Lê Đức Minh
Giới thiệu về bản thân
Câu 1: Lao động và ước mơ có mối quan hệ gắn bó chặt chẽ với nhau. Ước mơ là mục tiêu, là động lực giúp con người cố gắng vươn lên trong cuộc sống; còn lao động là con đường để biến ước mơ thành hiện thực. Nếu chỉ có ước mơ mà không chịu học tập, làm việc thì ước mơ mãi chỉ là điều viển vông. Ngược lại, khi con người biết chăm chỉ lao động, kiên trì vượt qua khó khăn thì sẽ từng bước tiến gần đến thành công. Trong thực tế, nhiều người đã đạt được ước mơ nhờ sự nỗ lực không ngừng. Đối với học sinh, lao động chính là chăm chỉ học tập và rèn luyện mỗi ngày. Vì vậy, mỗi người trẻ cần có ước mơ đẹp và biết cố gắng lao động để thực hiện ước mơ của mình. Câu 2: Bài thơ “Nhớ” của Nguyễn Đình Thi là một trong những bài thơ tiêu biểu viết về tình yêu trong thời kì kháng chiến chống Pháp. Qua những vần thơ giàu cảm xúc, tác giả đã thể hiện tâm trạng của nhân vật trữ tình – một người chiến sĩ đang sống và chiến đấu giữa núi rừng nhưng luôn da diết nhớ về người mình yêu. Nỗi nhớ ấy hòa quyện cùng tình yêu đất nước, tạo nên vẻ đẹp cao cả của con người Việt Nam trong chiến tranh. Mở đầu bài thơ, tác giả đã diễn tả nỗi nhớ bằng những hình ảnh thiên nhiên giàu ý nghĩa: “Ngôi sao nhớ ai mà sao lấp lánh/ Soi sáng đường chiến sĩ giữa đèo mây”. Hình ảnh “ngôi sao” vừa là hình ảnh thực của thiên nhiên, vừa mang ý nghĩa biểu tượng cho nỗi nhớ và niềm tin. Giữa không gian núi rừng rộng lớn, người chiến sĩ cảm nhận nỗi nhớ như đang tỏa sáng, soi đường cho mình vượt qua gian khổ. Tiếp đó, hình ảnh: “Ngọn lửa nhớ ai mà hồng đêm lạnh/ Sưởi ấm lòng chiến sĩ dưới ngàn cây” gợi nên sự ấm áp giữa hoàn cảnh chiến tranh khắc nghiệt. “Ngọn lửa” không chỉ sưởi ấm không gian mà còn sưởi ấm tâm hồn người lính. Nỗi nhớ người yêu giúp người chiến sĩ có thêm nghị lực để tiếp tục chiến đấu. Đặc biệt, những câu thơ: “Anh yêu em như anh yêu đất nước/ Vất vả đau thương tươi thắm vô ngần” đã thể hiện sự hòa quyện giữa tình yêu đôi lứa và tình yêu Tổ quốc. Tình yêu dành cho người con gái được đặt ngang hàng với tình yêu đất nước. Đó là thứ tình cảm chân thành, sâu nặng và cao đẹp. Nỗi nhớ trong bài thơ còn được thể hiện rất cụ thể và chân thực: “Anh nhớ em mỗi bước đường anh bước/ Mỗi tối anh nằm mỗi miếng anh ăn”. Nỗi nhớ xuất hiện trong mọi khoảnh khắc của cuộc sống. Dù hành quân gian khổ hay trong sinh hoạt thường ngày, hình bóng người yêu luôn hiện hữu trong tâm trí người lính. Ở cuối bài thơ, cảm xúc được nâng lên thành niềm tin và lí tưởng: “Ngôi sao trong đêm không bao giờ tắt/ Chúng ta yêu nhau chiến đấu suốt đời”. Hình ảnh “ngôi sao” tượng trưng cho tình yêu và niềm tin bất diệt. Tình yêu của họ không chỉ dành cho riêng nhau mà còn gắn liền với nhiệm vụ chiến đấu bảo vệ Tổ quốc. Bằng giọng thơ tha thiết, hình ảnh giàu ý nghĩa biểu tượng cùng cảm xúc chân thành, Nguyễn Đình Thi đã khắc họa thành công tâm trạng của nhân vật trữ tình trong bài thơ “Nhớ”. Đó là nỗi nhớ da diết của người chiến sĩ dành cho người yêu, đồng thời là tình yêu đất nước sâu nặng. Bài thơ giúp người đọc cảm nhận được vẻ đẹp của con người Việt Nam trong kháng chiến: giàu tình cảm, giàu lí tưởng và luôn hướng về tương lai tươi sáng.
Câu 1: Phương thức biểu đạt chính: Nghị luận. Câu 2: Văn bản bàn về ý nghĩa của lao động đối với con người và cuộc sống. Câu 3: Tác giả đã sử dụng các bằng chứng như: chim yến lớn lên phải tự đi kiếm mồi; hổ và sư tử cũng tự lao động để tồn tại. Nhận xét: Những bằng chứng ấy gần gũi, tiêu biểu, chân thực, giúp làm rõ rằng mọi sinh vật đều phải lao động để duy trì sự sống. Câu 4: Câu nói giúp em hiểu rằng con người cần biết tìm niềm vui và ý nghĩa trong lao động. Khi yêu thích công việc mình làm, con người sẽ sống tích cực, có ích và hạnh phúc hơn. Câu 5: Hiện nay vẫn có một số người lười lao động, chỉ muốn hưởng thụ, sống dựa dẫm vào cha mẹ hoặc người khác mà không chịu cố gắng học tập, làm việc. Điều đó cho thấy họ chưa nhận thức đúng về ý nghĩa của lao động.
Câu 1. Gia đình ông lão mù trong văn bản “Không một tiếng vang” là hình ảnh tiêu biểu cho bi kịch của những con người nghèo khổ bị dồn ép đến bước đường cùng. Ông lão già yếu, mù lòa, không còn khả năng lao động nên mọi gánh nặng đều đè lên vai các con. Cả gia đình sống trong cảnh đói nghèo, thiếu thốn, phải chạy vạy từng bữa ăn. Chính hoàn cảnh khắc nghiệt ấy đã khiến anh cả Thuận dần mất niềm tin vào công lý, đạo đức và cho rằng đồng tiền có sức mạnh lớn nhất. Đó là bi kịch không chỉ của vật chất mà còn là sự tha hóa về tinh thần. Tuy nhiên, trong bóng tối của nghèo đói vẫn le lói ánh sáng của tình thương qua hình ảnh chị cả Thuận luôn yêu thương, chăm sóc cha già và cố gắng cứu vãn gia đình. Qua bi kịch ấy, tác giả đã tố cáo xã hội bất công, đồng thời bày tỏ niềm xót thương sâu sắc đối với những người lao động nghèo. Câu 2. Trong cuộc sống, tinh thần nhân ái và trách nhiệm cộng đồng luôn là những giá trị vô cùng cần thiết. Bi kịch của gia đình ông lão mù trong văn bản “Không một tiếng vang” đã gợi lên nỗi đau của những con người yếu thế bị bỏ quên giữa xã hội đầy khắc nghiệt. Từ đó, chúng ta càng hiểu rõ hơn vai trò của tình yêu thương và sự sẻ chia giữa con người với con người. Nhân ái là biết yêu thương, cảm thông và sẵn sàng giúp đỡ người khác khi họ gặp khó khăn. Trách nhiệm cộng đồng là ý thức quan tâm đến những người xung quanh, chung tay xây dựng một xã hội tốt đẹp hơn. Hai giá trị ấy luôn gắn bó mật thiết với nhau, giúp con người sống gần gũi, đoàn kết và có ý nghĩa hơn. Trong xã hội, vẫn còn rất nhiều người có hoàn cảnh bất hạnh như người già neo đơn, trẻ em mồ côi, người khuyết tật hay những gia đình nghèo khó. Nếu mỗi người chỉ biết sống ích kỉ, thờ ơ thì những số phận ấy sẽ càng thêm đau khổ. Ngược lại, một hành động nhỏ như quyên góp, giúp đỡ hay động viên tinh thần cũng có thể mang đến hi vọng cho họ. Tinh thần nhân ái không chỉ giúp người khác vượt qua khó khăn mà còn khiến xã hội trở nên ấm áp, văn minh hơn. Thực tế cuộc sống đã chứng minh điều đó. Trong thiên tai, dịch bệnh, nhiều người sẵn sàng quyên góp tiền bạc, lương thực và tham gia hoạt động tình nguyện để hỗ trợ đồng bào khó khăn. Nhiều mạnh thường quân xây nhà tình nghĩa, trao học bổng cho học sinh nghèo hay giúp đỡ trẻ em vùng cao có điều kiện đến trường. Những việc làm ấy thể hiện trách nhiệm cộng đồng cao đẹp và truyền cảm hứng tích cực cho xã hội. Tuy nhiên, vẫn còn một số người sống vô cảm, chỉ quan tâm đến lợi ích cá nhân mà thờ ơ trước nỗi đau của người khác. Đó là lối sống đáng phê phán vì nó làm con người xa cách nhau hơn. Mỗi chúng ta cần học cách yêu thương, biết chia sẻ từ những việc nhỏ nhất như giúp đỡ bạn bè, kính trọng người lớn tuổi hay tham gia các hoạt động thiện nguyện. Là học sinh, em nhận thức rằng cần sống chan hòa, biết quan tâm và giúp đỡ mọi người xung quanh. Tinh thần nhân ái và trách nhiệm cộng đồng chính là sợi dây gắn kết con người với nhau, góp phần làm cho cuộc sống trở nên tốt đẹp và hạnh phúc hơn.
Câu 1. Nhân vật Thông Xa là chủ nợ của gia đình ông lão mù. Câu 2. Xung đột chính của đoạn trích “Không một tiếng vang” là mâu thuẫn giữa khát vọng sống của người dân nghèo với thực tế xã hội bất công, nghiệt ngã. Câu 3. – Quan điểm của anh cả Thuận về đồng tiền: Đồng tiền được xem là sức mạnh lớn nhất, có thể thay thế cả đạo đức và niềm tin. Anh cho rằng trong xã hội, tiền bạc có giá trị hơn lương tâm và pháp luật. – Quan niệm ấy phản ánh hiện thực xã hội: Một xã hội đồng tiền lên ngôi, các giá trị đạo đức bị đảo lộn. Người nghèo, lương thiện bị dồn ép đến bước đường cùng. Câu 4. Phẩm chất đáng quý của chị cả Thuận: – Giàu tình yêu thương, luôn quan tâm chăm sóc cha già mù lòa. Chị vội đi bán chậu để mua cháo và dầu cho bố chồng. Khi cha ngã, chị hoảng hốt đỡ dậy và hỏi han đầy xót xa. – Kiên cường, không buông xuôi trước số phận: Chị cố gắng vực dậy tinh thần mọi người, không chấp nhận đầu hàng cái đói. Hành động mang chậu đi bán cho thấy chị luôn cố tìm hi vọng sống để cứu gia đình. Câu 5. Bi kịch của gia đình ông lão mù cho thấy sức tàn phá nặng nề của gánh nặng “cơm áo gạo tiền”. Khi bị dồn vào cảnh đói nghèo, con người dễ mất niềm tin vào những điều tốt đẹp. Cái nghèo không chỉ làm con người khổ cực về vật chất mà còn đe dọa nhân phẩm và lòng tự trọng của họ.
Câu 1. Nhân vật Trần Thiết Chung trong đoạn trích “Kim tiền” là hình ảnh tiêu biểu cho kiểu người coi trọng đạo đức và xem nhẹ vật chất. Ông sống thanh bần, giữ gìn khí tiết và luôn khinh rẻ đồng tiền. Trong cuộc trò chuyện với ông Cụ Lợi, Trần Thiết Chung thể hiện rõ sự cứng rắn, kiên định với quan điểm của mình khi cho rằng tiền bạc dễ làm con người tha hoá, đánh mất phẩm giá. Chính vì vậy, ông không chấp nhận việc kiếm tiền bằng mọi giá mà lựa chọn lối sống giản dị, trong sạch. Tuy nhiên, ở ông cũng bộc lộ sự cực đoan và thiếu linh hoạt. Ông tuyệt đối hoá giá trị tinh thần, phủ nhận vai trò cần thiết của đồng tiền trong đời sống thực tế, từ đó rơi vào tình trạng bế tắc. Qua nhân vật này, tác giả vừa thể hiện sự trân trọng đối với những con người có lí tưởng sống cao đẹp, vừa phê phán lối suy nghĩ phiến diện, tách rời thực tế. Trần Thiết Chung là minh chứng cho mâu thuẫn giữa lí tưởng và đời sống, gợi cho người đọc suy nghĩ về cách sống hài hoà hơn. Câu 2. Trong cuộc sống, con người luôn phải đối mặt với mối quan hệ giữa giá trị vật chất và giá trị tinh thần. Đây là hai yếu tố quan trọng, có sự gắn bó chặt chẽ và cùng góp phần tạo nên ý nghĩa của cuộc sống. Nếu chỉ chú trọng một phía mà xem nhẹ phía còn lại, con người rất dễ rơi vào lối sống lệch lạc. Trước hết, giá trị vật chất giữ vai trò thiết yếu trong đời sống. Đó là những điều kiện như tiền bạc, nhà cửa, phương tiện sinh hoạt giúp con người tồn tại và phát triển. Trong xã hội hiện đại, đồng tiền là công cụ quan trọng giúp con người đáp ứng nhu cầu cơ bản, chăm lo cho gia đình và thực hiện ước mơ. Không có vật chất, con người sẽ gặp nhiều khó khăn, thậm chí không thể duy trì cuộc sống ổn định. Vì vậy, việc lao động chân chính để kiếm tiền là điều cần thiết và đáng trân trọng. Tuy nhiên, nếu con người quá coi trọng vật chất mà xem nhẹ giá trị tinh thần thì sẽ dẫn đến những hệ quả tiêu cực. Giá trị tinh thần bao gồm đạo đức, nhân cách, tình yêu thương và lí tưởng sống. Đây mới là yếu tố tạo nên phẩm giá và giá trị đích thực của con người. Một người dù giàu có nhưng sống ích kỉ, thiếu trung thực thì cũng khó được tôn trọng. Thực tế cho thấy nhiều người vì chạy theo tiền bạc mà sẵn sàng gian dối, lừa lọc, thậm chí vi phạm pháp luật, từ đó đánh mất danh dự và sự bình yên trong tâm hồn. Ngược lại, nếu chỉ đề cao đời sống tinh thần mà xem nhẹ vật chất thì con người cũng khó thích nghi với thực tế. Lí tưởng sống dù cao đẹp nhưng nếu không gắn với điều kiện vật chất sẽ trở nên xa vời, khó thực hiện. Con người không chỉ sống bằng niềm tin mà còn cần những điều kiện cụ thể để tồn tại và phát triển. Vì vậy, mỗi người cần biết cân bằng giữa hai yếu tố này. Hãy kiếm tiền bằng con đường chân chính, đồng thời giữ gìn đạo đức và nhân cách. Biết sống “đủ”, không chạy theo tham vọng quá mức sẽ giúp con người giữ được sự thanh thản trong tâm hồn. Khi biết dung hoà giữa vật chất và tinh thần, con người sẽ có một cuộc sống vừa ổn định, vừa ý nghĩa và hạnh phúc lâu dài.
Câu 1. Văn bản "Kim tiền" thuộc thể loại bi kịch. Câu 2. Theo ông Cụ Lợi, ông Trần Thiết Chung thất bại vì ông quá khinh rẻ đồng tiền, cố chấp và không chịu kiếm tiền. Câu 3. – Hình ảnh "phân, bẩn, rác" được so sánh với "tiền": Bản chất của chúng "phân, bẩn, rác" là sự ô uế, bẩn thỉu nhưng vẫn là "vật liệu rất quý", là nguồn dưỡng chất thiết yếu để tạo nên những cánh đồng lúa trĩu nặng, những bông hoa thơm ngát. "Tiền" có thể bị coi là thấp kém, đê tiện vì sự vụ lợi nhưng nếu biết dùng đúng cách nó cũng tạo ra những điều tốt đẹp, giúp ích cho đời. – Qua đó, ông Cụ Lợi muốn thuyết phục ông Trần Thiết Chung: Bản chất của đồng tiền không hoàn toàn xấu và tiêu cực như cách ông Trần Thiết Chung đang suy nghĩ, nó phụ thuộc vào cách sử dụng và kiểm soát của mỗi cá nhân. Muốn Trần Thiết Chung hiểu rằng dù việc kiếm tiền có thể vất vả và trần tục nhưng tiền là công cụ cần thiết để nuôi sống bản thân, gia đình và thực hiện những lí tưởng cao đẹp. Câu 4. – Cuộc trò chuyện giữa ông Cụ Lợi và ông Trần Thiết Chung kết thúc trong sự bế tắc và bất đồng quan điểm. Hai bên không ai thuyết phục được ai: "Bác có ý kiến của bác, tôi có ý kiến của tôi". Ông Chung cương quyết giữ lối sống thanh bần còn ông Cụ Lợi đành để mặc bạn mình. – Ý nghĩa của kết thúc này: Phản ánh sự xung đột gay gắt, không thể dung hoà giữa hai hệ tư tưởng trong xã hội giao thời: Một bên là lí tưởng đạo đức nho sĩ (giữ khí tiết, khinh tài lợi) và một bên là lối sống thực dụng (coi trọng sức mạnh của đồng tiền). Làm nổi bật chủ đề của văn bản: Sự lựa chọn giữa tiền và nhân cách con người, mâu thuẫn giữa lí tưởng sống và nhu cầu vật chất của hiện thực đời sống. Gợi suy ngẫm, chiêm nghiệm về những khó khăn khi con người phải giữ đạo đức, lí tưởng và ước mơ trong một xã hội chạy theo lợi ích kinh tế. Câu 5. Học sinh đưa ra ý kiến đồng tình với quan điểm của ông Trần Thiết Chung và đưa ra lí giải hợp lí. Gợi ý: – Lòng tham của con người thường không có đáy, khi chúng ta mãi mê chạy theo quá nhiều danh vọng và vật chất ("tham muốn nhiều"), ta buộc phải đánh đổi bằng thời gian, sức khoẻ và sự bình yên trong tâm hồn. – Khi con người chạy theo tham vọng vật chất quá mức, họ dễ đánh mất sự thanh thản, bị cuốn vào lo toan, tính toán, thậm chí phạm sai lầm để đạt mục đích. – Biết sống vừa phải và biết đủ sẽ giúp con người nhẹ nhõm, thanh thản và giữ được các giá trị đạo đức của bản thân.
Câu 1. Đoạn trích “Chén thuốc độc” của Vũ Đình Long đã khắc họa sâu sắc bi kịch của nhân vật Thông Thu – một con người rơi vào trạng thái giằng xé dữ dội giữa sống và chết. Thông qua hình thức độc thoại, nhân vật tự bộc lộ nội tâm đầy mâu thuẫn: vừa hối hận về những sai lầm trong quá khứ, vừa tuyệt vọng trước tương lai. Những chỉ dẫn sân khấu như “bóp trán nghĩ ngợi”, “nâng cốc lên rồi lại đặt xuống” đã góp phần làm nổi bật trạng thái tâm lí đó. Hành động lặp đi lặp lại thể hiện sự do dự, yếu đuối và bế tắc của Thông Thu. Anh ta không đủ dũng khí để sống tiếp nhưng cũng chưa hoàn toàn dứt khoát với cái chết. Qua nhân vật, tác giả phê phán lối sống ăn chơi sa đọa, thiếu trách nhiệm, đồng thời bày tỏ niềm cảm thương đối với con người khi rơi vào bi kịch. Đoạn trích mang giá trị hiện thực và nhân đạo sâu sắc, là lời cảnh tỉnh về cách sống của mỗi người trong cuộc đời. Câu 2. Trong xã hội hiện đại, thói quen tiêu xài thiếu kiểm soát đang trở thành một vấn đề đáng lo ngại trong một bộ phận giới trẻ. Từ hình ảnh Thông Thu “tiêu hoang ném tiền qua cửa sổ” trong tác phẩm “Chén thuốc độc”, ta có thể thấy rõ hậu quả nghiêm trọng của lối sống không biết tiết chế. Ngày nay, cùng với sự phát triển của kinh tế và mạng xã hội, nhiều bạn trẻ dễ bị cuốn vào vòng xoáy của việc mua sắm, hưởng thụ mà không cân nhắc đến khả năng tài chính của bản thân. Họ sẵn sàng chi tiền cho những món đồ đắt đỏ, chạy theo hàng hiệu, công nghệ mới hay những cuộc vui xa xỉ chỉ để thể hiện bản thân hoặc không bị tụt lại phía sau so với bạn bè. Nguyên nhân của thực trạng này xuất phát từ nhiều phía. Trước hết là tâm lí đua đòi, thích thể hiện, muốn khẳng định giá trị cá nhân thông qua vật chất. Bên cạnh đó, sự ảnh hưởng của mạng xã hội với những hình ảnh “cuộc sống sang chảnh” cũng góp phần khiến giới trẻ hình thành suy nghĩ lệch lạc về giá trị của tiền bạc. Ngoài ra, nhiều người còn thiếu kĩ năng quản lí tài chính cá nhân, chưa được giáo dục đầy đủ về cách chi tiêu hợp lí. Một số gia đình quá nuông chiều con cái, đáp ứng mọi nhu cầu vật chất cũng vô tình tạo điều kiện cho thói quen xấu này phát triển. Hậu quả của việc tiêu xài thiếu kiểm soát là rất lớn. Trước hết, nó khiến nhiều bạn trẻ rơi vào tình trạng “cháy túi”, nợ nần, thậm chí phụ thuộc tài chính vào gia đình. Về lâu dài, thói quen này còn ảnh hưởng đến tương lai, khiến họ không có khả năng tích lũy và dễ rơi vào khủng hoảng khi gặp khó khăn. Không chỉ vậy, lối sống chạy theo vật chất còn làm mai một những giá trị tốt đẹp như sự tiết kiệm, tinh thần trách nhiệm và ý thức lao động. Để khắc phục tình trạng này, mỗi người cần tự nâng cao ý thức cá nhân, học cách chi tiêu hợp lí và biết phân biệt giữa nhu cầu cần thiết và mong muốn nhất thời. Việc lập kế hoạch tài chính, tiết kiệm và đầu tư cho bản thân là rất quan trọng. Đồng thời, gia đình và nhà trường cũng cần giáo dục giới trẻ về giá trị của đồng tiền và lao động. Xã hội nên lan tỏa những lối sống tích cực, giản dị thay vì đề cao vật chất. Tóm lại, tiêu xài thiếu kiểm soát là một thói quen nguy hiểm có thể dẫn đến nhiều hệ lụy nghiêm trọng. Mỗi người trẻ cần tự điều chỉnh hành vi của mình để xây dựng một cuộc sống lành mạnh, bền vững và có trách nhiệm hơn với bản thân cũng như gia đình.
Câu 1. Văn bản "Chén thuốc độc" thuộc thể loại bi kịch. Câu 2. Hình thức ngôn ngữ chủ yếu: Độc thoại (nhân vật nói với chính mình để bộc lộ nội tâm). Câu 3. – Các chỉ dẫn sân khấu trong văn bản: "Bóp trán nghĩ ngợi". "Nâng cốc nâng lên sắp uống lại đặt xuống.". "Lấy dao mở hộp thuốc phiện, rót vào cốc, lấy que khuấy.". "Đứng dậy lấy chai dấm thanh giấu ở dưới gầm tủ, rót vào cốc. Thò tay vào tủ lấy hộp thuốc phiện.". ... – Tác dụng của các chỉ dẫn sân khấu: Giúp người đọc hình dung được hành động, cử chỉ và trạng thái cảm xúc cụ thể của nhân vật. Thể hiện xung đột nội tâm, giằng xé gay gắt của Thông Thu (sự do dự giữa sống và chết qua hành động nâng cốc lên rồi lại đặt xuống). Câu 4. – Tâm lí thầy Thông Thu trong hồi thứ Hai: Tâm lí hối hận và tự sĩ vã. Thông Thu nhận thức được sai lầm của bản thân sau khi tiêu tán gia sản, cảm thấy nhục nhã vì không làm được gì ích quốc lợi dân mà lại làm "nho nhuốc" thanh danh gia đình. – Tâm lí thầy Thông Thu trong hồi thứ Ba: Tâm lí tuyệt vọng và bế tắc. Khi đối mặt với cảnh tù tội, Thông Thu vô cùng sợ hãi. Hắn quyết định tìm đến cái chết để giải thoát ("Thà rằng một thác cho xong!"). – Sự thay đổi: Từ việc hối hận về quá khứ (Hồi II) chuyển sang sự hoảng loạn trước tương lai và đi đến hành động cực đoan (Hồi III). Tuy nhiên, trong sự tuyệt vọng vẫn nhen nhóm chút trách nhiệm muộn màng với gia đình (dừng lại để viết thư cho em trai). Câu 5. Học sinh đưa ra quan điểm không đồng tình với quyết định của thầy Thông Thu và giải thích hợp lí. Gợi ý: – Tự tử là một hành động trốn chạy hèn nhát trước sai lầm của chính mình thay vì đối mặt để sửa chữa. – Cái chết không giải quyết được vấn đề mà đôi khi còn gây ảnh hưởng và liên lụy đến những người thân xung quanh. – Thầy Thông Thu nên chọn cách sống trách nhiệm hơn, lao động để trả nợ và làm lại cuộc đời, như vậy mới thực sự là "thác trong còn hơn sống đục". Cái chết trong sự bế tắc này chỉ là sự kết thúc của một nhân cách bạc nhược.
Câu 1: (đoạn văn ~200 chữ) Trong văn bản ở phần Đọc hiểu, tác giả đã làm nổi bật thực trạng đáng buồn trong xã hội hiện đại: sự thờ ơ, vô cảm giữa con người với con người. Thông qua việc đưa ra hàng loạt những trường hợp con người bị biến thành “mồi người” trên mạng xã hội, tác giả đã sử dụng biện pháp liệt kê nhằm nhấn mạnh mức độ phổ biến và nghiêm trọng của vấn đề này. Những chiêu trò câu tương tác vô trách nhiệm không chỉ gây tổn thương cho nạn nhân mà còn phản ánh sự xuống cấp về đạo đức của một bộ phận người dùng mạng. Bên cạnh đó, văn bản còn cho thấy sự thiếu đồng cảm, khi nhiều người sẵn sàng đứng ngoài, thậm chí lợi dụng nỗi đau của người khác để trục lợi. Qua đó, tác giả gửi gắm thông điệp sâu sắc: con người cần sống có trách nhiệm hơn, biết yêu thương, sẻ chia và tôn trọng lẫn nhau, đặc biệt trong thời đại công nghệ phát triển mạnh mẽ như hiện nay. Câu 2: (bài văn ~600 chữ) Trong xã hội hiện đại, khi cuộc sống ngày càng phát triển, con người lại có xu hướng trở nên thờ ơ, vô cảm trước những vấn đề xung quanh. Đây là một thực trạng đáng lo ngại, ảnh hưởng trực tiếp đến các mối quan hệ và giá trị đạo đức của con người. Thờ ơ, vô cảm là trạng thái con người không quan tâm, không rung động trước nỗi đau, niềm vui hay khó khăn của người khác. Biểu hiện của nó rất dễ nhận thấy trong đời sống: thấy người gặp nạn nhưng không giúp đỡ, chứng kiến bất công nhưng im lặng, hay thậm chí lợi dụng hoàn cảnh của người khác để trục lợi. Đặc biệt, trên mạng xã hội, nhiều người sẵn sàng chia sẻ, bình luận những thông tin tiêu cực, sai lệch chỉ để “câu like”, “câu view” mà không quan tâm đến hậu quả. Nguyên nhân của sự vô cảm đến từ nhiều phía. Trước hết là do lối sống ích kỉ, chỉ biết đến bản thân mình. Bên cạnh đó, áp lực cuộc sống khiến con người trở nên lạnh lùng, ít quan tâm đến người khác. Ngoài ra, sự phát triển của công nghệ cũng góp phần khiến con người dần xa cách, giao tiếp qua màn hình nhiều hơn là ngoài đời thực, từ đó làm giảm sự gắn kết và đồng cảm. Hậu quả của sự thờ ơ, vô cảm là vô cùng nghiêm trọng. Nó làm cho xã hội trở nên lạnh lẽo, thiếu tình người, khiến những giá trị tốt đẹp dần mai một. Một xã hội mà con người không biết yêu thương, giúp đỡ lẫn nhau sẽ khó có thể phát triển bền vững. Không chỉ vậy, sự vô cảm còn làm suy giảm đạo đức cá nhân, khiến con người trở nên ích kỉ, vô trách nhiệm. Tuy nhiên, vẫn còn rất nhiều tấm gương sống đẹp, sẵn sàng giúp đỡ người khác trong lúc khó khăn. Những hành động nhỏ như giúp người bị tai nạn, quyên góp cho người nghèo hay đơn giản là một lời hỏi thăm cũng đủ làm ấm lòng người khác. Điều đó cho thấy rằng lòng nhân ái vẫn luôn tồn tại và cần được lan tỏa. Để khắc phục tình trạng này, mỗi người cần tự ý thức thay đổi bản thân, sống có trách nhiệm và biết quan tâm đến người xung quanh. Gia đình và nhà trường cũng cần giáo dục đạo đức, lòng nhân ái cho thế hệ trẻ. Đồng thời, cần sử dụng mạng xã hội một cách văn minh, không tiếp tay cho những hành vi tiêu cực. Tóm lại, sự thờ ơ, vô cảm là một vấn đề đáng báo động trong xã hội hiện nay. Mỗi chúng ta cần biết yêu thương, sẻ chia để góp phần xây dựng một xã hội tốt đẹp hơn, nơi con người sống gần gũi và gắn bó với nhau.
Câu 1. Thể loại: Truyện ngắn. Câu 2. Đề tài: Mối quan hệ giữa người với người trong cuộc sống hiện đại. Câu 3. – Biện pháp tu từ liệt kê được thể hiện qua việc tác giả đưa ra những trường hợp con người đã từng rơi hoặc sợ bị rơi vào cảnh làm "mồi người" – một công cụ câu tương tác trên mạng xã hội bởi các trang báo lá cải đưa tin không chính thống. – Tác dụng: Thể hiện rõ nét sự khốn đốn của những người dân nghèo khi bị vạ lây bởi những chiêu trò câu tương tác, những âm mưu đầy vị kỉ của những cá nhân, tổ chức trên mạng xã hội. Câu 4. HS bày tỏ suy nghĩ của bản thân và có lí giải hợp lí. Ví dụ: – Tình trạng người dân hôi của khi một ai đó gặp nạn trên đường là một tình trạng đã xuất hiện khá lâu và cho đến thời điểm hiện nay nó vẫn chưa chấm dứt hoàn toàn. Đây là một hành vi rất xấu, gây ảnh hưởng đến hình ảnh người Việt Nam trên trường quốc tế nói chung và ảnh hưởng đến đạo đức, nhân cách con người Việt Nam nói riêng. – Tình trạng này cho thấy con người Việt Nam đang dần trở nên xa cách, thiếu sự đồng cảm, yêu thương, giúp đỡ lẫn nhau. Điều này đòi hỏi chúng ta phải nhìn nhận lại và thay đổi. Câu 5. – HS tự rút ra bài học cho bản thân và có lí giải hợp lí. – Một số bài học có thể được rút ra từ văn bản: Cần học cách đồng cảm, yêu thương, sẻ chia với mọi người xung quanh. Không nên để mạng xã hội, thiết bị điện tử chi phối chúng ta trong cuộc sống.