Nguyễn Mạnh Quang

Giới thiệu về bản thân

Chào mừng bạn đến với trang cá nhân của Nguyễn Mạnh Quang
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
(Thường được cập nhật sau 1 giờ!)

Câu 1. (2,0 điểm)

a. Xác định được yêu cầu về hình thức, dung lượng của đoạn văn (0,25 điểm):

  • Xác định đúng yêu cầu về hình thức và dung lượng (khoảng 200 chữ) của đoạn văn.
  • Học sinh có thể trình bày đoạn văn theo cách diễn dịch, quy nạp, phối hợp hoặc song hành.
  1. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận (0,25 điểm): Phân tích đoạn trích "Chén thuốc độc" của Vũ Đình Long.
  2. Đề xuất được hệ thống ý phù hợp để làm rõ vấn đề nghị luận (1,5 điểm):

Gợi ý:

- Hoàn cảnh gia đình cụ Thông:

+ Cụ Thông để lại gia sản lớn nhưng gia đình nhanh chóng sa sút và lâm vào cảnh khánh kiệt.

+ Nguyên nhân: Bà vợ và con dâu mê đồng bóng, con trai trưởng ăn chơi trác táng, thiếu trách nhiệm.

- Diễn biến tâm lí của nhân vật Thông Thu:

+ Sự hối hận và nhận thức về lỗi lầm của bản thân (Hồi II):

++ Thông Thu hiện lên với những con số nợ nần cụ thể (2000 đồng, 500 đồng,...). Sự tính toán chi li cho thấy sự tỉnh ngộ về tài chính khi đã quá muộn.

++ Nhân vật tự phê phán lối sống của chính mình là "ném tiền qua cửa số", "đắm đuối trongtrong bể tình dục


Câu 1. (0,5 điểm)

Văn bản "Chén thuộc độc" thuộc thể loại bi kịch.

Câu 2. (0,5 điểm)

Hình thức ngôn ngữ chủ yếu: Độc thoại (nhân vật nói với chính mình để bộc lộ nội tâm).

Câu 3. (1,0 điểm)

- Các chỉ dẫn sân khấu trong văn bản:

+ "Bóp trán nghĩ ngợi".

+ "Nâng cốc nâng lên sắp uống lại đặt xuống."

+ "Lấy dao mở hộp thuốc phiện, rót vào cốc, lấy que khuấy.".

+ "Đứng dậy lấy chai dấm thanh giấu ở dưới gầm tủ, rót vào cốc. Thò tay vào tủ lấy hộp thuốc phiện."

+...

- Tác dụng của các chỉ dẫn sân khấu:

+ Giúp người đọc hình dung được hành động, cử chỉ và trạng thái cảm xúc cụ thế của nhân vật.

+ Thể hiện xung đột nội tâm, giằng xé gay gắt của Thông Thu (sự do dự giữa sống và chết qua hành động nâng cốc lên rồi lại đặt xuống).

Câu 4. (1,0 điểm)

  • Tâm lí thầy Thông Thu trong hồi thứ Hai: Tâm lí hối hận và tự sỉ vả. Thông Thu nhận thức được sai lầm của bản thân sau khi tiêu tán gia sản, cảm thấy nhục nhã vì không làm được gì ích quốc lợi dân mà lại làm "nhơ nhuốc" thanh danh gia đình.
  • Tâm lí thầy Thông Thu trong hồi thứ Ba: Tâm lí tuyệt vọng và bế tắc. Khi đối mặt với cảnh tù tội, Thông Thu vô cùng sợ hãi. Hắn quyết định tìm đến cái chết để giải thoát ("Thà rằng một thác cho xong!").
  • Sự thay đổi: Từ việc hối hận về quá khứ (Hồi II)

chuyển sang sự hoảng loạn trước tương lai và đi đến hành động cực đoan (Hồi III). Tuy nhiên, trong sự tuyệt vọng vẫn nhen nhóm chút trách nhiệm muộn màng với gia đình (dừng lại để viết thư cho em trai).

Câu 5. (1,0 điểm)

Học sinh đưa ra quan điểm không đồng tình với quyết định của thầy Thông Thu và giải thích hợp lí. Gợi ý:

  • Tự tử là một hành động trốn chạy hèn nhát trước sai lầm của chính mình thay vì đối mặt để sửa chữa.
  • Cái chết không giải quyết được vấn đề mà đôi khi còn gây ảnh hưởng và liên luy đến những người thân xung quanh.
  • Thầy Thông Thu nên chọn cách sống trách nhiệm hơn, lao động để trả nợ và làm lại cuộc đời, như vậy mới thực sự là "thác trong còn hơn sống đục". Cái chết trong sự bế tắc này chỉ là sự kết thúc của một nhân cách bạc nhược.

a. Xác định được yêu cầu về hình thức; dung lượng của đoạn văn:

  • Khoảng 200 chữ.
  • Có thể trình bày theo cách diễn dịch, quy nạp, phối hợp, song song,....
  1. Xác định đúng vấn đề nghị luận: hình tượng li khách trong bài thơ "Tống biệt hành" (Thâm Tâm).
  2. Đề xuất được hệ thống ý phù hợp để làm rõ vấn đề nghị luận

- Xác định được các ý phù hợp để làm rõ vấn đề nghị luận, sau đây là một số gợi ý:

+ Một li khách mang chí lớn, ôm ấp khát vọng lên đường

(Chí nhớn chưa về bàn tay không,/Thì không bao giờ nói trở lại!/Ba năm mẹ già cũng đừng mong!)

, cố nén tình cảm để dửng dưng, dứt khoát giã biệt người thân.

+ Một li khách nặng lòng, giàu tình cảm, mang trách nhiệm sâu sắc với gia đình, bước chân ra đi mà thằm sâu trong lòng là biết bao lưu luyến, bịn rịn, đau đớn, nghẹn ngào, không nỡ rời xa những người thân yêu.

+ Hình tượng li khách được khắc họạ qua sự thấu hiểu, đồng cảm của nhân vật trữ tình - người ở lại; qua vẻ đối lập giữa thái độ bên ngoài trong buổi chia li và cảm xúc bên trong; qua sự giăng xé giữa chí lớn và trách nhiệm, tình cảm gia đình. Đó là một hình tượng cho thấy vẻ đẹp nhân văn của con người trong mối quan hệ giữa lí trí và tình cảm.

+ Nghệ thuật: Tác giả đã rất tài tình, tinh tế trong việc sử dụng các hình ảnh có ý nghĩa tượng trưng, các biện pháp tu từ đặc sắc (ần dụ, lặp cấu trúc, câu hỏi tu từ, đối), giọng điệu thơ độc đáo (rắn rỏi, lãng mạn).

- Sắp xếp được hệ thống ý hợp lí theo đặc điểm bố cục của kiểu đoạn văn.

d. Viết đoạn văn đảm bảo các yêu cầu sau:

  • Lựa chọn được các thao tác lập luận, phương thức biểu đạt phù hợp để triển khai vấn đề nghị luận.
  • Trình bày rõ quan điểm và hệ thống các ý.
  • Lập luận chặt chẽ, thuyết phục: lí lẽ xác đáng;

bằng chứng tiêu biếu, phù hợp; kết hợp nhuần nhuyễn giữa lí lẽ và bằng chứng.

đ. Diễn đạt

Đảm bảo chuẩn chính tả, dùng từ, ngữ pháp tiếng Việt, liên kết câu trong đoạn văn.

e. Sáng tạo

Thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận;

có cách diễn đạt mới mẻ.

Câu 2 (4.0 điểm).

a. Xác định được yêu cầu của kiểu bài

Xác định được yêu cầu của kiểu bài: nghị luận xã hội.

  1. Xác định đúng vấn đề nghị luận: ý nghĩa của sự tự lập đối với tuổi trẻ.
  2. Đề xuất được hệ thống ý phù hợp để làm rõ vấn đề nghị luận
  • Xác định được các ý chính

của bài văn nghị luận.

  • Giới thiệu vấn đề nghị luận và nêu khái quát quan điểm của cá nhân về vấn đề.
  • Triển khai vấn đề nghị luận:
  • Giải thích vấn đề nghị luận.
  • Thể hiện quan điểm của người viết, có thế theo một số gợi ý sau:

+ Sự tự lập giúp con người suy nghĩ nhiều hơn, tự đánh thức tài năng ẩn giấu trong bản thân và từ đó khơi lên trí sáng tạo, trở nên hoàn thiện hơn, thành công hơn.

+ Sự tự lập giúp con người có ý thức hơn về mọi hành động của mình, vì hành động nếu chính mình làm ra, ta sẽ phải chịu trách nhiệm về hành động đó.

+ Tính tự lập giúp con người nhìn toàn diện hơn về đời sống, có cái nhìn bao quát về mọi mặt.

+ Tính tự lập giúp con người khẳng định được giá trị bản thân trong mắt mọi người.

+ Những con người có tính tự lập, không để ai nhắc nhở sẽ được mọi người yêu quý, kính trọng.

+...

- Mở rộng, trao đổi quan điểm trái chiều hoặc ý kiến khác đế có cái nhìn toàn diện,....

*Khẳng định quan điểm cá nhân đã trình bày và rút ra bài học cho bản thân.

d. Viết bài văn đảm bảo các yêu cầu sau:

  • Triển khai được ít nhất hai luận điểm để làm rõ quan điểm của cá nhân.
  • Lựa chọn được các thao tác lập luận, phương thức biểu đạt phù hợp để triển khai vấn đề nghị luận

- Lập luận chặt chẽ, thuyết phục: lí lẽ xác đáng, bằng chứng tiêu biểu, phù hợp, kết hợp chặt chẽ giữa lí lẽ và bằng chứng.

*Lưu ý: HS có thể bày tỏ suy nghĩ, quan điểm riêng nhưng phải phù hợp với chuẩn mực đạo đức và pháp luật.

đ. Diễn đạt

Đảm bảo chuẩn chính tả, dùng từ, ngữ pháp tiếng Việt, liên kết văn bản.

e. Sáng tạo

Thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận;

có cách diễn đạt mới mẻ.

Câu 1 (0,5 điểm).

Nhân vật trữ tình trong bài thơ là "ta" - người đưa tiễn.

Câu 2 (0,5 điểm).

Cuộc chia tay không xác định không gian. Thời gian là trong chiều hôm nay.

Câu 3 (1,0 điểm).

- Chỉ ra được hiện tượng phá vỡ quy tắc ngôn ngữ thông thường là kết hợp từ bất bình thường:

"đầy hoàng hôn trong mắt"; "

đầy" (tính từ): ở trạng thái không còn chứa thêm được nữa, có nhiều và khắp cả;

"

hoàng hôn" chỉ thời điểm mặt trời lặn, ánh sáng yếu ớt và mở dần.

Tác giả đã để cho hoàng hôn rộng lớn, man mác buồn đong đầy đôi mắt của người ra đi.

- Tác dụng: góp phần thế hiện một cách kín đáo tâm trạng của người li khách; thể hiện nỗi buồn man mác vấn vương của li khách một cách đầy lãng mạn; cho ta thấy dường như con người đang cố găng dùng lí trí kìm nén những xúc cảm trong lòng mình; gợi ra khung cảnh những cuộc chia li thời cổ, góp phần thổi vào câu thơ hơi thở

Đường thi.


câu 2 bài làm

Trong cuộc sống, mỗi con người đều phải đối mặt với nhiều khó khăn và thử thách. Chính vì vậy, ý chí và nghị lực là những yếu tố vô cùng quan trọng giúp con người vượt qua nghịch cảnh để đạt được thành công. Ý chí, nghị lực không chỉ thể hiện sức mạnh tinh thần mà còn là động lực giúp con người kiên trì theo đuổi mục tiêu và ước mơ của mình.


Ý chí, nghị lực được hiểu là sự quyết tâm, bền bỉ và không dễ dàng bỏ cuộc trước những khó khăn, thử thách. Người có ý chí luôn biết cố gắng vươn lên, dù hoàn cảnh có khó khăn đến đâu. Trong cuộc sống, không phải lúc nào con đường đi đến thành công cũng bằng phẳng. Có những lúc chúng ta gặp thất bại, vấp ngã hay cảm thấy mệt mỏi. Tuy nhiên, chính trong những lúc ấy, ý chí và nghị lực sẽ giúp chúng ta đứng dậy, tiếp tục bước đi và không từ bỏ mục tiêu của mình.


Thực tế cuộc sống đã chứng minh rằng rất nhiều người thành công nhờ có ý chí mạnh mẽ. Có những người sinh ra trong hoàn cảnh khó khăn nhưng nhờ sự cố gắng và quyết tâm, họ đã vươn lên thay đổi cuộc đời mình. Họ không để nghịch cảnh đánh bại mà xem đó là động lực để cố gắng hơn. Điều đó cho thấy ý chí, nghị lực có sức mạnh to lớn trong việc giúp con người vượt qua giới hạn của bản thân và đạt được những điều tưởng chừng không thể.


Bên cạnh đó, ý chí và nghị lực còn giúp con người rèn luyện bản thân, trở nên mạnh mẽ và trưởng thành hơn. Khi dám đối mặt với khó khăn và không ngừng cố gắng, chúng ta sẽ học được nhiều bài học quý giá trong cuộc sống. Những trải nghiệm ấy giúp con người hiểu rõ giá trị của sự nỗ lực và biết trân trọng thành quả mình đạt được.


Tuy nhiên, trong thực tế vẫn có một số người dễ nản lòng khi gặp khó khăn, thiếu kiên trì và nhanh chóng từ bỏ mục tiêu. Thái độ sống này khiến họ bỏ lỡ nhiều cơ hội và khó đạt được thành công. Vì vậy, mỗi người cần rèn luyện cho mình ý chí, nghị lực vững vàng. Điều đó có thể bắt đầu từ những việc nhỏ như chăm chỉ học tập, kiên trì theo đuổi mục tiêu và không ngại đối mặt với thử thách.


Đối với học sinh, ý chí và nghị lực càng có ý nghĩa quan trọng. Con đường học tập luôn đòi hỏi sự kiên trì và cố gắng không ngừng. Nếu có ý chí, học sinh sẽ biết vượt qua những khó khăn trong học tập, không ngừng rèn luyện bản thân để đạt được kết quả tốt hơn.


Tóm lại, ý chí và nghị lực là chìa khóa giúp con người vượt qua khó khăn và đạt được thành công trong cuộc sống. Mỗi người cần rèn luyện cho mình tinh thần kiên cường, không ngừng nỗ lực để thực hiện ước mơ và xây dựng một tương lai tốt đẹp hơn. Khi có ý chí và nghị lực, chúng ta sẽ có đủ sức mạnh để vượt qua mọi thử thách trên con đường đời.


câu 1Những phương thức biểu đạt trong bài thơ: Biểu cảm, miêu tả.

câu 2Đề tài: Nỗi buồn/ Sự đau khổ.

câu 3 HS xác định được một hình ảnh mang tính tượng trưng trong bài thơ. Chẳng hạn như một số hình ảnh:

mặt nhựt tan thành máu, hồn ( một nửa hồn tôi mất, một nửa hồn tôi bồng dại khở

), bông phượng nở trong màu huyết, giọt châu.

- Nhận xét: HS nêu cảm nhận cá nhân về hình ảnh đó và đưa ra lí giải hợp lí. Ví dụ: Hình ảnh hồn

tượng trưng cho cái tôi cá nhân, cho sự cô đơn, tuyệt vọng của chính thi nhân găn liền với mặc cảm chia lìa. Khát khao yêu và được yêu, nhưng tình yêu của Hàn Mặc Tử vẫn tan vỡ, người kia vẫn ra đi, khiến cho thi sĩ ngậm ngùi, đau đớn, thất vọng

câu 4- HS xác định được biện pháp tu từ được sứ dụng trong khổ thơ cuối: Câu hỏi tu từ:

Tôi vẫn còn đây hay ở đâu?/ Sao bông phượng nở trong màu huyết,/ Nhỏ xuống lòng tôi những giọt châu?

- Tác dụng:

+ Thể hiện sự bơ vơ, lạc lõng của thi nhân giữa trần thế bao la, rộng lớn này.

+ Thể hiện sự nhạy cảm của thi nhân trước thiên nhiên, cuộc đời: Dường như thiên nhiên, cuộc đời cũng thương cho số kiếp đáng thương, hoàn cảnh lạc lõng của thi nhân mà xúc động, nghẹn ngào, khóc thương cho cuộc đời chàng Hàn Mặc Tử.

câu 5

  • HS dựa vào nội dung, mạch cảm xúc để rút ra nhận xét về cấu tứ.
  • Ví dụ: Trước hết, bài thơ đi từ nỗi buồn vì không thể hồi đáp lại hết tình thương yêu, quý mến của mọi người dành cho thi nhân. Nhà thơ rất muốn đền đáp nhưng bệnh tật khiến chàng không thể đền đáp nổi những điều trân quý ấy.

Tiếp đó là nỗi đau đớn, bất lực vì tình yêu không trọn vẹn. Và cuối cùng là nỗi khổ sở, bơ vơ, lạc lõng giữa cuộc đời mênh mông. Như vậy, bài thơ là sự vận động từ sự phiền muộn, khát khao yêu và được yêu sang nỗi khổ sở, bơ vơ, lạc lõng giữa trần thế bao la của thi nhân.