Nguyễn Thị Thu Thảo
Giới thiệu về bản thân
Bài 1
câu 1:
văn bản trên thuộc văn bản thông tin
câu 2:
Đối tượng được đề cập " Vạn Lý Trường Thành"
câu 3:
- dữ liệu trong văn bản trên là dữ liệu thứ cấp
Ví dụ: "Thống kê của UNESCO cho thấy gần một phần ba công trình này đã biến mất" hoặc "Theo Daily mail, tổng chiều dài của Vạn Lý Trường Thành... là 21.196,18 km".
câu 4:
- phương tiện giao tiếp phi ngôn ngữ bao gồm: Hình ảnh (được chú thích trong văn bản: Ảnh: Vạn Lý Trường Thành) và các số liệu thống kê (con số, ngày tháng, chiều dài).
- Tác dụng:
+ Giúp người đọc dễ dàng hình dung được sự kỳ vĩ, đồ sộ của công trình, tăng tính trực quan sinh động cho bài viết.
+ Tăng tính xác thực, độ tin cậy và sức thuyết phục cho thông tin, giúp người đọc có cái nhìn định lượng chính xác về quy mô và tầm quan trọng của di tích.
câu 5 :
Qua văn bản, Vạn Lý Trường Thành không chỉ hiện lên như một khối đá vô tri mà là một "chứng nhân lịch sử" đầy sống động:
Sự ngưỡng mộ: Cảm phục sức lao động, trí tuệ và sự bền bỉ của con người thời cổ đại (đặc biệt là việc dùng gạo nếp làm vữa).
Sự xót xa ,ý thức bảo tồn: Cảm thấy tiếc nuối khi biết 1/3 công trình đã biến mất. Điều này nhắc nhở chúng ta về trách nhiệm của thế hệ hiện tại trong việc giữ gìn các giá trị di sản trước sự tàn phá của thời gian và con người.
Cái nhìn đa chiều: Nhận ra rằng đằng sau vẻ hào nhoáng của một kỳ quan là những góc khuất đầy gian khổ (hình phạt tù nhân) và những thăng trầm của các triều đại.
bài 2
câu 1 :
bài làm
Chủ tịch Hồ Chí Minh quan niệm việc bảo tồn vốn quý đó có ý nghĩa quan trọng, cần thiết cho sự nghiệp phát triển đất nước: “Xét rằng việc bảo tồn cổ tích là việc rất cần cho công cuộc kiến thiết nước Việt Nam”. Quả thực là như này ,qua văn bản " Những sự thật về Vạn Lý Trường Thành "bức tường" bí ẩn nhất nhân loại" ta đã thấm thía được nhiều điều về việc giữ gìn bản sắc dân tộc biết bao. Di tích lịch sử không chỉ là những công trình kiến trúc vô tri mà còn là "chứng nhân" sống động cho hành trình gian khổ và hào hùng của dân tộc. Trong dòng chảy hối hả của thời đại công nghệ, việc bảo tồn các di tích này trở thành một nhiệm vụ cấp thiết hơn bao giờ hết. Trước hết, di tích chính là sợi dây kết nối quá khứ với hiện tại, giúp chúng ta hiểu rõ về cội nguồn và bản sắc văn hóa riêng biệt. Bảo tồn di tích lịch sử không chỉ đơn thuần là duy trì nhưng những công trình ,mà chính là bảo vệ bản sắc dân tộc khỏi "cơn lốc" của toàn cầu hoá Bảo tồn tốt di tích cũng chính là thực hiện đạo lý "Uống nước nhớ nguồn", thể hiện lòng tri ân với cha ông. Minh chứng rõ nét nhất là Quần thể di tích Cố đô Huế – nơi không chỉ bảo tồn những giá trị vật thể mà còn đang được "sống lại" thông qua các dự án số hóa và thực tế ảo, giúp lịch sử chạm đến trái tim người trẻ một cách đầy cảm hứng. Tuy nhiên, một thực tế nhức nhối là nhiều di tích đang bị "bỏ rơi" hoặc bị xâm hại bởi sự vô ý thức của con người.Là một học sinh đang nỗ lực tự hoàn thiện mình mỗi ngày, tôi nhận ra rằng việc tìm hiểu và trân trọng những di sản của cha ông cũng là một cách nuôi dưỡng sự tĩnh lặng và chiều sâu trong tâm hồn. Thay vì mải mê chạy theo những giá trị hào nhoáng, hời hợt, tôi chọn cách trau dồi tri thức lịch sử để tạo cho mình một nền tảng văn hóa vững chắc. Đối với em, việc bảo tồn di sản bắt đầu từ những hành động nhỏ nhất như một chuyến đi tìm hiểu cội nguồn hay sự lên tiếng trước những hành vi xâm hại di tích. Bởi lẽ, khi ta thấu hiểu quá khứ, ta mới có đủ bản lĩnh để kiến tạo một tương lai sang trọng và bền vững đúng nghĩa.
câu 2 :
bài làm
" Thơ là điệu hồn đi tìm những tâm hồn đồng điệu " ( Tố Hữu ). Quả thực là như vậy ,thơ là tiếng lòng, là sự lên tiếng của những cung bậc cảm xúc chân thực nhất trong tâm hồn, đặc biệt là trong trái tim của con người .Bài thơ "Đồng dao cho người lớn" của tác giả Nguyễn Trọng Tạo. Bài thơ là một bản chiêm nghiệm sâu sắc về những nghịch lý và sự hữu hạn của kiếp người.
Tác giả Nguyễn Trọng Tạo là một nghệ sĩ đa tài người Việt Nam, nổi tiếng với vai trò nhà thơ, nhạc sĩ, nhà báo và họa sĩ. Thơ của ông kết hợp giữa trữ tình sâu lắng, triết lý nhân sinh và đậm đà âm hưởng dân gian dân tộc Việt Nam. Với câu thơ đầu chứa đựng một suy ngẫm sâu sắc về chứa đựng một suy ngẫm sâu sắc về ký ức, sự sống và ý nghĩa tồn tại của con người :
"có cánh rừng chết vẫn xanh trong tôi
có con người sống mà như qua đời"
Hình ảnh “cánh rừng chết” gợi những điều đã mất đi trong thực tại, nhưng lại “vẫn xanh trong tôi”, cho thấy sức sống bền bỉ của ký ức, tình cảm và những giá trị tinh thần không thể bị thời gian xóa nhòa. “Xanh” trở thành biểu tượng của sự sống, của niềm tin và những điều tốt đẹp vẫn tồn tại trong tâm hồn con người dù ngoại cảnh đã đổi thay. Trái lại, hình ảnh “con người sống mà như qua đời” là một nghịch lí giàu ý nghĩa, phê phán lối sống vô cảm, thiếu khát vọng, tồn tại một cách máy móc mà không có đời sống tinh thần thực sự.
"có câu trả lời biến thành câu hỏi
có kẻ ngoại tình ngỡ là tiệc cưới"
Hình ảnh “câu trả lời biến thành câu hỏi” gợi sự đảo lộn của nhận thức: những điều tưởng đã rõ ràng lại trở nên mơ hồ, khiến con người hoài nghi và trăn trở trước cuộc đời. Câu thơ cho thấy chân lí không phải lúc nào cũng tuyệt đối, càng hiểu nhiều con người càng nhận ra nhiều điều chưa thể giải đáp. Trong khi đó, hình ảnh “kẻ ngoại tình ngỡ là tiệc cưới” mang ý nghĩa phê phán, chỉ sự ngộ nhận về giá trị đạo đức khi con người tự biện minh cho sai lầm của mình, biến điều lệch lạc thành niềm vui hay hạnh phúc giả tạo.
"có cha có mẹ có trẻ mồ côi
có ông trăng tròn nào phải mâm xôi"
Câu thơ đầu đặt cạnh nhau hai hình ảnh đối lập: “có cha có mẹ” và “trẻ mồ côi”, cho thấy trong cùng một cuộc đời vẫn tồn tại song song hạnh phúc và mất mát, đủ đầy và thiếu thốn. Qua đó, tác giả nhắc người đọc nhận thức rõ những bất công và khác biệt của số phận con người để biết trân trọng những gì mình đang có. Câu thơ sau sử dụng hình ảnh dân gian “ông trăng tròn” đối lập với “mâm xôi”, khẳng định rằng không phải mọi vẻ đẹp hay điều tròn đầy đều mang ý nghĩa vật chất hay phục vụ nhu cầu con người ,thiên nhiên tồn tại với giá trị riêng của nó.
"có cả đất trời mà không nhà cửa
có vui nho nhỏ có buồn mênh mông "
Hình ảnh “có cả đất trời mà không nhà cửa” gợi cảm giác cô đơn, lạc lõng, con người tồn tại giữa không gian rộng lớn của thế giới nhưng lại thiếu một nơi thuộc về, thiếu mái ấm và điểm tựa tinh thần.Sang câu thơ sau, sự đối lập giữa “vui nho nhỏ” và “buồn mênh mông” làm nổi bật trạng thái cảm xúc quen thuộc của con người ,niềm vui thường mong manh, ngắn ngủi, trong khi nỗi buồn lại sâu rộng và kéo dài.
"mà thuyền vẫn sông mà xanh vẫn cỏ
mà đời vẫn say mà hồn vẫn gió"
Điệp từ “vẫn” được lặp lại nhiều lần nhấn mạnh sự tiếp diễn không ngừng của tự nhiên và con người: thuyền vẫn gắn với sông, cỏ vẫn xanh như quy luật muôn đời của sự sống. Những hình ảnh quen thuộc ấy gợi cảm giác ổn định, bền vững dù cuộc đời có nhiều biến động. Sang câu thơ sau, “đời vẫn say” diễn tả niềm say mê sống, còn “hồn vẫn gió” gợi tâm hồn tự do, phóng khoáng, luôn chuyển động và khát khao bay xa.
"có thương có nhớ có khóc có cười
có cái chớp mắt đã nghìn năm trôi."
Câu thơ đầu sử dụng phép liệt kê “thương – nhớ – khóc – cười” để khắc họa đầy đủ những trạng thái tình cảm quen thuộc của đời sống, cho thấy con người thật sự sống khi biết yêu thương và rung động. Sang câu thơ sau, hình ảnh “cái chớp mắt đã nghìn năm trôi” mang ý nghĩa ẩn dụ, diễn tả thời gian trôi nhanh đến mức khoảnh khắc ngắn ngủi cũng hóa thành vĩnh viễn.
Qua bài thơ trên, tác giả đã thể hiện những suy ngẫm sâu sắc về cuộc sống và con người thông qua hàng loạt nghịch lí giàu ý nghĩa. Các câu thơ phản ánh nhiều phương diện của đời sống: ký ức và hiện tại, niềm vui và nỗi buồn, sự sống và sự tồn tại vô nghĩa, qua đó gửi gắm triết lí nhân sinh rằng con người chỉ thật sự sống khi có đời sống tâm hồn phong phú, biết yêu thương, cảm nhận và trân trọng thời gian. Về nghệ thuật, tác giả sử dụng thành công phép đối lập, nghịch lí, điệp cấu trúc “có… có…”, cùng những hình ảnh biểu tượng giản dị mà giàu sức gợi, tạo nên giọng điệu suy tư, giàu chất triết lí và cảm xúc. Nhờ đó, các câu thơ ngắn gọn nhưng hàm chứa ý nghĩa sâu xa, để lại nhiều cảm xúc sâu lắng trong lòng người đọc.
"Một câu thơ hay là một câu thơ giàu sức gợi" ( Lưu Trọng Lư ). Tóm lại, những câu thơ đã để lại ấn tượng sâu sắc bởi chiều sâu triết lí và cảm xúc chân thành về cuộc sống con người. Qua những hình ảnh giản dị nhưng giàu sức gợi cùng nghệ thuật đối lập, nghịch lí đặc sắc, tác giả giúp người đọc nhận ra ý nghĩa của sự sống, biết trân trọng tình cảm, thời gian và những giá trị tinh thần bền vững. Ông đã thành công khi sáng tác được một tác phẩm chạm đến trái tim người đọc và ông đã khẳng định được tài năng và vị trí của mình trong nền văn học Việt Nam.