Nguyễn Thị Thanh Hiền
Giới thiệu về bản thân
Câu 1
Trong kỷ nguyên số và toàn cầu hóa hiện nay, tính sáng tạo không còn là một lựa chọn mà đã trở thành chìa khóa sống còn quyết định sự thành bại của thế hệ trẻ. Sáng tạo là năng lực tư duy độc lập, vượt qua những lối mòn cũ kỹ để tìm ra những giải pháp mới, giá trị mới. Ý nghĩa lớn nhất của sự sáng tạo đối với người trẻ chính là giúp họ tự định vị và khẳng định bản sắc cá nhân giữa một thế giới phẳng đầy cạnh tranh. Khi biết tư duy khác biệt, người trẻ không chỉ dễ dàng thích nghi với sự thay đổi chóng mặt của công nghệ mà còn biến những thách thức thành cơ hội đột phá. Không những vậy, một thế hệ trẻ giàu sức sáng tạo chính là nguồn nội lực mạnh mẽ nhất để thúc đẩy xã hội phát triển. Từ những dự án khởi nghiệp xanh, những sản phẩm công nghệ thuần Việt cho đến các xu hướng nghệ thuật độc đáo, tất cả đều được vận hành bằng tư duy đổi mới của thanh niên. Ngược lại, nếu thiếu đi tính sáng tạo, chúng ta sẽ tự biến mình thành những cỗ máy rập khuôn, dễ dàng bị thay thế bởi trí tuệ nhân tạo. Vì vậy, để không tụt hậu, mỗi người trẻ cần nuôi dưỡng sự tò mò, dám nghĩ khác, làm khác và không sợ thất bại. Sáng tạo chính là ngọn lửa dẫn đường để tuổi trẻ thắp sáng tương lai của chính mình và đất nước.
Câu 2
Nếu ai đó ví văn học như một dòng sông hành trình đi tìm cái đẹp, thì Nguyễn Ngọc Tư chính là người đi gạn lọc những hạt phù sa nồng hậu nhất của vùng đất Nam Bộ để bồi đắp cho tâm hồn độc giả. Sáng tác của chị không rực rỡ hoa lệ mà thấm đẫm cái bảng lảng của khói đồng, cái mênh mông của sông nước và cái đượm buồn của những phận người trôi nổi. Truyện ngắn Biển người mênh mông là một tác phẩm tiêu biểu như thế. Qua hai nhân vật Phi và ông Sáu Đèo, Nguyễn Ngọc Tư không chỉ kể một câu chuyện về những nỗi đau, mà hơn hết, chị đã tạc nên bức chân dung vô cùng chân thực và xúc động về con người Nam Bộ: dù cuộc đời có dập vùi, có đẩy họ vào sự cô độc giữa biển người, họ vẫn vẹn nguyên lòng trắc ẩn, sự tử tế và khao khát hơi ấm nghĩa tình.
Trước hết, vẻ đẹp của con người Nam Bộ hiện lên qua cách họ đối diện với những nghịch cảnh, những vết thương lòng sâu sắc do số phận đưa lại. Cả Phi và ông Sáu Đèo đều là những mảnh đời khiếm khuyết, bơ vơ giữa thế gian. Phi sinh ra trong một gia cảnh trớ trêu, "đã không có ba", lên năm tuổi rưỡi má lại đi bước nữa rồi bỏ anh lại cho ngoại. Đến khi trưởng thành, người cha ruột trở về nhưng thứ anh nhận được không phải cái ôm siết chặt mà chỉ là "cái nhìn vẫn như xưa, lạnh lẽo, chua chát, lại như giễu cợt, đắng cay". Ngoại mất đi, Phi rơi vào khoảng trống mênh mông ở tuổi ba mươi ba, sống cuộc đời bất cần, lôi thôi bên ba tấc đất của người quá cố. Trong khi đó, ông Sáu Đèo lại mang một vết thương lòng rỉ máu của quá khứ. Từng có một mái ấm lang thang trên ghe xuồng, nhưng cái nghèo và những trận cãi vã vô tâm đã đẩy người vợ rời xa ông không một lời từ biệt. Hai con người, một trẻ một già, đều mang những khoảng trống không thể lấp đầy trong tim, đại diện cho những kiếp nhân sinh nhỏ bé, chông chênh trên dải đất miền Tây sông nước. Tuy nhiên, điều làm nên sức cảm hóa của tác phẩm chính là ẩn sau những mảnh đời chịu nhiều thương tổn ấy lại là những tâm hồn vô cùng bộc trực, tự trọng và hiếu thảo. Vẻ đẹp của Phi trước hết là nét tính cách ngoan ngoãn từ thuở thiếu thời. Khi bị ngoại cằn nhằn chuyện tóc tai xấp xãi giống du côn, anh "không cãi nữa, cầm mấy ngàn chạy đi, lát sau đem cái đầu tóc mới về". Đó là cái sự hiền lành, biết nghe lời rất đặc trưng của những đứa trẻ vùng sông nước. Lớn lên trong sự thiếu vắng tình thương, Phi không oán hận, không sa ngã mà tự lập một cách kiên cường, "vừa học vừa tìm việc làm thêm" từ năm lớp Mười. Sự "lôi thôi", "bầy hầy" khi anh bước sang tuổi ba mươi ba thực chất chỉ là chiếc vỏ bọc cố hữu của một người quá cô đơn, khi không còn ai bên cạnh để anh phải sửa sang, chăm chút. Bên cạnh một Phi âm thầm chịu đựng là một ông Sáu Đèo mang trọn vẹn nét tính cách nghĩa tình, thủy chung son sắt – cốt cách ngàn đời của người đàn ông Nam Bộ. Người vợ ra đi vì khổ, lỗi một phần ở sự cộc cằn của ông trong một trận say. Thế nhưng, người đàn ông ấy không chọn cách quên đi hay đổ lỗi cho hoàn cảnh. Ông dành cả phần đời còn lại, gom góp gia tài chỉ vẻn vẹn trong bốn cái thùng các-tông, ôm theo con bìm bịp, rong ruổi từ xứ nầy sang xứ nọ để tìm vợ. Khi nhắc về người cũ, ông "mếu máo chỉ về phía tim: 'Cổ đi rồi'". Câu trả lời cho câu hỏi "Kiếm để làm gì?" của ông Sáu khiến người đọc không khỏi nghẹn ngào: "Để xin lỗi chứ làm gì bây giờ". Cái lý lẽ nghe giản đơn, mộc mạc ấy lại chứa đựng một nhân cách lớn. Người Nam Bộ là vậy, họ sòng phẳng với lỗi lầm của mình, coi trọng nghĩa tào khang và một khi đã thương thì cái thương ấy bền bỉ, sâu nặng như dòng nước ròng nước lớn chảy mãi không thôi. Đặc biệt, sự gắn kết giữa Phi và ông Sáu Đèo đã làm bừng sáng lên tình yêu thương giữa con người với con người, chứng minh rằng lòng trắc ẩn có thể sưởi ấm mọi không gian lạnh lẽo nhất. Dù chỉ là những người hàng xóm láng giềng mới dọn đến mướn nhà chung vách, họ lại đối xử với nhau như ruột thịt. Ông Sáu nghèo, nhưng ông giàu sự tinh tế. Thay thế cho người ngoại đã khuất của Phi, ông Sáu là người duy nhất nhìn ra sự cô đơn sau vẻ ngoài bầy hầy của anh, ông cằn nhằn, nhắc nhở anh chuyện ăn mặc, tóc tai. Còn Phi, anh dang tay đón nhận sự quan tâm ấy bằng một tấm lòng trân trọng. Buổi rượu từ giã trước khi ông Sáu tiếp tục hành trình đi tìm vợ là nốt lặng đầy xúc động. Lời gửi gắm con bìm bịp của ông Sáu: "Qua tin tưởng chú em nhiều, đừng phụ lòng qua nghen" là sự trao gửi của lòng tin, của sự tử tế giữa hai tâm hồn đồng điệu. Ông Sáu đi rồi, chưa một lần trở lại, nhưng ông đã kịp để lại cho Phi một người bạn (con bìm bịp) và một ngọn lửa ấm áp của tình người, giúp Phi hiểu rằng giữa biển người mênh mông này, anh không hề bị bỏ lại. Để làm nên một bức tranh nhân văn như thế, không thể không kể đến tài năng nghệ thuật bậc thầy của Nguyễn Ngọc Tư. Nhà văn đã sử dụng ngôn ngữ đối thoại và trần thuật đậm đặc chất phương Nam với những từ ngữ tự nhiên, dân dã như "bầy hầy", "qua", "tía", "cổ", "rầy"... giúp nhân vật hiện lên sống động như bước ra từ đời thực. Lối kể chuyện chậm rãi, đượm chút xót xa nhưng ẩn chứa cái nhìn ấm áp, bao dung đã tạo nên một sức gợi cảm mạnh mẽ, lay động tâm can người đọc.
Tóm lại, qua hai nhân vật Phi và ông Sáu Đèo trong đoạn trích Biển người mênh mông, Nguyễn Ngọc Tư đã gửi gắm một bức thông điệp sâu sắc về con người và mảnh đất Nam Bộ. Họ có thể nghèo vật chất, có thể lận đận trong tình duyên, gia cảnh, nhưng tâm hồn họ chưa bao giờ cằn cỗi. Sự chân thành, lòng thủy chung và tình thương vô điều kiện chính là chiếc neo giữ họ lại, giúp họ không bị chìm nghỉm giữa dòng đời lạc lõng. Gấp trang sách lại, người đọc vẫn thấy ấm lòng bởi niềm tin: dù cuộc đời có là một "biển người mênh mông" đầy xa lạ, thì tình người vẫn luôn là bến bờ neo đậu bình yên nhất của mỗi chúng ta.
Câu 1. Xác định kiểu văn bản của ngữ liệu trên.
- Kiểu văn bản của ngữ liệu trên là Văn bản thông tin (thuyết minh về một nét văn hóa, thực trạng đời sống xã hội).
Câu 2. Liệt kê một số hình ảnh, chi tiết cho thấy cách giao thương, mua bán thú vị trên chợ nổi.
Phương tiện đi lại: Người mua và người bán đều dùng xuồng, ghe (xuồng ba lá, xuồng năm lá, ghe tam bản, tắc ráng, ghe máy) len lỏi khéo léo giữa hàng trăm ghe thuyền mà hiếm khi va quẹt. Cách rao mời độc đáo bằng thị giác ("cây bẹo"): Treo các thứ hàng hóa (trái cây, rau củ) lên một cây sào tre dài cắm dựng đứng trên ghe để khách nhìn thấy từ xa và bơi xuồng đến mua. Biển rao bán đặc biệt: Ghe nào treo tấm lá lợp nhà lên "cây bẹo" nghĩa là chủ nhân muốn bán chính chiếc ghe đó. Cách rao mời bằng âm thanh: Dùng tiếng kèn bấm bằng tay (kèn nhựa) hoặc kèn đạp bằng chân (kèn cóc). Tiếng rao của các cô gái bán đồ ăn thức uống: Những câu rao ngọt ngào, lảnh lót và thiết tha ("Ai ăn chè đậu đen, nước dừa đường cát hôn...?", "Ai ăn bánh bò hôn...?").
Câu 3. Nêu tác dụng của việc sử dụng tên các địa danh trong văn bản trên.
Tác dụng: Tăng tính xác thực và độ tin cậy: Việc liệt kê cụ thể các địa danh (Cái Bè - Tiền Giang, Cái Răng, Phong Điền - Cần Thơ, Ngã Bảy - Hậu Giang, Ngã Năm - Sóc Trăng,...) chứng minh đây là những thông tin có thực, khách quan về mạng lưới chợ nổi ở miền Tây. Mở rộng không gian địa lý: Giúp người đọc có cái nhìn bao quát về sự phổ biến, trù phú và trải dài của nét văn hóa sông nước này khắp các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long.
Câu 4. Nêu tác dụng của phương tiện giao tiếp phi ngôn ngữ trong văn bản trên.
Phương tiện giao tiếp phi ngôn ngữ ở đây chính là hình ảnh minh họa (hình ảnh Chợ nổi Ngã Bảy - Hậu Giang) và "cây bẹo" (dùng để treo hàng hóa/lá lợp nhà). Tác dụng: Đối với hình ảnh minh họa: Giúp văn bản trở nên sinh động, trực quan, giúp người đọc dễ dàng hình dung ra sự tấp nập, màu sắc và không khí thực tế của chợ nổi mà ngôn từ đôi khi chưa lột tả hết. Đối với "cây bẹo" (ký hiệu giao tiếp phi ngôn ngữ của người dân): Giúp quá trình mua bán diễn ra nhanh chóng, thuận tiện trong không gian sông nước ồn ào; tạo nên một phương thức giao thương thông minh, độc đáo và mang đậm bản sắc văn hóa bản địa.
Câu 5. Anh/Chị có suy nghĩ gì về vai trò của chợ nổi đối với đời sống của người dân miền Tây?
Về mặt kinh tế: Chợ nổi là nơi giao thương, tiêu thụ nông sản, hàng hóa thiết yếu, tạo công ăn việc làm và là nguồn thu nhập chính nuôi sống biết bao thế hệ gia đình người dân miền Tây. Về mặt đời sống sinh hoạt: Sông nước không chỉ là lối đi mà đã trở thành không gian sống. Chợ nổi phản ánh sự thích ứng tuyệt vời của con người với tự nhiên (văn minh sông nước). Về mặt văn hóa, du lịch: Chợ nổi không chỉ là nơi mua bán thuần túy mà là "hồn cốt" văn hóa, nơi lưu giữ lối sống hào sảng, chất phác, những tiếng rao, câu hò trù phú của miền Nam. Đồng thời, đây còn là điểm nhấn du lịch đặc sắc, thu hút du khách trong và ngoài nước, góp phần quảng bá hình ảnh đất nước.