Nguyễn Phương Thảo
Giới thiệu về bản thân
Câu 1 (0,5 điểm)
Luận đề của văn bản:
Trí tuệ nhân tạo (AI) có thể đạt tới hoặc vượt qua trí thông minh của con người nhưng không nhất thiết có ý thức; vì vậy con người cần thận trọng trong việc phát triển và sử dụng AI.
Câu 2 (0,5 điểm)
Trong đoạn (2), tác giả sử dụng thao tác lập luận giải thích kết hợp với phân biệt (so sánh đối chiếu) để chỉ ra trí tuệ và ý thức là hai thứ rất khác nhau.
- Trí tuệ: khả năng giải quyết vấn đề.
- Ý thức: khả năng cảm nhận đau, vui, yêu, giận.
Qua việc định nghĩa và đối chiếu hai khái niệm, tác giả làm rõ sự khác biệt giữa chúng.
Câu 3 (1,0 điểm)
Các bằng chứng trong đoạn (3) có tác dụng:
- Làm sáng tỏ luận điểm: AI có thể đạt trình độ trí tuệ rất cao mà không cần có ý thức.
- Tăng tính cụ thể, sinh động và sức thuyết phục cho lập luận.
- Ví dụ so sánh "máy bay bay nhanh hơn chim mà không cần mọc lông" giúp người đọc dễ hình dung rằng AI không nhất thiết phải giống con người mới có thể vượt trội con người.
- Các dẫn chứng về chữa bệnh, nhận diện khủng bố, gợi ý bạn đời, tìm đường trên phố... cho thấy AI vẫn có thể phân tích cảm xúc của con người mà không cần sở hữu cảm xúc riêng.
Câu 4 (1,0 điểm)
Lỗi: Câu văn bị thiếu chủ ngữ.
"Trong đoạn trích đã thể hiện những hiểu biết sâu sắc và đưa ra những kiến giải thuyết phục về trí tuệ nhân tạo (AI)."
Cụm từ "Trong đoạn trích" chỉ trạng ngữ, không phải chủ ngữ.
Cách sửa:
- Đoạn trích đã thể hiện những hiểu biết sâu sắc và đưa ra những kiến giải thuyết phục về trí tuệ nhân tạo (AI).
- Hoặc: Tác giả trong đoạn trích đã thể hiện những hiểu biết sâu sắc và đưa ra những kiến giải thuyết phục về trí tuệ nhân tạo (AI).
Câu 5 (1,0 điểm)
Lời cảnh báo của tác giả nhắc nhở em phải sử dụng trí tuệ nhân tạo và công nghệ một cách có trách nhiệm. Dù AI ngày càng hiện đại, con người vẫn cần giữ vai trò làm chủ, không phụ thuộc hoàn toàn vào máy móc. Nếu lạm dụng công nghệ, con người có thể trở nên thụ động, đánh mất khả năng tư duy, sáng tạo và các giá trị nhân văn. Vì vậy, mỗi người cần không ngừng học tập, rèn luyện tư duy độc lập và sử dụng công nghệ để phục vụ cuộc sống, thay vì để công nghệ chi phối mình. Đây là bài học rất có ý nghĩa trong thời đại số hiện nay.
Câu 1 (0,5 điểm)
Luận đề của văn bản:
Trí tuệ nhân tạo (AI) có thể đạt tới hoặc vượt qua trí thông minh của con người nhưng không nhất thiết có ý thức; vì vậy con người cần thận trọng trong việc phát triển và sử dụng AI.
Câu 2 (0,5 điểm)
Trong đoạn (2), tác giả sử dụng thao tác lập luận giải thích kết hợp với phân biệt (so sánh đối chiếu) để chỉ ra trí tuệ và ý thức là hai thứ rất khác nhau.
- Trí tuệ: khả năng giải quyết vấn đề.
- Ý thức: khả năng cảm nhận đau, vui, yêu, giận.
Qua việc định nghĩa và đối chiếu hai khái niệm, tác giả làm rõ sự khác biệt giữa chúng.
Câu 3 (1,0 điểm)
Các bằng chứng trong đoạn (3) có tác dụng:
- Làm sáng tỏ luận điểm: AI có thể đạt trình độ trí tuệ rất cao mà không cần có ý thức.
- Tăng tính cụ thể, sinh động và sức thuyết phục cho lập luận.
- Ví dụ so sánh "máy bay bay nhanh hơn chim mà không cần mọc lông" giúp người đọc dễ hình dung rằng AI không nhất thiết phải giống con người mới có thể vượt trội con người.
- Các dẫn chứng về chữa bệnh, nhận diện khủng bố, gợi ý bạn đời, tìm đường trên phố... cho thấy AI vẫn có thể phân tích cảm xúc của con người mà không cần sở hữu cảm xúc riêng.
Câu 4 (1,0 điểm)
Lỗi: Câu văn bị thiếu chủ ngữ.
"Trong đoạn trích đã thể hiện những hiểu biết sâu sắc và đưa ra những kiến giải thuyết phục về trí tuệ nhân tạo (AI)."
Cụm từ "Trong đoạn trích" chỉ trạng ngữ, không phải chủ ngữ.
Cách sửa:
- Đoạn trích đã thể hiện những hiểu biết sâu sắc và đưa ra những kiến giải thuyết phục về trí tuệ nhân tạo (AI).
- Hoặc: Tác giả trong đoạn trích đã thể hiện những hiểu biết sâu sắc và đưa ra những kiến giải thuyết phục về trí tuệ nhân tạo (AI).
Câu 5 (1,0 điểm)
Lời cảnh báo của tác giả nhắc nhở em phải sử dụng trí tuệ nhân tạo và công nghệ một cách có trách nhiệm. Dù AI ngày càng hiện đại, con người vẫn cần giữ vai trò làm chủ, không phụ thuộc hoàn toàn vào máy móc. Nếu lạm dụng công nghệ, con người có thể trở nên thụ động, đánh mất khả năng tư duy, sáng tạo và các giá trị nhân văn. Vì vậy, mỗi người cần không ngừng học tập, rèn luyện tư duy độc lập và sử dụng công nghệ để phục vụ cuộc sống, thay vì để công nghệ chi phối mình. Đây là bài học rất có ý nghĩa trong thời đại số hiện nay.
Câu 1 (2,0 điểm). Viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) phân tích hình ảnh hàng rào dây thép gai trong văn bản ở phần Đọc hiểu.
Câu 2 (4,0 điểm). Viết bài văn (khoảng 600 chữ) trình bày suy nghĩ của em về sự cần thiết của lối sống có trách nhiệm của thế hệ trẻ đối với thế hệ trẻ hiện nay.
Câu 1 Trong thời đại công nghệ phát triển mạnh mẽ, con người thường lo sợ bị máy móc thay thế. Tuy nhiên, điều đáng lo ngại hơn chính là sự máy móc trong tư duy của con người. Đó là lối suy nghĩ rập khuôn, thụ động, thiếu sáng tạo và không có chính kiến riêng. Khi tư duy trở nên máy móc, con người dễ chấp nhận thông tin một cách vô thức, không biết phản biện hay nhìn nhận vấn đề từ nhiều góc độ khác nhau. Điều này khiến khả năng sáng tạo, khám phá và đổi mới bị hạn chế. Đặc biệt, trong thời đại số, nếu chỉ phụ thuộc vào công nghệ và trí tuệ nhân tạo mà không tự suy nghĩ, con người sẽ dần đánh mất năng lực tư duy độc lập. Sự máy móc trong tư duy còn làm cho con người trở nên vô cảm, thiếu sự thấu hiểu và linh hoạt trong các mối quan hệ xã hội. Là người trẻ, chúng ta cần rèn luyện tư duy phản biện, chủ động học hỏi, dám đặt câu hỏi và tìm kiếm những cách giải quyết mới cho vấn đề. Chỉ khi biết suy nghĩ độc lập và sáng tạo, con người mới thực sự làm chủ công nghệ thay vì trở thành "cỗ máy" giữa cuộc sống hiện đại.
Văn học Việt Nam sau năm 1975 có nhiều đổi mới trong cách nhìn nhận con người và cuộc sống. Các nhà văn không chỉ phản ánh hiện thực mà còn đi sâu khám phá vẻ đẹp tinh thần, những giá trị văn hóa và nhân văn của con người Việt Nam. Điều đó được thể hiện rõ qua hai đoạn trích trong truyện ngắn Mây trắng còn bay của Bảo Ninh và Một người Hà Nội của Nguyễn Khải. Mỗi tác phẩm hướng tới những vẻ đẹp khác nhau nhưng đều góp phần khẳng định những giá trị bền vững của con người trong cuộc sống.
Trước hết, cả hai đoạn trích đều tập trung khắc họa vẻ đẹp tâm hồn của những con người bình dị. Trong Mây trắng còn bay, hình ảnh bà cụ già lần đầu đi máy bay để đến nơi con trai đã hi sinh gây xúc động sâu sắc. Gần ba mươi năm sau chiến tranh, nỗi đau mất con vẫn còn nguyên vẹn trong trái tim người mẹ. Hành động lập bàn thờ nhỏ trên máy bay, thắp nén nhang cho người con đã khuất là biểu hiện của tình mẫu tử thiêng liêng, của đạo lí “uống nước nhớ nguồn” và sự thủy chung với những người đã ngã xuống vì đất nước. Còn trong Một người Hà Nội, cô Hiền hiện lên là một người phụ nữ bình thường nhưng giàu bản lĩnh, biết suy nghĩ độc lập và có ý thức gìn giữ những giá trị văn hóa truyền thống. Từ việc lựa chọn hôn nhân, chủ động xây dựng cuộc sống gia đình đến cách dạy dỗ con cái, cô luôn thể hiện sự tự trọng, văn minh và trách nhiệm. Qua hai nhân vật, các nhà văn đều bày tỏ sự trân trọng trước những phẩm chất đẹp đẽ của con người Việt Nam.
Tuy nhiên, mỗi tác phẩm lại tập trung khám phá một phương diện khác nhau của vẻ đẹp con người. Bảo Ninh hướng ngòi bút vào những mất mát, hi sinh do chiến tranh để lại. Bà cụ trong Mây trắng còn bay là biểu tượng cho hàng triệu bà mẹ Việt Nam mang nỗi đau chiến tranh suốt cuộc đời. Chi tiết khói nhang lan tỏa giữa bầu trời rộng lớn tạo nên một không gian thiêng liêng, gợi sự tri ân đối với những người đã hi sinh. Trong khi đó, Nguyễn Khải lại chú ý đến vẻ đẹp văn hóa và bản lĩnh cá nhân của con người trong đời sống thường nhật. Cô Hiền không phải người anh hùng hay nhân vật phi thường, nhưng ở cô kết tinh cốt cách thanh lịch, văn minh của người Hà Nội. Những lời dạy con về lòng tự trọng, sự chuẩn mực trong ứng xử cho thấy ý thức gìn giữ những giá trị văn hóa lâu bền giữa những biến động của xã hội.
Sự khác biệt ấy còn thể hiện ở nghệ thuật xây dựng nhân vật. Bảo Ninh sử dụng nhiều chi tiết giàu sức gợi và giàu tính biểu tượng. Hình ảnh bàn thờ nhỏ trên máy bay, tấm ảnh người phi công trẻ, làn khói hương giữa trời cao đã tạo nên chất trữ tình sâu lắng và xúc động. Nguyễn Khải lại xây dựng nhân vật chủ yếu qua lời nói, hành động và quan điểm sống. Những cuộc đối thoại tự nhiên giúp chân dung cô Hiền hiện lên chân thực, sắc sảo và giàu sức thuyết phục. Giọng văn của Bảo Ninh thiên về cảm xúc, lắng đọng; còn giọng văn Nguyễn Khải giàu tính triết lí, suy ngẫm.
Qua hai đoạn trích, có thể thấy sự gặp gỡ của hai nhà văn ở tinh thần nhân văn sâu sắc. Nếu Bảo Ninh nhắc nhở con người hôm nay không được quên những hi sinh của quá khứ thì Nguyễn Khải khẳng định giá trị của văn hóa, của nhân cách trong việc làm nên sức sống dân tộc. Cả hai tác phẩm đều góp phần làm phong phú diện mạo văn học thời kì đổi mới và để lại nhiều suy ngẫm ý nghĩa cho người đọc.
Tóm lại, Mây trắng còn bay và Một người Hà Nội là hai tác phẩm tiêu biểu viết về vẻ đẹp con người Việt Nam sau chiến tranh. Bằng những cách tiếp cận khác nhau, Bảo Ninh và Nguyễn Khải đã khẳng định những giá trị nhân văn bền vững: lòng yêu thương, sự thủy chung, ý thức tự trọng và trách nhiệm gìn giữ những giá trị tốt đẹp của dân tộc.