Đỗ Thị Thanh Hiền

Giới thiệu về bản thân

Chào mừng bạn đến với trang cá nhân của Đỗ Thị Thanh Hiền
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
(Thường được cập nhật sau 1 giờ!)

Câu 1:

“Dù ai đi ngược về xuôi

Nhớ ngày giỗ Tổ mùng mười tháng ba…”

Câu ca dao quen thuộc đã gợi nhắc mỗi người về cội nguồn dân tộc, gắn liền với những di tích lịch sử thiêng liêng như Đền Hùng. Di tích lịch sử là những công trình, địa điểm lưu giữ dấu ấn của quá khứ, phản ánh chặng đường hình thành và phát triển của dân tộc. Tuy nhiên, hiện nay nhiều di tích đang bị xuống cấp nghiêm trọng do tác động của thời gian, thiên nhiên và ý thức kém của con người như xả rác, vẽ bậy, phá hoại. Điều này đặt ra yêu cầu cấp thiết phải bảo tồn và phát huy giá trị của các di sản. Đối với mỗi cá nhân, việc bảo tồn di tích giúp chúng ta hiểu rõ hơn về nguồn cội, bồi dưỡng lòng yêu nước và niềm tự hào dân tộc; còn đối với cộng đồng, đó là tài sản vô giá góp phần giữ gìn bản sắc văn hóa và phát triển du lịch bền vững. Thực tế thời gian gần đây cho thấy vấn đề này càng trở nên đáng lo ngại khi sau các đợt bão lũ năm 2025, tại Phố cổ Hội An đã có hàng chục di tích bị xuống cấp, nhiều công trình đứng trước nguy cơ hư hại nghiêm trọng. Vì vậy, mỗi người cần có những hành động thiết thực như giữ gìn vệ sinh, không xâm hại di tích và tích cực tuyên truyền ý thức bảo vệ di sản. Tuy nhiên, vẫn còn một bộ phận người thờ ơ, thiếu trách nhiệm, làm ảnh hưởng đến giá trị của di tích, điều này cần bị phê phán và xử lí nghiêm minh. Là học sinh, em cần chủ động tìm hiểu lịch sử, nâng cao ý thức và góp phần nhỏ bé của mình trong việc bảo vệ di sản. Bảo tồn di tích lịch sử không chỉ là trách nhiệm mà còn là cách để gìn giữ hồn cốt dân tộc, để những giá trị tốt đẹp của cha ông mãi trường tồn cùng thời gian. Để rồi mai sau, khi nhìn lại, ta vẫn có thể tự hào về một dân tộc biết trân trọng quá khứ và hướng tới tương lai, bởi lẽ “Uống nước nhớ nguồn” không chỉ là lời nhắc nhở giản dị mà còn là chân lí sống bền vững của con người Việt Nam.

Câu 2:

Giữa những xô bồ của đời sống hiện đại, con người không chỉ tồn tại mà còn phải đối diện với vô vàn nghịch lí của chính cuộc đời mình. Thơ ca, vì thế, không đơn thuần là tiếng nói cảm xúc mà còn là nơi lắng đọng những suy tư sâu xa về sự sống và con người. Có những bài thơ mang dáng vẻ hồn nhiên như lời trẻ nhỏ, nhưng lại chứa đựng những chiêm nghiệm khiến người trưởng thành phải giật mình. "Đồng dao cho người lớn" chính là một khúc đồng dao như thế:

" có cánh rừng chết vẫn xanh trong tôi
 có con người sống mà như qua đời

 có câu trả lời biến thành câu hỏi
 có kẻ ngoại tình ngỡ là tiệc cưới

 có cha có mẹ có trẻ mồ côi
 có ông trăng tròn nào phải mâm xôi

 có cả đất trời mà không nhà cửa
 có vui nho nhỏ có buồn mênh mông

 mà thuyền vẫn sông mà xanh vẫn cỏ
 mà đời vẫn say mà hồn vẫn gió

 có thương có nhớ có khóc có cười
 có cái chớp mắt đã nghìn năm trôi."

Nguyễn Trọng Tạo là nhà thơ có phong cách độc đáo của thơ ca Việt Nam hiện đại. Thơ ông thường giản dị về ngôn từ nhưng giàu chiều sâu triết lí, khai thác những nghịch lí của đời sống để soi chiếu vào thân phận con người. Một trong những tác phẩm đặc sắc của ông được sáng tác năm 1992, đó chính là bài "Đồng dao cho người lớn" -một tác phẩm tiêu biểu, thể hiện rõ nét phong cách ấy qua hình thức đồng dao quen thuộc nhưng nội dung lại mang tính suy tư sâu sắc.

Nhà văn Nam Cao từng quan niệm: “Văn học không cần đến những người thợ khéo tay làm theo một vài kiểu mẫu đưa cho”. Chính vì vậy, giá trị của văn chương nằm ở những phát hiện mới mẻ về con người và cuộc đời. Nguyễn Trọng Tạo đã nhìn cuộc sống bằng lăng kính nghịch lí, từ đó tạo nên những câu thơ giàu sức gợi và ám ảnh.

“có cánh rừng chết vẫn xanh trong tôi”

Câu thơ mở ra một nghịch lí đầy ám ảnh: “cánh rừng chết” – biểu tượng của sự tàn lụi, mất mát – lại “vẫn xanh” trong tâm hồn con người. Sự đối lập này không nhằm miêu tả thực tại mà hướng đến thế giới nội tâm. Dù thời gian có thể làm phai mờ mọi thứ, nhưng những kí ức đẹp, những giá trị tinh thần vẫn tồn tại bền bỉ trong tâm trí con người. “Xanh” ở đây không chỉ là màu sắc mà còn là biểu tượng của sự sống, của hi vọng. Qua đó, nhà thơ khẳng định: có những điều tuy đã mất đi trong thực tại nhưng vẫn sống mãi trong tâm hồn – đó chính là sức mạnh của kí ức và cảm xúc con người.

“có con người sống mà như qua đời”

Nếu câu thơ trước gợi nhắc về sự sống của kí ức, thì câu thơ này lại là lời cảnh tỉnh sâu sắc về lối sống vô nghĩa. “Sống mà như qua đời”tác giả đã sử dụng biện pháo tu từ so sánh "như"để diễn tả trạng thái tồn tại nhưng thiếu đi ý nghĩa, thiếu đi khát vọng và cảm xúc. Con người vẫn hiện hữu về mặt thể xác nhưng tâm hồn đã “chết”, trở nên vô cảm trước cuộc đời. Đây là một nghịch lí đau xót, phản ánh thực trạng của không ít người trong xã hội hiện đại: sống mà không có mục đích, không biết mình đang sống vì điều gì. Qua đó, tác giả gửi gắm thông điệp: con người cần sống thực sự, sống có ý nghĩa, nếu không thì sự tồn tại ấy cũng trở nên vô giá trị.

Từ những suy ngẫm, triết lí trên phần nào đã đưa liên tưởng của người đọc đến với "Vội vàng" của Xuân Diệu. Nếu Nguyễn Trọng Tạo nhìn thấy nghịch lí để cảnh tỉnh con người về lối sống vô nghĩa, thì Xuân Diệu lại kêu gọi con người sống vội vàng, sống hết mình để không hoài phí thời gian. Dù cách thể hiện khác nhau, cả hai đều gặp nhau ở một điểm: thức tỉnh con người phải biết trân trọng sự sống và sống một cách trọn vẹn, có ý nghĩa:
"Nói làm chi rằng xuân vẫn tuần hoàn

Nếu tuổi trẻ chẳng hai lần thắm lại

Còn trời đất nhưng chẳng còn tôi mãi

Nên bâng khuâng tôi tiếc cả đất trời"

Nối tiếp những câu thơ trên nhà thơ có viết :

“có câu trả lời biến thành câu hỏi”

Câu thơ thể hiện nghịch lí trong nhận thức: “câu trả lời” vốn là sự rõ ràng, chắc chắn nhưng lại “biến thành câu hỏi”, gợi ra sự bất định của chân lí. Qua đó, tác giả cho thấy càng trải nghiệm, con người càng nhận ra thế giới phức tạp, nhiều điều không có đáp án cuối cùng, từ đó bộc lộ tâm trạng hoài nghi, trăn trở trước cuộc sống.

“có kẻ ngoại tình ngỡ là tiệc cưới”

Câu thơ mang ý nghĩa châm biếm sâu sắc khi đặt hành vi sai trái “ngoại tình” bên cạnh hình ảnh thiêng liêng “tiệc cưới”. Sự đối lập này cho thấy sự đảo lộn giá trị đạo đức, khi con người có thể ngụy biện, đánh tráo đúng – sai, biến cái xấu thành cái đẹp. Qua đó, tác giả cảnh tỉnh về nguy cơ lệch chuẩn trong nhận thức và lối sống.

“có cha có mẹ có trẻ mồ côi
có ông trăng tròn nào phải mâm xôi”

Hai câu thơ mở ra những nghịch lí của đời sống và nhận thức. Sự đối lập giữa “có cha có mẹ” và “trẻ mồ côi” cho thấy trong cùng một xã hội vẫn tồn tại những số phận trái ngược: người đủ đầy tình thương, kẻ lại thiếu thốn, bất hạnh. Điều đó gợi lên nỗi xót xa về thân phận con người. Hình ảnh “trăng tròn” nhưng “nào phải mâm xôi” lại mang ý nghĩa biểu tượng: vẻ ngoài đẹp đẽ không đồng nghĩa với giá trị thực bên trong, nhắc nhở con người không nên nhìn nhận sự vật một cách giản đơn, phiến diện.

“có cả đất trời mà không nhà cửa
có vui nho nhỏ có buồn mênh mông”

Hai câu thơ tiếp tục khắc họa sâu sắc nghịch cảnh của con người. Giữa “đất trời” rộng lớn nhưng vẫn có người “không nhà cửa”, cho thấy sự cô đơn, lạc lõng và thiếu nơi nương tựa cả về vật chất lẫn tinh thần. Đồng thời, sự đối lập giữa “vui nho nhỏ” và “buồn mênh mông” diễn tả chân thực đời sống nội tâm: niềm vui thường nhỏ bé, thoáng qua, trong khi nỗi buồn lại sâu rộng, dai dẳng, chiếm lĩnh tâm hồn con người.

“mà thuyền vẫn sông mà xanh vẫn cỏ
mà đời vẫn say mà hồn vẫn gió”

Những câu thơ này thể hiện quy luật vận động không ngừng của cuộc sống. Dù tồn tại nhiều nghịch lí và bất công, mọi thứ vẫn tiếp diễn theo tự nhiên: thuyền vẫn gắn với sông, cỏ vẫn xanh. Hình ảnh “đời vẫn say” gợi sự cuốn trôi của dòng đời, còn “hồn vẫn gió” biểu trưng cho khát vọng tự do, cho phần tinh thần vẫn bay bổng, không bị trói buộc. Qua đó, tác giả khẳng định sức sống bền bỉ của con người trước nghịch cảnh.

“có thương có nhớ có khóc có cười
có cái chớp mắt đã nghìn năm trôi.”

Hai câu thơ cuối khái quát trọn vẹn đời sống cảm xúc con người với đầy đủ cung bậc: yêu thương, nhớ nhung, đau khổ, hạnh phúc. Đó chính là những gì làm nên ý nghĩa của sự sống. Đặc biệt, hình ảnh “chớp mắt” mà “nghìn năm trôi” mang ý nghĩa triết lí sâu sắc: thời gian trôi đi rất nhanh, đời người ngắn ngủi như một khoảnh khắc. Câu thơ vừa gợi cảm giác tiếc nuối, vừa nhắc nhở con người phải biết trân trọng từng giây phút sống, sống sao cho có ý nghĩa.

Xuân Diệu từng nói: “Thơ là hiện thực, thơ là cuộc đời, thơ còn là thơ nữa”, nghĩa là thơ phải vừa phản ánh đời sống vừa mang giá trị thẩm mĩ riêng. Với việc sử dụng các từ ngữ giàu hình ảnh, kết hợp với một loạt các biện pháp tu từ như điệp từ, ẩn dụ, so sánh, nhân hóa,... Trọng Tạo đã tạo nên một bức tranh đầy thú vị về quy luật cũng như định lí về cuộc sống.Đó là một bài học, một cách thức tỉnh cho đối tượng mà văn bản muốn hướng tới "người lớn".

Jorge Luis Borges từng tâm niệm rằng "Thời gian hủy hoại các lâu đài, nhưng lại làm giàu những vẫn thơ". Qủa thật đúng như vậy, " Đồng dao cho người lớn" không chỉ là một tác phẩm tiêu biểu cho phong cách thơ giàu suy tư của Nguyễn Trọng Tạo. Mà bài thơ còn đem đến những cảm nhận mới mẻ về cuộc sống, khơi gợi trong lòng người đọc những suy ngẫm sâu sắc về ý nghĩa tồn tại cũng như cách sống của mỗi người, phải sống sao để bản thân không trở nên tầm thường và vô định như lời Tổng bí thư Tô Lâm từng nói: " Đừng để sự tầm thường, dễ dãi ám ảnh ta".


Câu 1.
Văn bản trên thuộc kiểu văn bản thông tin (thuyết minh)

Câu 2.
Đối tượng thông tin được đề cập đến là: Vạn Lý Trường Thành

Câu 3.
-Những dữ liệu tác giả đưa ra là dữ liệu thứ cấp

Trong bài có nhiều cụm từ cho thấy thông tin được trích dẫn lại: “Theo UNESCO…”,“Theo Travel China Guide…”,“Theo Daily Mail…”(Đây đều là các nguồn bên ngoài chứng tỏ dữ liệu là thứ cấp)

-Ví dụ:
“Theo UNESCO cho thấy gần một phần ba công trình này đã biến mất.”

+Thông tin này không phải do tác giả tự đo đạc hay khảo sát.

+Thông tin được lấy từ UNESCO – một tổ chức quốc tế.

+Tăng độ tin cậy (vì dựa vào nguồn uy tín).

+Làm thông tin khách quan và khoa học hơn.

+Giúp người đọc dễ tin và dễ tiếp nhận.

Câu 4.

-Phương tiện phi ngôn ngữ: Hình ảnh minh họa “Vạn Lý Trường Thành”.

-Tác dụng

Việc sử dụng hình ảnh có nhiều tác dụng quan trọng:

  • Giúp trực quan hóa thông tin:
    Người đọc có thể dễ dàng hình dung rõ hơn về quy mô, hình dáng, sự hùng vĩ của Vạn Lý Trường Thành.
  • Tăng tính sinh động, hấp dẫn:
    Làm cho văn bản không khô khan, tạo hứng thú khi đọc.
  • Hỗ trợ, bổ sung cho nội dung chữ viết:
    Hình ảnh giúp làm rõ những điều mà lời văn mô tả, giúp người đọc hiểu sâu hơn.
  • Tăng độ tin cậy của thông tin:
    Hình ảnh minh họa khiến người đọc cảm thấy thông tin chân thực, đáng tin hơn.

Câu 5:

Văn bản giúp em hiểu rõ hơn về Vạn Lý Trường Thành – một công trình kiến trúc vĩ đại và giàu giá trị lịch sử của nhân loại. Đây không chỉ là bức tường phòng thủ mà còn là biểu tượng cho trí tuệ, ý chí và sự bền bỉ của con người trong suốt hàng nghìn năm. Qua đó, em càng trân trọng công sức lao động to lớn của hàng triệu người đã góp phần xây dựng nên công trình kỳ vĩ này. Đồng thời, văn bản cũng khiến em nhận ra thực trạng đáng lo ngại khi Trường Thành đang dần bị hư hại theo thời gian và tác động của con người. Điều này nhắc nhở mỗi chúng ta cần có ý thức hơn trong việc bảo vệ và gìn giữ các di sản văn hóa. Không chỉ riêng Vạn Lý Trường Thành, mà mọi di sản của nhân loại đều cần được trân trọng và bảo tồn. Việc tìm hiểu những công trình như vậy cũng giúp em mở rộng kiến thức và thêm tự hào về những giá trị mà con người đã tạo ra. Từ đó, em ý thức rõ hơn trách nhiệm của bản thân trong việc giữ gìn và phát huy các giá trị văn hóa cho thế hệ sau.