Hoàng Thị Hoa
Giới thiệu về bản thân
a, phân tích đặc điểm về biển, đảo duyên hải Nam Trung Bộ:
+bờ biển: khúc khuỷu , nhiều vũng vịnh (như Vịnh Vân Phong, cam ranh, Dung quất...) tạo điều kiện thuận lợi để xây dựng các cảng nước sâu và phát triển du lịch
+vùng biển: rộng lớn với nguồn hải sản phong phú, nhiều bãi tôm, bãi cá
+hệ thống đảo: sở hữu nhiều đảo và quần đảo lớn nhỏ, trong đó quan trọng nhất là hai quần đảo xa bờ Hoàng Sa và Trường Sa, các đảo bên bờ có nghề khai thác tổ yến mang lại giá trị kinh tế cao
+tài nguyên khác: biển có đồ mặn cao, nhiều nắng, thuận lợi cho nghề làm muối. dưới đáy biển có tiềm năng về dầu khí và khoáng sản cát Thủy Tinh
b, sự phát triển và phân bố một số ngành kinh tế biển ,duyên hải Nam Trung Bộ:
+phát triển: sản lượng đánh mất lớn nhất cả nước, chú trọng nuôi chồng các loại hải sản quý
+phân bố: tất cả các tỉnh đều phát triển, mạnh nhất là Bình Thuận và Ninh Thuận
-du lịch biển, đảo:
+phát triển: hình thành nhiều trung tâm du lịch nghỉ dưỡng, thể thao biển tầm cỡ quốc tế
+phân bố: tập trung tại Đà Nẵng ,Nha Trang, Mũi Né, quy Nhơn
-dịch vụ hàng hải (giao thông vận tải biển):
+phát triển: xây dựng hệ thống cảng biển tổng hợp và cả nước sâu để giao thương quốc tế
+phân bố: các cảng lớn như tiên sa (Đà Nẵng), kỳ Hà (Quảng Nam), Dung quất (Quảng ngãi), quy Nhơn, cam ranh
-khai thác khoáng sản biển:
+phát triển: sản xuất muối quy mô lớn; khai thác dầu khí ở thềm lục địa phía nam
+phân bố: nghề mới tập trung ở cà ná (Ninh Thuận), Sa Huỳnh (Quảng ngãi). khai thác dầu khí ở vùng biển cực Nam Trung Bộ
Quá trình hình thành loài hươu cao cổ theo quan điểm của Darwin: - Quá trình sinh sản đã phát sinh nhiều biến dị sai khác về kích thước cổ giữa các cá thể thuộc loài hươu. - Những lá non ở dưới thấp hết dần, cá thể hươu nào có cổ dài ăn được lá cây trên cao thì sống sót, còn những cá thể hươu cổ ngắn không ăn được lá cây trên cao thì sẽ chết. - Qua nhiều thế hệ, kết quả hình thành loài hươu cổ dài ăn được lá cây trên cao.
- Nhóm gene liên kết là tập hợp các gene cùng nằm trên một nhiễm sắc thể (NST), chúng có xu hướng di truyền cùng với nhau trong quá trình phân bào và thụ tinh. Số nhóm gene liên kết ở mỗi loài thường tương ứng với số nhiễm sắc thể trong bộ đơn bội của loài đó.
- Morgan chọn ruồi giấm làm đối tượng nghiên cứu vì:
+ Ruồi giấm dễ nuôi trong ống nghiệm. + Ruồi giấm đẻ nhiều, vòng đời ngắn (10 - 14 ngày đã cho một thế hệ).
+ Ruồi giấm có nhiều biến dị dễ quan sát, số lượng nhiễm sắc thể ít (2n = 8).
Đột biến gene được xem là nguồn nguyên liệu chính cho quá trình tiến hóa vì so với đột biến nhiễm sắc thể thì:
- Đột biến gene tạo ra alele mới, là nguồn nguyên liệu sơ cấp của tiến hóa.
- Đột biến gene phổ biến hơn. Tuy tần số đột biến của từng gene là thấp nhưng tần số đột biến chung của tất cả các gene trong mỗi quần thể là khá lớn, do ở mỗi loài có hàng nghìn gene khác nhau.
- Đột biến gene ít ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức sống và sự sinh sản của cơ thể.