Đoàn Quỳnh Chi
Giới thiệu về bản thân
Nguyễn Trọng Tạo là một nghệ sĩ đa tài, người luôn mang vào thi ca cái nhìn lãng tử nhưng cũng đầy trăn trở về nhân thế. Bài thơ "Đồng dao cho người lớn" sáng tác năm 1992 là một trong những tác phẩm tiêu biểu nhất của ông, nơi những triết lý nhân sinh sâu sắc được gửi gắm qua hình thức đồng dao hồn nhiên, tạo nên một sự tương phản đầy ám ảnh giữa hình thức và nội dung.
Ngay từ nhan đề, tác giả đã tạo ra một sự lạ lẫm: "Đồng dao" vốn là thể loại dành cho trẻ em với nhịp điệu vui tươi, nhưng ở đây lại dành cho "người lớn" – những người đã đi qua đủ đắng cay, ngọt bùi để thấu hiểu những nghịch lý của cuộc đời. Mở đầu bài thơ là những hình ảnh đối lập đầy xót xa: "có cánh rừng chết vẫn xanh trong tôi / có con người sống mà như qua đời". Tác giả chỉ ra một thực trạng nhức nhối về sự "sống mòn", khi con người tồn tại về mặt sinh học nhưng tâm hồn đã héo úa, vô cảm. Thế giới trong bài thơ hiện lên với những sự đảo lộn giá trị: câu trả lời lại hóa thành câu hỏi, và sự phản bội trong tình cảm ("ngoại tình") lại được ngộ nhận là niềm hạnh phúc "tiệc cưới". Đỉnh điểm của nỗi đau là nghịch cảnh "có cha có mẹ có trẻ mồ côi", phản ánh sự rạn nứt, đứt gãy của những giá trị gia đình truyền thống giữa xã hội hiện đại.
Tuy nhiên, bao trùm lên những nghịch lý ấy không phải là thái độ bi lụy, mà là một cái nhìn điềm tĩnh, thấu đáo. Nguyễn Trọng Tạo khẳng định sự vận động vĩnh hằng của tự nhiên và cuộc sống: "mà thuyền vẫn sông mà xanh vẫn cỏ / mà đời vẫn say mà hồn vẫn gió". Dù con người có lầm lạc hay đau khổ, thì dòng sông vẫn chảy, cỏ vẫn xanh và gió vẫn thổi. Đó là sức sống bền bỉ, là bản chất nguyên sơ của cuộc đời mà con người cần bám víu vào để bước tiếp. Những xúc cảm hỉ nộ ái ố "có thương có nhớ có khóc có cười" chính là chất liệu làm nên một kiếp người trọn vẹn.
Về nghệ thuật, bài thơ sử dụng điệp từ "có" và cấu trúc "có... mà..." lặp đi lặp lại như nhịp chân đi, như lời hát ru nhưng lại mang âm hưởng của một bài kinh sám hối. Nhịp điệu dồn dập, ngắt quãng đặc trưng của đồng dao giúp các thông điệp triết học trở nên gần gũi, dễ thấm nhưng lại để lại dư vị kéo dài. Hình ảnh "cái chớp mắt đã nghìn năm trôi" ở cuối bài thơ là một sự tổng kết tuyệt vời về thời gian: đời người ngắn ngủi trong cái vô cùng của vũ trụ, nhắc nhở chúng ta hãy sống thật sâu, thật nghĩa trong mỗi khoảnh khắc hiện tại.
Tóm lại, "Đồng dao cho người lớn" là một bản nhạc buồn nhưng trong trẻo, soi rọi vào những góc khuất của tâm hồn và xã hội. Qua bài thơ, Nguyễn Trọng Tạo không chỉ phơi bày những mặt trái của đời sống mà còn hướng con người tới một thái độ sống bao dung, biết trân trọng những giá trị đích thực giữa một thế giới đầy biến động.
Câu 1:
- Văn bản trên thuộc kiểu văn bản thuyết minh
Câu 2:
- Đối tượng thông tin được đề cập đến trong văn bản là: Vạn Lý Trường Thành
Câu 3:
- Dữ liệu đưa ra trong văn bản là: dữ liệu thứ cấp
Câu 4:
- Phương tiện giao tiếp phi ngôn ngữ trong văn bản là: hình ảnh minh hoạ
-Tác dụng:
- Giúp người đọc dễ hình dung rõ hơn về Vạn Lý Trường Thành.
- Tăng tính trực quan, sinh động.
- Làm cho thông tin trở nên hấp dẫn, thuyết phục hơn.
Câu 5:
- Vạn Lý Trường Thành là một công trình kiến trúc vĩ đại, thể hiện trí tuệ và sức lao động to lớn của con người. Đồng thời, nó cũng là chứng tích lịch sử, ghi dấu những cuộc chiến tranh trong quá khứ. Từ đó, em thêm trân trọng các di sản văn hóa và ý thức bảo tồn những giá trị lịch sử của nhân loại.
Câu 1:
a) - Thứ nhất, không ngừng phát huy tinh thần yêu nước của các tầng lớp nhân dân
+ Tinh thần yêu nước của nhân dân Việt Nam đã tạo thành sức mạnh tổng hợp của dân tộc trong cuộc đấu tranh giành độc lập, tự do và bảo vệ tổ quốc.
+ Ngày nay, đất nước đang tiến hành đổi mới và hội nhập sâu rộng trong bối cảnh toàn cầu hoá. Vì vậy, cần đẩy mạnh công tác giáo dục chính trị tư tưởng, đạo đức, lối sống để mỗi người Việt Nam, đặc biệt là thế hệ trẻ nhận thức rõ vai trò của tinh thần và phát huy tinh thần đó trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam.
- Thứ hai, củng cố, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân
+ Thực tiễn cách mạng từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời đã chứng minh: Một dân tộc nhỏ, nghèo nàn, lạc hậu như Việt Nam nhưng lại có thể chiến thắng những kẻ thù hùng mạnh,... là nhờ sự đoàn kết một lòng của cả dân tộc. Các tổ chức mặt trận đã giữ vai trò to lớn trong xây dựng, củng cố khối đại đoàn kết dân tộc.
+ Ngày nay, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cần phát huy vai trò trong việc củng cố, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc cũng như bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân
- Thứ ba, Kết hợp sức mạnh dân tộc và sức mạnh thoi đại, kết hợp chặt chẽ hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ Quốc
+ Kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại là một trong những bài học lớn, xuyên suốt trong quá trình đấu tranh giành độc lập dân tộc, bảo vệ và xây dựng đất nước, trong đó, sức mạnh dân tộc là yếu tố quyết định.
+ Trong bối cảnh hiện nay, việc kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại góp phần tăng cường sức mạnh tổng hợp để tận dụng thời cơ, vượt qua thách thức, tạo ra thế và lực để đất nước ổn định và phát triển.
+ Các cuộc kháng chiến bảo vệ Tổ quốc cũng cho thấy cần kết hợp chặt chẽ hai nhiệm vụ chiến lược: xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Xây dựng đất nước vững mạnh, đời sống của các tầng lớp nhân dân ngày càng nâng cao... là tạo điều kiện vững chắc cho bảo vệ Tổ quốc. Ngược lại, tăng cường quốc phòng, an ninh, giữ vững ổn định chính trị, an ninh quốc gia sẽ tạo sức mạnh cần thiết cho công cuộc xây dựng đất nước.
- Thứ tư, phát triển sáng tạo nghệ thuật, chiến tranh nhân dân, xay dựng nền quốc phòng toàn dân
+ Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tiếp tục xây dựng và phát triển sáng tạo nghệ thuật quân sự Việt Nam. Đó là nghệ thuật toàn dân đánh giặc, nghệ thuật tiến công chủ động, kiên quyết, mưu trí, sáng tạo
+ Trong bối cảnh sự phát triển của cuộc cách mạng khoa học-công nghệ hiện nay, nghệ thuật quân sự Việt Nam cần tiếp tục phát triển ở trình độ khoa học cao, đồng thời xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân và có chiến lược bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa
b) Nỗ lực học tập, nắm vững kiến thức về lịch sử, địa lý, pháp luật Việt Nam, đặc biệt là chủ quyền biển đảo để hiểu rõ và bảo vệ lẽ phải
Câu 2:
- Cơ cấu kinh tế dịch chuyển theo hướng tích cực, hình thành nền kinh tế nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lí của nhà nước.
- Hệ thống pháp luật về kinh tế hình thành và hoàn thiện.
- Tăng trưởng kinh tế đạt tốc độ cao, giảm dần sự phụ thuộc vào khai thác tài nguyên thiên nhiên, xuất khẩu thô, lao động nhân công giá rẻ và mở rộng tín dụng, từng bước chuyển sang dựa vào ứng dụng mạnh mẽ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo.
- Quy mô nền kinh tế được mở rộng, GDP bình quân đầu người ngày càng tăng