Trần Thị Lệ Thủy

Giới thiệu về bản thân

Chào mừng bạn đến với trang cá nhân của Trần Thị Lệ Thủy
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
(Thường được cập nhật sau 1 giờ!)

*Câu 1. Từ văn bản _Tiếc thương sinh thái_, có thể thấy bảo vệ môi trường không chỉ là giữ gìn tài nguyên mà còn là bảo vệ đời sống tinh thần và căn tính của con người. Khi biến đổi khí hậu khiến băng tan, rừng cháy, các loài tuyệt chủng, con người không chỉ mất nơi ở mà còn mất đi những giá trị văn hóa, ký ức gắn liền với thiên nhiên. Người Inuit không còn băng thì “làm sao còn là dân tộc băng biển”, người bản địa Brazil mất rừng thì “mất hết tất cả”. Nỗi đau ấy lan đến cả thế hệ trẻ ở hậu phương: 59% lo âu, 45% bị ảnh hưởng tiêu cực đến đời sống. Vì vậy, bảo vệ môi trường chính là bảo vệ sức khỏe tâm thần cộng đồng, bảo vệ sự tồn tại lâu dài của văn hóa và tương lai nhân loại. Mỗi hành động nhỏ như tiết kiệm điện, trồng cây, hạn chế rác thải đều góp phần ngăn “khủng hoảng hiện sinh” mà cả hành tinh đang đối mặt. Môi trường còn thì con người mới còn hy vọng.

*Câu 2. (4.0 điểm)* Trong dòng chảy văn học trung đại Việt Nam, hình tượng người ẩn sĩ luôn mang vẻ đẹp của khí tiết thanh cao, của lối sống “lánh đục về trong” giữa thời loạn. _Nhàn_ của Nguyễn Bỉnh Khiêm và _Thu điếu_ của Nguyễn Khuyến đều khắc họa chân dung con người rời xa danh lợi để tìm về thiên nhiên. Thế nhưng, mỗi nhà thơ lại đặt vào đó một tư thế sống, một nỗi niềm riêng, làm nên hai bức chân dung ẩn sĩ vừa gặp gỡ vừa khác biệt. Trước hết, cả hai bài thơ đều gặp nhau ở vẻ đẹp cốt cách của kẻ sĩ chọn lối sống nhàn. Không gian mà họ tìm đến đều là thiên nhiên vắng vẻ, tĩnh lặng, đối lập với “chốn lao xao” của cuộc đời bon chen. Nguyễn Bỉnh Khiêm hiện lên với “một mai, một cuốc, một cần câu”, sống ung dung “thơ thẩn” giữa nhịp bốn mùa: “Thu ăn măng trúc, đông ăn giá / Xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao”. Nguyễn Khuyến cũng thả mình vào cảnh thu đồng bằng Bắc Bộ: “cần trúc lơ phơ”, “nước biếc”, “song thưa”, “bóng trăng”. Thiên nhiên ấy không chỉ là nơi ở, mà là chốn để tâm hồn được gột rửa, được hòa làm một với vũ trụ. Đặc biệt, cả hai ẩn sĩ đều thể hiện thái độ coi nhẹ phú quý. Trạng Trình thì “Nhìn xem phú quý tựa chiêm bao”, còn Tam Nguyên Yên Đổ khi định “cất bút” lại “thẹn với ông Đào” – Đào Tiềm, bậc ẩn sĩ mẫu mực coi thường công danh. Đó là sự gặp gỡ trong nhân cách: coi trọng khí tiết, giữ lòng thanh bạch hơn mọi bổng lộc, quyền uy. Tuy nhiên, đi sâu vào từng bài thơ, ta thấy hai hình tượng ẩn sĩ mang những sắc thái rất khác nhau, xuất phát từ bản lĩnh và thời đại của mỗi nhà thơ. Cái “nhàn” của Nguyễn Bỉnh Khiêm là cái nhàn chủ động, tự tại và kiêu hãnh. Ông từng làm quan to, hiểu thấu chốn quan trường “là nơi đấu đá, giành giật”, nên chọn về ở ẩn là một hành động dứt khoát. Giọng thơ vì thế rất khẳng khái, hóm hỉnh: “Ta dại, ta tìm nơi vắng vẻ / Người khôn, người đến chốn lao xao”. Nghệ thuật đối, cách nói ngược “dại – khôn” cho thấy sự tự tin tuyệt đối vào lựa chọn của mình. Nhịp thơ 2/2/3 khỏe khoắn, dứt khoát như tiếng cười ngạo nghễ của kẻ đã đứng ngoài vòng danh lợi. Thiên nhiên trong thơ ông đủ đầy, sung túc, con người làm chủ hoàn cảnh: “Rượu đến bóng cây ta hãy uống”. Ẩn sĩ ở đây là một triết nhân, đạt đến cảnh giới “vô vi”, coi mọi phú quý chỉ là “chiêm bao”, không mảy may vướng bận. Chữ “nhàn” của Trạng Trình là sự an nhiên của người đã trả xong nợ với đời. Ngược lại, cái “nhàn” của Nguyễn Khuyến lại thấm đẫm nỗi u hoài và day dứt. Ông cũng câu cá, cũng ngắm thu, nhưng cảnh càng trong, càng tĩnh thì nỗi cô đơn càng đậm. “Nước biếc trông như tầng khói phủ” gợi sự mờ nhòe, lạnh lẽo; “song thưa để mặc bóng trăng vào” là sự trống trải, buông xuôi. Âm thanh duy nhất “Một tiếng trên không ngỗng nước nào” không phá tan mà càng khắc sâu cái vắng lặng đến rợn ngợp. Đỉnh điểm là hai câu kết: “Nhân hứng cũng vừa toan cất bút / Nghĩ ra lại thẹn với ông Đào”. Nguyễn Khuyến “thẹn” vì nhận ra mình chưa thể an nhiên như Đào Tiềm. Ông vẫn còn nặng lòng với nước, với dân trong cảnh đất nước rơi vào tay giặc. Cái câu cá của ông vì thế không phải để di dưỡng tinh thần, mà để trốn tránh thực tại đau lòng, để không phải làm quan cho Pháp. Chữ “nhàn” của Tam Nguyên là chữ “nhàn” bất đắc dĩ, là tấm áo khoác bên ngoài một tâm hồn đang rỉ máu vì thời cuộc. Sự khác biệt ấy bắt nguồn từ hoàn cảnh lịch sử. Nguyễn Bỉnh Khiêm sống ở thế kỷ XVI, xã hội loạn nhưng nước chưa mất, kẻ sĩ vẫn còn có thể chọn “xuất” hay “xử”. Nguyễn Khuyến sống cuối thế kỷ XIX, chứng kiến vua tôi bất lực, đất nước lầm than. Vì thế, ẩn dật với ông không còn là sự thong dong tuyệt đối mà là bi kịch của một nhân cách lớn không tìm được đường đi. Nếu ẩn sĩ Trạng Trình là một triết gia mỉm cười nhìn thế sự, thì ẩn sĩ Tam Nguyên là một công dân ưu thời mẫn thế, lặng lẽ nuốt nỗi đau vào trong. Tóm lại, qua _Nhàn_ và _Thu điếu_, văn học trung đại đã để lại hai bức chân dung ẩn sĩ vừa thống nhất vừa đối lập. Một người kiêu hãnh, tự tại, xem đời là chiêm bao; một người u hoài, trăn trở, “thẹn” vì chưa thoát khỏi nợ nước. Từ đó ta hiểu rằng: lánh đời không đồng nghĩa với trốn đời. Với kẻ sĩ chân chính, dù ở ẩn hay làm quan, tấm lòng với non sông vẫn là điều không bao giờ nguôi. Đó chính là vẻ đẹp nhân cách làm nên giá trị bền vững cho hai bài thơ vượt qua mọi thời đại.

*Câu 2.

*Câu 1. Tiếc thương sinh thái là nỗi đau khổ trước những mất mát về sinh thái do biến đổi khí hậu gây ra mà con người đã trải qua hoặc tin rằng đang ở phía trước. Những mất mát này có thể là sự biến mất của các loài sinh vật, sự thay đổi cảnh quan quan trọng với đời sống tinh thần, khiến tâm trí con người phản ứng tương tự như khi mất người thân.

*Câu 2. Bài viết trình bày theo trình tự: nêu vấn đề chung → giải thích khái niệm “tiếc thương sinh thái” → đưa dẫn chứng về tác động ở cộng đồng “tiền tuyến” → mở rộng sang tác động ở “hậu phương” với số liệu khảo sát giới trẻ. *

Câu 3.- Trích dẫn nghiên cứu năm 2018 của Ashlee Cunsolo và Neville R. Ellis định nghĩa khái niệm. - Dẫn chứng cụ thể: cảm xúc của người Inuit ở Canada, người trồng trọt ở Australia, người Tenharim, Guató, Guarani ở Brazil khi rừng Amazon cháy. - Số liệu khảo sát tháng 12/2021 của Caroline Hickman và cộng sự với 10.000 trẻ em, thanh thiếu niên ở 10 quốc gia: 59% rất lo về biến đổi khí hậu, 45% bị ảnh hưởng tiêu cực đến đời sống.

*Câu 4 Tác giả tiếp cận vấn đề biến đổi khí hậu từ góc độ tâm lý - tinh thần chứ không chỉ dừng ở thiệt hại vật chất. Cách tiếp cận này mới mẻ, nhân văn và có tính thuyết phục cao vì dùng dẫn chứng khoa học, số liệu cụ thể, kết hợp trải nghiệm thực tế của nhiều cộng đồng từ “tiền tuyến” đến “hậu phương”. Nhờ đó, tác giả cho thấy biến đổi khí hậu không còn là nguy cơ xa vời mà đã tác động sâu sắc đến đời sống tinh thần con người.

*Câu 5. Biến đổi khí hậu không chỉ phá hủy môi trường sống mà còn bào mòn bản sắc văn hóa, đời sống tinh thần và sức khỏe tâm thần của con người. Khi mất đi môi trường gắn bó, con người mất đi một phần căn tính của mình. Vì vậy, chống biến đổi khí hậu cũng chính là bảo vệ giá trị sống, bảo vệ con người trước những khủng hoảng hiện sinh không thể bù đắp.

*Câu 1. Tiếc thương sinh thái là nỗi đau khổ trước những mất mát về sinh thái do biến đổi khí hậu gây ra mà con người đã trải qua hoặc tin rằng đang ở phía trước. Những mất mát này có thể là sự biến mất của các loài sinh vật, sự thay đổi cảnh quan quan trọng với đời sống tinh thần, khiến tâm trí con người phản ứng tương tự như khi mất người thân. *Câu 2. Bài viết trình bày theo trình tự: nêu vấn đề chung → giải thích khái niệm “tiếc thương sinh thái” → đưa dẫn chứng về tác động ở cộng đồng “tiền tuyến” → mở rộng sang tác động ở “hậu phương” với số liệu khảo sát giới trẻ. *Câu 3. - Trích dẫn nghiên cứu năm 2018 của Ashlee Cunsolo và Neville R. Ellis định nghĩa khái niệm. - Dẫn chứng cụ thể: cảm xúc của người Inuit ở Canada, người trồng trọt ở Australia, người Tenharim, Guató, Guarani ở Brazil khi rừng Amazon cháy. - Số liệu khảo sát tháng 12/2021 của Caroline Hickman và cộng sự với 10.000 trẻ em, thanh thiếu niên ở 10 quốc gia: 59% rất lo về biến đổi khí hậu, 45% bị ảnh hưởng tiêu cực đến đời sống. *Câu 4. Tác giả tiếp cận vấn đề biến đổi khí hậu từ góc độ tâm lý - tinh thần chứ không chỉ dừng ở thiệt hại vật chất. Cách tiếp cận này mới mẻ, nhân văn và có tính thuyết phục cao vì dùng dẫn chứng khoa học, số liệu cụ thể, kết hợp trải nghiệm thực tế của nhiều cộng đồng từ “tiền tuyến” đến “hậu phương”. Nhờ đó, tác giả cho thấy biến đổi khí hậu không còn là nguy cơ xa vời mà đã tác động sâu sắc đến đời sống tinh thần con người. *Câu 5. Biến đổi khí hậu không chỉ phá hủy môi trường sống mà còn bào mòn bản sắc văn hóa, đời sống tinh thần và sức khỏe tâm thần của con người. Khi mất đi môi trường gắn bó, con người mất đi một phần căn tính của mình. Vì vậy, chống biến đổi khí hậu cũng chính là bảo vệ giá trị sống, bảo vệ con người trước những khủng hoảng hiện sinh không thể bù đắp.

Câu 1. Từ văn bản _Tiếc thương sinh thái_, có thể thấy bảo vệ môi trường không chỉ là giữ gìn tài nguyên mà còn là bảo vệ đời sống tinh thần và căn tính của con người. Khi biến đổi khí hậu khiến băng tan, rừng cháy, các loài tuyệt chủng, con người không chỉ mất nơi ở mà còn mất đi những giá trị văn hóa, ký ức gắn liền với thiên nhiên. Người Inuit không còn băng thì “làm sao còn là dân tộc băng biển”, người bản địa Brazil mất rừng thì “mất hết tất cả”. Nỗi đau ấy lan đến cả thế hệ trẻ ở hậu phương: 59% lo âu, 45% bị ảnh hưởng tiêu cực đến đời sống. Vì vậy, bảo vệ môi trường chính là bảo vệ sức khỏe tâm thần cộng đồng, bảo vệ sự tồn tại lâu dài của văn hóa và tương lai nhân loại. Mỗi hành động nhỏ như tiết kiệm điện, trồng cây, hạn chế rác thải đều góp phần ngăn “khủng hoảng hiện sinh” mà cả hành tinh đang đối mặt. Môi trường còn thì con người mới còn hy vọng.

Câu 2. Trong dòng chảy văn học trung đại Việt Nam, hình tượng người ẩn sĩ luôn mang vẻ đẹp của khí tiết thanh cao, của lối sống “lánh đục về trong” giữa thời loạn. _Nhàn_ của Nguyễn Bỉnh Khiêm và _Thu điếu_ của Nguyễn Khuyến đều khắc họa chân dung con người rời xa danh lợi để tìm về thiên nhiên. Thế nhưng, mỗi nhà thơ lại đặt vào đó một tư thế sống, một nỗi niềm riêng, làm nên hai bức chân dung ẩn sĩ vừa gặp gỡ vừa khác biệt. Trước hết, cả hai bài thơ đều gặp nhau ở vẻ đẹp cốt cách của kẻ sĩ chọn lối sống nhàn. Không gian mà họ tìm đến đều là thiên nhiên vắng vẻ, tĩnh lặng, đối lập với “chốn lao xao” của cuộc đời bon chen. Nguyễn Bỉnh Khiêm hiện lên với “một mai, một cuốc, một cần câu”, sống ung dung “thơ thẩn” giữa nhịp bốn mùa: “Thu ăn măng trúc, đông ăn giá / Xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao”. Nguyễn Khuyến cũng thả mình vào cảnh thu đồng bằng Bắc Bộ: “cần trúc lơ phơ”, “nước biếc”, “song thưa”, “bóng trăng”. Thiên nhiên ấy không chỉ là nơi ở, mà là chốn để tâm hồn được gột rửa, được hòa làm một với vũ trụ. Đặc biệt, cả hai ẩn sĩ đều thể hiện thái độ coi nhẹ phú quý. Trạng Trình thì “Nhìn xem phú quý tựa chiêm bao”, còn Tam Nguyên Yên Đổ khi định “cất bút” lại “thẹn với ông Đào” – Đào Tiềm, bậc ẩn sĩ mẫu mực coi thường công danh. Đó là sự gặp gỡ trong nhân cách: coi trọng khí tiết, giữ lòng thanh bạch hơn mọi bổng lộc, quyền uy. Tuy nhiên, đi sâu vào từng bài thơ, ta thấy hai hình tượng ẩn sĩ mang những sắc thái rất khác nhau, xuất phát từ bản lĩnh và thời đại của mỗi nhà thơ. Cái “nhàn” của Nguyễn Bỉnh Khiêm là cái nhàn chủ động, tự tại và kiêu hãnh. Ông từng làm quan to, hiểu thấu chốn quan trường “là nơi đấu đá, giành giật”, nên chọn về ở ẩn là một hành động dứt khoát. Giọng thơ vì thế rất khẳng khái, hóm hỉnh: “Ta dại, ta tìm nơi vắng vẻ / Người khôn, người đến chốn lao xao”. Nghệ thuật đối, cách nói ngược “dại – khôn” cho thấy sự tự tin tuyệt đối vào lựa chọn của mình. Nhịp thơ 2/2/3 khỏe khoắn, dứt khoát như tiếng cười ngạo nghễ của kẻ đã đứng ngoài vòng danh lợi. Thiên nhiên trong thơ ông đủ đầy, sung túc, con người làm chủ hoàn cảnh: “Rượu đến bóng cây ta hãy uống”. Ẩn sĩ ở đây là một triết nhân, đạt đến cảnh giới “vô vi”, coi mọi phú quý chỉ là “chiêm bao”, không mảy may vướng bận. Chữ “nhàn” của Trạng Trình là sự an nhiên của người đã trả xong nợ với đời. Ngược lại, cái “nhàn” của Nguyễn Khuyến lại thấm đẫm nỗi u hoài và day dứt. Ông cũng câu cá, cũng ngắm thu, nhưng cảnh càng trong, càng tĩnh thì nỗi cô đơn càng đậm. “Nước biếc trông như tầng khói phủ” gợi sự mờ nhòe, lạnh lẽo; “song thưa để mặc bóng trăng vào” là sự trống trải, buông xuôi. Âm thanh duy nhất “Một tiếng trên không ngỗng nước nào” không phá tan mà càng khắc sâu cái vắng lặng đến rợn ngợp. Đỉnh điểm là hai câu kết: “Nhân hứng cũng vừa toan cất bút / Nghĩ ra lại thẹn với ông Đào”. Nguyễn Khuyến “thẹn” vì nhận ra mình chưa thể an nhiên như Đào Tiềm. Ông vẫn còn nặng lòng với nước, với dân trong cảnh đất nước rơi vào tay giặc. Cái câu cá của ông vì thế không phải để di dưỡng tinh thần, mà để trốn tránh thực tại đau lòng, để không phải làm quan cho Pháp. Chữ “nhàn” của Tam Nguyên là chữ “nhàn” bất đắc dĩ, là tấm áo khoác bên ngoài một tâm hồn đang rỉ máu vì thời cuộc. Sự khác biệt ấy bắt nguồn từ hoàn cảnh lịch sử. Nguyễn Bỉnh Khiêm sống ở thế kỷ XVI, xã hội loạn nhưng nước chưa mất, kẻ sĩ vẫn còn có thể chọn “xuất” hay “xử”. Nguyễn Khuyến sống cuối thế kỷ XIX, chứng kiến vua tôi bất lực, đất nước lầm than. Vì thế, ẩn dật với ông không còn là sự thong dong tuyệt đối mà là bi kịch của một nhân cách lớn không tìm được đường đi. Nếu ẩn sĩ Trạng Trình là một triết gia mỉm cười nhìn thế sự, thì ẩn sĩ Tam Nguyên là một công dân ưu thời mẫn thế, lặng lẽ nuốt nỗi đau vào trong. Tóm lại, qua _Nhàn_ và _Thu điếu_, văn học trung đại đã để lại hai bức chân dung ẩn sĩ vừa thống nhất vừa đối lập. Một người kiêu hãnh, tự tại, xem đời là chiêm bao; một người u hoài, trăn trở, “thẹn” vì chưa thoát khỏi nợ nước. Từ đó ta hiểu rằng: lánh đời không đồng nghĩa với trốn đời. Với kẻ sĩ chân chính, dù ở ẩn hay làm quan, tấm lòng với non sông vẫn là điều không bao giờ nguôi. Đó chính là vẻ đẹp nhân cách làm nên giá trị bền vững cho hai bài thơ vượt qua mọi thời đại.


Câu 1. Từ văn bản _Tiếc thương sinh thái_, có thể thấy bảo vệ môi trường không chỉ là giữ gìn tài nguyên mà còn là bảo vệ đời sống tinh thần và căn tính của con người. Khi biến đổi khí hậu khiến băng tan, rừng cháy, các loài tuyệt chủng, con người không chỉ mất nơi ở mà còn mất đi những giá trị văn hóa, ký ức gắn liền với thiên nhiên. Người Inuit không còn băng thì “làm sao còn là dân tộc băng biển”, người bản địa Brazil mất rừng thì “mất hết tất cả”. Nỗi đau ấy lan đến cả thế hệ trẻ ở hậu phương: 59% lo âu, 45% bị ảnh hưởng tiêu cực đến đời sống. Vì vậy, bảo vệ môi trường chính là bảo vệ sức khỏe tâm thần cộng đồng, bảo vệ sự tồn tại lâu dài của văn hóa và tương lai nhân loại. Mỗi hành động nhỏ như tiết kiệm điện, trồng cây, hạn chế rác thải đều góp phần ngăn “khủng hoảng hiện sinh” mà cả hành tinh đang đối mặt. Môi trường còn thì con người mới còn hy vọng.

Câu 2. Trong dòng chảy văn học trung đại Việt Nam, hình tượng người ẩn sĩ luôn mang vẻ đẹp của khí tiết thanh cao, của lối sống “lánh đục về trong” giữa thời loạn. _Nhàn_ của Nguyễn Bỉnh Khiêm và _Thu điếu_ của Nguyễn Khuyến đều khắc họa chân dung con người rời xa danh lợi để tìm về thiên nhiên. Thế nhưng, mỗi nhà thơ lại đặt vào đó một tư thế sống, một nỗi niềm riêng, làm nên hai bức chân dung ẩn sĩ vừa gặp gỡ vừa khác biệt. Trước hết, cả hai bài thơ đều gặp nhau ở vẻ đẹp cốt cách của kẻ sĩ chọn lối sống nhàn. Không gian mà họ tìm đến đều là thiên nhiên vắng vẻ, tĩnh lặng, đối lập với “chốn lao xao” của cuộc đời bon chen. Nguyễn Bỉnh Khiêm hiện lên với “một mai, một cuốc, một cần câu”, sống ung dung “thơ thẩn” giữa nhịp bốn mùa: “Thu ăn măng trúc, đông ăn giá / Xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao”. Nguyễn Khuyến cũng thả mình vào cảnh thu đồng bằng Bắc Bộ: “cần trúc lơ phơ”, “nước biếc”, “song thưa”, “bóng trăng”. Thiên nhiên ấy không chỉ là nơi ở, mà là chốn để tâm hồn được gột rửa, được hòa làm một với vũ trụ. Đặc biệt, cả hai ẩn sĩ đều thể hiện thái độ coi nhẹ phú quý. Trạng Trình thì “Nhìn xem phú quý tựa chiêm bao”, còn Tam Nguyên Yên Đổ khi định “cất bút” lại “thẹn với ông Đào” – Đào Tiềm, bậc ẩn sĩ mẫu mực coi thường công danh. Đó là sự gặp gỡ trong nhân cách: coi trọng khí tiết, giữ lòng thanh bạch hơn mọi bổng lộc, quyền uy. Tuy nhiên, đi sâu vào từng bài thơ, ta thấy hai hình tượng ẩn sĩ mang những sắc thái rất khác nhau, xuất phát từ bản lĩnh và thời đại của mỗi nhà thơ. Cái “nhàn” của Nguyễn Bỉnh Khiêm là cái nhàn chủ động, tự tại và kiêu hãnh. Ông từng làm quan to, hiểu thấu chốn quan trường “là nơi đấu đá, giành giật”, nên chọn về ở ẩn là một hành động dứt khoát. Giọng thơ vì thế rất khẳng khái, hóm hỉnh: “Ta dại, ta tìm nơi vắng vẻ / Người khôn, người đến chốn lao xao”. Nghệ thuật đối, cách nói ngược “dại – khôn” cho thấy sự tự tin tuyệt đối vào lựa chọn của mình. Nhịp thơ 2/2/3 khỏe khoắn, dứt khoát như tiếng cười ngạo nghễ của kẻ đã đứng ngoài vòng danh lợi. Thiên nhiên trong thơ ông đủ đầy, sung túc, con người làm chủ hoàn cảnh: “Rượu đến bóng cây ta hãy uống”. Ẩn sĩ ở đây là một triết nhân, đạt đến cảnh giới “vô vi”, coi mọi phú quý chỉ là “chiêm bao”, không mảy may vướng bận. Chữ “nhàn” của Trạng Trình là sự an nhiên của người đã trả xong nợ với đời. Ngược lại, cái “nhàn” của Nguyễn Khuyến lại thấm đẫm nỗi u hoài và day dứt. Ông cũng câu cá, cũng ngắm thu, nhưng cảnh càng trong, càng tĩnh thì nỗi cô đơn càng đậm. “Nước biếc trông như tầng khói phủ” gợi sự mờ nhòe, lạnh lẽo; “song thưa để mặc bóng trăng vào” là sự trống trải, buông xuôi. Âm thanh duy nhất “Một tiếng trên không ngỗng nước nào” không phá tan mà càng khắc sâu cái vắng lặng đến rợn ngợp. Đỉnh điểm là hai câu kết: “Nhân hứng cũng vừa toan cất bút / Nghĩ ra lại thẹn với ông Đào”. Nguyễn Khuyến “thẹn” vì nhận ra mình chưa thể an nhiên như Đào Tiềm. Ông vẫn còn nặng lòng với nước, với dân trong cảnh đất nước rơi vào tay giặc. Cái câu cá của ông vì thế không phải để di dưỡng tinh thần, mà để trốn tránh thực tại đau lòng, để không phải làm quan cho Pháp. Chữ “nhàn” của Tam Nguyên là chữ “nhàn” bất đắc dĩ, là tấm áo khoác bên ngoài một tâm hồn đang rỉ máu vì thời cuộc. Sự khác biệt ấy bắt nguồn từ hoàn cảnh lịch sử. Nguyễn Bỉnh Khiêm sống ở thế kỷ XVI, xã hội loạn nhưng nước chưa mất, kẻ sĩ vẫn còn có thể chọn “xuất” hay “xử”. Nguyễn Khuyến sống cuối thế kỷ XIX, chứng kiến vua tôi bất lực, đất nước lầm than. Vì thế, ẩn dật với ông không còn là sự thong dong tuyệt đối mà là bi kịch của một nhân cách lớn không tìm được đường đi. Nếu ẩn sĩ Trạng Trình là một triết gia mỉm cười nhìn thế sự, thì ẩn sĩ Tam Nguyên là một công dân ưu thời mẫn thế, lặng lẽ nuốt nỗi đau vào trong. Tóm lại, qua _Nhàn_ và _Thu điếu_, văn học trung đại đã để lại hai bức chân dung ẩn sĩ vừa thống nhất vừa đối lập. Một người kiêu hãnh, tự tại, xem đời là chiêm bao; một người u hoài, trăn trở, “thẹn” vì chưa thoát khỏi nợ nước. Từ đó ta hiểu rằng: lánh đời không đồng nghĩa với trốn đời. Với kẻ sĩ chân chính, dù ở ẩn hay làm quan, tấm lòng với non sông vẫn là điều không bao giờ nguôi. Đó chính là vẻ đẹp nhân cách làm nên giá trị bền vững cho hai bài thơ vượt qua mọi thời đại.