Nguyễn Phương Huyền
Giới thiệu về bản thân
Câu 1
Trong dòng chảy thơ ca phương Đông, thơ haiku Nhật Bản thường hướng con người đến những khoảnh khắc rất nhỏ nhưng chứa đựng chiều sâu triết lí về cuộc sống. Bài thơ haiku của Kobayashi Issa là một minh chứng tiêu biểu cho đặc điểm ấy. Ngay câu thơ mở đầu “Đẹp cô cùng”, tác giả đã gợi ra một cảm xúc thẩm mĩ tinh tế: đó không phải vẻ đẹp rực rỡ, phô trương mà là vẻ đẹp lặng lẽ, đơn sơ, thấm đẫm nỗi cô quạnh. Cảm xúc ấy được cụ thể hóa ở câu thơ thứ hai “nhìn qua cửa giấy rách”. Hình ảnh “cửa giấy rách” là một dẫn chứng giàu sức gợi, phản ánh không gian sống nghèo nàn, mong manh của con người, đồng thời biểu hiện thân phận nhỏ bé, bất toàn trước cuộc đời. Tuy nhiên, chính từ khe hở tầm thường ấy, tầm nhìn của con người bất ngờ mở rộng ra vũ trụ bao la ở câu thơ cuối “ô kìa sông Ngân”. Thán từ “ô kìa” thể hiện sự ngạc nhiên, xúc động trước vẻ đẹp lớn lao của dải Ngân Hà – biểu tượng cho cái vĩnh hằng, huyền diệu của thiên nhiên. Sự đối lập giữa “cửa giấy rách” và “sông Ngân” làm nổi bật triết lí nhân sinh sâu sắc: dù sống trong hoàn cảnh thiếu thốn, con người vẫn có thể vươn tới cái đẹp vô hạn nếu biết mở lòng và chiêm ngưỡng.Về nghệ thuật, bài thơ tiêu biểu cho phong cách haiku với ngôn ngữ ngắn gọn, hàm súc; hình ảnh giản dị mà giàu sức gợi; đặc biệt là thủ pháp đối lập và nghệ thuật gợi nhiều hơn tả, để lại khoảng trống cảm xúc cho người đọc tự suy ngẫm. Qua bài thơ, Issa khẳng định rằng vẻ đẹp và hạnh phúc không phụ thuộc vào sự đủ đầy vật chất mà nảy sinh từ một tâm hồn nhạy cảm, biết rung động trước những điều bình dị của cuộc sống.
Câu 2:
Trong xã hội hiện đại, đồng tiền giữ vai trò quan trọng trong việc bảo đảm đời sống và mở ra nhiều cơ hội cho con người. Tuy nhiên, khi tiền bạc bị đề cao một cách cực đoan, nó dễ dẫn đến những quan niệm lệch lạc, tiêu biểu là suy nghĩ “Có tiền mua tiên cũng được”. Thực tế cho thấy, nhiều bạn trẻ vì chạy theo vật chất mà có những hành vi, lời nói thiếu chuẩn mực, coi nhẹ các giá trị đạo đức. Từ đó, việc thuyết phục người thân từ bỏ quan niệm sai lầm này là vô cùng cần thiết để hướng tới một cách sống đúng đắn và nhân văn hơn.
Không thể phủ nhận sức mạnh của đồng tiền trong đời sống. Có tiền giúp con người học tập thuận lợi, chữa bệnh kịp thời và nâng cao chất lượng cuộc sống. Chính vì thế, nhiều người dần tuyệt đối hóa vai trò của tiền bạc, cho rằng tiền có thể chi phối tất cả, kể cả tình cảm và nhân cách. Quan niệm “Có tiền mua tiên cũng được” vì vậy hình thành từ tâm lí sính vật chất, coi tiền là thước đo duy nhất của thành công và giá trị con người.
Nguyên nhân của thực trạng này bắt nguồn từ nhiều phía. Trước hết là tác động mạnh mẽ của nền kinh tế thị trường, nơi lợi ích vật chất thường được đặt lên hàng đầu, khiến con người dễ rơi vào vòng xoáy so sánh, hơn thua về tiền bạc. Bên cạnh đó, mạng xã hội và truyền thông không ít lần tôn vinh lối sống giàu sang, xa hoa, vô tình tạo cho giới trẻ ảo tưởng rằng chỉ cần có tiền là sẽ có địa vị và sự ngưỡng mộ. Một nguyên nhân quan trọng khác là sự thiếu hụt trong giáo dục đạo đức và định hướng giá trị sống từ gia đình, nhà trường, khiến nhiều người trẻ không nhận thức đầy đủ ranh giới giữa giá trị vật chất và giá trị tinh thần.
Hậu quả của việc coi trọng quá mức đồng tiền là vô cùng nghiêm trọng và lâu dài. Trước hết, về mặt nhân cách, con người dễ trở nên thực dụng, ích kỉ, sẵn sàng hạ thấp người khác để khẳng định bản thân. Những lời nói khinh miệt người nghèo, thái độ thiếu tôn trọng trong giao tiếp chính là biểu hiện rõ ràng của sự xuống cấp đạo đức. Về các mối quan hệ xã hội, khi tiền bạc trở thành nền tảng, tình thân dễ rạn nứt, tình bạn trở nên giả tạo, bởi con người đến với nhau vì lợi ích hơn là sự chân thành. Đáng lo ngại hơn, quan niệm “có tiền là có quyền” có thể đẩy con người vào con đường sai trái, bất chấp pháp luật và lương tâm để đạt được lợi ích vật chất. Về lâu dài, chính những người tôn thờ đồng tiền cũng khó tìm được hạnh phúc thực sự, bởi họ luôn sống trong lo âu, so đo, sợ mất mát và cô đơn giữa những mối quan hệ không bền vững.
Trước những hậu quả ấy, mỗi người cần nhìn nhận lại vị trí đúng đắn của đồng tiền trong cuộc sống. Tiền bạc là phương tiện cần thiết, nhưng không thể thay thế nhân cách, đạo đức và tình người. Gia đình cần làm gương trong lối sống giản dị, nhân ái; nhà trường và xã hội cần chú trọng giáo dục giá trị sống, giúp giới trẻ hiểu rằng sự tử tế, lòng tự trọng và cách đối nhân xử thế mới là nền tảng của sự thành công bền vững.
Tóm lại, quan niệm “Có tiền mua tiên cũng được” không chỉ sai lầm mà còn tiềm ẩn nhiều hệ lụy nguy hiểm cho cá nhân và xã hội. Khi con người biết đặt tiền bạc đúng vị trí của nó, sống giàu tình nghĩa và đạo đức, cuộc sống sẽ trở nên hài hòa, bền vững và đáng trân trọng hơn.
Câu 1.
Vấn đề nghị luận của văn bản là: tấm lòng yêu nước sâu sắc của Nguyễn Đình Chiểu thể hiện qua thơ, văn.
Câu 2.
Hai câu văn trong bài nêu nhận xét khái quát, chính xác và sinh động về đặc điểm, giá trị văn thơ của Nguyễn Đình Chiểu: "Trên trời có những vì sao có ánh sáng khác thường nhưng con mắt của chung ta phải chăm chú nhìn thì mới thấy và càng nhìn thì càng thấy sáng. Văn thơ của Nguyễn Đình Chiểu cũng vậy."
Câu 3:
+ Tác giả đã lựa chọn những bằng chứng rất tiêu biểu trong sự nghiệp văn chương của Nguyễn Đình Chiểu làm dẫn chứng.
+ Bằng chứng toàn diện, bao gồm cả thơ và văn.
+ Bằng chứng phù hợp, góp phần làm sáng tỏ cho lí lẽ, luận điểm của văn bản.
Câu 4.
+ Nêu lên những điểm giống và khác nhau giữa hai văn bản, qua đó tác giả nhấn mạnh dù chiến thắng (Bình Ngô đại cáo) hay bại trận hi sinh (như trong Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc), dân tộc ta, nhân dân ta vẫn rất anh hùng, luôn khát khao hòa bình, sẵn sàng chiến đấu, quyết tâm giành lại độc lập tự do cho dân tộc.
+ Khẳng định những đóng góp to lớn, mang sắc thái rất riêng của Nguyễn Đình Chiểu đối với dòng mạch văn thơ yêu nước.
Câu 5.
+ Nhân dân ta đã anh hùng đánh thắng giặc ngoại xâm; đất nước đã hòa bình, thống nhất; muôn dân được sống tự do, độc lập và hạnh phúc.
+ Khát vọng của nhân dân ta và nghĩa quân Cần Giuộc năm ấy, bây giờ đã trở thành hiện thực. Vì vậy, linh hồn của họ sẽ được "hả dạ".
+ Niềm tin, niềm hi vọng của tác giả Phạm Văn Đồng trong bài viết cách đây hơn nửa thế kỉ cũng đã trở thành hiện thực.
Câu 1
Quan niệm “Có tiền là có tất cả” là một cách nhìn lệch lạc, giản đơn hóa những giá trị phức tạp và thiêng liêng của đời sống con người. Thoạt nhìn, tiền bạc dường như có quyền năng chi phối mọi mặt: nó giúp con người ăn ngon, mặc đẹp, có vị thế xã hội và điều kiện sống tốt hơn. Chính vì vậy, trong thực tế, không ít người tôn thờ đồng tiền, coi nó là thước đo duy nhất của thành công và hạnh phúc. Nguyên nhân sâu xa của thực trạng ấy bắt nguồn từ áp lực mưu sinh, sự cạnh tranh khốc liệt của xã hội hiện đại và việc con người bị cuốn vào lối sống vật chất, thực dụng. Tuy nhiên, khi tiền trở thành mục đích tối cao, hậu quả để lại vô cùng nặng nề: con người dễ đánh mất lương tâm, sẵn sàng phản bội tình thân, chà đạp đạo đức; các mối quan hệ bị mua bán, niềm tin bị thay thế bằng toan tính, và hạnh phúc tinh thần ngày càng cạn kiệt. Thực tế cho thấy, có những người rất giàu nhưng sống cô độc, bất an, trong khi nhiều người không dư dả vẫn hạnh phúc vì có gia đình yêu thương và tâm hồn thanh thản. Vì vậy, để từ bỏ quan niệm sai lầm ấy, mỗi người cần học cách nhìn nhận đồng tiền đúng vị trí của nó: tiền là công cụ phục vụ cuộc sống chứ không phải giá trị tối thượng của đời người. Chỉ khi biết cân bằng giữa vật chất và tinh thần, giữa làm giàu và sống tử tế, con người mới thực sự “có tất cả” theo nghĩa trọn vẹn nhất.
Câu 2
Nguyễn Bỉnh Khiêm là nhà thơ, nhà tư tưởng lớn của văn học trung đại Việt Nam. Thơ ông thường mang giọng điệu triết lí, suy ngẫm sâu sắc về cuộc đời, con người và lẽ biến thiên của thế gian. Bài thơ “Thế gian biến đổi” là một tác phẩm tiêu biểu, thể hiện rõ cái nhìn tỉnh táo, giàu trải nghiệm của tác giả trước sự đổi thay và bạc bẽo của lòng người, đồng thời gây ấn tượng bởi những nét nghệ thuật đặc sắc.
Trước hết, bài thơ nổi bật về giá trị nội dung. Ngay hai câu đề, Nguyễn Bỉnh Khiêm đã khái quát bản chất biến đổi không ngừng của thế gian:
“Thế gian biến cải vũng nên đồi,
Mặn nhạt chua cay lẫn ngọt bùi.”
Cuộc đời được nhìn như một dòng chảy vô thường, nơi mọi sự vật, hiện tượng đều có thể thay đổi: vũng hóa đồi, đắng cay lẫn với ngọt bùi. Qua đó, tác giả nhấn mạnh quy luật biến thiên tất yếu của tạo hóa, đồng thời gợi ra sự phức tạp, đa chiều của đời sống con người.
Hai câu thực tiếp theo đi sâu phản ánh một thực trạng nhức nhối trong xã hội: sự đổi thay của lòng người theo tiền bạc và lợi ích:
“Còn bạc, còn tiền, còn đệ tử,
Hết cơm, hết bạn, hết ông tôi.”
Tiền bạc trở thành thước đo cho tình nghĩa, cho mối quan hệ giữa người với người. Khi còn giàu có, sung túc thì xung quanh đầy kẻ theo hầu, xưng tụng; nhưng khi lâm vào cảnh túng thiếu, cô đơn thì tất cả quay lưng, tình bạn cũng tan biến. Qua đó, Nguyễn Bỉnh Khiêm phê phán sâu sắc lối sống thực dụng, phơi bày sự giả dối và bạc bẽo của những mối quan hệ dựa trên vật chất.
Đến hai câu luận, tác giả khẳng định một chuẩn mực đạo đức bền vững:
“Xưa nay đều trọng người chân thật,
Ai nấy nào ưa kẻ đãi buôi.”
Dù thế gian có đổi thay, giá trị của sự chân thành vẫn luôn được đề cao. Con người, xét đến cùng, vẫn tôn trọng nhân cách, lòng trung thực hơn là những kẻ lươn lẹo, giả tạo. Đây vừa là lời khẳng định niềm tin vào đạo lí truyền thống, vừa là lời nhắc nhở con người phải giữ gìn phẩm chất đạo đức giữa dòng đời biến động.
Hai câu kết khép lại bài thơ bằng một nhận xét đầy chua chát:
“Ở thế mới hay người bạc ác,
Giàu thì tìm đến, khó thì lui.”
Trải nghiệm cuộc đời giúp tác giả nhận ra bản chất thật của nhiều người: chỉ đến khi giàu sang, thuận lợi; còn khi khó khăn thì lặng lẽ rời xa. Giọng thơ ở đây vừa tỉnh táo, vừa cay đắng, thể hiện sự thấu hiểu sâu sắc của một con người từng trải, từng bước ra khỏi chốn quan trường để nhìn đời bằng con mắt chiêm nghiệm.
Không chỉ đặc sắc về nội dung, bài thơ còn gây ấn tượng bởi nghệ thuật. Thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật được vận dụng linh hoạt, chặt chẽ. Ngôn ngữ thơ giản dị, gần với lời ăn tiếng nói hằng ngày nhưng giàu sức gợi. Các cặp từ đối lập như “mặn – ngọt”, “còn – hết”, “giàu – khó” tạo nên tính khái quát cao, làm nổi bật quy luật đổi thay và sự tương phản trong cách đối nhân xử thế của con người. Giọng thơ điềm tĩnh, triết lí nhưng vẫn thấm đẫm cảm xúc, khiến lời thơ như một bài học sâu sắc về nhân tình thế thái.
Tóm lại, "Thế gian biến đổi" là một bài thơ giàu giá trị tư tưởng và nghệ thuật. Qua việc phản ánh sự vô thường của cuộc đời và sự bạc bẽo của lòng người, Nguyễn Bỉnh Khiêm không chỉ bộc lộ cái nhìn tỉnh táo, sâu sắc mà còn gửi gắm bài học nhân sinh: giữa thế gian đổi thay, con người cần giữ cho mình sự chân thật và nhân cách bền vững để sống thanh thản, ý nghĩa.
Câu 1.
Văn bản trên thuộc kiểu văn bản nghị luận (nghị luận xã hội).
Câu 2.
Những phương thức biểu đạt được sử dụng trong văn bản: Nghị luận, tự sự, biểu cảm.
Câu 3.
Mục đích của tác giả qua văn bản trên là: Đưa ra những quan điểm khác nhau về đồng tiền, từ đó bàn luận về ý nghĩa đích thực của đồng tiền nhằm giúp cho bạn đọc có được một cái nhìn mới, toàn diện hơn về đồng tiền và phá bỏ những quan niệm lối mòn trước đây.
Câu 4.
Nhận xét về cách lập luận, dẫn dắt của tác giả trong văn bản:
- Cách lập luận của tác giả rất xác đáng và giàu sức thuyết phục vì tác giả đã sử dụng những quan điểm, dẫn chứng rất gần gũi trong cuộc sống thường nhật để làm sáng tỏ cho quan điểm của mình: trả lại cho tiền khuôn mặt giản dị của nó.
- Cách dấn dắt của tác giả rất độc đáo khi sử dụng những câu chuyện nhỏ, rất quen thuộc, đời thường để dẫn dắt bạn đọc đi theo mạch lập luận. Chính điều này giúp văn bản không bị khô khan và hấp dẫn bạn đọc hơn.
Câu 5.
- Đoạn văn bàn luận về ý nghĩa đích thực của đồng tiền là giúp con người thuận tiện hơn trong việc trao đổi những vật có gí trị tương xứng.
- Thế nhưng trước giờ chính chúng ta đã đặt ra những quan niệm sai lầm về đồng tiền, rằng đồng tiền làm tha hóa con người, đồng tiền mua được tất cả. Điều này đòi hỏi con người cần có cái nhìn đúng đắn hơn, toàn diện hơn về ý nghĩa đích thực của đồng tiền.
Nghiện điện thoại và giải pháp khắc phục.
- Tác giả đặt mình vào vị trí của người trong cuộc
-Người viết tạo được sự gắn kết, cảm thông với người đọc, khi thuyết phục đưa ra những lí lẽ, dẫn chứng hợp lý, chính xác.
-Để tăng tính thuyết phục, người viết không chỉ nêu ra những luận điểm chung, thể hiện cách đánh giá khách quan mà còn phải đan xen những cảm nhận, đánh giá của cá nhân, tạo sự tin tưởng với người đọc.
-Nêu ra tác hại của nghiện điện thoại cụ thể, rõ ràng
-Bày tỏ ý muốn giúp đỡ người khác cai nghiện điện thoại
Luận điểm 1: Nêu thực trạng nghiện điện thoại thông minh
Luận điểm 2: Bày tỏ thái độ cảm thông với đối tượng cần thuyết phục, nêu một số lợi ích của điện thoại và lý do gây nghiện điện thoại
Luận điểm 3: Chỉ ra các biểu hiện của nghiện điện thoại và trải nghiệm của chính tác giả Luận điểm 4: Các cách mà tác giả sử dụng để cai nghiện điện thoại - Đoạn văn 5: Bày tỏ thái độ sẵn sàng giúp đỡ người khác cai nghiện điện thoại.