CHU VIỆT ANH
Giới thiệu về bản thân
Câu 1.
Tiếc thương sinh thái là trạng thái tâm lí đau khổ của con người trước những mất mát về môi trường tự nhiên (đã xảy ra hoặc được dự báo sẽ xảy ra), như sự biến mất của loài sinh vật hay sự thay đổi cảnh quan do biến đổi khí hậu gây ra.
Câu 2.
Bài viết trình bày theo trình tự: Giới thiệu hiện tượng (nêu vấn đề) giải thích khái niệm dưa ra dẫn chứng thực tế phân tích tác động mở rộng phạm vi ảnh hưởng
Câu 3.
Tác giả sử dụng nhiều bằng chứng cụ thể như: Nghiên cứu của Cunsolo và Ellis về người Inuit (Canada) và nông dân Australia lời chia sẻ trực tiếp của người Inuit thực tế cháy rừng Amazon và ảnh hưởng tới các cộng đồng bản địa lết quả khảo sát của Caroline Hickman về tâm lí thanh thiếu niên ở nhiều quốc gia
Câu 4.
Tác giả tiếp cận vấn đề biến đổi khí hậu , không chỉ nhấn mạnh thiệt hại môi trường mà còn làm nổi bật tác động sâu sắc đến đời sống tinh thần con người. Cách tiếp cận này mới mẻ, giúp người đọc nhận thức vấn đề một cách toàn diện hơn.
Câu 5.
Thông điệp sâu sắc nhất mà em nhận được từ vài viết : Biến đổi khí hậu không chỉ hủy hoại môi trường mà còn gây tổn thương tinh thần cho con người, vì vậy mỗi cá nhân cần ý thức và hành động để bảo vệ thiên nhiên trước khi những mất mát trở nên không thể cứu vãn.
Câu 2
Trong văn học trung đại Việt Nam, hình tượng người ẩn sĩ thường gắn với lối sống thanh cao, xa lánh danh lợi. Qua hai bài thơ Nhàn của Nguyễn Bỉnh Khiêm và bài thơ thu của Nguyễn Khuyến, hình tượng này được khắc họa vừa có điểm tương đồng, vừa mang những sắc thái riêng biệt.
Trước hết, cả hai tác giả đều xây dựng người ẩn sĩ với cuộc sống hòa hợp thiên nhiên, tránh xa vòng danh lợi. Trong Nhàn, Nguyễn Bỉnh Khiêm hiện lên với những vật dụng giản dị: “một mai, một cuốc, một cần câu”, gợi cuộc sống lao động thanh đạm nhưng tự tại. Ông chủ động tìm “nơi vắng vẻ”, đối lập với “chốn lao xao”, thể hiện thái độ dứt khoát rời xa danh lợi. Tương tự, trong bài thơ thu, Nguyễn Khuyến cũng vẽ nên một không gian tĩnh lặng với “trời thu xanh ngắt”, “nước biếc”, “bóng trăng”. Người ẩn sĩ sống trong khung cảnh yên bình, hòa mình vào thiên nhiên, cho thấy sự lựa chọn lối sống ẩn dật.Hình tượng người ẩn sĩ ở hai bài thơ lại khác nhau ở chiều sâu tâm trạng và cách nhìn cuộc đời. Ở Nhàn, Nguyễn Bỉnh Khiêm thể hiện một triết lí sống rõ ràng, dứt khoát. Ông tự nhận “ta dại” nhưng thực chất là cái “dại” của người trí tuệ, biết coi thường danh lợi. Câu thơ “phú quý tựa chiêm bao” khẳng định thái độ ung dung, vượt lên trên mọi cám dỗ. Người ẩn sĩ ở đây mang phong thái của bậc hiền triết, an nhiên và tự tại.Ngược lại, trong thơ Nguyễn Khuyến, người ẩn sĩ mang tâm trạng tinh tế, có phần man mác buồn. Cảnh thu tuy đẹp nhưng gợi sự hiu quạnh qua những chi tiết như gió hắt hiu, song thưa, một tiếng ngỗng. Đặc biệt, câu kết thẹn với ông Đào (Đào Uyên Minh) cho thấy sự tự ý thức: nhà thơ cảm thấy mình chưa đạt đến lí tưởng ẩn sĩ hoàn toàn. Vì thế, hình tượng ẩn sĩ ở đây không hoàn toàn thanh thản mà còn chất chứa nỗi niềm, suy tư.Như vậy, cả hai bài thơ đều ca ngợi lối sống thanh cao, gần gũi thiên nhiên, nhưng mỗi tác giả lại thể hiện một cách riêng. Nếu Nguyễn Bỉnh Khiêm nghiêng về triết lí sống dứt khoát, ung dung, thì Nguyễn Khuyến lại bộc lộ tâm trạng sâu lắng, có phần trăn trở. Sự khác biệt ấy góp phần làm phong phú hình tượng người ẩn sĩ trong văn học trung đại, đồng thời phản ánh những góc nhìn đa dạng về nhân cách và lẽ sống của con người.