Lộc Mai Anh
Giới thiệu về bản thân
Truyện ngắn Bát phở là tác phẩm tiêu biểu của nhà văn Phong Điệp, mang đến cho độc giả một câu chuyện giản dị nhưng đong đầy cảm xúc, khắc họa tình phụ tử thiêng liêng và thực trạng cuộc sống của tầng lớp lao động nông dân ở thành thị. Dưới góc nhìn khách quan nhưng giàu tình cảm của nhân vật "tôi", tác giả đã xây dựng một bức tranh chân thực về những nỗi niềm ẩn sâu trong những chi tiết đời thường nhỏ bé.
Chủ đề cốt lõi của truyện là tình phụ tử thầm lặng và sự hy sinh của người cha dành cho con cái. Hai người cha nông dân từ quê lên Hà Nội đưa con thi đại học, họ bỏ công bỏ việc, chi tiêu tiết kiệm từng đồng để mang đến cho con những điều tốt nhất. Trong quán phở, hai ông bố không dám gọi thêm bát phở cho bản thân, chỉ đặt hai bát phở bò chín và hai quả trứng cho hai cậu con trai, thậm chí còn tần ngần nhìn biển giá trên cửa quán để chắc chắn không vượt quá ngân sách. Họ chia sẻ về những lo toan tài chính ở thành phố: phải trả phòng trọ kịp thời, sẽ mua bánh mì ăn tạm trên đường về bến xe, và chỉ có thể được ăn no đủ khi về quê. Điểm xúc động nhất là chi tiết người cha lục lọi cái ví vải bông chần màu lam, đếm từng tờ hai nghìn, năm nghìn, mười nghìn để gom đủ ba mươi nghìn đồng trả tiền phở, thể hiện sự vất vả và sự kiên trì của người cha nông dân.
Bên cạnh đó, truyện còn khắc họa sự trưởng thành và lòng biết ơn của hai cậu con trai. Chúng không dám khen ngon phở hay đòi hỏi thêm gì, chỉ ngồi cặm cụi ăn phở, thấu hiểu sự hy sinh của cha. Khi nhìn cha đếm từng đồng tiền để trả tiền ăn, hai cậu con trai có gương mặt lộ rõ nỗi âu lo, mệt mệt, nhận thức được rằng họ nợ cha nhiều hơn cả ba mươi nghìn đồng cho hai bát phở.Trước hết, tác giả sử dụng thành công góc nhìn của nhân vật "tôi" làm người quan sát khách quan. Nhân vật "tôi" là khách ăn phở tình cờ chứng kiến câu chuyện, qua đó độc giả có thể cảm nhận trực tiếp những chi tiết nhỏ bé của tình huống, đồng thời chia sẻ những suy ngẫm của nhân vật về sự thiệt thòi và tình cảm gia đình. Ngôn ngữ truyện giản dị, gần gũi, không có câu văn hoa mỹ nhưng giàu sức gợi, khắc họa chân thực những chi tiết tiểu tiết: bộ quần áo đã phai màu, cái ví vải bông chần màu lam, hay câu trả lời "Vâng, gì cũng được" của hai cậu con trai.Thứ hai, tác giả xây dựng tình huống truyện đơn giản nhưng giàu kịch tính ẩn. Chỉ với một quán phở nhỏ ở Hà Nội, một buổi chiều nóng nực, câu chuyện đã hé lộ toàn bộ cuộc sống và nỗi niềm của bốn người. Sự đối lập giữa sự ồn ào của quán phở thành thị và sự lặng lẽ của bốn người quê ngồi một góc tạo ra hiệu ứng mạnh mẽ, làm nổi bật sự lạc lõng nhưng cũng làm tình cảm giữa họ thêm ấm áp.
Cuối cùng, tác giả sử dụng biểu tượng qua hình ảnh bát phở: không đơn thuần là món ăn, mà là biểu tượng cho sự hy sinh, tình yêu và lòng biết ơn của con cha. Mỗi chi tiết liên quan đến bát phở đều góp phần làm nổi bật chủ đề chính của truyện.Bát phở là một truyện ngắn giàu tính nhân văn, khiến độc giả phải dừng lại để suy ngẫm về giá trị của tình yêu thương và sự hy sinh thầm lặng trong gia đình.
câu 1:Văn bản trên bàn luận về bức tranh mùa gặt lúa miền Bắc Việt Nam,vẻ đẹp yên bình và hồn nhiên của không gian mùa gặt,cùng cảm xúc hồn nhiên của người nông dân khi nhìn thấy thành quả lao động của mình.
câu 2:luận điểm chính:"Chưa hết,không gian mùa gặt không chỉ được mở ra trên những cánh đồng ban ngày,nó còn hiện lên ở trong thôn xóm buổi tối",đây là câu chủ đạo đoạn 3,giới thiệu về ý chính về sự hiện diện của không gian mùa gặt vào ban ngày và ban đêm.
Câu 3:a.Thành phần biệt lập 1:đồng lúa rộng quá,màu vàng của lúa chín còn sáng ngợp hơn cả nắng trời:Là bằng chứng cụ thể của giải thích tại sao nắng co vẻ"phá từ cánh đồng lên"
thành phần biệt lập 2:đến nỗi nó làm đảo lộn cả tương quan của tự nhiên trong cảm nhận của con người:Là kết quả cảm nhận của người xem về sự tương phản của ánh nắng và màu lúa chín.
b.Thành phần biệt lập 1:"của một đồng,công một nén là đây":Là trích dẫn câu thơ,nhấn mạnh thành quả lao động được trao đổi bình dị
Thành phần biệt lập 2:"Tay nhè nhẹ chút,người ơi/Trông đôi hạt rụng,hạt rơi xót lòng":Là lời thốt lên tâm xúc,thể hiện sự xót xa,trân trọng với những hạt lúa
câu 4:Đoạn(2) sử dụng cách trích dẫn và mục đích của nó:
các loại cách trích dẫn được sử dụng:
-Trích dẫn trực tiếp :Nhà thơ Nguyễn Duy sử dụng câu:cánh đồng chờ nắng"là 1 thành ngữ,câu nói quen thuộc của người nông dân về cảnh mùa gặt.
-Trích dẫn lời dân gian: Câu "cánh cỏ chở nắng" là một thành ngữ, câu nói quen thuộc của người nông dân về cảnh mùa gặt
-Trích dẫn câu thơ cũ: Như câu "Liềm ngang chân trời" từ bài thơ cổ điển, để tăng sức gợi hình cho khung cảnh đồng lúa.
Mục đích sử dụng dẫn chứng:
-Tăng tính chân thực, gắn kết với kinh nghiệm sống của người dân quê
-Tạo ra bức tranh sống động, giàu hình ảnh thiên nhiên mùa gặt
-Giúp người đọc dễ dàng cảm nhận được không gian yên bình, hồn nhiên của vùng quê miền Bắc.
câu 5:vai trò và lý lẽ trong đoạn(4):
-Xác nhận luận điểm chính: Xác nhận rằng người nông dân luôn có hai thái độ song song: vừa có nỗi lo khi mùa gặt đến, vừa có sự tự hào, hạnh phúc với thành quả lao động
-Giải thích tâm xúc của người nông dân: Sử dụng các câu thơ và tình huống thực tế như "Tay nhè nhẹ chút, người ơi" hay "Thân rơm rách để hạt lành lúa ơi" để làm rõ cảm xúc xót xa, trân trọng của người nông dân với những hạt lúa nhỏ bé
-Liên kết với thời hiện đại: Nhắc đến lo lắng của người nông dân hiện đại vẫn còn nung nấu tình cảm với ruộng lúa, khẳng định tình cảm gắn bó với quê hương không bao giờ thay đổi.
câu 6:Điểm đặc biệt nhất trong nghệ thuật nghị luận của tác giả Trần Hoà Bình:Điểm đặc biệt nhất là sử dụng ngôn ngữ giản dị,gắn liền với kinh nghiệm sống của người dân quê,kết hợp trích dẫn thơ cổ và câu nói dân gian để làm rõ luận điểm mà không hề khô khan,cứng nhắc.Vì tác giả không sử dụng ngôn ngữ khoa học, khô khan mà thay vào đó sử dụng các hình ảnh quen thuộc như cánh cỏ, hạt lúa, tiếng máy gặt lúa để giúp người đọc dễ dàng đồng cảm.Việc kết hợp trích dẫn thơ giúp tăng tính thẩm mỹ cho bài viết, đồng thời làm rõ hơn tâm xúc của người nông dân và bức tranh mùa gặt