Lê Hạ Vy

Giới thiệu về bản thân

Chào mừng bạn đến với trang cá nhân của Lê Hạ Vy
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
(Thường được cập nhật sau 1 giờ!)

Câu 1

 Bài thơ “Bàn giao” của Vũ Quần Phương là một khúc tâm tình nhẹ nhàng, sâu lắng về sự tiếp nối giữa các thế hệ. Trong hình ảnh ông bàn giao cho cháu không chỉ có sự chuyển giao vật chất hay ký ức, mà còn là một thông điệp yêu thương và đầy trách nhiệm. Ông không trao lại những khổ đau, mất mát của cuộc đời mà chọn giữ lại cho mình, chỉ bàn giao cho cháu những gì trong trẻo, ấm áp nhất: hương mùa thu, mùi ngô nướng, tháng Giêng hương bưởi, cỏ mùa xuân… Những chi tiết ấy gợi nên vẻ đẹp bình dị, thân thuộc của quê hương, đất nước, đồng thời là kết tinh của tình yêu cuộc sống. Ngay cả “một chút buồn, chút cô đơn”, ông cũng gửi gắm như một phần tất yếu của hành trình làm người, để cháu thêm mạnh mẽ, vững vàng. Bài thơ không chỉ là lời dặn dò chân thành mà còn là lời nhắc nhở mỗi chúng ta hãy biết trân trọng những giá trị đã được truyền lại, sống tử tế, sống đẹp để xứng đáng với sự tin yêu mà thế hệ trước đã dành trọn.

Câu 2

Tuổi trẻ – khoảng thời gian đẹp đẽ và rực rỡ nhất trong cuộc đời mỗi con người, tựa như buổi sớm mai với ánh nắng đầu ngày đầy tươi mới, hứa hẹn. Nhưng tuổi trẻ không chỉ là những giấc mơ được ươm mầm, mà còn là những hành trình dấn thân, tìm kiếm và khẳng định chính mình. Trên hành trình ấy, “trải nghiệm”  chính là ngọn lửa thử vàng, là hành trang quý giá để người trẻ lớn lên, trưởng thành và sống một cuộc đời có ý nghĩa.

Trải nghiệm là khi người trẻ rời khỏi chiếc vỏ an toàn của mình để bước vào đời, đối mặt với thực tế nhiều khi khắc nghiệt, nhưng cũng đầy sắc màu. Đó là khi ta bắt đầu làm một công việc đầu tiên, đi xa một mình, học cách tự quyết định, tự chịu trách nhiệm cho những lựa chọn của mình. Trải nghiệm có thể là những thành công nho nhỏ mang lại niềm tin, nhưng cũng có thể là những vấp ngã khiến ta đau, những thất bại khiến ta hoài nghi bản thân. Thế nhưng, chính qua những lần như thế, người trẻ học được cách đứng lên, biết đâu là giới hạn và đâu là ước mơ mình cần theo đuổi.

Tuổi trẻ không thể thiếu trải nghiệm, bởi nếu chỉ sống trong khuôn mẫu, trong vùng an toàn êm ấm, ta sẽ mãi mãi không biết bản thân mình có thể đi xa đến đâu, mạnh mẽ đến mức nào. Mỗi trải nghiệm như một vết xước nhỏ trên chiếc lá xanh của cuộc đời, nhưng chính những vết xước ấy lại làm nên vẻ đẹp chân thực và sống động cho tuổi trẻ. Không ai trở thành người lớn chỉ nhờ thời gian, người ta chỉ trưởng thành khi đã đi qua những chặng đường tự mình lựa chọn, tự mình sai, và cũng tự mình sửa.

Dẫu vậy, trải nghiệm cũng cần sự chọn lọc và định hướng. Tuổi trẻ không nên chạy theo mọi điều mới mẻ một cách mù quáng, mà cần biết lắng nghe, suy nghĩ và cân nhắc đâu là điều đáng để học hỏi, để theo đuổi. Trải nghiệm không phải là đi thật xa, làm thật nhiều, mà là biết sống sâu sắc với từng điều mình đã làm, đã đi qua.

Tuổi trẻ là một mùa hoa ngắn ngủi  nhưng nếu ta dám sống, dám trải nghiệm, mùa hoa ấy sẽ nở rộ rực rỡ và để lại hương thơm lâu dài trong ký ức. Hãy để mỗi ngày trôi qua không chỉ là một ngày sống, mà là một ngày đáng sống, đáng nhớ. Bởi lẽ, những trải nghiệm hôm nay sẽ là hành trang theo ta suốt cả hành trình dài rộng của cuộc đời.

Câu 1

-Thể thơ: Tự do

Câu 2

Trong bài thơ, người ông sẽ bàn giao cho cháu:

- Những điều đẹp đẽ như: gió heo may, góc phố với mùi ngô nướng, tháng giêng hương bưởi, mùa xuân xanh, những gương mặt đẫm nắng, yêu thương trên trái đất.

- Một chút buồn, ngậm ngùi, chút cô đơn, và câu thơ về nghị lực sống "Cắn răng mà chịu thiệt, vững gót để làm người"

Câu 3

-Ở khổ thơ thứ hai, người ông không muốn bàn giao cho cháu những thứ như: những tháng ngày vất vả, sương muối lạnh giá,..

-Người ông chẳng bàn giao cho cháu vì:

+  Những thứ đó là những dấu hiệu của sự lam lũ, vất vả: những tháng ngày vất vả; sương muối đêm bay lạnh mặt người; của cuộc sống chiến tranh, loạn lạc, đau thương: đất rung chuyển, xóm làng loạn lạc; ngọn đèn mờ, mưa bụi rơi mà thế hệ ông đã phải trải qua, ông không muốn cháu phải hứng chịu những điều ấy.

+ Vì ông rất yêu thương cháu, mong cháu và thế hệ của cháu được sống cuộc sống hoà bình, ấm no, hạnh phúc.

Câu 4

- Biện pháp được sử dụng trong bài thơ: điệp ngữ - bàn giao

- Tác dụng:

+ Tạo liên kết, tạo nhịp điệu, giúp cho cách diễn đạt trở nên sinh động, hấp dẫn

+ Từ bàn giao được điệp đi điệp lại xuyên suốt bài thơ nhấn mạnh những điều mà người ông muốn và không muốn bàn giao, trao gửi lại cho người cháu. Từ đó, thể hiện tình cảm yêu thương, mong muốn tốt đẹp mà người ông - cũng là thế hệ đi trước dành cho người cháu - thế hệ sau.

Câu 5

Trước những điều quý giá được thế hệ cha ông bàn giao, chúng ta cần có thái độ biết ơn sâu sắc vì những hy sinh, đóng góp mà họ đã dành cho thế hệ hôm nay. Đồng thời, cần trân trọng và tự hào về những giá trị văn hóa, truyền thống và thành quả mà cha ông để lại. Mỗi người trẻ phải có ý thức giữ gìn, bảo vệ những di sản ấy như một phần máu thịt của dân tộc. Không chỉ tiếp nhận, chúng ta còn phải phát huy và làm phong phú thêm những giá trị đó bằng sự nỗ lực học tập, lao động và cống hiến. Có như vậy, chúng ta mới có thể tiếp tục bàn giao lại cho thế hệ mai sau một cách trọn vẹn và ý nghĩa nhất.

Câu 1

Bức tranh quê trong đoạn thơ Trăng hè của Đoàn Văn Cừ mang vẻ đẹp giản dị, yên bình mà sâu lắng. Không gian làng quê hiện lên tĩnh lặng với tiếng võng kẽo kẹt, ánh trăng lấp loáng và bóng cây lơi lả bên hàng dậu. Những hình ảnh thân quen như ông lão nằm chơi giữa sân, đứa trẻ ngắm bóng con mèo dưới chân tạo nên một khung cảnh đời thường đầy chất thơ. Thiên nhiên và con người hòa quyện trong sự thanh thản, thư thái, gợi lên cảm giác ấm áp, gần gũi. Vẻ đẹp ấy không rực rỡ mà nhẹ nhàng, chạm đến trái tim người đọc bằng sự chân thật và mộc mạc. Đó không chỉ là một bức tranh, mà còn là một phần ký ức, một nếp sống bình yên của làng quê Việt Nam xưa.

Câu 2

Tuổi trẻ là khoảng thời gian tươi đẹp và rực rỡ nhất trong cuộc đời mỗi con người. Đó là khi ta mang trong mình khát vọng lớn lao, trái tim nhiệt huyết và niềm tin mãnh liệt vào tương lai. Nhưng tuổi trẻ không chỉ là để mơ ước, mà còn là lúc phải hành động và nỗ lực không ngừng. Trong hành trình trưởng thành, nỗ lực hết mình chính là yếu tố then chốt giúp mỗi người khẳng định giá trị bản thân, chạm đến thành công và sống một cuộc đời không hối tiếc.

Nỗ lực hết mình là khi con người dành toàn bộ tâm sức, thời gian và tinh thần để theo đuổi mục tiêu đã đặt ra. Đó là sự kiên trì không bỏ cuộc khi đối mặt với thất bại, là tinh thần cầu tiến luôn sẵn sàng học hỏi và không ngừng hoàn thiện bản thân. Đặc biệt với tuổi trẻ – giai đoạn sung sức nhất về cả thể chất lẫn trí tuệ – thì nỗ lực không chỉ cần thiết mà còn là lẽ sống. Bởi nếu không cố gắng trong những năm tháng thanh xuân, con người sẽ rất dễ đánh mất cơ hội quý giá để tạo dựng tương lai.

Sống trong một xã hội đầy biến động và cạnh tranh như hiện nay, người trẻ càng cần ý thức rõ về giá trị của sự cố gắng. Không ai sinh ra đã giỏi, đã thành công. Chính quá trình rèn luyện và nỗ lực không ngừng mới tạo nên bản lĩnh, tri thức và kinh nghiệm sống. Mỗi bước đi dù nhỏ nhưng đầy quyết tâm sẽ đưa người trẻ tiến gần hơn đến ước mơ. Và điều quan trọng là, qua mỗi lần vấp ngã, người trẻ học cách đứng dậy, mạnh mẽ hơn, kiên định hơn. Đó chính là món quà quý giá mà nỗ lực mang lại.

Thực tế đã chứng minh điều ấy qua nhiều tấm gương truyền cảm hứng. Lê Công Vinh – từ một cậu bé nghèo, không có gì ngoài niềm đam mê bóng đá và ý chí mạnh mẽ – đã vươn lên trở thành một trong những cầu thủ xuất sắc nhất Việt Nam. Hay như Greta Thunberg – cô gái tuổi teen người Thụy Điển – bằng những hành động thiết thực và tinh thần bền bỉ, đã trở thành biểu tượng toàn cầu trong cuộc chiến chống biến đổi khí hậu. Họ không có gì đặc biệt ngoài sự nỗ lực phi thường – và chính điều đó đã làm nên sự khác biệt.

Tuy nhiên, vẫn còn nhiều bạn trẻ chưa nhận thức được giá trị của việc nỗ lực. Có người sống buông thả, chỉ lo hưởng thụ, đắm chìm vào mạng xã hội, ngại thay đổi, sợ thất bại. Một số khác lại dễ dàng từ bỏ mục tiêu khi gặp khó khăn, sống mà không có định hướng rõ ràng. Đó là lối sống dễ khiến con người rơi vào trạng thái lạc lõng, mất phương hướng và hối tiếc khi nhìn lại quãng đời tuổi trẻ đã qua.

Tuổi trẻ không lặp lại lần hai. Vì vậy, mỗi người hãy học cách sống có mục tiêu, biết lập kế hoạch và không ngừng nỗ lực để hoàn thiện bản thân. Dù đường đi có khó khăn, hãy nhớ rằng từng bước cố gắng hôm nay là nền tảng cho thành công ngày mai. Đừng sợ thất bại, vì mỗi lần vấp ngã chính là một bài học giúp ta trưởng thành và mạnh mẽ hơn.

Sự nỗ lực hết mình trong tuổi trẻ không chỉ giúp con người đạt được ước mơ, mà còn là cách sống đẹp, sống có trách nhiệm với chính cuộc đời mình. Một tuổi trẻ tràn đầy nhiệt huyết, không ngừng cố gắng chính là hành trang quý giá nhất để bước vào tương lai vững vàng, tự tin và không hối tiếc.

Câu 1

Ngôi kể : Ngôi thứ ba

Câu 2

-Chị Bớt vui mừng khi mẹ về ở chung

-Khi mẹ đến ở chung, chị Bớt rất mừng và cảm thấy như được giảm bớt gánh nặng.

-Chị Bớt lo lắng cho mẹ và không muốn mẹ cảm thấy phiền hà , nhắc nhở mẹ nghĩ kỹ về việc ở chung, để mẹ không cảm thấy phiền phức trong tương lai.

Câu 3

Chị Bớt là một người hiền lành, biết hiếu thảo và có tấm lòng nhân hậu . Mặc dù trước đây chị từng bị mẹ phân biệt đối xử, chị vẫn dành tình cảm và sự chăm sóc cho mẹ, thể hiện chị có tấm lòng bao dung và vị tha, có trách nhiệm với gia đình

Câu 4

Chị Bớt muốn an ủi mẹ, giúp mẹ hiểu rằng chị không có bất kỳ ý kiến hay sự chỉ trích nào đối với mẹ. Đây cũng là cách chị bày tỏ sự tha thứ và tôn trọng mẹ, dù mẹ đã từng phân biệt đối xử với chị trong quá khứ.

Câu 5

Tha thứ không chỉ là quên đi lỗi lầm, mà là mở lòng để yêu thương nhiều hơn. Tình yêu thương giúp con người xích lại gần nhau, chữa lành vết thương và xây dựng hạnh phúc. Khi biết tha thứ, ta cũng học được cách sống bao dung và nhẹ nhàng. Đó là chìa khóa để cuộc sống trở nên ý nghĩa và trọn vẹn hơn.

Câu 1

Việc bảo vệ môi trường ngày nay càng trở nên quan trọng hơn bao giờ hết. Chúng ta đang đối mặt với những hậu quả nghiêm trọng của biến đổi khí hậu, ô nhiễm và sự mất mát của các hệ sinh thái. Chính những tác động này không chỉ đe dọa đến sự sống của hàng triệu loài sinh vật, mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc sống con người. Những hiện tượng như "tiếc thương sinh thái" thể hiện rõ ràng rằng khi môi trường bị tổn hại, chúng ta không chỉ mất đi tài nguyên thiên nhiên mà còn phải đối mặt với nỗi đau tinh thần, mất mát văn hóa, bản sắc. Vì vậy, việc bảo vệ môi trường không chỉ là trách nhiệm của một quốc gia, mà là của mỗi cá nhân trong cộng đồng. Bảo vệ môi trường là bảo vệ sức khỏe, bảo vệ nền tảng cuộc sống và tương lai của chính chúng ta. Chúng ta cần hành động ngay từ bây giờ để giảm thiểu ô nhiễm, bảo vệ tài nguyên thiên nhiên và duy trì sự cân bằng sinh thái, vì chỉ có một môi trường khỏe mạnh, chúng ta mới có thể tồn tại và phát triển bền vững.

Câu 2

Trong văn học trung đại, hình tượng người ẩn sĩ là biểu tượng cho nhân cách thanh cao, sống xa lánh danh lợi, hòa mình với thiên nhiên để giữ gìn phẩm hạnh giữa thời cuộc rối ren. Hai bài thơ “Nhàn” của Nguyễn Bỉnh Khiêm và “Thu vịnh” của Nguyễn Khuyến đều xây dựng hình ảnh người ẩn sĩ tiêu biểu, tuy giống nhau ở lý tưởng sống nhưng lại mang những sắc thái tâm trạng và biểu hiện riêng biệt.

 Cả hai bài thơ đều khắc họa hình tượng người ẩn sĩ cao khiết, chọn cách "độc thiện kỳ thân" giữa thời buổi nhiễu nhương. Đó là những con người tìm về với thiên nhiên để giữ đạo làm người, sống thanh nhàn, giản dị, không bị cuốn vào vòng xoáy danh lợi. Họ ẩn cư không phải vì trốn tránh mà là sự lựa chọn có ý thức, để giữ lấy tâm hồn trong sạch giữa xã hội đầy biến động.

 Tuy nhiên, sự thể hiện hình tượng người ẩn sĩ trong hai bài thơ có những điểm khác biệt rõ nét. Trong “Nhàn”, người ẩn sĩ sống giữa thiên nhiên một cách an nhiên, thư thái. Cuộc sống lao động và sinh hoạt giản dị được thể hiện qua hình ảnh “một mai, một cuốc, một cần câu”, hay “thu ăn măng trúc, đông ăn giá”. Tác giả thể hiện một triết lý sống sâu sắc: coi danh lợi như mộng, lựa chọn sống “dại” để giữ lấy phẩm cách, thực ra lại là sự “khôn” vượt lên trên người đời.

 Ngược lại, trong “Thu vịnh”, hình tượng người ẩn sĩ hiện lên giữa khung cảnh thu tĩnh lặng, đẹp mà u buồn. Cảnh vật như phản chiếu nội tâm người thi sĩ: trời thu xanh, gió hiu hắt, trăng vào song thưa. Tưởng như say mê thiên nhiên, nhưng ẩn sâu là nỗi ưu tư thế sự và tâm trạng trĩu nặng. Câu cuối “Nghĩ ra lại thẹn với ông Đào” cho thấy sự hổ thẹn, day dứt khi soi mình vào gương mẫu ẩn sĩ xưa. Người ẩn sĩ trong bài thơ không hoàn toàn thanh thản, mà mang nỗi buồn vì thời cuộc, vì từng bất đắc dĩ dính vào chốn quan trường.

 Sự tương đồng và khác biệt ấy xuất phát từ hoàn cảnh lịch sử, tâm thế sáng tác và phong cách riêng của mỗi tác giả. Một người thể hiện lý tưởng sống nhàn nhã với tâm thế chủ động, một người thể hiện sự trăn trở giữa thời thế biến động. Dù khác nhau, cả hai đều góp phần làm nổi bật vẻ đẹp của hình tượng ẩn sĩ – biểu tượng cho khí tiết, nhân cách và bản lĩnh của người trí thức xưa.

Qua hai bài thơ “Nhàn” và “Thu vịnh”, hình tượng người ẩn sĩ hiện lên với vẻ đẹp thanh cao, sống xa lánh danh lợi để giữ trọn đạo lý và nhân cách. Dù mỗi tác phẩm mang màu sắc riêng, cả hai đều thể hiện lý tưởng sống đẹp, giàu giá trị nhân văn, đồng thời phản ánh tâm hồn sâu sắc của những con người luôn trăn trở với cuộc đời và thời cuộc. Đây chính là những giá trị bền vững, khiến hai bài thơ mãi còn vang vọng trong lòng người đọc hôm nay.

Câu 1

 Hiện tượng “tiếc thương sinh thái” là nỗi đau khổ trước những mất mát về sinh thái mà con người hoặc là đã trải qua, hoặc là tin rằng đang ở phía trước .

Câu 2

Trình bày thông tin theo mối quan hệ nguyên nhân – kết quả : từ nguyên nhân (biến đổi khí hậu) dẫn đến hậu quả (tâm lí tiếc thương sinh thái và các biểu hiện của nó).

Câu 3

Các con số thống kê, các công trình nghiên cứu, những suy luận logic và những ví dụ thực tiễn để cung cấp  thông tin

Câu 4

Tác giả tiếp cận vấn đề biến đổi khí hậu chủ yếu từ góc độ tâm lý và cảm xúc, đặc biệt là sự xuất hiện của "tiếc thương sinh thái". Bằng cách sử dụng bằng chứng cụ thể, tác giả nhấn mạnh những tác động tinh thần sâu sắc mà biến đổi khí hậu gây ra, không chỉ ở những người trực tiếp chịu ảnh hưởng mà còn lan rộng đến cả cộng đồng nói chung.

Câu 5

Biến đổi khí hậu không chỉ tàn phá môi trường mà còn gây ra những tổn thương sâu sắc đến tinh thần và bản sắc văn hóa của con người . Chúng ta cần nhận thức sâu sắc về mối quan hệ giữa con người và thiên nhiên, đồng thời hành động mạnh mẽ hơn để bảo vệ môi trường.

Câu 1

Bài thơ “Ca sợi chỉ” của Hồ Chí Minh là một áng thơ ngắn gọn nhưng chứa đựng tư tưởng lớn lao về tinh thần đoàn kết dân tộc. Qua hình tượng sợi chỉ – một vật nhỏ bé, yếu ớt – Bác đã khéo léo gửi gắm thông điệp sâu sắc: một cá nhân đơn lẻ thì dễ bị quật ngã, nhưng khi biết gắn bó, liên kết với nhau thì sẽ tạo nên sức mạnh phi thường. Hình ảnh những sợi chỉ “họp nhau sợi dọc, sợi ngang” dệt nên “tấm vải mỹ miều” tượng trưng cho sức mạnh tập thể, cho khối đại đoàn kết toàn dân. Câu thơ nhẹ nhàng, mộc mạc, sử dụng ngôn ngữ đời thường nhưng lại rất thấm thía, giàu sức lay động. Từ đó, Bác kêu gọi mọi người dân – con cháu Hồng Bàng – hãy đoàn kết và tham gia vào Việt Minh, cùng nhau đấu tranh giành lại độc lập cho đất nước. Bài thơ không chỉ thể hiện trí tuệ và tấm lòng của một nhà cách mạng, mà còn cho thấy tâm hồn nhạy cảm, gần gũi với nhân dân của một thi sĩ lớn. Đây là minh chứng rõ nét cho quan điểm nghệ thuật vì dân, vì nước của Hồ Chí Minh.

Câu 2

“Không có ai trong chúng ta mạnh bằng tất cả chúng ta”. Lịch sử dân tộc ta đã chứng minh đó là một chân lý vô cùng đúng đắn. Tinh thần đoàn kết đã trở thành một truyền thống quý báu của dân tộc ta từ xưa đến nay.

Đoàn kết là sự hợp tác chung tay góp sức để kết thành một khối thống nhất. Sự thống nhất này cả về tư tưởng lẫn hành động nhằm thực hiện một mục đích chung. Mục đích của đoàn kết là nhằm đem lại lợi ích và phát triển của tập thể. Đoàn kết là một truyền thống tốt đẹp của nhân dân ta từ bao đời nay. Tinh thần ấy thể hiện qua sự tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau bằng những hành động cụ thể. Nhất là những khi gặp hoạn nạn, khó khăn.

Khi đất nước có giặc ngoại xâm, toàn thể dân tộc đoàn kết, đồng lòng chống giặc cứu nước. Toàn dân quyết tâm bảo vệ, gìn giữ nền độc lập và chủ quyền dân tộc. Họ đã không ngần ngại gian khổ, hy sinh, quyết tâm chống giặc cứu nước. Trải qua mấy nghìn năm, tinh thần ấy không ngừng lớn mạnh trở thành phẩm chất cao quý của dân tộc.

Khi đất nước hòa bình, tinh thần đoàn kết thể hiện trong những hành động chung tay xây dựng tổ quốc. Trước hết là khắc phục những khăn của đất nước sau chiến tranh, từng bước khôi phục nền kinh tế. Tiếp theo là xây dựng cuộc sống văn hóa tốt đẹp, xã hội phồn vinh, hạnh phúc.

Tinh thần đoàn kết còn thể hiện trong lối sống hiền hòa, quý trọng tình nghĩa. Đoàn kết tương trợ giúp đỡ lẫn nhau vượt lên trên nghịch cảnh. Dù còn nhiều khó khăn xong tinh thần đoàn kết của dân tộc lúc nào cũng khẳng định được sức mạnh của nó.

Trong bối cảnh ngày nay, tinh thần ấy một lần nữa được khẳng định mạnh mẽ. Trên mặt trận chính trị, nhân dân cả nước đồng lòng chống lại mọi âm mưu phá hoại của các thế lực thù địch. Nhân dân đồng lòng nhất quyết không tiếp tay cho mọi hành động đi ngược lại với chủ trương của Đảng và nhà nước. Quyết chí bảo vệ biên cương, biển đảo trước âm mưu xâm chiếm của kẻ thù.

Đoàn kết là tập hợp mọi người thành một khối thống nhất, gắn kết chặt chẽ với nhau, không thể tách rời. Đoàn kết là cùng đồng lòng chung sức, hỗ trợ nhau để giải quyết công việc. Sự kết hợp ấy sẽ tạo nên sức mạnh to lớn giúp chúng ta vượt qua mọi khó khăn, rào cản vật chất cũng như tinh thần, đem lại kết quả tốt đẹp cho cuộc sống.

Đoàn kết chung với nhau không có nghĩa là nhất thiết phải chọn được người toàn diện. Dù là người có năng lực vượt trội hơn người khác đi nữa nhưng nếu thiếu tinh thần đoàn kết với tập thể, mỗi cá nhân sẽ khó đi đến thành công. Thế nên, sự đoàn kết mang chúng ta đến gần nhau hơn để dễ dàng giúp đỡ lẫn nhau. Sự bền vững của tinh thần đoàn kết cũng có vai trò quan trọng trong tập thể, xã hội.

Đoàn kết là sức mạnh to lớn. Hồ Chủ Tịch từng nói: “Đoàn kết là sức mạnh vô địch”. Người cũng nhấn mạnh rằng: “Đoàn kết thì sống, chia rẽ thì chết”. Sức mạnh ấy là sự tổng hợp tài năng, tinh hoa, trí tuệ của mỗi cá nhân để giải quyết mọi việc một cách nhanh chóng. Bởi một cá nhân dù tài năng đến đâu cũng không thể đạt được mục đích nếu không có sự giúp sức của nhiều người.

Mọi người đều phải đoàn kết khi tất cả cùng nhìn về một hướng, biết đặt lợi ích chung lên cao nhất. Tinh thần đoàn kết chỉ có khi con người biết quan tâm, cảm thông lẫn nhau. Mỗi con người là một tế bào của xã hội, đều có những quan hệ, gắn bó mật thiết lẫn nhau. Do đó, đoàn kết chính là chiếc chìa khóa vàng để dẫn đến mọi thành công. Phát huy tinh thần đoàn kết trong cộng đồng, xã hội, tập thể. Tăng cường xây dựng khối đại đoàn kết vững mạnh cùng hướng đến lợi ích chung, phát huy cao tinh thần tập thể.

Trong xã hội còn có nhiều người không có tinh thần đoàn kết. Họ sống cá nhân, ích kỷ, chỉ biết đến lợi ích bản thân. Họ sống thờ, ơ vô cảm, không quan tâm đến cộng đồng. Người ích kỷ thường tách mình ra khỏi tập thể, né tránh những trách nhiệm chung. Những người như thế thật đáng chê trách.

Sống phải biết đoàn kết. Đoàn kết đem lại sức mạnh vô địch. Là học sinh chúng ta phải biết quan tâm, giúp đỡ bạn bè, phát huy cao tinh thần đoàn kết trong tập thể để xây dựng tập thể vững mạnh. Biết phấn đấu trong học tập, rèn luyện nhân cách trong sáng, bản lĩnh vững vàng trở thành người hữu ích mai nay đem sức mình xây dựng quê hương đất nước.

Tinh thần đoàn kết là một trong những giá trị tinh thần quý báu của dân tộc ta. Phải biết đoàn kết để cùng bảo vệ nền hòa bình dân tộc và xây dựng đất nước ngày càng phồn vinh, hạnh phúc. Một khi con người không biết đoàn kết, không những không thành công mà còn phải nhận lấy những thất bại nặng nề trong cuộc sống.


Câu 1:

-Phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong bài là: Biểu cảm.

Câu 2:

-Nhân vật “tôi” trong bài thơ đã trở thành sợi chỉ từ: Cái bông.

Câu 3 :

-Biện pháp tu từ có trong đoạn thơ là so sánh:

 “Dệt nên tấm vải mỹ miều,

 Đã bền hơn lụa, lại điều hơn da.”

- Tác dụng:

+ Làm câu thơ trở nên sinh động, hấp dẫn hơn.

+ Nhấn mạnh vẻ đẹp và sự vững bền của tình đoàn kết.

Câu 4 :

-Đặc tính :

+ Yếu, dễ đứt, dễ rời.

+ Nhưng khi đan vào thì lại rất chắc chắn và bền bỉ.

- Sức mạnh chủ yếu của sợi chỉ nằm ở việc có thể kết hợp với các sợi chỉ khác để tạo nên một mảnh vải đẹp, đó là sức mạnh của sự đoàn kết, tạo thành một khối vững chắc, giống như sức mạnh của cộng đồng, tập thể khi cùng nhau chung tay hành động.

Câu 5 :

-Bài học đó là tinh thần đoàn kết có thể tạo nên sức mạnh phi thường, giúp tập thể phát triển vững mạnh. Ta phải biết cùng nỗ lực để đạt đến thành công.