Trần Vĩnh Nghĩa
Giới thiệu về bản thân
Câu1:Nhân vật lão Goriot trong đoạn trích là hiện thân của tình phụ tử thiêng liêng nhưng đầy bi kịch. Trước hết, lão hiện lên với tình yêu thương con mù quáng đến mức tôn thờ. Ngay cả khi đối diện với cái chết, lão vẫn khao khát hơi ấm từ các con, sẵn sàng đổi cả đôi mắt hay mạng sống chỉ để được chạm vào áo chúng. Tuy nhiên, đằng sau tình yêu ấy là nỗi đau đớn và sự thức tỉnh muộn màng. Những lời nguyền rủa xen lẫn những lời chúc phúc cho thấy sự giằng xé nội tâm dữ dội: lão nhận ra các con "không bao giờ yêu ta", nhưng rồi lại nhanh chóng bao biện, vỗ về mình trong ảo tưởng. Hình ảnh bàn tay vuốt ve cái chăn như vuốt tóc con là một chi tiết đắt giá, khắc họa sự cô độc đến cùng cực. Lão Goriot không chỉ là nạn nhân của những đứa con bất hiếu mà còn là nạn nhân của những đứa con bất hiếu mà còn là nạn nhân của một xã hội kim tiền, nơi tình thân bị định giá bằng đồng franc. Xây dựng nhân vật này, Balzac đã tạo nên một điển hình nghệ thuật về người cha "rút ruột nhả tơ", mang lại cho người đọc niềm thương cảm sâu sắc cùng sự suy ngẫm về giá trị của lòng hiếu thảo.
Câu2:
Trong xã hội hiện đại, chúng ta đang dần nhầm lẫn giữa khái niệm phụng dưỡng và chăm sóc. Nhiều người con mặc định rằng chỉ cần gửi về một khoản tiền hàng tháng, thuê một người giúp việc tận tâm, hay sắm sửa những thiết bị công nghệ hiện đại nhất cho cha mẹ đã là tròn chữ Hiếu. Nhưng họ quên mất rằng, vật chất chỉ có thể xoa dịu thân xác, còn sự cô độc trong tâm hồn thì chỉ có tình thân mới có thể khỏa lấp.
Câu 1: Ngôi kể được sử dụng trong văn bản là ngôi kể thứ ba. (Người kể chuyện ẩn mình, gọi tên các nhân vật: lão Goriot, Eugène, Bianchon...). Câu 2: Đề tài của văn bản: Tình phụ tử và sự băng hoại đạo đức của giới thượng lưu. Cụ thể là bi kịch của một người cha hết lòng yêu thương con nhưng bị chính các con bỏ rơi trong nghèo khổ và cô độc. Câu 3: Lời nói của lão Goriot gợi lên những cảm nhận, suy nghĩ: Sự đau đớn tận cùng: Hình ảnh "khát nhưng không bao giờ được uống" là một ẩn dụ đau xót. Lão không khát nước, lão khát tình thương, khát sự quan tâm của con cái suốt mười năm ròng rã. Lời cảnh tỉnh: Câu nói "Con phải yêu quý cha mẹ con" giống như một lời di chúc tinh thần, rút ra từ bi kịch xương máu của chính lão để nhắn nhủ người trẻ (Eugène).
Sự hụt hẫng, tuyệt vọng: Nó cho thấy sự tương phản nghiệt ngã giữa sự hy sinh vô điều kiện của người cha và sự thờ ơ tàn nhẫn của những đứa con. Câu 4: Lão Goriot khao khát gặp các con ngay sau khi nguyền rủa vì: Bản năng người cha: Sự nguyền rủa là kết quả của nỗi đau quá lớn, của lý trí lúc tỉnh táo nhận ra sự thật phũ phàng. Nhưng sự khao khát gặp con lại là bản năng, là tình yêu mù quáng và vô điều kiện. Sự bao dung: Trong thâm tâm, lão luôn tìm cách bao biện cho lỗi lầm của con (đổ lỗi cho con rể, cho xã hội). Với lão, các con là lẽ sống duy nhất; dù chúng có tồi tệ đến đâu, lão vẫn cần chúng để có thể nhắm mắt xuôi tay thanh thản.
Câu1
a)Phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội.
Kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, tranh thủ sự ủng hộ của quốc tế.
Xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân vững mạnh, làm nòng cốt cho toàn dân đánh giặc.
Chủ động, sáng tạo trong đường lối và nghệ thuật quân sự.
b)Học tập, rèn luyện để nâng cao trình độ, nhận thức về chủ quyền biển đảo.
Tuyên truyền, vận động bạn bè, người thân hiểu rõ về chủ quyền biển đảo của Việt Nam.
Câu2:Thoát khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội, lạm phát được kiềm chế.
Kinh tế tăng trưởng khá liên tục, cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được cải thiện rõ rệt.
Mở rộng quan hệ đối ngoại, hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng.
Thế và lực của đất nước được tăng cường, vị thế quốc tế được nâng cao.
Câu1:Đoạn trích trong "Văn tế thập loại chúng sinh" của Nguyễn Du là một khúc ca bi tráng, thể hiện sâu sắc tấm lòng nhân đạo bao la của đại thi hào dành cho những kiếp người nhỏ bé nhất trong xã hội. Đoạn thơ đã tái hiện sinh động số phận bi kịch của ba nhóm đối tượng: người lính hy sinh nơi chiến trận, người kỹ nữ bạc mệnh và kẻ hành khất cơ nhỡ. Tác giả không chỉ nhìn thấy nỗi khổ vật chất "nước khe cơm vắt" hay cảnh "nằm cầu gối đất" mà còn thấu cảm nỗi đau tinh thần, sự cô đơn của những linh hồn không nơi nương tựa. Câu thơ "Đau đớn thay phận đàn bà" vang lên như một lời tố cáo đanh thép đối với xã hội phong kiến bất công, đồng thời thể hiện cái nhìn đầy trân trọng, cảm thông của tác giả trước những thân phận bị người đời rẻ rúng. Về nghệ thuật, đoạn trích sử dụng thành công thể thơ song thất lục bát với nhịp điệu trầm bổng, thiết tha như tiếng khóc, tiếng than. Việc sử dụng các từ láy giàu hình ảnh và âm thanh như "lập lòe", "văng vẳng", "ngẩn ngơ" đã tạo nên một không gian nghệ thuật âm u, lạnh lẽo, làm tăng thêm sức truyền cảm cho lời văn tế. Bằng bút pháp ước lệ kết hợp với những chi tiết thực tại khốc liệt, Nguyễn Du đã nâng tầm lòng thương người lên thành một triết lý nhân sinh cao cả: dù sống trong cảnh ngộ nào, con người vẫn xứng đáng được xót thương và trân trọng
Câu1:các PTBĐ trong đoạn trích là biểu cảm,tự sự miêu tả
Câu2:những kiếp người xuất hiện trong đoạn tích là người lính,kỹ nữ,người hành khuất
Câu3:Tăng sức biểu cảm cho câu thơ, nhấn mạnh nỗi bi kịch dai dẳng, sự cô độc và đáng thương của những linh hồn chết oan, đồng thời khơi dậy lòng trắc ẩn sâu sắc nơi người đọc.
Câu4:Chủ đề: Tái hiện số phận bi kịch, khổ đau của những tầng lớp người thấp kém, bị gạt ra ngoài lề xã hội trong thời kỳ loạn lạc.