rèn luyện bản thân. Nhiều bạn trẻ thiếu kỹ năng sống, kỹ năng mềm, kỹ năng giải quyết vấn đề, kỹ năng làm việc nhóm, khiến họ gặp khó khăn trong quá trình học tập, làm việc và xây dựng sự nghiệp. Hệ thống giáo dục hiện nay còn nặng về lý thuyết, ít chú trọng đến việc phát triển kỹ năng thực hành, tư duy sáng tạo và giá trị đạo đức cho học sinh, sinh viên.

Để khuyến khích sự nỗ lực hết mình của tuổi trẻ, cần có những giải pháp đồng bộ. Cần giúp các bạn trẻ định hướng nghề nghiệp rõ ràng, phù hợp với năng lực, sở thích và đam mê của bản thân. Cần tăng cường giáo dục kỹ năng sống, kỹ năng mềm, kỹ năng giải quyết vấn đề, kỹ năng làm việc nhóm cho học sinh, sinh viên. Cần tạo môi trường học tập, làm việc và sinh hoạt lành mạnh, khuyến khích sự sáng tạo, đổi mới và tinh thần hợp tác. Cần tôn vinh những tấm gương tuổi trẻ nỗ lực, thành công, có đóng góp tích cực cho xã hội để lan tỏa tinh thần phấn đấu và khích lệ các bạn trẻ khác. Cần thay đổi tư duy của xã hội về thành công, không chỉ coi trọng thành tích, địa vị mà còn đề cao giá trị của sự nỗ lực, sáng tạo và đóng góp cho cộng đồng. Và quan trọng nhất, mỗi bạn trẻ cần tự nhận thức được tầm quan trọng của sự nỗ lực, xác định mục tiêu rõ ràng và xây dựng kế hoạch hành động cụ thể để đạt được mục tiêu của mình.

Tóm lại, sự nỗ lực hết mình của tuổi trẻ là yếu tố then chốt để xây dựng một xã hội phát triển và thịnh vượng. Để khuyến khích sự nỗ lực của tuổi trẻ, cần có sự chung tay của gia đình, nhà trường, xã hội và bản thân mỗi người trẻ. Hãy tạo điều kiện tốt nhất để tuổi trẻ được phát huy tối đa tiềm năng của mình, góp phần xây dựng đất nước ngày càng giàu đẹp, văn minh.

Câu 1

Ngôi thứ ba

Câu 2

+ " Thấy mẹ đem quần áo nồi niêu đến ở chung, Bớt rất mừng. Nhưng chị cố gặng mẹ cho hết lẽ:

   - Bu nghĩ kĩ đi. Chẳng sau này lại phiền bu ra, như chị Nở thì con không muốn..."

+ Chị dành thời gian tâm sự và bầu bạn cùng mẹ

+ Bớt vội buông bé Hiên, ôm lấy mẹ

Câu 3

- Là người hiền lành nhưng cũng nhiều lo toan

- Người giàu tình cảm, hiếu thảo

- Biết suy nghĩ , sống hiếu thuận

- Đảm đang, tháo vát, yêu chồng, thương con

Câu 4

- Bớt cảm thấy áy náy vì chót vô tư quá nên chạm đến sự khó xử của mẹ

- Sợ mẹ chạnh lòng

- Thể hiện tình yêu thương, sự quan tâm, lo lắng của con với mẹ

Câu 5

Tình cảm gia đình là thứ tình cảm thiêng liêng cần phải biết trân trọng


Câu 1

Môi trường có vai trò vô cùng quan trọng đối với sự sống của con người và mọi sinh vật trên trái đất. Đây là nơi cung cấp tài nguyên thiên nhiên như nước, không khí, đất đai, khoáng sản, và năng lượng, tất cả đều thiết yếu cho sự tồn tại và phát triển của xã hội. Môi trường không chỉ là nguồn cung cấp vật chất mà còn là không gian sống, điều hòa khí hậu, bảo vệ đa dạng sinh học và duy trì cân bằng sinh thái. Bên cạnh đó, môi trường còn có ý nghĩa văn hóa, tinh thần, là nguồn cảm hứng cho nghệ thuật, văn học và là nơi lưu giữ các giá trị truyền thống. Một môi trường trong lành, xanh sạch đẹp sẽ tạo điều kiện cho con người có sức khỏe tốt, tinh thần thoải mái và cuộc sống hạnh phúc. Tuy nhiên, hiện nay môi trường đang phải đối mặt với nhiều thách thức nghiêm trọng như ô nhiễm, biến đổi khí hậu, suy thoái tài nguyên và mất đa dạng sinh học. Những vấn đề này đe dọa trực tiếp đến cuộc sống của con người và sự phát triển bền vững của xã hội. Vì vậy, bảo vệ môi trường là trách nhiệm chung của toàn nhân loại, đòi hỏi sự chung tay của mỗi cá nhân, cộng đồng và quốc gia để bảo vệ hành tinh xanh cho thế hệ tương lai.

Câu 2

Trong văn học Việt Nam, hình tượng người ẩn sĩ là một chủ đề quen thuộc, thể hiện khát vọng về một cuộc sống thanh cao, thoát tục, xa lánh vòng danh lợi. Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm và Nguyễn Khuyến là những nhà thơ tiêu biểu đã góp phần làm phong phú thêm hình tượng này. Bài thơ "Nhàn" của Nguyễn Bỉnh Khiêm và bài thơ thu của Nguyễn Khuyến đều khắc họa hình ảnh người ẩn sĩ, nhưng mỗi tác phẩm lại mang những nét độc đáo riêng, thể hiện phong cách và tâm sự của từng tác giả.

Cả hai bài thơ đều có những điểm tương đồng. Trước hết, cả Nguyễn Bỉnh Khiêm và Nguyễn Khuyến đều lựa chọn cuộc sống ẩn dật, xa lánh chốn quan trường đầy bon chen và giả dối. Trong bài "Nhàn", Nguyễn Bỉnh Khiêm khẳng định sự lựa chọn của mình bằng câu "Ta dại, ta tìm nơi vắng vẻ, Người khôn, người đến chốn lao xao." Còn Nguyễn Khuyến, dù không trực tiếp nói về việc từ bỏ danh lợi, nhưng qua hình ảnh "thẹn với ông Đào", ta thấy được sự bất mãn với cuộc đời và mong muốn tìm về với cuộc sống thanh cao. Thứ hai, cả hai nhà thơ đều tìm thấy niềm vui và sự thanh thản trong thiên nhiên. Nguyễn Bỉnh Khiêm miêu tả cuộc sống giản dị với "Thu ăn măng trúc, đông ăn giá, Xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao." Nguyễn Khuyến lại vẽ nên một bức tranh thu tĩnh lặng, thanh bình với "Trời thu xanh ngắt mấy tầng cao", "Nước biếc trông như tầng khói phủ." Cuối cùng, dù cuộc sống vật chất giản dị, đạm bạc, nhưng cả hai nhà thơ đều thể hiện sự ung dung, tự tại trong tâm hồn. Nguyễn Bỉnh Khiêm "Rượu đến bóng cây ta hãy uống", Nguyễn Khuyến "Song thưa để mặc bóng trăng vào."

Tuy nhiên, giữa hai bài thơ cũng có những điểm khác biệt rõ rệt. "Nhàn" của Nguyễn Bỉnh Khiêm thể hiện một thái độ tự tin, khẳng khái, thậm chí có phần ngông nghênh, trong khi thơ thu của Nguyễn Khuyến lại mang một nỗi buồn man mác, cô đơn, có phần bất lực. Cuộc sống được miêu tả trong "Nhàn" là cuộc sống vật chất giản dị nhưng vẫn đầy đủ, chủ động, còn khung cảnh thiên nhiên trong thơ thu lại tĩnh lặng, vắng vẻ, mang đậm nét tiêu điều. Ngôn ngữ trong "Nhàn" giản dị, mộc mạc, gần gũi với đời sống thường ngày, còn ngôn ngữ trong thơ thu lại tinh tế, gợi cảm, giàu chất thơ. Cảm hứng chủ đạo của "Nhàn" là thể hiện sự lựa chọn dứt khoát, niềm vui thanh thản khi sống hòa mình vào thiên nhiên, còn cảm hứng chủ đạo của thơ thu là thể hiện nỗi cô đơn, u uất, sự bất lực trước thời cuộc. Ví dụ, trong "Nhàn" có câu "Ta dại, ta tìm nơi vắng vẻ, Người khôn, người đến chốn lao xao" và "Rượu đến bóng cây ta hãy uống, Nhìn xem phú quý tựa chiêm bao", còn trong thơ thu lại có câu "Trời thu xanh ngắt mấy tầng cao, Cần trúc lơ phơ gió hắt hiu" và "Nghĩ ra lại thẹn với ông Đào."

"Nhàn" của Nguyễn Bỉnh Khiêm thể hiện một thái độ sống tích cực, chủ động, dám từ bỏ những cám dỗ của danh lợi để tìm về với cuộc sống thanh thản, hòa mình vào thiên nhiên. Nguyễn Bỉnh Khiêm không chỉ là một nhà thơ mà còn là một nhà tư tưởng lớn, có tầm nhìn xa trông rộng. Trong khi đó, thơ thu của Nguyễn Khuyến thể hiện một tâm trạng buồn man mác, cô đơn, bất lực trước thời cuộc. Nguyễn Khuyến là một nhà thơ tài năng, có tấm lòng yêu nước thương dân sâu sắc. Tuy nhiên, ông lại sống trong một thời đại đầy biến động, khi đất nước rơi vào tay thực dân Pháp. Điều này khiến ông cảm thấy bất lực và muốn tìm về với cuộc sống ẩn dật.

Tóm lại, hình tượng người ẩn sĩ trong "Nhàn" của Nguyễn Bỉnh Khiêm và thơ thu của Nguyễn Khuyến đều mang những nét đẹp riêng. Nguyễn Bỉnh Khiêm thể hiện sự tự tin, khẳng khái, Nguyễn Khuyến lại thể hiện sự cô đơn, u uất. Tuy nhiên, cả hai nhà thơ đều góp phần làm phong phú thêm hình tượng người ẩn sĩ trong văn học Việt Nam, thể hiện khát vọng về một cuộc sống thanh cao, thoát tục, xa lánh vòng danh lợi. Qua đó, ta thấy được những trăn trở, suy tư của các nhà thơ về cuộc đời, về xã hội và về con người.


Câu 1

Họ định nghĩa tiếc thương sinh thái là nỗi đau khổ trước những mất mát về sinh thái mà con người hoặc là đã trải qua, hoặc là tin rằng đang ở phía trước.

Câu 2

Bài viết trên trình bày thông tin theo trình tự thời gian và không gian

Câu 3

Tác giả đã sử dụng những bằng chứng khoa học (các con số thống kê, các công trình nghiên cứu, những suy luận logic) và những ví dụ thực tiễn để cung cấp những thông tin xác thực cho người đọc về hiện tượng tâm lí “tiếc thương sinh thái”, một hậu quả của biến đối khí hậu.

Câu 4

- Cách tiếp cận thông tin:

+ từ bao quát đến chi tiết

+ Theo các mốc thời gian cụ thể

+ Theo không gian

- Nhận xét:

+ Kết hợp nhiều cách tiếp cận thông tin giúp cho bài viết thêm độc đáo, mang nét riêng thu hút độc giả từ đó nhấn mạnh tầm quan trọng của hệ sinh thái và thực trạng ô nhiễm môi trường

Câu 5

Hãy cùng chung tay bảo vệ môi trường


Câu 1

Sự đoàn kết của toàn dân tộc là yếu tố cốt lõi để dẫn tới thắng lợi của Cách mạng tháng Tám năm 1945 trong thời kỳ đầu của kháng chiến chống Pháp. Năm 1947 Hồ Chí Minh đã sáng tác bài " Ca sợi chỉ " nói về tinh thần đoàn kết. Bài thơ được viết như một chuyện kể của sợi chỉ tự kể về chính cuộc đời của mình: từ nguồn cội khi còn là một đóa hoa, đến cái bông, đến sợi chỉ và rồi thành một tấm vải mỹ miều:

"Mẹ tôi là một đóa hoa

...

Thế gian ai sợ chi anh chỉ xoàng !"

Sự tự ý thức được cái mỏng manh, yếu đuối với điểm nhìn khách quan, nhìn thẳng vào sự thật, vào bản chất mạnh gì sợi chỉ con con đã cho thấy sự khéo léo của tác giả khi cho độc giả thấy thực trạng của Việt Nam lúc bấy giờ qua những dòng thơ khi phải đối mặt với kẻ thù rất mạnh. Chỉ thực sự có sức mạnh, thực sự bền vững thì chúng ta mới đấu tranh lại được cũng như khi các sợi dọc sợi ngang hợp lại, như lời sợi chị kể :

"Nhờ tôi có nhiều đồng bằng

...

Đó là lực lượng, đó là vẻ vang."

Qua những dòng thơ trên, ta thấy được sự liên kết, hợp lại, sự đoàn kết của một cộng đồng, một tập thể là vô cùng quan trọng nó giúp chúng ta tạo nên một khối sức mạnh vững chắc, bền bỉ để vượt qua khó khăn: "Dệt nên tấm vải mỹ miều / Đã bền hơn lụa lại điều hơn da." Điều này giống câu chuyện dân gian Bó Đũa: nếu một chiếc đũa, bẻ gãy ngay, nhưng một bó đũa đố ai bẻ được. Từ đó, cho thấy sức mạnh của sợi chỉ không ở cái mỏng manh và yếu đuối của nó, mà còn là khả năng tạo ra sự đoàn kết, liên kết mạnh mẽ. Bài ca kết thúc bằng lời kêu gọi:

"Hỡi ai con cháu Hồng Bàng

...

Việt Minh hồi ấy mau mau phải vào."

Tư tưởng đoàn kết, sức mạnh đoàn kết đã trở thành chủ đề tập trung cho những sáng tác của Bác trong giai đoạn này. Qua bài "Ca sợi chỉ" ta thấy được Hồ Chí Minh đã rất khéo léo trong việc sử dụng hình ảnh sợi chỉ - một vật nhỏ bé, quen thuộc để nói lên sức mạnh của đoàn kết và kêu gọi toàn dân đoàn kết kháng chiến. Tác giả sử dụng những ngôn ngữ giản dị, gần gũi, nhưng chứa đựng nhiều ý nghĩa sâu sắc cùng với các biện pháp nghệ thuật so sánh, ẩn dụ đã làm cho tác phẩm trở nên sinh động, độc đáo, gây tò mò, thu hút độc giả.

Câu 2

"Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết. Thành công, thành công, đại thành công - Hồ Chí Minh. Tinh thần đoàn kết là một truyền thống quý báu của dân tộc và được Bác Hồ căn dặn từ xưa đến nay, góp phần tạo nên sức mạnh nội tại để bảo vệ và phát triển đất nước. Bởi vậy, tinh thần đoàn kết có vai trò vô cùng quan trọng trong cộng đồng xã hội.

Trước tiên, chúng ta có thể hiểu: Đoàn kết là sự hợp lực, chung sức, chung lòng tạo thành một khối để làm một việc nào đó. Đoàn kết đối lập với chia rẽ. Ví dụ: Lớp học đoàn kết giúp đỡ lẫn nhau trong học tập. Thứ hai, tinh thần đoàn kết là sự nhận thức về mục tiêu chung của với mọi người trong một tập thể, là sự đồng điệu về mặt tâm lý của mỗi cá nhân.

Tiếp theo, chúng ta bàn về biểu hiện của sự đoàn kết. Tinh thần đoàn kết của mỗi cá nhân đối với xã hội thể được thể hiện như sau: Một là, luôn sẵn sàng hợp tác, làm việc chung, đặt lợi ích của tập thể lên lợi ích của cá nhân. Hai là, luôn sẵn sàng chia sẻ giúp đỡ người khác san sẻ với người khác khi gặp khó khăn. Ba là tự nguyện tham gia vào các công việc của tập thể, luôn nhiệt tình với sự tự giác cao. Bốn là, nhận thức rõ trách nhiệm của bản thân đối với các mối quan hệ xã hội, với độc lập tự chủ của đất nước, trách nhiệm bảo vệ tổ quốc... Là học sinh hãy luôn chia sẻ, giúp đỡ bạn bè với tinh thần tự nguyện, nhiệt tình; không chia bè phái, nói không với bạo lực học đường, gây mất an đi trật tự....

Vậy vai trò của tinh thần đoàn kết là gì ? Vì sao chúng ta phải có tinh thần đoàn kết ? Đây là câu hỏi được ra khi chúng ta biết được khái niệm, biểu hiện của đoàn kết. Từ xưa tới nay vấn đề về tinh thần đoàn kết luôn là một trong những vấn đề đáng được quan tâm. Bác Hồ đã ra lời kêu gọi toàn dân đoàn kết kháng chiến để dẫn tới thắng lợi của Cách mạng tháng Tám năm 1945 và thực tế rất cần đoàn kết để thành công. Như vậy, ta thấy được tầm quan trọng của tinh thần đoàn kết nó mang lại cho ta sức mạnh phi thường, bền vững để dẫn tới thành công. Không một đất nước, tổ chức, dân tộc nào tồn tại và phát triển nếu thiếu sự đoàn kết đoàn kết; không chỉ tập hợp lực lượng thành một khối thống nhất, mà còn phải thống nhất về tư tưởng, hành động, mục tiêu chung góp phần giúp các thành viên nhận được sự tôn trọng, tương trợ, giúp sức lẫn nhau, giúp họ tự tin hơn, không cảm thấy bị lạc lõng góp phần tạo động lực phấn đấu tới những điều tốt đẹp hơn. Tinh thần đoàn kết giống như một tấm lá chắn lớn giúp mọi người vững bước, vượt qua khó khăn, thách thức trong cuộc sống. Một ví dụ tiêu biểu để chúng ta thấy rõ hơn tinh thần đoàn kết ở thời bình hiện nay là mỗi đợt lũ lụt miền Trung nhân dân cả nước lại chung tay quyên góp giúp đỡ cả về lương thực thực phẩm và nhiều vật chất khác để mỗi bà con cảm thấy được an ủi và khôi phục lại cuộc sống bình thường. Ngay khi lũ lụt xảy ra, lực lượng cán bộ, chiến sĩ quân đội, công an,... đã không quản hiểm nguy xông pha vào vùng lũ để cứu giúp những người đang gặp nguy hiểm.

Hàng triệu con kiến nhỏ có thể xẻ thịt một con voi, dòng nước mềm yếu có thể làm nên trận lú khủng khiếp, nhưng giọt mưa nhỏ bé có thể lấp đầy những cái hồ rộng lớn, những hạt cát nhỏ bé có thể ngăn cách biển cả với đất liền, một cơn mưa có thể cứu cánh đồng đang kỳ khô hạn, tất cả chỉ có thể thực hiện khi có sức mạnh đoàn kết tập thể. Mọi người ai cũng có điểm mạnh, điểm yếu không ai là hoàn hảo cả và khi chúng ta đoàn kết lại thì những điểm mạnh đó tạo thành một sức mạnh phi thường, một tấm lá chắn vững chắc để chống lại những khó khăn dẫn tới thành công.

Nhưng nếu không có tinh thần đoàn kết thì sẽ ra sao ? Dân tộc Việt Nam nếu không có tinh thần đoàn kết thì sẽ không bảo vệ được đất nước, không có độc lập, tự do, hòa bình như bây giờ; hay một tập thể không có đoàn kết sẽ dễ bị lung lay, đổ vỡ là con mồi cho những thế lực thù địch; hay thực tế hơn, một công ty không có sự đoàn kết sẽ dẫn tới xung đột nội bộ, bị lộ những bí mật của công ty,... dẫn tới phá sản rồi nhiều người mất việc, chất lượng cuộc sống của nhân dân giảm,...

Bên cạnh đó, để phát huy tinh thần đoàn kết với mỗi cá nhân nên đặt lợi ích chung lên lợi ích của cá nhân. Lên án những người không có sự đoàn kết: phê phán các cá nhân sống ích kỷ, hẹp hòi chỉ nghĩ cho bản thân mình, tự tách mình ra khỏi xã hội; lên án những kẻ có âm mưu chia rẽ khối đại đoàn kết dân, bởi những kẻ hẹp hòi ấy sẽ là mầm mống cho sự chia rẽ trong tập thể. Hiểu rõ sức mạnh đoàn kết và cố gắng phát huy tinh thần đó trong tổ chức, tập thể là điều tất yếu nhất mà một cá nhân cần có.

Tóm lại, đoàn kết là chìa khóa dẫn đới thành công, giúp con người có thể vượt qua mọi thử thách trong cuộc sống, mỗi cá nhân cần rèn luyện và phát huy tinh thần đoàn kết bởi khi tất cả cùng đồng lòng sẽ không có thử thách nào là không thể vượt qua.


Câu 1

Phương thức biểu đạt chính: Biểu cảm

Câu 2

Nhân "vật" tôi trong bài thơ đã trở thành sợi chỉ từ cái bông

Câu 3

- Biện pháp tu từ: Ẩn dụ ( Mượn hình ảnh các sợi chỉ khi đã được dệt thành một tấm vải chắc chắn để nói lên tinh thần đoàn kết toàn dân )

- Phân tích

+ Từ hình ảnh những sợi chỉ được dệt thành một tấm vải chắc chắn "bền hơn lụa lại, điều hơn da" cho thấy sự đoàn kết sẽ giúp một tập thể vững chắc hơn

+ Từ đó nhấn mạnh sự đoàn kết là lực lượng để vượt qua mọi trở ngại, mang tới vẻ vang cho một tập thể, một đất nước

+ Tăng tính gợi hình gợi cảm giúp cho câu thơ thêm sinh động hấp dẫn, lôi cuốn người đọc người nghe

Câu 4

- Đặc tính

+ Nhỏ, yếu, dễ đứt, dễ rời.

+ Nhưng khi đan vào thì rất chắc chắn và bền bỉ

- Sức mạnh của sợi chỉ nằm ở sự liên kết, đoàn kết giữa các sợi chỉ nhỏ tạo thành một khối vững chắc, giống như sức mạnh của toàn cộng đồng, toàn tập thể nào đó cùng chung tay hành động

Câu 5

- Bài học ý nghĩa nhất là tinh thần đoàn kết, chúng ta đoàn kết với những người khác và mọi người đoàn kết với nhau. Từ đó tạo nên sức mạnh phi thường, tạo sự tin tưởng đối với lẫn nhau, từ đó giúp một cộng đồng, một tập thể phát triển vững mạnh