Trịnh Gia Huy
Giới thiệu về bản thân
Câu 1 (2,0 điểm)
Trong đoạn trích “Thổn thức gió đồng”, tâm trạng của nhân vật “tôi” có nhiều diễn biến tinh tế và giàu cảm xúc. Trước hết, khi trở về quê hương, nhân vật “tôi” mang trong mình cảm giác bâng khuâng, xót xa trước sự đổi thay của làng quê. Cuộc sống vật chất tuy khá hơn nhưng vẻ bình yên, mộc mạc ngày nào dường như đã phai nhạt bởi “tiếng còi xe và nhạc bằng ầm ĩ”. Tâm trạng ấy cho thấy tình yêu tha thiết của nhân vật với quê hương và những giá trị truyền thống. Khi gặp lại dì Lam, “tôi” vô cùng ngỡ ngàng, xúc động. Hình ảnh người dì từng gắn bó với tuổi thơ nay hiện lên mảnh khảnh, từng trải khiến nhân vật không khỏi thương cảm. Đặc biệt, khi chứng kiến mẹ bật khóc lúc gặp lại dì Lam, “tôi” càng thấu hiểu những đau khổ, mất mát mà người thân đã trải qua. Xen lẫn trong nỗi xúc động ấy là niềm vui và sự thanh thản khi thấy dì Lam đã tìm được bình yên sau bao biến cố cuộc đời. Qua diễn biến tâm trạng của nhân vật “tôi”, tác giả thể hiện tình cảm gia đình sâu nặng, sự trân trọng quá khứ và niềm tin vào sức mạnh của con người sau đau thương.
Câu 2 (4,0 điểm)
Văn hóa ứng xử nơi công cộng của thế hệ trẻ ngày nay
Trong dịp kỉ niệm 50 năm ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, bên cạnh những hình ảnh đẹp về lòng yêu nước và niềm tự hào dân tộc, vẫn xuất hiện không ít hành vi ứng xử thiếu văn hóa nơi công cộng của một bộ phận giới trẻ. Điều đó đặt ra vấn đề đáng suy ngẫm về văn hóa ứng xử của thế hệ trẻ trong xã hội hiện đại.
Văn hóa ứng xử nơi công cộng là cách con người giao tiếp, hành động và thể hiện thái độ ở những không gian chung như trường học, đường phố, công viên hay các lễ hội. Một hành vi đẹp không chỉ thể hiện ở lời nói lịch sự mà còn ở ý thức tôn trọng người khác, giữ gìn môi trường và tuân thủ các quy định chung. Đối với thế hệ trẻ – lực lượng đại diện cho bộ mặt tương lai của đất nước – văn hóa ứng xử càng có ý nghĩa quan trọng.
Hiện nay, nhiều bạn trẻ có cách ứng xử văn minh và đáng trân trọng. Trong các dịp lễ lớn, hình ảnh thanh niên xếp hàng ngay ngắn, hỗ trợ khách du lịch, nhặt rác sau sự kiện hay nhường đường cho người lớn tuổi đã để lại nhiều thiện cảm đẹp. Nhiều bạn trẻ còn lan tỏa năng lượng tích cực thông qua những hoạt động thiện nguyện, bảo vệ môi trường và giúp đỡ cộng đồng. Những hành động ấy cho thấy giới trẻ hôm nay năng động, trách nhiệm và giàu lòng nhân ái.
Tuy nhiên, bên cạnh đó vẫn còn không ít hành vi đáng buồn. Một số người chen lấn, xô đẩy ở nơi đông người; nói tục, cười đùa quá mức; xả rác bừa bãi; vô tư quay phim, chụp ảnh bất chấp sự bất tiện cho người khác. Trên mạng xã hội, nhiều bạn còn phát ngôn thiếu chuẩn mực, công kích người khác để thu hút sự chú ý. Những hành vi ấy không chỉ làm xấu hình ảnh của giới trẻ mà còn phản ánh sự thiếu ý thức và thiếu tôn trọng cộng đồng.
Nguyên nhân của thực trạng này xuất phát từ nhiều phía. Trước hết là do một bộ phận người trẻ chưa được giáo dục đầy đủ về ý thức cộng đồng và kĩ năng ứng xử. Bên cạnh đó, sự phát triển mạnh mẽ của mạng xã hội khiến nhiều người chạy theo sự nổi tiếng, thích thể hiện bản thân mà quên đi chuẩn mực văn hóa. Ngoài ra, sự thờ ơ của gia đình và nhà trường trong việc định hướng nhân cách cũng góp phần dẫn đến lối sống thiếu văn minh.
Để xây dựng văn hóa ứng xử đẹp nơi công cộng, trước hết mỗi người trẻ cần tự nâng cao ý thức cá nhân, học cách tôn trọng người khác và chịu trách nhiệm với hành động của mình. Gia đình và nhà trường cần chú trọng giáo dục đạo đức, lối sống và tinh thần cộng đồng cho học sinh. Đồng thời, xã hội cũng cần lan tỏa nhiều hình ảnh đẹp, phê phán những hành vi lệch chuẩn để định hướng nhận thức cho giới trẻ.
Là học sinh, em nhận thức rằng văn hóa ứng xử không phải điều gì lớn lao mà bắt đầu từ những hành động nhỏ như nói lời cảm ơn, xếp hàng nơi công cộng, không xả rác hay biết lắng nghe người khác. Một người trẻ văn minh không chỉ góp phần làm đẹp hình ảnh bản thân mà còn góp phần xây dựng một xã hội văn minh, giàu giá trị nhân văn.
Văn hóa ứng xử nơi công cộng chính là thước đo nhân cách và trình độ văn minh của mỗi con người. Thế hệ trẻ hôm nay không chỉ cần tri thức mà còn phải biết sống đẹp, sống có trách nhiệm với cộng đồng. Mỗi lời nói lịch sự, mỗi hành động văn minh tuy nhỏ bé nhưng sẽ góp phần tạo nên một xã hội tốt đẹp hơn. Vì vậy, người trẻ cần không ngừng rèn luyện ý thức, cách ứng xử đúng mực để trở thành những công dân vừa có tài, vừa có văn hóa, xứng đáng với niềm tin và kì vọng của đất nước.
Câu 1. Chỉ ra dấu hiệu để xác định ngôi kể trong đoạn trích trên.
Đoạn trích được kể theo ngôi thứ nhất.
Dấu hiệu nhận biết:
Người kể chuyện xưng “tôi”
Câu 2. Liệt kê các chi tiết cho thấy sự thay đổi của làng quê nơi nhân vật “tôi” sống.
Những chi tiết cho thấy sự thay đổi của làng quê:
“Những mảnh ruộng ít ỏi còn lại một năm hai vụ gieo cấy.”
“Người làng tôi từ những người nông dân chỉ biết cấy lúa và trồng rau giờ đi làm thợ xây và làm thuê cho dự án.”
“Cuộc sống bớt lam lũ và cơ cực hơn.”
“Tiếng còi xe và nhạc bằng ầm ĩ thay cho những lời hát ru con mỗi buổi trưa hè.”
“Những ngôi nhà trong làng đã khang trang.”
“Không khí khác trước nhiều lắm.”
Nhận xét:
Làng quê đang đổi thay theo hướng hiện đại h
óa, đời sống vật chất được nâng cao.
Tuy nhiên, sự phát triển ấy cũng làm mất đi phần nào vẻ yên bình, mộc mạc và thân thuộc của làng quê xưa.
Câu 3. Phân tích tác dụng của 01 biện pháp tu từ được sử dụng trong hai câu văn sau:
“Tháng năm có thể khiến con người ta tiêu tụy đi, yếu mòn đi. Nhưng tháng năm lại khiến ý chí của con người ta can trường và bền bỉ.”
Trong hai câu văn trên, tác giả sử dụng biện pháp tu từ đối lập giữa:
“tiêu tụy”, “yếu mòn”
với
“can trường”, “bền bỉ”.
Tác dụng:
Làm nổi bật sự đối lập giữa sự hao mòn về thể xác và sức mạnh tinh thần của con người sau những biến cố cuộc đời.
Nhấn mạnh rằng thời gian và khó khăn tuy có thể khiến con người đau đớn, mệt mỏi nhưng cũng giúp con người trưởng thành, mạnh mẽ hơn.
Qua đó thể hiện vẻ đẹp của nghị lực sống, khả năng vượt lên nghịch cảnh của con người.
Đồng thời gửi gắm triết lí nhân sinh sâu sắc: đau thương đôi khi chính là điều rèn luyện ý chí và bản lĩnh.
Câu 4. Phân tích sự phù hợp của điểm nhìn trần thuật trong việc thể hiện chủ đề của đoạn trích.
Đoạn trích được kể từ điểm nhìn của nhân vật “tôi” – một người con gắn bó sâu nặng với quê hương và có mối quan hệ thân thiết với dì Lam. Điểm nhìn trần thuật này rất phù hợp trong việc thể hiện chủ đề của đoạn trích.
Trước hết, việc kể chuyện qua lời của nhân vật “tôi” giúp câu chuyện trở nên chân thực và giàu cảm xúc. Những đổi thay của làng quê, hình ảnh người mẹ tảo tần hay cuộc đời nhiều bất hạnh của dì Lam đều được cảm nhận bằng những rung động rất tự nhiên và sâu sắc.
Bên cạnh đó, điểm nhìn này giúp người đọc cảm nhận rõ nỗi xót xa trước sự đổi thay của quê hương: đời sống vật chất tuy khá hơn nhưng sự bình yên, giản dị của làng quê dần mất đi. Qua cái nhìn đầy suy tư của nhân vật “tôi”, tác giả bộc lộ tình yêu quê hương tha thiết và sự trân trọng những giá trị truyền thống.
Ngoài ra, điểm nhìn trần thuật còn góp phần khắc họa vẻ đẹp của dì Lam – một người phụ nữ từng trải qua nhiều đau khổ nhưng vẫn mạnh mẽ, bình thản và giàu yêu thương. Những cảm nhận của “tôi” khiến hình ảnh dì Lam hiện lên chân thực, cảm động và giàu chiều sâu nội tâm.
Nhờ lựa chọn điểm nhìn trần thuật phù hợp, đoạn trích không chỉ kể một câu chuyện đời thường mà còn gửi gắm những suy ngẫm sâu sắc về con người, thời gian và cuộc sống.
Câu 5. Cuộc sống ở nhiều vùng nông thôn hiện nay đã và đang thay đổi như vùng quê của nhân vật “tôi”. Anh/chị suy nghĩ như thế nào về vấn đề trên? (5 – 7 dòng)
Ngày nay, nhiều vùng nông thôn đang thay đổi mạnh mẽ theo hướng hiện đại hóa. Đường sá rộng hơn, nhà cửa khang trang hơn và đời sống của người dân cũng được cải thiện đáng kể. Đây là dấu hiệu tích cực cho thấy đất nước ngày càng phát triển. Tuy nhiên, bên cạnh sự đổi mới ấy, nhiều nét đẹp truyền thống của làng quê như sự yên bình, tiếng hát ru hay tình làng nghĩa xóm đang dần phai nhạt. Vì vậy, theo em, con người cần biết cân bằng giữa phát triển kinh tế và gìn giữ những giá trị văn hóa truyền thống. Chỉ khi giữ được hồn quê, sự phát triển của nông thôn mới thực sự có ý nghĩa và bền vững.