Bùi Khánh Tùng Chi

Giới thiệu về bản thân

Chào mừng bạn đến với trang cá nhân của Bùi Khánh Tùng Chi
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
(Thường được cập nhật sau 1 giờ!)

Câu 1 )

Văn bản bàn về vị trí, giá trị to lớn và vẻ đẹp tư tưởng – nghệ thuật của thơ văn Nguyễn Đình Chiểu, đặc biệt là thơ văn yêu nước, đồng thời khẳng định ông là ngôi sao sáng trong nền văn nghệ dân tộc, một nhà thơ – chiến sĩ giàu khí tiết, nhân cách cao đẹp.

Câu 2 )

Hai câu văn nêu nhận xét khái quát, chính xác và sinh động về đặc điểm, giá trị văn thơ Nguyễn Đình Chiểu là:

“Văn thơ của Nguyễn Đình Chiểu cũng vậy.” (liên hệ hình ảnh vì sao – càng nhìn càng sáng)

.“Thơ văn của Nguyễn Đình Chiểu là thơ văn chiến đấu, đánh thẳng vào giặc ngoại xâm và tôi tớ của chúng.”

→ Hai câu này khái quát rõ giá trị tư tưởng, chức năng chiến đấu và ánh sáng bền bỉ của văn thơ Nguyễn Đình

Câu 3 )

Người viết đã lựa chọn và sử dụng bằng chứng tiêu biểu, xác thực và giàu sức thuyết phục. Các dẫn chứng được lấy trực tiếp từ: Cuộc đời, hoàn cảnh sống của Nguyễn Đình Chiểu ,Những câu thơ, bài văn tiêu biểu ,Tác phẩm nổi bật như Lục Vân Tiên, Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc

Bằng chứng không chỉ minh họa mà còn làm sáng tỏ nhận định, kết hợp hài hòa giữa lí lẽ và cảm xúc, giữa dẫn chứng văn học và hiện thực lịch sử, giúp lập luận vừa chặt chẽ vừa giàu tính truyền cảm.

Câu 4 )

Việc so sánh Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc với Bình Ngô đại cáo nhằm:

  • Khẳng định tầm vóc lớn lao của tác phẩm Nguyễn Đình Chiểu
  • Làm nổi bật truyền thống yêu nước, anh hùng của dân tộc Việt Nam qua các thời đại
  • Cho thấy dù hoàn cảnh khác nhau (khải hoàn – thất thế) nhưng tinh thần dân tộc, ý chí chiến đấu và lòng yêu nước là bất biến


Câu 5 )

Sau hơn nửa thế kỉ kể từ năm 1963, niềm tin và hi vọng của tác giả đã trở thành hiện thực. Ngày nay, Nguyễn Đình Chiểu được tôn vinh là Danh nhân văn hóa dân tộc, tác phẩm của ông được giảng dạy rộng rãi trong nhà trường. Các nghĩa sĩ Cần Giuộc và những anh hùng đã được lịch sử ghi nhớ, tri ân bằng tượng đài, đền thờ, tên đường. Đất nước Việt Nam đã giành được độc lập, thống nhất và đang không ngừng phát triển. Điều đó chứng tỏ những hi sinh anh dũng năm xưa không hề vô nghĩa, và tinh thần yêu nước mà Nguyễn Đình Chiểu gửi gắm đã thực sự được tiếp nối.

Câu 1

Văn bản bàn về vị trí, giá trị to lớn và vẻ đẹp tư tưởng – nghệ thuật của thơ văn Nguyễn Đình Chiểu, đặc biệt là thơ văn yêu nước, đồng thời khẳng định ông là ngôi sao sáng trong nền văn nghệ dân tộc, một nhà thơ – chiến sĩ giàu khí tiết, nhân cách cao đẹp.

Câu 2 :

Hai câu văn nêu nhận xét khái quát, chính xác và sinh động về đặc điểm, giá trị văn thơ Nguyễn Đình Chiểu là:

  1. “Văn thơ của Nguyễn Đình Chiểu cũng vậy.”
  2. “Thơ văn của Nguyễn Đình Chiểu là thơ văn chiến đấu, đánh thẳng vào giặc ngoại xâm và tôi tớ của chúng.”

→ Hai câu này khái quát rõ giá trị tư tưởng, chức năng chiến đấu và ánh sáng bền bỉ của văn thơ Nguyễn Đình Chiểu.

Câu 3

Người viết đã lựa chọn và sử dụng bằng chứng tiêu biểu, xác thực và giàu sức thuyết phục. Các dẫn chứng được lấy trực tiếp từ:

  • Cuộc đời, hoàn cảnh sống của Nguyễn Đình Chiểu
  • Những câu thơ, bài văn tiêu biểu
  • Tác phẩm nổi bật như Lục Vân Tiên, Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc

Bằng chứng không chỉ minh họa mà còn làm sáng tỏ nhận định, kết hợp hài hòa giữa lí lẽ và cảm xúc, giữa dẫn chứng văn học và hiện thực lịch sử, giúp lập luận vừa chặt chẽ vừa giàu tính truyền cảm.

Câu 4 :

Việc so sánh Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc với Bình Ngô đại cáo nhằm:

  • Khẳng định tầm vóc lớn lao của tác phẩm Nguyễn Đình Chiểu
  • Làm nổi bật truyền thống yêu nước, anh hùng của dân tộc Việt Nam qua các thời đại
  • Cho thấy dù hoàn cảnh khác nhau (khải hoàn – thất thế) nhưng tinh thần dân tộc, ý chí chiến đấu và lòng yêu nước là bất biến

Câu 5

Sau hơn nửa thế kỉ kể từ năm 1963, niềm tin và hi vọng của tác giả đã trở thành hiện thực. Ngày nay, Nguyễn Đình Chiểu được tôn vinh là Danh nhân văn hóa dân tộc, tác phẩm của ông được giảng dạy rộng rãi trong nhà trường. Các nghĩa sĩ Cần Giuộc và những anh hùng vô danh đã được lịch sử ghi nhớ, tri ân bằng tượng đài, đền thờ, tên đường. Đất nước Việt Nam đã giành được độc lập, thống nhất và đang không ngừng phát triển.

Câu 1 )

Văn bản trên thuộc kiểu văn bản nghị luận

Câu 2 )

Những phương thức biểu đạt được sử dụng trong văn bản là: Nghị luận , tự sự , biểu cảm , thuyết minh

Câu 3

Thông qua văn bản , tác gải bày tỏ mục đích, giúp người đọc nhận thức đúng bản chất của đồng tiền ,Phê phán quan niệm cực đoan: hoặc tôn thờ tiền bạc, hoặc coi khinh tiền bạc ,Khuyên con người biết sử dụng tiền một cách tỉnh táo, có trách nhiệm, đặt tiền đúng vị trí của nó trong hệ giá trị sống

Câu 4 )

Tác giả có cách lập luận chặt chẽ, mềm mại và thuyết phục:

  • Dẫn dắt từ ca dao quen thuộc đến trải nghiệm cá nhân , dẫn chứng đời sống ,triết lí rút ra
  • Lập luận theo hướng đối thoại, phản biện nhẹ nhàng, không áp đặt
  • Sử dụng nhiều ví dụ cụ thể, gần gũi, có chiều sâu suy ngẫm
    Câu 5 )

Đoạn văn thể hiện một quan điểm sống sâu sắc: Đồng tiền về bản chất chỉ là một công cụ trao đổi giá trị, bản thân nó không xấu cũng không tốt. Việc thần thánh hóa hay đổ lỗi cho đồng tiền đều là những cách nhìn sai lệch. Chính tham vọng không chính đáng của con người mới là nguyên nhân khiến con người sa ngã: muốn hưởng thụ vượt quá khả năng, chiếm đoạt những thứ không thuộc về mình, đánh đổi đạo đức và nhân cách để đạt được vật chất. Trong thực tế, không ít người vì tiền mà gian dối, lừa lọc, bất chấp hậu quả, để rồi đánh mất sự tôn trọng, tình thân và cả sự bình yên nội tâm. Vì vậy, đoạn văn nhắc nhở mỗi người cần học cách sử dụng đồng tiền 1 cách đúng đắn biết giới hạn ham muốn cá nhân.

Câu 1 :

Quan niệm “Có tiền là có tất cả” là một cách nhìn phiến diện và dễ dẫn con người đến lối sống lệch lạc. Tiền bạc quả thật rất quan trọng, bởi nó giúp con người đáp ứng nhu cầu vật chất và nâng cao chất lượng cuộc sống. Tuy nhiên, tiền không thể mua được mọi giá trị. Tiền có thể mua nhà cửa nhưng không mua được mái ấm gia đình; mua thuốc men nhưng không mua được sức khỏe; mua sự tung hô nhưng không mua được lòng kính trọng chân thành. Trong thực tế, nhiều người giàu có vẫn cô đơn, bất hạnh vì thiếu tình yêu thương và niềm tin. Ngược lại, không ít người sống giản dị nhưng giàu lòng nhân ái, được yêu mến và trân trọng. Khi con người coi tiền là thước đo duy nhất của giá trị sống, họ dễ bất chấp đạo đức, đánh mất nhân cách và các mối quan hệ tốt đẹp. Vì vậy, tiền chỉ nên là phương tiện phục vụ cuộc sống chứ không phải mục đích tối thượng. Chỉ khi biết đặt tiền sau con người, vật chất sau đạo đức, chúng ta mới có thể sống hạnh phúc và ý nghĩa.

Câu 2 :

Nhà thơ Chế Lan Viên đã từng nhận định : '' Thơ không chỉ đưa ru mà còn thức tỉnh , không chỉ ơ hời mà còn đập bàn , quát tháo , lo toan .'' Và trong bài thơ Thế gian biến đổi của Nguyễn Bỉnh Khiêm là một tác phẩm giàu giá trị triết lí, phản ánh sâu sắc cái nhìn tỉnh táo của nhà thơ về con người và cuộc đời. Qua tám câu thơ ngắn gọn, tác giả đã vạch trần những đổi thay phũ phàng của thế gian, đồng thời gửi gắm quan niệm sống mang đậm tinh thần nhân văn.

Ngay hai câu đầu, hình ảnh “vũng nên đồi”, “mặn nhạt chua cay lẫn ngọt bùi” đã gợi lên sự biến đổi khôn lường của cuộc sống. Đặc biệt, hai câu thực “Còn bạc, còn tiền, còn đệ tử / Hết cơm, hết bạn, hết ông tôi” phơi bày một sự thật cay đắng: nhiều mối quan hệ trong xã hội được xây dựng trên nền tảng tiền bạc, lợi ích. Khi giàu sang, con người được vây quanh; lúc khó khăn, họ dễ bị quay lưng, ruồng bỏ.Không chỉ dừng lại ở việc phản ánh hiện thực, bài thơ còn thể hiện thái độ phê phán và cảnh tỉnh con người. Nguyễn Bỉnh Khiêm khẳng định giá trị của sự chân thật: “Xưa nay đều trọng người chân thật”. Tuy nhiên, thực tế lại trái ngược, bởi “ở thế mới hay người bạc ác”, nơi mà giàu thì người ta tìm đến, khó thì họ lặng lẽ rời xa. Qua đó, nhà thơ bộc lộ nỗi buồn trước sự xuống cấp của đạo đức xã hội, đồng thời ngầm nhắc nhở con người cần tỉnh táo trong việc nhìn người, chọn bạn và giữ gìn nhân cách.

Về nghệ thuật, bài thơ nổi bật với ngôn ngữ giản dị mà giàu sức gợi. Nghệ thuật đối lập được sử dụng hiệu quả: giàu – nghèo, còn – hết, tìm đến – lui xa, làm nổi bật sự thay đổi lạnh lùng của lòng người. Giọng thơ bình thản, mỉa nhẹ nhưng thấm thía, mang đậm phong cách triết lí của Nguyễn Bỉnh Khiêm. Thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật được vận dụng linh hoạt, chặt chẽ, góp phần tăng sức khái quát cho tư tưởng.

Thế gian biến đổi không chỉ là bức tranh chân thực về thói đời thực dụng mà còn là lời nhắn gửi sâu sắc của Nguyễn Bỉnh Khiêm về giá trị của sự chân thành và nhân cách con người. Dù đã ra đời từ nhiều thế kỉ trước, bài thơ vẫn còn nguyên ý nghĩa trong xã hội hôm nay.

Câu 1 :

Bài thơ haiku của Kobayashi Issa thể hiện vẻ đẹp tinh tế của khoảnh khắc và cảm xúc con người trước thiên nhiên. Hình ảnh “cô cùng” gợi không gian tĩnh lặng, cô đơn, gắn với con người nhỏ bé đang “nhìn qua cửa giấy rách” – một chi tiết giản dị nhưng giàu gợi cảm. Cửa giấy rách không chỉ cho thấy sự nghèo khó, mộc mạc mà còn tạo ra một “khung nhìn” đặc biệt để con người hướng ra thế giới bên ngoài. Bất ngờ thay, trước mắt hiện ra “ô kìa sông Ngân” – dải ngân hà rộng lớn, huyền ảo. Sự đối lập giữa cái nhỏ bé – tầm thường của con người và vẻ đẹp bao la của vũ trụ làm nổi bật triết lí nhân sinh sâu sắc: trong những hoàn cảnh đơn sơ nhất, con người vẫn có thể chạm tới cái đẹp vĩnh hằng nếu biết lắng lòng chiêm nghiệm. Bài thơ không chỉ ca ngợi vẻ đẹp thiên nhiên mà còn thể hiện tâm hồn nhạy cảm, yêu đời và giàu chất thiền của nhà thơ haiku.

Câu 2 :

Trong xã hội hiện đại, đồng tiền giữ vai trò quan trọng trong đời sống con người. Tuy nhiên, hiện nay không ít người, đặc biệt là một số bạn trẻ, lại coi trọng quá mức giá trị của tiền bạc và cho rằng: “Có tiền mua tiên cũng được”. Đây là một quan niệm lệch lạc, cần được nhìn nhận lại để tránh những hệ lụy đáng tiếc trong cuộc sống.

Trước hết, câu nói trên thể hiện cách nhìn tuyệt đối hóa sức mạnh của đồng tiền, cho rằng tiền có thể giải quyết mọi vấn đề, mua được mọi giá trị. Thực tế cho thấy, nhiều người vì chạy theo vật chất mà sẵn sàng cư xử thiếu tôn trọng người khác, đặt lợi ích cá nhân lên trên đạo đức và tình người. Quan niệm ấy đang trở thành một thực trạng đáng lo ngại trong đời sống xã hội hôm nay.

Nguyên nhân của hiện tượng này xuất phát từ sự tác động mạnh mẽ của kinh tế thị trường, mạng xã hội và lối sống thực dụng. Nhiều người chứng kiến việc “đồng tiền mở lối” trong một số trường hợp nên dần ngộ nhận rằng tiền là thước đo duy nhất của thành công. Bên cạnh đó, việc giáo dục đạo đức, kĩ năng sống chưa được chú trọng đúng mức cũng khiến con người dễ sa vào lối suy nghĩ lệch lạc.

Hậu quả của việc coi tiền là tất cả là vô cùng nghiêm trọng. Con người dễ đánh mất nhân cách, sống ích kỉ, vô cảm, sẵn sàng làm tổn thương người khác để đạt được lợi ích vật chất. Tiền có thể mua được tiện nghi, nhưng không thể mua được tình yêu chân thành, lòng tin, sự tôn trọng hay hạnh phúc bền lâu. Một xã hội mà con người chỉ nhìn nhau qua giá trị đồng tiền sẽ là một xã hội thiếu nhân văn, lạnh lùng và đầy rạn nứt. Song, cũng có ý kiến cho rằng tiền giúp con người sống tốt hơn, chủ động hơn. Điều đó không sai, bởi tiền là phương tiện cần thiết cho cuộc sống. Tuy nhiên, tiền chỉ nên là công cụ, không phải mục đích tối thượng. Khi tiền được đặt đúng vị trí, nó sẽ phục vụ con người; ngược lại, khi con người phục vụ đồng tiền, giá trị sống sẽ bị đảo lộn.

Là một cá nhân trong xã hội hiện đại , mỗi người cần rút ra bài học nhận thức đúng đắn: hãy trân trọng giá trị của lao động chân chính, của đạo đức và tình người. Từ bỏ quan niệm “Có tiền mua tiên cũng được” chính là chọn cách sống nhân văn, biết yêu thương, tôn trọng người khác và xây dựng hạnh phúc bằng những giá trị bền vững.

Đồng tiền lăn tròn trên lương tri của mỗi người , có thể đổi trắng thay đen , có thể trở thành công cụ của cái xấu , cái ác, tiền bạc quan trọng nhưng không phải là tất cả. Chỉ khi biết đặt tiền sau con người, vật chất sau đạo đức, chúng ta mới có thể sống một cuộc đời ý nghĩa và đáng trân trọng.


Truyện Chuyện người nghĩa phụ ở Khoái Châu đã làm nổi bật chủ đề ca ngợi vẻ đẹp của đạo nghĩa, đặc biệt là tình nghĩa vợ chồng và nhân cách cao đẹp của con người trong xã hội phong kiến. Nhân vật người nghĩa phụ hiện lên như một biểu tượng của lòng chung thủy và đức hi sinh: dù vợ đã mất, ông vẫn một mực giữ trọn đạo phu thê, không tái giá, dành trọn cuộc đời để nuôi con, chăm lo hương khói cho vợ. Qua hình tượng ấy, tác giả khẳng định những giá trị đạo đức truyền thống tốt đẹp của dân tộc. Không chỉ dừng lại ở việc ngợi ca, tác phẩm còn mang ý nghĩa phê phán lối sống thực dụng, coi nhẹ tình nghĩa trong xã hội đương thời. Đặc biệt, kết thúc truyện với việc người nghĩa phụ được thần linh chứng giám càng nhấn mạnh quan niệm “ở hiền gặp lành”, tin vào công lý và đạo đức. Như vậy, chủ đề của truyện không chỉ phản ánh tư tưởng nhân văn sâu sắc của văn học trung đại mà còn gửi gắm thông điệp bền vững: sống có nghĩa, có tình chính là nền tảng làm nên giá trị chân chính của con người.

Câu 2 :

Trong cuộc sống hiện đại, thức khuya để học tập và làm việc đang trở thành một thói quen phổ biến của nhiều người . Nhiều người cho rằng thức khuya là cách tận dụng thời gian, là biểu hiện của sự chăm chỉ và trách nhiệm. Tuy nhiên, nhìn từ nhiều góc độ, thói quen thức khuya cần được từ bỏ, bởi nó gây ra nhiều hệ lụy nghiêm trọng cho sức khỏe, tinh thần và chất lượng cuộc sống.

Trước hết, thức khuya là việc đi ngủ muộn hơn khung giờ sinh học tự nhiên của cơ thể (thường sau 23 giờ), khiến cơ thể không được nghỉ ngơi đầy đủ. Hiện nay , không khó để bắt gặp hình ảnh người lớn làm việc đến khuya, học sinh – sinh viên học bài sau nửa đêm, thậm chí có người coi thức khuya là điều bình thường, lặp lại hằng ngày. Điều đáng lo ngại là thói quen này diễn ra âm thầm nhưng kéo dài, trở thành nếp sống khó bỏ.

Nguyên nhân của tình trạng thức khuya xuất phát từ nhiều phía. Áp lực công việc, học tập khiến nhiều người không kịp hoàn thành nhiệm vụ trong ban ngày nên phải “hy sinh giấc ngủ”. Bên cạnh đó, việc sử dụng điện thoại, máy tính quá nhiều vào buổi tối, thói quen trì hoãn công việc, quản lý thời gian chưa hợp lý cũng góp phần khiến con người ngủ muộn. Đôi khi, thức khuya còn xuất phát từ quan niệm sai lầm rằng “còn trẻ thì chịu được”, hoặc “cố gắng thêm một chút nữa”.

Tuy nhiên, hậu quả của việc thức khuya là vô cùng nghiêm trọng. Trước hết, nó ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe: cơ thể mệt mỏi, suy giảm trí nhớ, giảm khả năng tập trung, rối loạn đồng hồ sinh học, lâu dài có thể dẫn đến các bệnh về tim mạch, tiêu hóa và tinh thần. Không chỉ vậy, thức khuya khiến hiệu quả học tập và làm việc giảm sút; dù bỏ nhiều thời gian hơn nhưng kết quả lại không tương xứng. Về lâu dài, con người dễ rơi vào trạng thái căng thẳng, cáu gắt, mất cân bằng trong cuộc sống gia đình và xã hội.

Song bên cạnh đó , lại có nhiều ý kiến cho rằng cho rằng thức khuya là cần thiết trong những giai đoạn đặc biệt như chạy deadline, ôn thi hay giải quyết công việc gấp. Ý kiến này không hoàn toàn sai, bởi đôi khi hoàn cảnh buộc con người phải linh hoạt. Tuy nhiên, nếu biến thức khuya thành thói quen thường xuyên thì đó không còn là sự cố gắng nhất thời, mà là cách tự làm tổn hại chính mình. Làm việc hiệu quả không đồng nghĩa với làm việc đến kiệt sức.

Chúng ta học tập làm việc vì một cuộc sống tốt hơn , nhưng không có nghĩa là chúng ta bán rẻ sức khỏe thể chất và tinh thần để làm những việc gây hại như vậy . Là một cá nhân sống trong xã hội hiện đại , mỗi người cần phải nhận thức được rằng sức khỏe là nền tảng của mọi thành công; không có sức khỏe, mọi nỗ lực đều trở nên mong manh. Vì vậy, mỗi chúng ta cần học cách sắp xếp thời gian khoa học, ưu tiên giấc ngủ, hạn chế sử dụng thiết bị điện tử vào ban đêm và hình thành thói quen ngủ sớm. Biết nghỉ ngơi đúng lúc cũng chính là một biểu hiện của trách nhiệm với bản thân và gia đình.

Tóm lại, từ bỏ thói quen thức khuya không phải là lười biếng, mà là lựa chọn thông minh để sống khỏe mạnh, bền bỉ và hạnh phúc hơn. Khi hiểu rõ những tác hại của thức khuya, mỗi cá nhân sẽ sẵn sàng thay đổi để bảo vệ chính mình và những người yêu thương xung quanh.

Những yếu tố tạo sức thuyết phục : Lập luận , lý lẽ , thông điệp , bài học và vấn đề nóng của xã hội được phản ánh trong bài

Vấn đề chính : Thuyết phục người khác từ bỏ thói quen nghiện điện thoại thông minh

Các luận điểm trong bài viết trên :

Đoạn 1:" Không có gì lạ khi ....của thời đại thông tin"- Thực trạng trong xã hội hiện đại ngày nay , từ đó dẫn dắt ra vấn đề

Đoạn 2 : Trước hết, tôi cho rằng..... chỉ mang tính tiêu cực" - Bày tỏ thái độ , quan điểm của tác giả để gây thiện cảm , tạo ấn tượng cho người đọc

Đoạn 3: " Tôi đã từng nghiện điện thoại thông minh ....tới cuộc sống của mình" - Nêu trải nghiệm cá nhân , từ đó cho thấy những biểu hiện tiêu cực của thói nghiện điện thoại , phân tích mặt tiêu cực đó

Đoạn 4 : "Bạn của tôi! Tôi biết bạn đang gặp khó khăn ... thế giới nhiều thay đổi này"- bày tỏ thái độ sẵn sàng đồng hành cùng người đọc để từ bỏ thói quen nghiện điện thoại.

Đoạn 5 : "Thế giới mạng ... quanh ta"- Khái quát lại vấn đề , khẳng định con người phải là người làm chủ , nêu bài học , thông điệp rút ra từ vấn đề .

Nhận xét : Cách sắp xếp luận điểm chặt chẽ , lô gíc , dễ truyền đạt vấn đề và thuyết phục người đọc.